Chuyên đề 19 CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ KINH TẾ

Chuyên đề 19: CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ KINH TẾ

  ThS.GVC. Phạm Xuân Tuyên, Trường Bồi dưỡng cán bộ tài chính

 Như chúng ta biết, ĐVSNCL là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước[1]. Tài chính của ĐVSNCL liên quan đến các chủ thể Nhà nước, ĐVSNCL và người lao động trong ĐVSNCL. Vì vậy, tìm kiếm cơ chế tài chính cho ĐVSNCL chính là tìm kiếm cách thức tạo lập, phân phối, sử dụng các quỹ tiền tệ của ĐVSNCL gắn với quá trình hoạt động của loại hình tổ chức này sao cho giải quyết hài hòa lợi ích của các chủ thể nói trên trong những điều kiện KTXH cụ thể của đất nước trong từng thời kì. Ngày nay, cơ chế tự chủ tài chính đối với ĐVSNCL trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đã được lựa chọn như một cách thức tối ưu trong quản lý tài chính ĐVSNCL và ngày càng dần được bổ sung, sửa đổi để đi đến hoàn thiện.

Ngày 14/02/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 16/2015/NĐ-CP về quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 06 tháng 4 năm 2015 và thay thế Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với ĐVSNCL; làm cơ sở để xây dựng Nghị định quy định cơ chế tự chủ của ĐVSCN trong từng lĩnh vực. Tuy nhiên Chính phủ cũng quy định: Trong khi chưa ban hành hoặc sửa đổi Nghị định quy định cơ chế tự chủ của ĐVSNCL trong từng lĩnh vực cụ thể, các ĐVSNCL theo từng lĩnh vực được tiếp tục thực hiện cơ chế tự chủ theo quy định tại Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với ĐVSNCL; Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05 tháng 9 năm 2005 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập và Nghị định số 96/2010/NĐ-CP ngày 20 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ; Nghị định số 85/2012/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2012 của Chính phủ về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập.

Ngày 21/5/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 695/QĐ-TTG về Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của chính phủ quy định cơ chế tự chủ của ĐVSNCL, theo đó, Thủ tướng giao cho Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi tắt là các Bộ, cơ quan Trung ương), Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ quy định tại Nghị định số 16/2015/NĐ-CP của Chính phủ và theo chức năng, nhiệm vụ được phân công, khẩn trương triển khai các nhiệm vụ: (a) Tổ chức quán triệt thực hiện và tuyên truyền, phổ biến Nghị định số 16/2015/NĐ-CP của Chính phủ và các văn bản liên quan; (b) Xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để triển khai thực hiện Nghị định số 16/2015/NĐ-CP của Chính phủ; (c) Thực hiện nghiêm các nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với dịch vụ sự nghiệp công và đơn vị sự nghiệp công theo nội dung: (1) Xây dựng pháp luật về quản lý nhà nước đối với dịch vụ sự nghiệp công và ĐVSNCL; khuyến khích, tạo điều kiện, thiết lập môi trường hoạt động bình đẳng, cạnh tranh cho các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia cung cấp dịch vụ sự nghiệp công; (2) Quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công theo ngành, lĩnh vực; danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng NSNN; ban hành định mức kinh tế – kỹ thuật áp dụng trong các lĩnh vực dịch vụ sự nghiệp công do Nhà nước quản lý; quy định về đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ cung ứng dịch vụ sự nghiệp công; (3) Quy định tiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ sự nghiệp công; cơ chế giám sát, đánh giá, kiểm định chất lượng dịch vụ sự nghiệp công, hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công; (4) Quy định lộ trình tính đủ giá, phí để đơn vị sự nghiệp công thực hiện và hỗ trợ trực tiếp cho các đối tượng chính sách sử dụng dịch vụ sự nghiệp công; (5) Quy định trình tự, thủ tục thành lập, tổ chức lại, giải thể và điều kiện tổ chức, hoạt động của ĐVSNCL; sắp xếp, chuyển đổi các đơn vị sự nghiệp công theo quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; giao quyền tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công trực thuộc; (6) Quy định về chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công sang đơn vị sự nghiệp ngoài công lập hoặc doanh nghiệp; (7) Ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích xã hội hóa các hoạt động dịch vụ sự nghiệp công; (8) Thanh tra, kiểm tra, xử phạt vi phạm trong hoạt động cung ứng dịch vụ sự nghiệp công.

  Theo Quyết định số 695/QĐ-TTG ngày 21/5/2015, của Thủ tướng Chính phủ, để triển khai thực hiện Nghị định số 16/2015/NĐ-CP, các cơ quan, cá nhân  thuộc các cấp có thẩm quyền tổ chức xây dựng và ban hành xong trong năm 2015 các loại Văn bản pháp quy sau:

– 07 Nghị định quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong các lĩnh vực: (1) giáo dục đào tạo, (2) văn hóa, thể thao và du lịch, (3) khoa học và công nghệ, (4) thông tin truyền thông và báo chí, (5) y tế, (6) dạy nghề,(7) sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác;

– 12 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước của các Bộ và các cơ quan Trung ương; 12 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ và các cơ quan Trung ương;

–  04 loại văn bản cấp Bộ nhằm: (1) Ban hành, sửa đổi, bổ sung định mức kinh tế – kỹ thuật áp dụng trong các lĩnh vực dịch vụ sự nghiệp công do Nhà nước quản lý; (2) Ban hành, sửa đổi, bổ sung quy định tiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ sự nghiệp công; cơ chế giám sát, đánh giá, kiểm định chất lượng dịch vụ sự nghiệp công, hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý; (3) Hướng dẫn thực hiện Nghị định quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong từng lĩnh vực cụ thể: Giáo dục đào tạo, y tế, dạy nghề, văn hóa thể thao và du lịch, thông tin truyền thông và báo chí, khoa học và công nghệ, sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác; (4) Hướng dẫn về thành lập và hoạt động của Hội đồng quản lý; hướng dẫn nguyên tắc, phương pháp xác định vị trí việc làm; thẩm quyền, trình tự, thủ tục quyết định số lượng vị trí việc làm; hướng dẫn các đơn vị sự nghiệp công chưa xây dựng được vị trí việc làm và cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp xác định số lượng người làm việc trên cơ sở định biên bình quân các năm trước .

– 03 Loại Quyết định của Chủ tịch UBND cấp Tỉnh nhằm: (1) Ban hành danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước thuộc phạm vi quản lý của địa phương; (2) Ban hành quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc địa phương quản lý; (3) Ban hành, sửa đổi, bổ sung định mức kinh tế – kỹ thuật áp dụng trong các lĩnh vực dịch vụ sự nghiệp công; tiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ sự nghiệp công; cơ chế giám sát, đánh giá, kiểm định chất lượng dịch vụ sự nghiệp công; hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập, thuộc phạm vi quản lý của địa phương

Tuy vậy, cho đến nay (31/12/2016), Chính phủ cũng chỉ mới ban hành được 02 Nghị định, gồm: (1) Nghị định số 54/2016/NĐ-CP ngày 4/6/2016 quy định cơ chế tự chủ của tổ chức Khoa học và Công nghệ công lập[2]; (2) Nghị định số 141/2016/NĐ-CP ngày 10/10/2016 quy định cơ chế tự chủ của  đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác[3]. Nội dung cơ bản của Cơ chế tự chủ tài chính trong các văn bản pháp quy này như sau:

19.1. Cơ chế tự chủ tài chính của tổ chức khoa học và công nghệ công lập

Cơ chế tự chủ tài chính nói ở đây được áp dụng cho các Tổ chức khoa học và công nghệ là tổ chức được thành lập bởi (1) Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thành lập tổ chức khoa học và công nghệ thuộc Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội; (2) Chính phủ thành lập tổ chức khoa học và công nghệ thuộc Chính phủ; (3) Toà án nhân dân tối cao thành lập tổ chức khoa học và công nghệ thuộc Tòa án nhân dân tối cao; (4) Viện Kiểm sát nhân dân tối cao thành lập tổ chức khoa học và công nghệ thuộc Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; (5) Thủ tướng Chính phủ thành lập hoặc ủy quyền cho Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thành lập tổ chức khoa học và công nghệ thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; (6) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thành lập tổ chức khoa học và công nghệ thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, trừ trường hợp quy định tại điểm đ khoản này; (7) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập tổ chức khoa học và công nghệ của địa phương theo thẩm quyền, có chức năng chủ yếu là nghiên cứu khoa học, nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ, hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ, đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào mức độ tự bảo đảm về chi thường xuyên và chi đầu tư, Tổ chức khoa học và công nghệ công lập được phân loại theo 4 nhóm sau: (1) Tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; (2) Tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm chi thường xuyên; (3) Tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên; (4) Tổ chức khoa học và công nghệ công lập do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên. Theo đó cơ chế tự chủ tài chính cũng được quy định phù hợp tương ứng với từng nhóm này. Cơ chế đó đề cập đến các phương diện sau:

19.1.1. Nguồn tài chính

Nguồn tài chính của các Tổ chức khoa học và công nghệ nói chung gồm có: (1) Nguồn thu từ ngân sách nhà nước để thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ, nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng, dịch vụ sự nghiệp công; (2) Nguồn thu từ ngân sách nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ không thường xuyên gồm: Kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình, dự án, đề án khác; kinh phí đối ứng thực hiện các dự án; vốn đầu tư phát triển; kinh phí mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cơ quan có thẩm quyền giao; (3) Nguồn thu phí theo pháp luật về phí, lệ phí được để lại để chi hoạt động thường xuyên và chi mua sắm, sửa chữa lớn trang thiết bị, tài sản phục vụ công tác thu phí; (4) Nguồn vốn vay, viện trợ, tài trợ theo quy định hiện hành; (5) Nguồn thu từ hoạt động khoa học và công nghệ, hoạt động sản xuất, kinh doanh, liên doanh, liên kết và nguồn thu khác theo quy định hiện hành.

Tuy nhiên, vị thế của các nguồn tài chính có sự khác nhau giữa các tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư và tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm chi thường xuyên so với các tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên và tổ chức khoa học và công nghệ công lập do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên. Nếu như, với các các tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên và tổ chức khoa học và công nghệ công lập do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên chủ yếu được Ngân sách nhà nước đảm bảo để “(1) thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ, nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng, dịch vụ sự nghiệp công; (2) thực hiện các nhiệm vụ không thường xuyên gồm: Kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình, dự án, đề án khác; kinh phí đối ứng thực hiện các dự án; vốn đầu tư phát triển; kinh phí mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cơ quan có thẩm quyền giao” thì các tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư và tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm chi thường xuyên chỉ được ngân sách đảm bảo “nếu được cơ quan có thẩm quyền giao”, nguồn tài chính chủ yếu của các tổ chức này là “Nguồn thu từ hoạt động khoa học và công nghệ, hoạt động sản xuất, kinh doanh, liên doanh, liên kết và nguồn thu khác theo quy định hiện hành”. Tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư “được vay vốn, huy động vốn để đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất; được sử dụng tài sản hình thành từ vn vay đ thế chp theo quy định. Việc vay vốn, quản lý, sử dụng vốn vay thực hiện theo quy định hiện hành”. Các tổ chức Khoa học và công nghệ khác không được nhấn mạnh nội dung này mà chỉ nêu chung chung trong nguồn tài chính rằng “Nguồn vốn vay, viện trợ, tài trợ theo quy định hiện hành

19.1.2. Sử dụng nguồn tài chính

Thứ nhất, các tổ chức khoa học và công nghệ được chủ động sử dụng các Nguồn thu “ (1)  Từ hoạt động khoa học và công nghệ, sản xuất, kinh doanh, liên doanh, liên kết và nguồn thu hợp pháp khác; (2) Phí theo pháp luật về phí, lệ phí được để lại để chi hoạt động thường xuyên và chi mua sm, sửa chữa lớn trang thiết bị, tài sản phục vụ công tác thu phí; (3) Từ ngân sách nhà nước được cơ quan có thẩm quyền giao để thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ, nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng, dịch vụ sự nghiệp công để chi thường xuyên, trong đó một số nội dung chi được quy định cụ thể như sau:

Chi tiền lương cho công chức, viên chức, người lao động: Các tổ chức khoa học và công nghệ chi tiền lương cho công chức, viên chức, người lao động theo ngạch, bậc, hạng chức danh nghề nghiệp, chức vụ và các khoản phụ cấp do Nhà nước quy định đối với tổ chức khoa học và công nghệ công lập. Khi Nhà nước điều chỉnh tiền lương cơ sở, đơn vị loại (1) và (2) tự bảo đảm tiền lương tăng thêm từ nguồn thu của đơn vị; đơn vị loại (3) và (4) tự bảo đảm tiền lương tăng thêm từ các nguồn theo quy định, trường hợp còn thiếu được NSNN cấp bổ sung.

– Chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý:

+ Các tổ chức khoa học và công nghệ loại (1) và (2), những nội dung chi đã có định mức chi theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, căn cứ vào khả năng tài chính, tổ chức khoa học và công nghệ công lập được quyết định mức chi cao hơn hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và quy định trong Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị; những  nội dung chi chưa có định mức chi theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, căn cứ tình hình thực tế, tổ chức khoa học và công nghệ công lập xây dựng mức chi cho phù hợp theo Quy chế chi tiêu nội bộ và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình; các khoản tiền trích khấu hao tài sản hình thành từ nguồn vốn NSNN hoặc có nguồn gốc từ ngân sách được hạch toán vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp.

+ Các tổ chức khoa học và công nghệ loại (3) và (4), căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng tài chính, được quyết định mức chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý, nhưng tối đa không vượt quá mức chi đo cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.

Thứ hai, các tổ chức khoa học và công nghệ công lập sử dụng các nguồn tài chính “(1) Từ ngân sách nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ không thường xuyên gồm: Kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình, dự án, đề án khác; kinh phí đối ứng thực hiện các dự án; vốn đầu tư phát triển; kinh phí mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cơ quan có thẩm quyền giao; (2) Phí theo pháp luật về phí, lệ phí được để lại để chi hoạt động thường xuyên và chi mua sắm, sửa chữa lớn trang thiết bị, tài sản phục vụ công tác thu phí; (3) Vốn vay, viện trợ, tài trợ theo quy định hiện hành” để chi thực hiện nhiệm vụ không thường xuyên theo quy định hiện hành.

Thứ ba, đối với “mức chi, tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô; tiêu chuẩn, định mức về nhà làm việc; tiêu chuẩn, định mức trang bị điện thoại công vụ tại nhà riêng và điện thoại di động; chế độ công tác phí nước ngoài; chế độ tiếp khách nước ngoài và hội thảo quốc tế ở Việt Nam” Tổ chức khoa học và công nghệ công lập loại (2), loại (3) và loại (4) phải thực hiện các quy định của Nhà nước; Riêng tổ chức khoa học và công nghệ công lập loại (1) thực hiện các quy định của Nhà nước hoặc theo Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị.

Thứ tư, ngoài những quy định chung về sử dụng các nguồn tài chính nêu trên, các Tổ chức khoa học và công nghệ công lập loại (1) được quyền:

– Căn cứ nhu cầu đầu tư và khả năng cân đối các nguồn tài chính, chủ động xây dựng danh mục các dự án đầu tư, báo cáo cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Trên cơ sở danh mục dự án đầu tư đã được phê duyệt, tổ chức khoa học và công nghệ công lập quyết định dự án đầu tư, bao gồm các nội dung về quy mô, phương án xây dựng, tổng mức vốn, nguồn vốn, phân kỳ thời gian triển khai theo quy định hiện hành về đầu tư. Căn cứ yêu cầu phát triển của đơn vị, Nhà nước xem xét bố trí vốn cho các dự án đầu tư đang triển khai;

– Được vay vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước hoặc được hỗ trợ lãi suất cho các dự án đầu tư sử dụng vốn vay của các tổ chức tín dụng theo quy định.

19.1.3. Phân phối kết quả tài chính

19.1.3.1. Trích lập các quỹ

Hằng năm, sau khi hạch toán đầy đủ các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước khác, phần chênh lệch thu lớn hơn chi thường xuyên (nếu có), các tổ chức khoa học và công nghệ công lập  sử dụng để trích lập quỹ Phát triển hoạt động sự nghiệp, quỹ bổ sung thu nhập, quỹ khen thưởng và phúc lợi; các quỹ khác theo quy định hiện hành, cụ thể:

Thứ nhất, trích phần chênh lệch thu lớn hơn chi thường xuyên (nếu có) để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, trong đó:

– Các tổ chức khoa học và công nghệ loại (1) và (2): Trích tối thiểu 25%;

–  Các tổ chức khoa học và công nghệ loại (3): Trích tối thiểu 20% (nếu đã tự bảo đảm được trên 70% chi thường xuyên); trích tối thiểu 15% (nếu đã tự bảo đảm được từ 30% đến dưới 70% chi thường xuyên); trích tối thiểu 10% (nếu đã tự bảo đảm được dưới 30% chi thường xuyên);

– Các tổ chức khoa học và công nghệ loại (4): Trích tối thiểu 5%

Thứ hai, trích phần chênh lệch thu lớn hơn chi thường xuyên (nếu có) để lập Quỹ bổ sung thu nhập, trong đó:

– Các tổ chức khoa học và công nghệ công lập loại (1): không hạn chế mức trích lập;

– Các tổ chức khoa học và công nghệ công lập loại (2): mức trích không quá 3 lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, hạng chức danh nghề nghiệp, chức vụ và các khoản phụ cấp lương do Nhà nước quy định;

– Các tổ chức khoa học và công nghệ công lập loại (3): So với quỹ tiền lương ngạch, bậc, hạng chức danh nghề nghiệp, chức vụ và các khoản phụ cấp lương do Nhà nước quy định, trích tối đa không quá 2,5 lần (nếu đã tự bảo đảm được trên 70% chi thường xuyên); không quá 2 lần (nếu đã tự bảo đảm được từ 30% đến dưới 70% chi thường xuyên); không quá 1,5 lần (nếu đã tự bảo đảm được dưới 30% chi thường xuyên);

– Các tổ chức khoa học và công nghệ công lập loại (4): trích không quá 1 lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, hạng chức danh nghề nghiệp, chức vụ và các khoản phụ cấp lương do Nhà nước quy định.

Thứ ba, trích phần chênh lệch thu lớn hơn chi thường xuyên (nếu có) để lập Quỹ khen thưởng và phúc lợi, trong đó:

– Các tổ chức khoa học và công nghệ công lập loại (1) và loại (2): Trích lập tối đa không quá 03 tháng tiền lương, tiền công thực hiện trong năm của đơn vị;

– Các tổ chức khoa học và công nghệ công lập loại (3): So với tiền lương, tiền công thực hiện trong năm, trích lập tối đa không quá 2,5 tháng (nếu đã tự bảo đảm được trên 70% chi thường xuyên); không quá 2 tháng (nếu đã tự bảo đảm được từ 30% đến dưới 70% chi thường xuyên); không quá 1,5 tháng (nếu đã tự bảo đảm được dưới 30% chi thường xuyên);

– Các tổ chức khoa học và công nghệ công lập loại (4): Trích lập không quá 01 tháng tiền lương, tiền công thực hiện trong năm

  Thứ tư, trích phần chênh lệch thu lớn hơn chi thường xuyên (nếu có) để lập Quỹ khác theo quy định hiện hành:

Việc trích lập quỹ và mức trích cụ thể của Quỹ bổ sung thu nhập, Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi, các quỹ khác do thủ trưởng đơn vị quyết định theo Quy chế chi tiêu nội bộ và phải công khai trong đơn vị. Phần chênh lệch thu lớn hơn chi còn lại (nếu có) sau khi đã trích lập các quỹ theo quy định được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp.

19.1.3.2. Sử dụng các Quỹ

Thứ nhất, sử dụng Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp

Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp chi cho các nội dung sau: Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, đổi mới công nghệ, mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc; phát triển năng lực hoạt động sự nghiệp; nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho công chức, viên chức, người lao động trong đơn vị; góp vốn, liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước (đối với đơn vị được giao vốn theo quy định) để sản xuất, kinh doanh phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao và các khoản chi khác (nếu có);

Thứ  hai, sử dụng Quỹ bổ sung thu nhập

Quỹ bổ sung thu nhập chi bổ sung thu nhập cho công chức, viên chức, người lao động và dự phòng chi bổ sung thu nhập cho công chức, viên chức, người lao động năm sau trong trường hợp nguồn thu nhập bị giảm. Việc chi bổ sung thu nhập cho công chức, viên chức, người lao động thực hiện theo nguyên tắc gắn với số lượng, chất lượng và hiệu quả công việc quy định tại Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị. Riêng hệ số thu nhập tăng thêm của chức danh lãnh đạo tổ chức tối đa không quá 02 lần hệ số thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện của công chức, viên chức, người lao động trong đơn vị;

Thứ ba, sử dụng Quỹ khen thưởng và phúc lợi

– Quỹ khen thưởng chi thưởng định kỳ, đột xuất cho tập thể, cá nhân trong và ngoài đơn vị (ngoài chế độ khen thưởng theo quy định hiện hành về thi đua khen thưởng) theo hiệu quả công việc và thành tích đóng góp vào hoạt động của đơn vị; mức thưởng do thủ trưởng đơn vị quyết định theo Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị;

– Quỹ phúc lợi chi xây dựng, sửa chữa các công trình phúc lợi; chi các hoạt động phúc lợi tập thể của công chức, viên chức, người lao động trong đơn vị; chi trợ cấp khó khăn đột xuất cho công chức, viên chức, người lao động, kể cả trường hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức; chi thêm cho công chức, viên chức, người lao động thực hiện tinh giản biên chế theo Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị.

19.2. Cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác

Cơ chế tự chủ tài chính này áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác là những Đơn vị sự nghiệp công lập do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ sự nghiệp công, phục vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực: Nông nghiệp và phát triển nông thôn, tài nguyên và môi trường, giao thông vận tải, công thương, xây dựng, lao động thương binh và xã hội, tư pháp, sự nghiệp khác.

Căn cứ vào mức độ tự bảo đảm về chi thường xuyên và chi đầu tư, Đơn vị sự nghiệp kinh tế, sự nghiệp khác được phân thành 4 loại: (1) Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; (2) Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên; (3) Đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên; (4) Đơn vị do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên.

Cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế, sự nghiệp khác” là các quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế, sự nghiệp khác. Cơ chế đó thể hiện trên các nội dung sau đây:

19.2.1. Nguồn tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác

Cũng như các ĐVSNCL trong các lĩnh vực khác của nền KTXH, Đơn vị sự nghiệp kinh tế, sự nghiệp khác công lập có các nguồn tài chính  để thực hiện nhiệm vụ chi thường xuyên và chi thực hiện nhiệm vụ chi không thường xuyên. Theo quy định hiện hành[4], nguồn tài chính ĐVSNCL trong lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực khác gồm có:

Thứ nhất, nguồn thu từ hoạt động dịch vụ sự nghiệp công trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác. Riêng đơn vị loại 4 nguồn này không có.

Thứ hai, nguồn ngân sách nhà nước đảm bảo để phục vụ chi thường xuyên:

 – NSNN đảm bảo để phục vụ chi thường xuyên dưới hình thức Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác cho các đơn vị loại 1, loại 2, loại 3 theo các loại giá tương ứng: Tính đủ chi phí (gồm: chi phí tiền lương, chi phí trực tiếp, chi phí quản lý và chi phí khấu hao tài sản cố định); Theo giá tính đủ chi phí (gồm: tiền lương, chi phí trực tiếp, chi phí quản lý); Theo giá chưa tính đủ chi phí, ngân sách hỗ trợ phần chi phí chưa kết cấu trong giá dịch vụ sự nghiệp công.

–  Ngân sách nhà nước cấp chi thường xuyên cho các đơn vị loại 4 trên cơ sở số lượng người làm việc và định mức phân bổ dự toán được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Thứ ba, nguồn thu phí theo pháp luật về phí, lệ phí được để lại chi theo quy định của pháp luật phí và lệ phí. Nguồn này không quy định đối với đơn vị loại 4.

Thứ tư, nguồn thu từ hoạt động khác (nếu có), gồm: (i) Tiền lãi được chia từ các hoạt động liên doanh, liên kết; (ii) Lãi tiền gửi ngân hàng; (iii) Nguồn thu khác theo quy định của pháp luật.

Thứ năm, nguồn NSNN cấp cho các nhiệm vụ không thường xuyên (nếu có), gồm: (i) Kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với đơn vị không phải là tổ chức khoa học công nghệ); (ii) Kinh phí các chương trình mục tiêu quốc gia; các chương trình, dự án, đề án khác; (iii) Kinh phí đối ứng thực hiện các dự án theo quyết định của cấp có thẩm quyền; (iv) Vốn đầu tư phát triển theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt (nếu có); (v) Kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cơ quan có thẩm quyền giao; (vi) Kinh phí mua sắm, sửa chữa lớn trang thiết bị, tài sản cho đơn vị theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt (nếu có) đối với  các đơn vị loại 2, loại 3, loại 4;

Thứ sáu, nguồn vốn vay, viện trợ, tài trợ theo quy định của pháp luật. Riêng các đơn vị loại 3, loại 4 không có nguồn vốn vay;

Thứ bảy, nguồn khác, gồm: (1) Nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng (đơn vị loại 3 không có nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng), vốn huy động của cán bộ, viên chức trong đơn vị; (2) Nguồn vốn liên doanh, liên kết của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật; (3) Nguồn khác (nếu có).

19.2.2. Sử dụng nguồn tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác

Thứ nhất, chi thường xuyên

Ngoại trừ các đơn vị loại 4 sử dụng nguồn tài chính giao tự chủ, gồm: NSNN cấp chi thường xuyên trên cơ sở số lượng người làm việc và định mức phân bổ dự toán được cấp có thẩm quyền phê duyệt; Nguồn thu khác theo quy định của pháp luật; Các Đơn vị sự nghiệp công lập loại 1,  loại 2 và loại 3 được chủ động sử dụng các nguồn tài chính giao tự chủ (gồm: nguồn thu từ hoạt động dịch vụ sự nghiệp công trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác; Nguồn ngân sách nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác, theo giá quy định tính đủ chi phí hay tính đủ một phần chi phí; Nguồn thu phí theo pháp luật về phí, lệ phí được để lại chi theo quy định của pháp luật phí và lệ phí ) để chi thường xuyên; Trong đó:

– Chi tiền lương: đơn vị chi trả tiền lương theo lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp do Nhà nước quy định đối với đơn vị sự nghiệp công. Khi Nhà nước điều chỉnh tiền lương, đơn vị  loại 1 và loại 2 tự bảo đảm tiền lương tăng thêm từ nguồn thu của đơn vị, ngân sách nhà nước không cấp bổ sung; Đơn vị loại 3 tự bảo đảm tiền lương tăng thêm từ các nguồn theo quy định, ngân sách nhà nước cấp bổ sung (trường hợp còn thiếu); Đơn vị loại 4 ngân sách nhà nước cấp bổ sung tiền lương tăng thêm, sau khi đã trừ các nguồn bảo đảm tiền lương tăng thêm theo quy định.

– Chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý

+ Đối với các đơn vị loại 1 và  loại 2: Các nội dung chi đã có định mức chi theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Căn cứ vào khả năng tài chính, được quyết định mức chi cao hơn hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và được quy định trong quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị; Các nội dung chưa có định mức chi theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, căn cứ tình hình thực tế, đơn vị xây dựng mức chi cho phù hợp theo quy chế chi tiêu nội bộ và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

+ Đối với các đơn vị loại 3 và loại 4: Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính, được quyết định mức chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý, nhưng tối đa không vượt quá mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.

– Trích khấu hao tài sản cố định:  Số tiền trích khấu hao tài sản cố định được đầu tư, mua sắm từ nguồn ngân sách nhà nước hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước được bổ sung quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của đơn vị (ngân sách nhà nước không cấp kinh phí mua sắm, sửa chữa lớn trang thiết bị, tài sản cho đơn vị). Số tiền trích khấu hao tài sản cố định được đầu tư, mua sắm từ nguồn vốn vay dùng để trả nợ; số còn lại bổ sung quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của đơn vị.

  Thứ hai, chi không thường xuyên

  + Các đơn vị loại 1, loại 2 và loại 3: sử dụng nguồn thu phí theo pháp luật về phí, lệ phí được để lại chi theo quy định của pháp luật phí và lệ phí (phần được để lại chi mua sắm, sửa chữa lớn tài sản, máy móc thiết bị phục vụ công việc thu phí và các khoản chi khác theo quyết định của cấp có thẩm quyền nếu có);  Nguồn ngân sách nhà nước cấp cho các nhiệm vụ không thường xuyên [5]( gồm: (i) Kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với đơn vị không phải là tổ chức khoa học công nghệ); (ii) Kinh phí các chương trình mục tiêu quốc gia; các chương trình, dự án, đề án khác; (iii) Kinh phí đối ứng thực hiện các dự án theo quyết định của cấp có thẩm quyền; (iv) Vốn đầu tư phát triển theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt (nếu có); (v) Kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cơ quan có thẩm quyền giao);  Nguồn vốn vay, viện trợ, tài trợ theo quy định của pháp luật; Nguồn khác[6], để chi theo quy định của Luật ngân sách nhà nước và pháp luật hiện hành.

  Thứ ba, chi đầu tư từ Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, nguồn vốn vay và các ngun tài chính hợp pháp khác

  Đơn vị loại 1, căn cứ nhu cầu đầu tư và khả năng cân đối các nguồn tài chính, chủ động xây dựng danh mục các dự án đầu tư, báo cáo cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Trên cơ sở danh mục dự án đầu tư đã được phê duyệt, đơn vị quyết định dự án đầu tư, trong đó có các nội dung về quy mô, phương án xây dựng, tổng mức vốn, nguồn vốn, phân kỳ thời gian triển khai theo quy định của pháp luật về đầu tư.  Đơn vị loại 1 được vay vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước hoặc được hỗ trợ lãi suất cho các dự án đầu tư sử dụng vốn vay của các tổ chức tín dụng theo quy định. Căn cứ yêu cầu phát triển của đơn vị, Nhà nước xem xét bố trí vốn cho các dự án đầu tư đang triển khai, các dự án đầu tư khác theo quyết định của cấp có thẩm quyền.

Thứ tư, các ĐVSNCL trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác phải thực hiện đúng các quy định của Nhà nước về mức chi, tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô; tiêu chuẩn, định mức về nhà làm việc; tiêu chuẩn, định mức trang bị điện thoại công vụ tại nhà riêng và điện thoại di động; chế độ công tác phí nước ngoài; chế độ tiếp khách nước ngoài và hội thảo quốc tế ở Việt Nam.

19.2.3. Phân phối kết quả tài chính trong năm trong các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác

19.2.3.1. Trích lập các quỹ trong các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác

Hàng năm, sau khi hạch toán đầy đủ các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước khác (nếu có) theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi thường xuyên (nếu có), đơn vị được sử dụng theo trình tự như sau:

Thứ nhất, trích từ phần chênh lệch thu lớn hơn chi thường xuyên (nếu có) để lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp. Trong đó, trích tối thiểu 25% (đối với các đơn vị loại 1, loại 2); trích tối thiểu 15% (đối với các đơn vị loại 3); trích tối thiểu 5% (đối với các đơn vị loại 3);

Thứ hai, trích từ phần chênh lệch thu lớn hơn chi thường xuyên (nếu có) để lập Quỹ bổ sung thu nhập, trong đó: Các Đơn vị loại 1 được tự quyết định mức trích, không khống chế mức trích; các đơn vị loại 2, loại 3, loại 4 được trích tương ứng tối đa không quá 3 lần, 2 lần, 1 lần  Quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp lương do Nhà nước quy định.

Thứ ba, trích từ phần chênh lệch thu lớn hơn chi thường xuyên (nếu có) để lập Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi, Trong đó: Các Đơn vị  loại 1, loại 2 trích tối đa không quá 3 tháng tiền lương, tiền công bình quân thực hiện trong năm của đơn vị; Các Đơn vị  loại 3, loại 4 trích tương ứng tối đa 2 tháng, 1 tháng tiền lương, tiền, công bình quân thực hiện trong năm của đơn vị;

Thứ tư, trích lập Quỹ khác theo quy định của pháp luật.

Thứ năm, phần chênh lệch thu lớn hơn chi còn lại (nếu có) sau khi đã trích lập các quỹ theo quy định các đơn vị được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp.

Ngoài những quy định về việc trích lập các quỹ trong các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác như trên, pháp luật hiện hành cũng quy định:

– Thẩm quyền của thủ trưởng đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác được quyết định Mức trích cụ thể của từng quỹ theo quy chế chi tiêu nội bộ và phải công khai trong đơn vị.

– Các đơn vị loại 4, nếu chênh lệch thu lớn hơn chi bằng hoặc nhỏ hơn một lần quỹ lương ngạch, bậc, chức vụ thực hiện trong năm, đơn vị được quyết định mức trích vào các quỹ theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị.

19.2.3.2. Sử dụng các Quỹ trong các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác

Thứ nhât, Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp: Để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc; phát triển năng lực hoạt động sự nghiệp; áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ; đào tạo nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cho người lao động trong đơn vị; góp vốn liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật và các khoản chi khác (nếu có).

Thứ hai, Quỹ bổ sung thu nhập: Để chi bổ sung thu nhập cho người lao động trong năm và dự phòng chi bổ sung thu nhập cho người lao động năm sau. Việc chi bổ sung thu nhập cho người lao động trong đơn vị được thực hiện theo nguyên tắc gắn với số lượng, chất lượng và hiệu quả công tác. Hệ số thu nhập tăng thêm của chức danh lãnh đạo đơn vị tối đa không quá 2 lần hệ số thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện của người lao động trong đơn vị.

Thứ ba, Quỹ khen thưởng: Để thưởng định kỳ, đột xuất cho tập thể, cá nhân trong và ngoài đơn vị (ngoài chế độ khen thưởng theo quy định của Luật thi đua, khen thưởng) theo hiệu quả công việc và thành tích đóng góp vào hoạt động của đơn vị. Mức thưởng do thủ trưởng đơn vị quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị.

Thứ tư, Quỹ phúc lợi: Để xây dựng, sửa chữa các công trình phúc lợi; chi cho các hoạt động phúc lợi tập thể của người lao động trong đơn vị; trợ cấp khó khăn đột xuất cho người lao động, kể cả trường hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức; chi thêm cho người lao động thực hiện tinh giản biên chế theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị.

Ngoài những quy định về việc sử dụng các quỹ trong các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác như trên, pháp luật hiện hành cũng quy định thẩm quyền của Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác được quyết định việc sử dụng các quỹ theo quy chế chi tiêu nội bộ và phải công khai trong đơn vị.

Tóm lại, có thể nói, Nghị định số 54/2016/NĐ-CP ngày 14/6/2016 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của tổ chức khoa học và công nghệ công lập và Nghị định số 141/2016/NĐ-CP ngày 10/10/2016 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác được ban hành, đã quy định khá chi tiết cơ chế tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực khoa học công nghệ, và lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác; đồng thời cũng đã quy định đồng bộ các yếu tố liên quan để tự chủ tài chính trong các đơn vị được thực hiện theo hướng tích cực, như: quy định các đơn vị được tự chủ về nhiệm vụ, biên chế, tổ chức bộ máy, giao dịch tài chính, lộ trình tính giá dịch vụ và các quy định về quản lý nhà nước đối với các loại hình đơn vị sự nghiệp công lập và dịch vụ công. Tuy nhiên, để triển khai cơ chế tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập nói chung, các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực Khoa học và công nghệ, trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác, theo nhiệm vụ đã được thủ tướng phân công, các cơ quan hữu quan còn nhiều việc phải làm để bảo đảm cho các đơn vị thực hiện tự chủ tài chính không gặp khó khăn, bất cập trên thực tế. Vì thế, vấn đề có tính quyết định đến kết quả tổ chức triển khai cơ chế tự chủ tài chính trước hết và quan trong nhất vẫn là sự nỗ lực của từng đơn vị sự nghiệp công lập trong việc áp dụng những quy định đã được quy định chi tiết, rõ ràng trong các văn bản pháp luật hiện hành phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế thực hiện chức năng nhiệm vụ và năng lực, yêu cầu quản lý tài chính của đơn vị trên thực tế. Bên cạnh đó, một thành tố không thể thiếu đó là: Cơ quan tài chính các cấp liên quan cũng cần bám sát thực tiễn, sát cánh, kịp thời hỗ trợ cùng các đơn vị tháo gở kịp thời các tồn tại trong quá trình thực hiện (nếu có).

 ——————————TÀI LIỆU THAM KHẢO———————————– 

  1. Luật Viên chức số 58/2010/QH12, đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2010.
  2. Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập.
  3. Quyết định số 695/QĐ-TTG ngày 21/5/2015, của Thủ tướng Chính phủ ban hành kế hoạch triển khai thực hiện nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập.
  4. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP ngày 14/6/2016 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của tổ chức khoa học và công nghệ công lập.
  5. Nghị định số 141/2016/NĐ-CP ngày 10/10/2016 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác.

 [1] Điều 9 Luật Viên chức số 58/2010/QH12, đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2010.

[2] Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/8/2016. Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/ 2005 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập và Điều 1 Nghị định số 96/2010/NĐ-CP ngày 20/9/2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập và Nghị định số 80/2007/NĐ-CP ngày 19/5/ 2007 của Chính phủ về doanh nghiệp khoa học và công nghệ hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.

[3] Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 20 tháng 12 năm 2016. Các đơn vị sự nghiệp kinh tế, sự nghiệp khác đang được cấp có thẩm quyền giao cơ chế tài chính theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập, thì tiếp tục được thực hiện đến hết năm 2016.

[4] Nghị định 141/2016/NĐ-CP ngày 10/10/2016 của chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác

[5] gồm: (i) Kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với đơn vị không phải là tổ chức khoa học công nghệ); (ii) Kinh phí các chương trình mục tiêu quốc gia; các chương trình, dự án, đề án khác; (iii) Kinh phí đối ứng thực hiện các dự án theo quyết định của cấp có thẩm quyền; (iv) Vốn đầu tư phát triển theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt (nếu có); (v) Kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cơ quan có thẩm quyền giao);

[6] gồm: (i) Nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng, vốn huy động của cán bộ, viên chức trong đơn vị; (ii) Nguồn vốn liên doanh, liên kết của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật; (iii) Nguồn khác (nếu có).

 

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *