Chuyên đề 19: MỘT SỐ NỘI DUNG MỚI CỦA LUẬT PHÍ VÀ LỆ PHÍ

Chuyên đề 19: MỘT SỐ NỘI DUNG MỚI CỦA LUẬT PHÍ VÀ LỆ PHÍ

 Thạc sĩ Ngô Thị Phương Ngơi

Trường Bồi dưỡng cán bộ tài chính

Pháp lệnh phí và lệ phí được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 28 tháng 8 năm 2001, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2002 bao gồm 8 chương 36 điều quy định cụ thể về thẩm quyền quy định về phí, lệ phí; nguyên tắc xác định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí; trách nhiệm của cơ quan nhà nước về quản lý phí, lệ phí; …. Đây được coi là văn bản pháp lý cao nhất trong hệ thống văn bản pháp luật quy định trong lĩnh vực phí, lệ phí ở nước ta đến nay đang còn hiệu lực thực hiện. Sau 14 năm thực hiện tình hình thực hiện pháp luật về phí, lệ phí tại nước ta đã có nhiều thay đổi, Pháp lệnh phí, lệ phí đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận về số thu ngân sách nhà nước từ hoạt động thu phí, lệ phí năm sau cao hơn năm trước góp phần không nhỏ vào tổng thu ngân sách nhà nước hàng năm, công tác quản lý và sử dụng tiền thu ngân sách nhà nước từ phí, lệ phí được thực hiện công khai, minh bạch góp phần nâng cao công tác quản lý và sử dụng hiệu quả tiền thu được từ phí, lệ phí. Mặt khác, cơ chế quản lý phí, lệ phí được đổi mới theo hướng gắn với thực hiện xã hội hóa, tạo cơ chế chủ động, tự chủ cho các đơn vị quản lý thu, nộp và sử dụng phí, lệ phí góp phần nâng cao năng lực quản lý, tiết kiệm, hiệu quả trong công tác thu phí, lệ phí. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả mà Pháp lệnh phí và lệ phí 2001 đã đạt được thì Pháp lệnh phí và lệ phí còn tồn tại một số những hạn chế, vướng mặc cần được điều chỉnh, khắc phục như: thẩm quyền quy định về phí, lệ phí; thẩm quyền quyết định về miễn, giảm phí, lệ phí còn chồng chéo, chưa thống nhất giữa nhiều văn bản quy định pháp luật; về danh mục phí, lệ phí còn nhiều bất cập như sự xuất hiện của các loại phí, lệ phí mới mà khi ban hành Pháp lệnh phí, lệ phí năm 2001 chưa có; hay đối với một số loại phí đã chuyển thành giá dịch vụ được quản lý theo cơ chế giá nhưng vẫn được quy định trong danh mục phí, lệ phí dẫn đến khó khăn trong công tác quản lý hay có một số khoản phí, lệ phí đã lạc hậu, cần bãi bỏ để phù hợp với quy định pháp luật chuyên ngành về cung cấp dịch vụ cũng như góp phần giảm thủ tục hành chính khuyến khích đầu tư cung cấp dịch vụ công như Phí bảo vệ nguồn lợi thủy sản, phí giám định hàng hóa xuất, nhập khẩu,….

Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 đã được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua vào ngày 25 tháng 11 năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2017 thay thế cho Pháp lệnh phí và lệ phí số 38/2001/PL-UBTVQH10, Pháp lệnh án phí, lệ phí toà án số 10/2009/PL-UBTVQH12, sửa đổi và bãi bỏ một số quy định tại các văn bản pháp luật có liên quan như Luật giao thông đường thủy nội địa số 23/2004/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 48/2014/QH13, Luật đường sắt số 35/2005/QH11, Luật giáo dục số 38/2005/QH11, Luật bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 46/2014/QH13, Luật kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12, Nghị quyết số 200/NQ-TVQH ngày 18 tháng 01 năm 1966 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ấn định thuế công thương nghiệp đối với các hợp tác xã, tổ chức hợp tác và hộ riêng lẻ kinh doanh công thương nghiệp đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Pháp lệnh số 10-LCT/HĐNN7 sửa đổi một số điều về thuế công thương nghiệp ngày 26 tháng 02 năm 1983, Pháp lệnh bổ sung, sửa đổi một số điều lệ về thuế công thương nghiệp và điều lệ về thuế hàng hóa ngày 17 tháng 11 năm 1987, Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều trong Pháp lệnh, Điều lệ về thuế công thương nghiệp và thuế hàng hóa ngày 03 tháng 3 năm 1989.  Đây là một đạo luật quan trọng với ý nghĩa là bước ngoặt mới trong quản lý phí, lệ phí, tạo hành lang pháp lý mới đầy đủ và đồng bộ hơn. Luật được xây dựng với mục tiêu là thiết lập khung pháp lý đầy đủ, đồng bộ về quản lý phí, lệ phí, đảm bảo thống nhất, phù hợp với quy định tại Luật Ngân sách nhà nước (sửa đổi) và các văn bản pháp luật có liên quan; từng bước tập trung phản ánh kịp thời, đầy đủ nguồn thu từ phí, lệ phí, khắc phục hạn chế trong quản lý nguồn thu từ phí, lệ phí; đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ công phù hợp với sự vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; góp phần thúc đẩy cải cách hành chính trong các ngành, lĩnh vực cung cấp dịch vụ có thu phí, lệ phí. Như vậy, từ ngày 01 tháng 01 năm 2017 đây sẽ là văn bản pháp lý cao nhất trong lĩnh vực phí và lệ phí.

Luật Phí và lệ phí 2015 bao gồm 6 chương 25 điều quy định về Danh mục phí, lệ phí; người nộp phí, lệ phí; tổ chức thu phí, lệ phí; nguyên tắc xác định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng phí, lệ phí; thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức trong quản lý phí, lệ phí.

Sau đây xin giới thiệu những nội dung mới của Luật phí và lệ phí năm 2015

19.1. Phạm vi điều chỉnh

Danh mục các khoản phí, lệ phí gắn với dịch vụ công do Nhà nước cung cấp; trường hợp dịch vụ đó do doanh nghiệp cung cấp thực hiện theo cơ chế giá.

19.2. Đối tượng áp dụng

Luật này áp dụng đối với cơ quan nhà nước, bao gồm cả cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức, cá nhân liên quan đến thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí.

19.3. Về Khái niệm phí, lệ phí

Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả nhằm cơ bản bù đắp chi phí và mang tính phục vụ khi được cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cung cấp dịch vụ công được quy định trong Danh mục phí ban hành kèm theo Luật này.

Lệ phí là khoản tiền được ấn định mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan nhà nước cung cấp dịch vụ công, phục vụ công việc quản lý nhà nước được quy định trong Danh mục lệ phí ban hành kèm theo Luật này.

19.4. Người nộp phí, lệ phí; Tổ chức thu phí, lệ phí

Người nộp phí, lệ phí là tổ chức, cá nhân được cung cấp dịch vụ công, phục vụ công việc quản lý nhà nước theo quy định của Luật này.

Tổ chức thu phí, lệ phí bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cung cấp dịch vụ công, phục vụ công việc quản lý nhà nước được thu phí, lệ phí theo quy định của Luật này.

19.5. Thẩm quyền quy định và quyết định về miễn, giảm phí và lệ phí

Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền quy định các khoản phí, lệ phí trong Danh mục phí, lệ phí, được quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng các khoản phí, lệ phí.

19.6. Danh mục phí và lệ phí

Luật phí và lệ phí (sau đây gọi tắt là Luật) quy định:

– Danh mục phí bao gồm 213 loại phí, được sắp sếp thành 13 nhóm theo tính chất công việc gắn với lĩnh vực, nhóm ngành có những đặc điểm về kinh tế kỹ thuật tương tự như nhau.

– Danh mục lệ phí gồm 103 loại lệ phí, được xếp thành 5 nhóm, phù hợp với nhóm các công việc quản lý hành chính nhà nước.

– Danh mục các sản phẩm, dịch vụ chuyền từ phí sang giá dịch vụ do nhà nước quy định gồm 17 loại.

19.6.1. Danh mục phí

a. Phí trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản

Luật ban hành 10 loại phí thuộc lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản. Trong đó, giữ lại một số loại phí đã được ban hành trong Pháp lệnh Phí và lệ phí 2001 như (1) Phí kiểm dịch (bao gồm (1.1) Phí kiểm định động vật; (1.2) Phí kiểm định thực vật thực vật; (1.3) Phí kiểm định sản phẩm động vật); (2) Phí bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Đồng thời bổ sung một số loại phí mới chưa có trong Danh mục ban hành kèm theo Pháp lệnh phí và lệ phí năm 2001 cụ thể như: (1) Phí kiểm soát giết mổ động vật; (2) Phí phòng, chống dịch bệnh cho động vật; (3) Phí giám sát khử trùng vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật; (4) Phí bảo hộ giống trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; (5) Phí bình tuyển, công nhận cây mẹ, cây đầu dòng, vườn giống cây lâm nghiệp, rừng giống; (6) Phí kiểm nghiệm an toàn thực phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản nhập khẩu; (7) Phí thẩm định trong lĩnh vực nông nghiệp (bao gồm (7.1) Phí thẩm định cấp giấy chứng nhận đối với thực phẩm xuất khẩu theo yêu cầu của nước nhập khẩu; (7.2) Phí thẩm định xác nhận kiến thức an toàn thực phẩm trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; (7.3) Phí thẩm định xác nhận nguồn gốc nguyên liệu thủy sản; (7.4) Phí thẩm định cấp giấy phép, giấy chứng nhận vật tư nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; (7.5) Phí thẩm định kinh doanh có điều kiện thuộc lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; (7.6) Phí thẩm định công nhận hoặc chỉ định, giám sát phòng kiểm nghiệm, phòng thử nghiệm trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản); (8) Phí đăng kiểm an toàn kỹ thuật tàu cá, kiểm định trang thiết bị nghề cá. Chuyển một số loại phí trước đây được Pháp lệnh cũ ban hành trong Danh mục phí sang quản lý theo cơ chế giá cụ thể như (1) thủy lợi phí; (2) Phí kiểm nghiệm thuốc dùng cho động vật, thực vật;

Như vậy 10 loại phí trong nhóm này bao gồm: (1) Phí kiểm định; (2) Phí kiểm soát giết mổ động vật; (3) Phí phòng, chống dịch bệnh cho động vật; (4) Phí bảo vệ nguồn lợi thủy sản; (5) Phí giám sát khử trùng vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật; (6) Phí bảo hộ giống trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; (7) Phí bình tuyển, công nhận cây mẹ, cây đầu dòng, vườn giống cây lâm nghiệp, rừng giống; (8) Phí kiểm nghiệm an toàn thực phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản nhập khẩu; (9) Phí thẩm định trong lĩnh vực nông nghiệp; (10) Phí đăng kiểm an toàn kỹ thuật tàu cá, kiểm định trang thiết bị nghề cá.

b. Phí trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại, đầu tư, xây dựng

Luật ban hành 09 loại phí trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại, đầu tư, xây dựng. Trong đó đưa ra khỏi Danh mục các loại phí như (1) phí kiểm định chất lượng sản phẩm, hàng hóa, thiết bị, vật tư, nguyên vật liệu; phí xây dựng; (2) Phí thẩm định hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; (3) Phí đấu thầu, đấu giá; phí thẩm định kết quả đấu thầu; (4) Phí giám định hàng hóa xuất khẩu được ban hành kèm theo Pháp lệnh 2001. Giữ lại và bổ sung một số loại phí mới phù hợp hơn cụ thể như: (1) Phí sử dụng công trình kết cấu hạ tầng, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng trong khu vực cửa khẩu; (2) Phí thẩm định hồ sơ mua bán, thuê, cho thuê tàu, thuyền, tàu bay (trong đó bao gồm: (2.1) Phí thẩm định hồ sơ mua, bán, thuê, cho thuê tàu, thuyền; (2.2) Phí thẩm định hồ sơ mua bán, thuê, cho thuê tàu bay; (2.3) Phí thẩm định hồ sơ mua, bán tàu biển); (3) Phí thẩm định đầu tư, dự án đầu tư (trong đó bao gồm: (3.1) Phí thẩm định chấp thuận đầu tư đối với các dự án đầu tư phát triển đô thị; (3.2) Phí thẩm định các đồ án quy hoạch; (3.3) Phí thẩm định dự án đầu tư xây dựng; (3.4) Phí thẩm định thiết kế cơ sở; (3.5) Phí thẩm định thiết kế kỹ thuật; (3.6) Phí thẩm định dự toán xây dựng); (4) Phí xử lý vụ việc cạnh tranh (trong đó bao gồm: (4.1) Phí giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh; (4.2) Phí giải quyết yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; (4.3) Phí thẩm định hồ sơ hưởng miễn trừ trong giải quyết vụ việc cạnh tranh); (5) Phí thẩm định cấp phép sử dụng vật liệu nổ công nghiệp; (6) Phí trong lĩnh vực hóa chất (trong đó bao gồm: (6.1) Phí thẩm định cấp phép sản xuất hóa chất Bảng, DOC, DOC-PSF; (6.2) Phí thẩm định phê duyệt Kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất; (6.3) Phí thẩm định xác nhận Biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất; (6.4) Phí thẩm định cấp giấy phép, giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh hóa chất thuộc Danh mục hóa chất hạn chế sản xuất kinh doanh, hóa chất sản xuất kinh doanh có điều kiện); (7) Phí thẩm định điều kiện, tiêu chuẩn ngành nghề thuộc lĩnh vực công nghiệp, thương mại, xây dựng (trong đó bao gồm: (7.1) Phí thẩm định cấp giấy phép hoạt động điện lực; (7.2) Phí thẩm định cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp; (7.3) Phí thẩm định điều kiện, tiêu chuẩn ngành nghề thuộc lĩnh vực xây dựng; (7.4) Phí thẩm định điều kiện hoạt động thương mại điện tử; (7.5) Phí thẩm định kinh doanh thương mại có điều kiện trong lĩnh vực công nghiệp; (7.6) Phí thẩm định điều kiện kinh doanh hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh và hàng hóa, dịch vụ kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực thương mại); (7.7) Phí cung cấp thông tin doanh nghiệp; Phí chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O); Đồng thời chuyển một số phí dịch vụ sang giá dịch vụ do Nhà nước định giá như: (1) Phí chợ; (2) Phí đo đạc, lập bản đồ địa chính;

Như vậy 09 loại phí được quy định thuộc lĩnh vực công nghiệp, thương mại, đầu tư, xây dựng bao gồm: (1) Phí sử dụng công trình kết cấu hạ tầng, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng trong khu vực cửa khẩu; (2) Phí thẩm định hồ sơ mua bán, thuê, cho thuê tàu, thuyền, tàu bay; (3) Phí thẩm định đầu tư, dự án đầu tư; (4) Phí xử lý vụ việc cạnh tranh; (5) Phí thẩm định cấp phép sử dụng vật liệu nổ công nghiệp; (6) Phí trong lĩnh vực hóa chất; (7) Phí thẩm định điều kiện, tiêu chuẩn ngành nghề thuộc lĩnh vực công nghiệp, thương mại, xây dựng; (8) Phí cung cấp thông tin doanh nghiệp; (9) Phí chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O);

c. Phí trong lĩnh vực ngoại giao

Trước đây chưa được quy định tại Pháp lệnh 2001, phí trong lĩnh vực ngoại giao được quy định có 04 loại cụ thể: (1) Phí xác nhận đăng ký công dân; (2) Phí cấp thị thực và các giấy tờ có liên quan đến xuất nhập cảnh Việt Nam cho người nước ngoài; (3) Phí tiếp nhận và vận chuyển đơn, chứng cứ của công dân và pháp nhân Việt Nam; (4) Phí chứng nhận lãnh sự và hợp pháp hóa lãnh sự;

d. Phí trong lĩnh vực An ninh, quốc phòng

Trước đây, Pháp lệnh 2001 có quy định một số khoản phí thuộc lĩnh vực này (gọi là lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội) trong đó có quy định 04 loại phí là (1) Phí kiểm định kỹ thuật máy móc thiết bi, vật tư và các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn; (2) Phí an ninh, trật tự, an toàn xã hội; (3) Phí xác minh giấy tờ, tài liệu; (4) Phí trông giữ xe. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các nhà hoạch định chính sách thấy rằng 04 loại phí này không còn phù hợp nữa do đó đã bãi bỏ hoặc chuyển tiếp sang cơ chế quản lý mới và thay vào đó là những khoản phí mới phù hợp hơn với thực tiễn. Như vậy, Luật quy định phí trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng có 05 loại, cụ thể: (1) Phí phòng cháy, chữa cháy (trong đó bao gồm: (1.1) Phí thẩm định phê duyệt thiết kế phòng cháy và chữa cháy; (1.2) Phí kiểm định phương tiện phòng cháy và chữa cháy); (2) Phí thẩm định điều kiện, tiêu chuẩn hành nghề thuộc lĩnh vực an ninh, quốc phòng; (3) Phí khai thác và sử dụng thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; (4) Phí thẩm định cấp giấy phép sản xuất, kinh doanh sản phẩm mật mã dân sự; giấy chứng nhận hợp chuẩn sản phẩm mật mã dân sự; giấy chứng nhận hợp quy sản phẩm mật mã dân sự; (5) Phí sát hạch cấp chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ;

e. Phí trong lĩnh vực giao thông vận tải

Phí trong lĩnh vực này được quy định tại Luật Phí và lệ phí có nhiều thay đổi so với Pháp lệnh cũ cụ thể như sau:

Thứ nhất: Phí thuộc lĩnh vực đường bộ

Giữ lại 02 loại phí là phí sử dụng đường bộ và phí sử dụng tạm thời lòng đường, hè phố đã được quy định tại Pháp lệnh phí và lệ phí 2001, đối với một số dịch vụ sử dụng đường bộ của các dự án đầu tư xây dựng đường bộ để kinh doanh thì phí sử dụng đường bộ được chuyển tiếp sang giá dịch vụ được nhà nước định giá, đồng thời bổ sung thêm 01 loại phí mới là phí sát hạch lái xe;

Thứ hai: Phí thuộc lĩnh vực đường biển, đường thủy nội địa

Bao gồm 13 loại trong đó: Giữ lại một số loại phí vẫn còn phù hợp đã được Pháp lệnh cũ ban hành như (1) Phí neo đậu; (2) Phí bảo đảm hàng hải;(3) Phí luồng lạch đường thủy nội địa. Bãi bỏ một số loại phí không còn phù hợp như (1) Phí sử dụng đường thủy nội địa; (2) Phí sử dụng đường biển; (3) Phí trọng tải tàu, thuyền cập cảng; … Bổ sung một số loại phí mới như: (1) Phí kiểm tra, đánh giá, cấp giấy chứng nhận quốc tế về an ninh tàu biển; (2) Phí thẩm định cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ vận tải biển và dịch vụ hỗ trợ vận tải biển; (3) Phí xác nhận kháng nghị hàng hải; (4) Phí thẩm định, phê duyệt đánh giá an ninh cảng biển, kế hoạch an ninh cảng biển, cấp sổ lý lịch tàu biển; (5) Phí thẩm định công bố cầu, bến cảng biển, khu nước, vùng nước, thông báo hàng hải; cảng thủy nội địa, bến thủy nội địa; (6) Phí thẩm tra cấp giấy phép hoạt động cảng biển, cảng thủy nội địa, bến thủy nội địa; (7) Phí trọng tải tàu, thuyền; (8) Phí thẩm định, phê duyệt đánh giá an ninh, kế hoạch an ninh cảng thủy nội địa tiếp nhận phương tiện thủy nước ngoài; (9) Phí trình báo đường thủy nội địa; (10) Phí sát hạch cấp chứng nhận khả năng chuyên môn thuyền trưởng, máy trưởng;

Thứ ba: Phí thuộc lĩnh vực đường sắt

Luật quy định có 01 loại phí là Phí sử dụng kết cấu hạ tầng đường sắt

Thứ tư: Phí thuộc lĩnh vực hàng không

Luật quy định có 08 loại phí thuộc lĩnh vực này bao gồm: (1) Phí kiểm định cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện bay cho tàu bay; (2) Phí kiểm định cấp giấy chứng nhận loại tàu bay, chứng chỉ đủ điều kiện kỹ thuật các phương tiện thiết bị hàng không sản xuất mới đưa vào sử dụng; (3) Phí cung cấp thông tin trong sổ đăng bạ tàu bay; (4) Phí nhượng quyền khai thác cảng hàng không, sân bay; (5) Phí bay qua vùng trời Việt Nam; (6) Phí phân tích dữ liệu bay; (7) Phí thẩm định cấp chứng chỉ, giấy phép, giấy chứng nhận trong hoạt động hàng không dân dụng; cấp giấy phép ra vào khu vực hạn chế tại cảng hàng không, sân bay; (8) Phí sát hạch đủ điều kiện cấp giấy phép nhân viên hàng không;

Chuyển một số loại phí được ban hành kèm theo Pháp lệnh phí và lệ phí 2001 sang thành giá dịch vụ được Nhà nước định giá bao gồm: (1) Phí qua đò, qua phà; (2) Phí sử dụng cảng, nhà ga; (3) Phí hoa tiêu dẫn đường; (4) Phí kiểm định phương tiện vận tải;

f. Phí trong lĩnh vực thông tin, truyền thông

Luật ban hành 11 loại phí trong lĩnh vực này. Trong đó, giữa lại một số loại phí đã được đưa vào Danh mục ban hành kèm theo Pháp lệnh phí và lệ phí 2001 song cũng có sự điều chỉnh về tên loại cho phù hợp như: (1) Phí sử dụng tần số vô tuyến điện; (2) Phí duy trì sử dụng tên miền và địa chỉ Internet; (3) Phí thẩm định điều kiện hoạt động viễn thông; Bổ dung thêm một số loại phí mới cụ thể như: (1) Phí sử dụng mã, số viễn thông; (2) Phí quyền hoạt động viễn thông (trong đó bao gồm: Phí thiết lập mạng viễn thông công cộng, Phí cung cấp dịch vụ viễn thông, Phí thử nghiệm mạng và dịch vụ viễn thông, Phí thiết lập mạng viễn thông dung riêng, Phí lắp đặt cáp viễn thông trên biển); (3) Phí thẩm định điều kiện hoạt động bưu chính; (4) Phí dịch vụ duy trì hệ thống kiểm tra trạng thái chứng thư số; (5) Phí quyền cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền; (6) Phí thẩm định nội dung, kịch bản trò chơi điện tử trên mạng; (7) Phí thẩm định và chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy về an toàn thông tin; (8) Phí thẩm định cấp giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an toàn thông tin mạng;

g. Phí trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch

Luật ban hành 06 loại phí thuộc lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch. Trong đó, giữ loại 02 loại phí đã được ban hành trong Pháp lệnh phí và lệ phí 2001 là (1) Phí thăm quan; (2) Phí thẩm định văn hóa phẩm; bổ sung thêm 04 loại phí mới mà Pháp lệnh cũ chưa có là (1) Phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề thuộc lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch; (2) Phí thư viện; (3) Phí bảo quản ký gửi và sử dụng tài liệu lưu trữ; (4) Phí đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả;

h. Phí trong lĩnh vực y tế

Luật ban hành 04 loại phí thuộc lĩnh vực y tế ít hơn so với 08 loại phí trước đây đã được ban hành trong Danh mục kèm theo Pháp lệnh phí và lệ phí năm 2001. Trong đó, bỏ ra khỏi Danh mục một số loại phí không còn phù hợp như (1) viện phí,…Bổ sung thêm một số loại phí mới như: (1) Phí thẩm định cấp giấy phép lưu hành, nhập khẩu, xuất khẩu, công bố trang thiết bị y tế; (2) Phí thẩm định cấp phép lưu hành, nhập khẩu, xác nhận, công bố (trong đó có các loại phí: (2.1) Phí thẩm định cấp phép lưu hành, nhập khẩu, xác nhận, công bố trong lĩnh vực dược phẩm, mỹ phẩm; (2.2) Phí thẩm định cấp phép lưu hành, nhập khẩu, xác nhận, công bố hóa chất trong gia dụng và y tế; (2.3) Phí thẩm định cấp tiếp nhận, nhập khẩu, xuất khẩu, xác nhận trong lĩnh vực chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn trong gia dụng và y tế; (2.4) Phí thẩm định cấp phép lưu hành, nhập khẩu, xác nhận, công bố trong lĩnh vực an toàn thực phẩm); (3) Phí thẩm định hoạt động, tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề thuộc lĩnh vực y tế (trong đó có các loại phí: (3.1) Phí thẩm định cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế; (3.2) Phí thẩm định điều kiện hành nghề, kinh doanh thuộc lĩnh vực an toàn thực phẩm; (3.3) Phí thẩm định cấp phép cơ sở đủ điều kiện can thiệp y tế để xác định lại giới tính; Phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề, kinh doanh thuộc lĩnh vực dược, mỹ phẩm; (3.4) Phí thẩm định hoạt động cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; điều kiện hành nghề khám bệnh, chữa bệnh; (3.5) Phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề, kinh doanh thuộc lĩnh vực trang thiết bị y tế; (3.6) Phí thẩm định cấp giấy chứng nhận phòng xét nghiệm an toàn sinh học, HIV, tiêm chủng).

Đồng thời chuyển một số loại phí được ban hành trước đây theo Pháp lệnh phí và lệ phí năm 2001 sang giá dịch vụ được Nhà nước định giá cụ thể như: (1) Phí phòng, chống dịch bệnh; (2) Phí kiểm nghiệm mẫu thuốc, nguyên liêu thuốc, thuốc.

i. Phí trong lĩnh vực tài nguyên, môi trường

Luật ban hành 10 loại phí thuộc lĩnh vực tài nguyên, môi trường. Trong đó, kế thừa một số khoản phí như: Phí môi trường, Phí thẩm định hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã có trong Danh mục ban hành kèm theo Pháp lệnh phí và lệ phí năm 2001. Đồng thời, bổ sung một số loại phí mới vào Danh mục cụ thể như sau: (1) Phí thẩm định cấp giấy chứng nhận lưu hành tự do (CFS) sản phẩm, hàng hóa đo đạc và bản đồ khi xuất khẩu, nhập khẩu; (2) Phí thẩm định hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; (3) Phí thẩm định đánh giá trữ lượng khoáng sản; (4) Phí khai thác, sử dụng nguồn nước (trong đó có các loại phí sau: (4.1) Phí thẩm định đề án, báo cáo thăm dò đánh giá trữ lượng, khai thác, sử dụng nước dưới đất; (4.2) Phí thẩm định hồ sơ, điều kiện hành nghề khoan nước dưới đất; (4.3) Phí thẩm định đề án khai thác, sử dụng nước mặt, nước biển; (4.4) Phí thẩm định đề án xả nước thải vào nguồn nước, công trình thuỷ lợi); (5) Phí thẩm định điều kiện hành nghề thuộc lĩnh vực tài nguyên môi trường (trong đó có các loại phí sau: (5.1) Phí thẩm định cấp giấy chứng nhận an toàn sinh học biến đổi gen; (5.2) Phí thẩm định đủ điều kiện hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường; (5.3) Phí thẩm định cấp giấy phép nhập khẩu phế liệu, xử lý chất thải nguy hại; (5.4) Phí thẩm định cấp giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ; (5.5) Phí thẩm định cấp giấy phép hoặc văn bản chấp thuận cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam; (6) Phí khai thác, sử dụng tài liệu, dữ liệu tài nguyên và môi trường (trong đó có các loại phí sau: (6.1) Phí khai thác và sử dụng tài liệu dầu khí; (6.2) Phí khai thác và sử dụng tài liệu đất đai; (6.3) Phí khai thác và sử dụng tài liệu thăm dò điều tra địa chất và khai thác mỏ; (6.4) Phí khai thác và sử dụng tài liệu địa chất, khoáng sản; (6.5) Phí khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu khí tượng thủy văn; (6.6) Phí khai thác và sử dụng dữ liệu viễn thám quốc gia; (6.7) Phí khai thác và sử dụng dữ liệu về môi trường; (6.8) Phí khai thác và sử dụng dữ liệu tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; (7) Phí thẩm định kế hoạch bảo vệ môi trường trong hoạt động phá dỡ tàu biển; (8) Phí xác nhận đủ điều kiện về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phê liệu làm nguyên liệu sản xuất; (9) Phí khai thác, sử dụng thông tin dữ liệu đo đạc và bản đồ.

Đồng thời chuyển một số loại phí được ban hành trong Danh mục kèm theo Pháp lệnh phí và lệ phí năm 2001 sang giá dịch vụ được nhà nước định giá cụ thể: (1) Phí vệ sinh; (2) Phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn

k. Phí trong lĩnh vực Khoa học, công nghệ

Luật ban hành 08 loại phí thuộc lĩnh vực khoa học, công nghệ. Trong đó, giữ lại một số loại phí đã có trong Danh mục ban hành kèm theo Pháp lệnh phí và lệ phí 2001 và điều chỉnh tên gọi cho phù hợp với điều kiện thực tiễn, cụ thể các loại phí sau: (1) Phí sở hữu trí tuệ (trong đó có các loại phí sau: (1.1) Phí thẩm định về sở hữu công nghiệp; (1.2) Phí tra cứu thông tin về sở hữu công nghiệp; (1.3) Phí thẩm định đăng ký quốc tế về sở hữu công nghiệp có nguồn gốc Việt Nam; (1.4) Phí cung cấp dịch vụ để giải quyết khiếu nại, phản đối đơn về sở hữu công nghiệp; (1.5) Phí công bố, đăng bạ thông tin sở hữu công nghiệp; (1.6) Phí sử dụng văn bằng bảo hộ; (1.7) Phí thẩm định đơn đăng ký quốc tế sở hữu công nghiệp có chỉ định Việt Nam); (2) Phí cấp mã số, mã vạch (trong đó có các loại phí: (2.1) Phí cấp và hướng dẫn sử dụng mã số, mã vạch; (2.2) Phí duy trì sử dụng mã số, mã vạch; (2.3) Phí sử dụng mã doanh nghiệp, mã GLN (một mã), mã EAN-8; (2.4) Phí đăng ký sử dụng mã nước ngoài); (3) Phí sử dụng dịch vụ trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử; (4) Phí thẩm định an toàn phóng xạ, bức xạ, an ninh hạt nhân (trong đó có các loại phí sau: (4.1) Phí thẩm định cấp giấy phép vận hành, sử dụng thiết bị chiếu xạ; (4.2) Phí thẩm định cấp giấy phép sản xuất, chế biến, lưu giữ, sử dụng chất phóng xạ; (4.3) Phí thẩm định cấp giấy phép thăm dò, khai thác, chế biến quặng phóng xạ; (4.4) Phí thẩm định cấp giấy phép xử lý, lưu giữ chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ đã qua sử dụng; (4.5) Phí thẩm định cấp giấy phép xây dựng cơ sở bức xạ; (4.6) Phí thẩm định cấp giấy phép thay đổi quy mô, phạm vi hoạt động cơ sở bức xạ; giấy phép chấm dứt hoạt động cơ sở bức xạ; (4.7)  Phí thẩm định cấp giấy phép nhập khẩu, xuất khẩu chất phóng xạ, vật liệu hạt nhân, vật liệu hạt nhân nguồn, thiết bị hạt nhân; (4.8) Phí thẩm định cấp giấy phép đóng gói, vận chuyển vật liệu phóng xạ, vật liệu hạt nhân, vật liệu hạt nhân nguồn, chất thải phóng xạ; (4.9) Phí thẩm định cấp giấy phép vận chuyển vật liệu chất phóng xạ quá cảnh lãnh thổ Việt Nam; (4.10) Phí thẩm định cấp giấy phép nhà máy điện hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu); (5) Phí thẩm định điều kiện hoạt động về khoa học, công nghệ; (6) Phí thẩm định hợp đồng chuyển giao công nghệ. Đồng thời bổ sung vào Danh mục một số loại phí mới như: (1) Phí thẩm định kế hoạch ứng phó sự cố bức xạ, hạt nhân; (2) Phí thẩm định điều kiện cấp giấy phép đăng ký dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử.

l. Phí trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm

Luật ban hành 04 loại phí trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm. Bao gồm các loại phí sau: (1) Phí quản lý, giám sát hoạt động chứng khoán, bảo hiểm, kế toán, kiểm toán (trong đó có các loại phí sau: (1.1) Phí quản lý và giám sát hoạt động chứng khoán; (1.2) Phí quản lý và giám sát hoạt động bảo hiểm; (1.3) Phí quản lý và giám sát hoạt động kế toán, kiểm toán); (2) Phí dịch vụ thanh toán trong hoạt động của Kho bạc nhà nước; (3) Phí hải quan; (4) Phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề thuộc lĩnh vực tài chính (trong đó có các loại phí sau: (4.1) Phí thẩm định cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng; (4.2) Phí thẩm định cấp giấy chứng nhận đăng ký hành nghề, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán, kiểm toán; (4.3) Phí thẩm định cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá). Đây là 4 loại phí mới mà trước đây chưa có trong Danh mục ban hành kèm theo Pháp lệnh phí và lệ phí năm 2001.

Đồng thời chuyển 01 loại phí có tên trong Danh mục ban hành kèm theo Pháp lệnh phí và lệ phí 2001 sang giá dịch vụ được Nhà nước định giá là Phí hoạt động chứng khoán.

m. Phí trong lĩnh vực tư pháp

Luật ban hành 10 loại phí thuộc lĩnh vực tư pháp. Trong đó, giữ lại một số loại phí đã có trong Danh mục phí và lệ phí ban hành kèm theo Pháp lệnh phí và lệ phí năm 2001, cụ thể như sau: (1) Án phí (gồm có các loại phí: (1.1) Án phí hình sự; (1.2) Án phí dân sự; (1.3) Án phí hành chính; (1.4) Án phí lao động; (1.5) Án phí kinh tế); (2) Phí cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm (trong đó có các loại phí sau: (2.1) Phí cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; (2.2) Phí cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm bằng tàu bay; (2.3) Phí cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm bằng tàu biển; (2.4) Phí cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm bằng động sản, trừ tàu bay, tàu biển); (3) Phí thi hành án. Bổ sung thêm một số loại phí mới như: (1) Phí công chứng; (2) Phí chứng thực (bao gồm các loại: (2.1) Phí chứng thực bản sao từ bản chính; (2.2) Phí chứng thực chữ ký; (2.3) Phí chứng thực hợp đồng giao dịch); (3) Phí thực hiện ủy thác về dân sự có yếu tố nước ngoài; (4) Phí thẩm định điều kiện hoạt động trong lĩnh vực tư pháp; (5) Phí đăng ký giao dịch đảm bảo; (6) Phí sử dụng thông tin (bao gồm: (6.1) Phí cấp cung cấp thông tin về lý lịch tư pháp; (6.2) Phí xác nhận có quốc tịch Việt Nam; (6.3) Phí xác nhận là người gốc Việt Nam; (6.4) Phí khai thác và sử dụng thông tin trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch); (7) Phí cấp mã số sử dụng cơ sở dữ liệu về giao dịch bảo đảm.

n. Phí trong lĩnh vực khác

Luật ban hành 04 loại phí trong nhóm này bao gồm các loại phí sau: (1) Phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật; (2) Phí tuyển dụng, dự thi nâng ngạch, thăng hạng công chức, viên chức; (3) Phí tuyển dụng, dự thi nâng ngạch, thăng hạng công chức, viên chức; (4) Phí xác minh giấy tờ, tài liệu (gồm: (4.1) Phí xác minh giấy tờ, tài liệu theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân trong nước; (4.2) Phí xác minh giấy tờ, tài liệu theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân nước ngoài).

19.6.2. Danh mục Lệ phí

a. Lệ phí quản lý nhà nước liên quan đến quyền và nghĩa vụ của công dân

Luật phí và lệ phí 2015 quy định có 10 loại lệ phí quan lý nhà nước liên quan đến quyền và nghĩa vụ của công dân. Trong đó, giữ lại (1) Lệ phí quốc tịch; (2) Lệ phí đăng ký cư trú; (3) Lệ phí cấp chứng minh nhân dân, căn cước công dân; (4) Lệ phí hộ tịch; (5) Lệ phí cấp hộ chiếu (gồm các loại lệ phí: (5.1) Lệ phí cấp hộ chiếu; (5.2) Lệ phí cấp giấy thông hành; (5.3) Lệ phí cấp tem AB, giấy phép xuất cảnh); (6) Lệ phí tòa án (gồm các loại lệ phí sau: (6.1) Lệ phí công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài; quyết định trọng tài nước ngoài (Lệ phí công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự, lao động, kinh doanh, thương mại, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài; Lệ phí không công nhận bản án, quyết định dân sự, lao động, kinh doanh, thương mại, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam; Lệ phí công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài); (6.2) Lệ phí giải quyết việc dân sự; (6.3) Lệ phí giải quyết các việc dân sự liên quan đến hoạt động Trọng tài thương mại Việt Nam; (6.4) Lệ phí nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; (6.5) Lệ phí xét tính hợp pháp của cuộc đình công; (6.6) Lệ phí bắt giữ tàu biển, tàu bay; (6.7) Lệ phí thực hiện ủy thác tư pháp của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam; (6.8) Lệ phí cấp bản sao giấy tờ, sao chụp tài liệu tại Tòa án (gồm Lệ phí sao chụp tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc do Tòa án thực hiện; Lệ phí cấp bản sao bản án, quyết định của Tòa án; Lệ phí cấp bản sao giấy chứng nhận xóa án tích; Lệ phí cấp bản sao các giấy tờ khác của Tòa án); (6.9) Lệ phí gửi văn bản tố tụng ra nước ngoài; (6.10) Lệ phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài); (7) Lệ phí cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Bổ sung thêm 3 loại lệ phí mới cụ thể: (1) Lệ phí cấp phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài; (2) Lệ phí đăng ký nuôi con nuôi (gồm các loại lệ phí: (2.1) Lệ phí đăng ký nuôi con nuôi trong nước; (2.2) Lệ phí đăng ký nuôi con nuôi nước ngoài; (2.3) Lệ phí đăng ký nuôi con nuôi tại cơ quan đại diện); (3) Lệ phí cấp phép các tổ chức nuôi con nuôi.

b. Lệ phí quản lý nhà nước liên quan đến quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản

Luật phí và lệ phí năm 2015 ban hành 07 loại lệ phí quản lý nhà nước liên quan đến quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản. Trong đó, giữ lại 03 loại lệ phí đã có trong Danh mục ban hành kèm theo Pháp lệnh phí và lệ phí năm 2001 bao gồm các loại lệ phí sau: (1) Lệ phí trước bạ; (2) Lệ phí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà, tài sản gắn liền với đất; (3) Lệ phí cấp giấy phép xây dựng. Bổ sung thêm 04 loại lệ phí mới vào Danh mục bao gồm các loại lệ phí sau: (1) Lệ phí cấp giấy phép quy hoạch; (2) Lệ phí quản lý phương tiện giao thông(bao gồm các loại: (2.1) Lệ phí đăng ký, cấp biển phương tiện giao thông, phương tiện thuỷ nội địa; (2.2) Lệ phí đăng ký, cấp biển xe máy chuyên dùng; (2.3) Lệ phí cấp chứng chỉ cho tàu bay); (3) Lệ phí trong lĩnh vực hàng hải (bao gồm các loại: (3.1) Lệ phí đăng ký tàu biển; (3.2) Lệ phí cấp chứng chỉ xác nhận việc tham gia bảo hiểm hoặc bảo đảm tài chính khác về trách nhiệm dân sự chủ tàu đối với thiệt hại do ô nhiễm dầu;(3.3)  Lệ phí ra, vào cảng biển; cảng, bến thủy nội địa; (3.4) Lệ phí cấp bản công bố bản phù hợp lao động hàng hải (DMLCI)); (4) Lệ phí sở hữu trí tuệ (bao gồm các loại: (4.1) Lệ phí nộp đơn đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; (4.2) Lệ phí cấp văn bằng bảo hộ, cấp chứng nhận đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp; (4.3) Lệ phí duy trì, gia hạn, chấm dứt, hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ; (4.4) Lệ phí cấp chứng chỉ hành nghề đại diện sở hữu công nghiệp, công bố, đăng bạ đại diện sở hữu công nghiệp)

c. Lệ phí quản lý nhà nước liên quan đến sản xuất, kinh doanh

Luật ban hành 35 loại lệ phí quản lý nhà nước liên quan đến sản xuât, kinh doanh. Trong đó, giữ lại 06 loại lệ phí đã có trong Danh mục được ban hành kèm theo Pháp lệnh phí và lệ phí năm 2001, bao gồm: (1) Lệ phí đăng ký doanh nghiệp; (2) Lệ phí đăng ký kinh doanh; (3) Lệ phí cấp phép đặt chi nhánh, văn phòng đại diện của các tổ chức nước ngoài tại Việt Nam; (4) Lệ phí cấp bằng, chứng chỉ được hoạt động trên các loại phương tiện; (5) Lệ phí cấp giấy chứng nhận bảo đảm chất lượng, an toàn kỹ thuật đối với máy, thiết bị, phương tiện và các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn; (6) Lệ phí cấp và dán tem kiểm soát băng, đĩa có chương trình. Bổ sung, điều chỉnh một số loại lệ phí mới và Danh mục lệ phí cụ thể các loại lệ phí sau: (1) Lệ phí môn bài; (2) Lệ phí phân bổ kho số viễn thông, tài nguyên Internet (bao gồm các loại lệ phí: (2.1) Lệ phí phân bổ mã, số viễn thông; (2.2) Lệ phí đăng ký sử dụng tên miền quốc gia.VN; (2.3) Lệ phí đăng ký sử dụng địa chỉ Internet IP); (3) Lệ phí cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông và giấy phép nghiệp vụ viễn thông (bao gồm: (3.1) Lệ phí cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông; (3.2) Lệ phí cấp giấy phép lắp đặt cáp viễn thông trên biển; (3.3) Lệ phí cấp giấy phép thiết lập mạng viễn thông dùng riêng; (3.4) Lệ phí cấp giấy phép thử nghiệm mạng và dịch vụ viễn thông); (4) Lệ phí chuyển nhượng chứng chỉ, tín chỉ giảm phát thải khí nhà kính; (5) Lệ phí cấp giấy phép nhập khẩu xuất bản phẩm (bao gồm: (5.1) Lệ phí đăng ký nhập khẩu xuất bản phẩm để kinh doanh; (5.2) Lệ phí cấp giấy phép nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh) ; (6) Lệ phí cấp giấy phép sử dụng tần số vô tuyến điện; (7) Lệ phí cấp giấy phép nhập khẩu thiết bị phát, thu – phát sóng vô tuyến điện; ( 8) Lệ phí cấp giấy chứng nhận đăng ký cung cấp kênh chương trình nước ngoài trên truyền hình trả tiền; (9) Lệ phí cấp tên định danh người gửi dùng trong hoạt động quảng cáo trên mạng; (10) Lệ phí cấp giấy phép nhập khẩu sản phẩm an toàn thông tin; (11) Lệ phí cấp chứng chỉ nhân viên làm việc bức xạ; (12) Lệ phí cấp chứng chỉ hành nghề dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử; (13) Lệ phí trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường chất lượng; (14) Lệ phí cấp giấy phép quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ và pháo; (15) Lệ phí cấp giấy phép hoạt động xây dựng; (16) Lệ phí cấp chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản; (17) Lệ phí cấp chứng chỉ hành nghề kiến trúc sư, kỹ sư hoạt động xây dựng; chứng chỉ giám sát thi công xây dựng; (18) Lệ phí cấp giấy phép thành lập Sở giao dịch hàng hóa; (19) Lệ phí cấp chứng chỉ hành nghề thí nghiệm chuyên ngành xây dựng, quan trắc công trình xây dựng và chứng nhận hợp quy; (20) Lệ phí cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh sản xuất phim; (21) Lệ phí cấp giấy phép thành lập và hoạt động của tổ chức tín dụng, giấy phép thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài, giấy phép thành lập văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng; (22) Lệ phí cấp giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán cho các tổ chức không phải là ngân hàng; (23) Lệ phí cấp phép hoạt động khoáng sản; (24) Lệ phí cấp giấy phép nhận chìm ở biển; (25) Lệ phí cấp giấy phép, giấy chứng nhận hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán; (26) Lệ phí cấp, điều chỉnh giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài; (27) Lệ phí đăng ký các quyền đối với tàu bay; (28) Lệ phí cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện quan trắc môi trường lao động; (29) Lệ phí cấp giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu tiền chất công nghiệp;

d. Lệ phí quản lý nhà nước đặc biệt về chủ quyền quốc gia

Luật phí và lệ phí năm 2015 ban hành 03 loại lệ phí quản lý nhà nước đặc biệt về chủ quyền quốc gia. Đây là những khoản lệ phí đã có trong Danh mục lệ phí ban hành kèm theo Pháp lệnh phí và lệ phí năm 2001, cụ thể là những loại lệ phí sau: (1) Lệ phí ra, vào cảng (bao gồm: (1.1) Lệ phí ra, vào cảng biển; (1.2) Lệ phí ra, vào cảng, bến thủy nội địa; (1.3) Lệ phí ra, vào cảng hàng không, sân bay); (2) Lệ phí đi qua vùng đất, vùng biển (bao gồm: (2.1) Lệ phí hàng hoá, hành lý, phương tiện vận tải quá cảnh; (2.2) Lệ phí cấp phép hoạt động khảo sát, thiết kế, lắp đặt, sửa chữa, bảo dưỡng các công trình thông tin bưu điện, dầu khí, giao thông vận tải đi qua vùng đất, vùng biển của Việt Nam; (2.3) Lệ phí cấp giấy phép lên bờ cho thuyền viên nước ngoài; (2.4) Lệ phí cấp giấy phép xuống tàu nước ngoài; (2.5) Lệ phí cấp giấy phép cho người điều khiển phương tiện Việt Nam cặp mạn tàu nước ngoài; (2.6) Lệ phí cấp giấy phép cho người Việt Nam và người nước ngoài thực hiện các hoạt động báo chí, nghiên cứu khoa học, tham quan du lịch có liên quan đến tàu, thuyền nước ngoài); (3) Lệ phí hoa hồng chữ ký trong lĩnh vực dầu khí.

e. Lệ phí quản lý nhà nước trong các lĩnh vực khác

Luật phí và lệ phí năm 2015 ban hành 09 loại lệ phí quản lý nhà nước trong các lĩnh vực khác, 09 loại lệ phí này đều là những lệ phí mới chưa có trong Danh mục ban hành kèm theo Pháp lệnh phí và lệ phí năm 2001. Những loại lệ phí đó bao gồm: (1) Lệ phí cấp chứng chỉ hành nghề luật sư; (2) Lệ phí cấp thẻ công chứng viên; (3) Lệ phí cấp chứng chỉ hành nghề quản tài viên; (4) Lệ phí cấp giấy chứng nhận thuyết minh viên; (5) Lệ phí cấp chứng chỉ hành nghề dịch vụ thú y; chế phẩm sinh học, vi sinh vật, hóa chất, chất xử lý cải tạo môi trường trong nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi; (6) Lệ phí cấp chứng nhận kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật trên cạn; thủy sản nhập khẩu, quá cảnh, tạm nhập tái xuất, chuyển cửa khẩu; (7) Lệ phí cấp giấy phép khai thác, hoạt động thuỷ sản; (8) Lệ phí công nhận chất lượng vật tư nông nghiệp được phép lưu hành tại Việt Nam; (9) Lệ phí cấp giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu giống, nguồn gen cây trồng nông nghiệp.

Như vậy, Danh mục phí, lệ phí ban hành kèm theo Pháp lệnh phí và lệ phí năm 2001 Pháp lệnh được ban hành trong thời kỳ đầu thực hiện chủ trương xã hội hóa dịch vụ công, khi đó, cơ bản các dịch vụ đều do cơ quan nhà nước cung cấp. Qua 14 năm thực hiện, đến nay một số khoản phí đã và đang chuyển sang cơ chế giá theo quy định của Luật chuyên ngành (nhất là một số khoản phí có tác động lớn đến người dân như học phí và viện phí); mặt khác đã phát sinh một số khoản phí, lệ phí đã được quy định trong Danh mục nhưng đến nay không còn phù hợp cần phải rà soát bãi bỏ; ngoài ra, theo quy định tại một số Luật chuyên ngành có quy định thêm một số khoản phí, lệ phí cần đưa vào Danh mục ban hành kèm theo Luật phí và lệ phí để đảm bảo thống nhất.

Danh mục phí ban hành kèm theo Pháp lệnh phí và lệ phí năm 2001 gồm 73 khoản phí, được sắp xếp thành 12 nhóm theo tính chất công việc gắn với lĩnh vực, nhóm ngành và giao Chính phủ quy định chi tiết Danh mục (Chính phủ đã quy định chi tiết thành 171 loại, tại Nghị định số 24/2006/NĐ-CP).

Luật đã đưa ra khỏi Danh mục phí (ban hành kèm theo Nghị định số 24/2006/NĐ-CP) 70 khoản phí, gồm: 03 khoản phí được quy định trong Danh mục nhưng qua 13 năm chưa phát sinh; 10 khoản phí trước đây có quy định thu nhưng hiện nay đã dừng thu để phù hợp với tình hình thực tế; 04 khoản phí có cùng đối tượng điều chỉnh cần rà soát thu gọn Danh mục (như: phí sử dụng đường thủy nội địa, phí sử dụng đường biển); 09 khoản phí quy định trong Danh mục nhưng không còn phù hợp với thực tế hiện hành; 44 khoản phí chuyển sang thực hiện theo cơ chế giá (như: thủy lợi phí; phí chợ; phí đấu thầu, đấu giá). Đồng thời Luật mới đã bổ sung 111 khoản phí, các khoản phí này được tách ra quy định chi tiết hơn từ các khoản phí hiện hành và các khoản phí được quy định ở các luật chuyên ngành.

Danh mục lệ phí theo Pháp lệnh gồm 42 khoản lệ phí, được xếp thành 5 nhóm, phù hợp với nhóm các công việc quản lý hành chính nhà nước và giao Chính phủ quy định chi tiết Danh mục (Chính phủ đã quy định chi tiết thành 130 loại, tại Nghị định số 24/2006/NĐ-CP). Luật mới đã đưa ra khỏi Danh mục lệ phí (ban hành kèm theo Nghị định số 24/2006/NĐ-CP) 68 khoản lệ phí, gồm: 06 khoản lệ phí đã được quy định trong Danh mục lệ phí nhưng đến nay chưa thu, dừng thu; 39 khoản lệ phí bãi bỏ để cải cách thủ tục hành chính; 16 khoản lệ phí bãi bỏ để phù hợp với thực tế triển khai; 07 khoản lệ phí chuyển sang thu phí. Đồng thời Luật bổ sung 45 khoản lệ phí gồm các khoản lệ phí được tách ra quy định chi tiết hơn từ các khoản lệ phí hiện hành và các khoản phí được quy định ở các luật chuyên ngành.

Luật mới đã ban hành kèm theo danh mục các sản phẩm, dịch vụ chuyển từ phí sang giá dịch vụ do Nhà nước định giá có 17 loại đây là điểm mới khác biệt và mới hoàn toàn so với Pháp lệnh.

19.7. Quy định về miễn, giảm phí và lệ phí

Luật phí và lệ phí năm 2015 đã quy định một số đối tượng thuộc diện miễn, giảm phí, lệ phí bao gồm trẻ em, hộ nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật, người có công với cách mạng, đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn và một số đối tượng đặc biệt theo quy định của pháp luật. Đồng thời, để góp phần tăng cường phân cấp quản lý phí, lệ phí, Luật Phí và lệ phí 2015 đã bổ sung thêm về thẩm quyền miễn, giảm phí, lệ phí như sau: Chính phủ quy định cụ thể đối tượng được miễn, giảm đối với từng loại phí, lệ phí thuộc thẩm quyền. Bộ Tài chính và HĐND cấp tỉnh quy định cụ thể đối tượng được miễn, giảm đối với từng loại phí, lệ phí được phân cấp trong danh mục phí, lệ phí ban hành kèm theo Luật phí và lệ phí này.

19.8. Về nguyên tắc xác định mức thu phí và lệ phí

19.8.1. Đối với phí

Luật phí và lệ phí đã quy định nguyên tắc xác định mức thu phí, cụ thể: Mức thu phí được xác định cơ bản bảo đảm bù đắp chi phí, có tính đến chính sách phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ, bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của công dân.

Do phí là khoản thu gắn với hoạt động dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực. Mỗi dịch vụ khác nhau sẽ có tính chất, đặc điểm và khả năng xã hội hóa khác nhau nên mức thu phí được xác định khác nhau (có khoản phí mức thu chỉ nhằm bù đắp một phần chi phí, có khoản phí mức thu đảm bảo bù đắp toàn bộ chi phí). Bên cạnh đó, một số khoản phí trong tương lai có khả năng xã hội hóa cao, có thể chuyển giao cho doanh nghiệp cung cấp. Vì vậy, mức thu phí cần tính đến bù đắp chi phí để khuyến khích thu hút doanh nghiệp đầu tư cung cấp dịch vụ công. Đồng thời, chính sách của Nhà nước trong từng thời kỳ khác nhau nên mức thu phí cũng cần đảm bảo phù hợp với “chính sách của Nhà nước trong từng thời kỳ”.

19.8.2. Đối với lệ phí

Pháp lệnh phí và lệ phí quy định: Mức thu lệ phí được ấn định trước; không nhằm mục đích bù đắp chi phí, có tính đến chính sách phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ, bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của công dân.

Lệ phí là khoản tiền phải trả khi được cung cấp dịch vụ hành chính công và tùy thuộc vào tính chất của dịch vụ hành chính công, lệ phí phân thành 3 nhóm: Lệ phí không bù đắp hết chi phí, lệ phí bù đắp đủ chi phí, lệ phí cao hơn chi phí. Như vậy, mức thu lệ phí tuy có khác nhau và không phải lúc nào cũng đặt vấn đề bù đắp chi phí.

Lệ phí gắn liền với hoạt động quản lý nhà nước (dịch vụ hành chính công), do cơ quan nhà nước thực hiện nên quy định mức thu lệ phí không nhằm mục đích bù đắp chi phí là phù hợp. Vì vậy, Luật đã kế thừa quy định này tại Pháp lệnh phí và lệ phí.

19.9. Về cơ chế quản lý, sử dụng tiền phí, lệ phí thu được

Để đảm bảo quản lý thống nhất nguồn thu từ phí, lệ phí; đồng bộ với quy định tại Luật NSNN vừa được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 9, Điều 12 Luật phí và lệ phí quy định: Phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện phải nộp vào NSNN, trường hợp cơ quan nhà nước được khoán chi phí hoạt động từ nguồn thu phí thì được khấu trừ, phần còn lại nộp NSNN.

Phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện được để lại một phần hoặc toàn bộ số tiền phí thu được để trang trải chi phí hoạt động cung cấp dịch vụ, thu phí trên cơ sở dự toán được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, phần còn lại nộp NSNN.

Phí thu từ các hoạt động dịch vụ do tổ chức được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện được để lại một phần hoặc toàn bộ số tiền phí thu được để trang trải chi phí hoạt động cung cấp dịch vụ, thu phí; phần còn lại nộp NSNN; việc quản lý và sử dụng phí thu được theo quy định của pháp luật. 

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Luật Phí và lệ phí 2015

2. Các Nghị định sau:

– Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật phí và lệ phí (thay thế Nghị định 57/2002/NĐ-CP, Nghị định 24/2006/NĐ-CP).

– Nghị định quy định phí bảo vệ môi trường đối với nước thải (thay thế Nghị định 25/2013/NĐ-CP).

– Nghị định quy định lệ phí đăng ký nuôi con nuôi (bãi bỏ 09 Điều của Nghị định 19/2011/NĐ-CP).

– Nghị định quy định về lệ phí trước bạ (thay thế Nghị định 23/2013/NĐ-CP, Nghị định 45/2011/NĐ-CP ).

– Nghị định quy định về lệ phí môn bài (thay thuế môn bài hiện hành).

– Nghị định về giá (thay thế Nghị định 177/2013/NĐ-CP).

3. Các văn bản pháp luật khác.

4. Bài viết “Cần hiểu đúng và tránh trá hình về phí, lệ phí” – Báo điện tử www.vietbao.vn – ngày 14/6/2007

5. Bài viết “Giảm chồng chéo thu phí, lệ phí” –Báo điện tử  www.nhandan.com.vn  – ngày 21/11/2013

6.  Bài viết “Đánh giá tình hình thực hiện Pháp lệnh Phí và lệ phí và định hướng hoàn thiện” – www.mof.gov.vn – ngày 11/4/2014

7. Bài viết “ Làm rõ phí, lệ phí để thu đúng” – Báo điện tử www.nhandan.com.vn – ngày 20/3/2014

8. Bài viết “Băn khoăn gánh nặng phí, lệ phí” – Báo điện tử  www.ktdt.vn – ngày 11/4/2015

9. Bài viết “ Thực hiện phí, lệ phí – những vấn đề đặt ra” – Báo điện tử www.baomoi.com – ngày 26/3/2014

10. Bài viết “ Khắc phục những tồn tại, vướng mắc của pháp luật phí, lệ phí hiện hành” – Báo điện tử nhân dân điện tử www.nhandan.org.vn – ngày 06/4/2015

11. Bài viết “Phí, lệ phí và lãng phí” – Báo tuyên giáo điện tử www.tuyengiao.vn – ngày 09/4/2015

12. Bài nghiên cứu “Tìm hiểu về phí, lệ phí” của tác giả Trần Vũ Hải trên báo điện tử https://luattaichinh.wordpress.com ngày 25/1/2013

 

 

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *