Chuyên đề 18 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ QUẢN LÝ TRƯỚC THÔNG QUAN

Chuyên đề 18: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ QUẢN LÝ TRƯỚC THÔNG QUAN

 

ThS. Nguyễn Hữu Trí, Viện Nghiên cứu Hải quan – Tổng Cục Hải quan

 Quản lý trước thông quan là một trong 3 giai đoạn của hoạt động quản lý hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Hiện nay, quản lý trước thông quan đang là vấn đề được đề cập tại nhiều diễn đàn quốc tế, đặc biệt là Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và Tổ chức Hải quan thế giới (WCO).

Việt Nam đã là thành viên của WTO và WCO, do đó có nghĩa vụ tạo thuận lợi cho thương mại, giảm thiểu các khó khăn và phức tạp của thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu, cũng như giảm bớt và đơn giản hóa các yêu cầu chứng từ, giảm thời gian thông quan nhưng phải đảm bảo yêu cầu quản lý nhà nước về hải quan.

Mặt khác khi thực hiện tự động hóa thông quan, một vấn đề bất cập hiện nay là khi hàng hóa được phân vào luồng xanh, công chức hải quan rất khó kiểm soát các mặt hàng. Hơn nữa, việc kết xuất dữ liệu tập trung tại thời điểm thông quan của Chi cục gặp nhiều khó khăn. Đối với giai đoạn kiểm tra sau thông quan, việc kiểm tra những lô hàng hóa trước đó đã được phân vào luồng xanh nhưng có thêm thông tin nghi vấn rất khó thực hiện với lý do lô hàng hóa đó đã tiêu thụ, hoặc đưa vào sản xuất trước khi có quyết định kiểm tra sau thông quan.

Vì vậy, thực hiện quản lý trước thông quan không những chỉ chia sẻ áp lực công việc với giai đoạn thông quan mà còn giúp cho khâu thông quan và kiểm tra sau thông quan được tốt hơn.

Mặc dù có nhiều lợi ích như vậy, nhưng hoạt động quản lý trước thông quan là vấn đề khá mới đối với Hải quan Việt Nam. Nội dung này mới được bắt đầu triển khai vài năm trở lại đây, chủ yếu trong các lĩnh vực xác định trước xuất xứ, phân loại hàng hoá, còn E-manifest và xử lý các thông tin tình báo (nghiệp vụ) trước khi hàng đến mới được áp dụng. Tuy nhiên, kết quả còn hạn chế, các quy định của pháp luật hải quan còn chưa phản ánh hết bản chất của việc quản lý trước thông quan. Vì vậy, nhu cầu cấp thiết đặt ra là cần có nghiên cứu sâu, toàn diện về quản lý hải quan trước thông quan trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu, thông quan tự động, tạo thuận lợi thương mại, thích ứng và quản lý những vấn đề mới trong thương mại quốc tế cũng như thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của Việt Nam với tư cách thành viên của các tổ chức quốc tế như WTO, WCO…

MỤC LỤC

18.1. Cơ sở lý luận về quản lý trước thông quan

18.1.1. Những vấn đề cơ bản của quản lý trước thông quan đối với hàng nhập khẩu và mối quan hệ với quản lý trong và sau thông quan

  1. a) Khái quát về quản lý trước thông quan

Thông quan hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu là việc hoàn thành các thủ tục hải quan để hàng hóa được nhập khẩu, xuất khẩu hoặc đặt dưới chế độ quản lý hải quan khác.

Quản lý trong thông quan và quản lý sau thông quan là việc thực hiện các nghiệp vụ hải quan để đảm bảo việc thông quan hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu, các nghiệp vụ kiểm tra tính trung thực, hợp lý và độ tin cậy của các thông tin chủ hàng đã khai báo với Hải quan thông qua việc kiểm tra hồ sơ của lô hàng đã thông quan.

Quản lý trước thông quan là những hoạt động nghiệp vụ hải quan nhằm nắm bắt các thông tin về lô hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu và các chủ hàng hóa nhằm phục vụ cho hoạt động thông quan, kiểm tra sau thông quan và ngăn chặn những lô hàng không đảm bảo tiêu chuẩn nhập khẩu.

Quản lý trước thông quan theo khuyến nghị của Tổ chức Hải quan thế giới bao gồm các hoạt động chính sau:

– Tiếp nhận và xử lý tờ lược khai hàng hóa (E-Manifest);

– Thực hiện phán quyết trước về mã số, trị giá hải quan và xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

– Thu thập và xử lý thông tin tình báo (nghiệp vụ).

Đây là những hoạt động nghiệp vụ phổ biến của Hải quan các nước tiên tiến. Hoạt động này đã được quy định trong các văn kiện của Tổ chức Hải quan Thế giới, các tổ chức quốc tế khác và đặc biệt trong dự thảo Hiệp định thuận lợi hoá thương mại của Tổ chức Thương mại Thế giới mà tới đây sẽ được các nước thành viên ký kết. Hơn nữa, hoạt động này tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp tuân thủ pháp luật.

b) Mối quan hệ giữa quản lý trước, trong và sau thông quan

Trong bối cảnh toàn cầu hoá, Hải quan vừa phải không ngừng tìm kiếm các giải pháp tạo thuận lợi thương mại, đồng thời kiểm soát chặt chẽ đối tượng quản lý, trong điều kiện nguồn lực không thay đổi, thậm chí bị thu hẹp. Quản lý trước thông quan cung cấp cho cơ quan Hải quan cơ sở để thực hiện thông quan và kiểm tra sau thông quan. Qua việc xác định đối tượng có rủi ro cao, ưu tiên tập trung nguồn lực vào quản lý đối với số đối tượng này, công tác quản lý sẽ không bị dàn trải.

Việc áp dụng quản lý trước trong thông quan, nhất là vấn đề xử lý thông tin E-Manifest và thu thập thông tin nghiệp vụ làm tốt sẽ hạn chế được rất nhiều hàng hóa nhập khẩu ảnh hưởng đến môi trường, đó là những hàng hóa bị cấm nhập khẩu; những hàng hóa có xuất xứ từ những vùng đang có bệnh dịch, những hàng hóa không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.

Cũng phải nói thêm rằng, việc áp dụng quản lý trước thông quan cần sự hợp tác từ cả Hải quan và doanh nghiệp. Ngành Hải quan thông qua áp dụng quản lý trước thông quan hỗ trợ tuân thủ, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong hoạt động xuất nhập khẩu. Về phần mình, doanh nghiệp trong cơ chế áp dụng quản lý trước thông quan cần tăng cường năng lực chấp hành pháp luật và hợp tác cung cấp, trao đổi thông tin với cơ quan hải quan để góp phần xây dựng môi trường tuân thủ pháp luật hải quan.

Việc áp dụng quản lý trước thông quan là một phần không tách rời và cũng là điều kiện cho việc triển khai thực hiện chương trình cải cách, hiện đại hoá Hải quan.

Như vậy có thể nói, mối quan hệ giữa quản lý trước, trong và sau thông quan là mối quan hệ biện chứng, là một thể thống nhất trong quản lý hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu. Làm tốt khâu quản lý trước thông quan không chỉ tạo thuận lợi cho doanh nghiệp mà còn tiền đề để giảm bớt thời gian trong thông quan và tăng độ tuân thủ của doanh nghiệp, thuận lợi cho hoạt động kiểm tra sau thông quan, thúc đẩy thương mại phát triển.

18.1.2. Nội dung của hoạt động trước thông quan

a) Tiếp nhận và xử lý Bản khai hàng hóa trên phương tiện vận tải (E-Manifest)

a1) Khái niệm và bản chất của E-Manifest

Theo IMO, Manifest hay Cargo Manifest là Bản khai hàng hóa vận chuyển bằng tàu biển. Tuy nhiên theo WCO Manifest là Bản khai hàng hóa vận chuyển trên phương tiện vận tải (ở đây được hiểu là máy bay hoặc tàu thủy),  Manifest bao gồm các tiêu chí liên quan đến hàng hóa như: Số vận tải đơn (B/L), tên người gửi hàng (Shipper/Consignor), tên người nhận hàng (Consignee), ký mã hiệu; số hiệu hàng hóa, loại kiện, số lượng và mô tả hàng hóa. Theo Thuật ngữ hàng hải, có 03 loại tờ khai hàng hóa: bản khai hàng nhập (Inward cargo manifest), bản khai hàng xuất (Outward cargo manifest) và bản khai hàng hóa quá cảnh (Intransit cargo manifest). Manifest do hãng vận tải hàng hóa lập và xuất trình cho hải quan kiểm tra khi phương tiện vận tải vào/ra cảng.

Manifest điện tử (E-Manifest) là bản khai hàng hóa mà các thông tin được lập dưới dạng dữ liệu điện tử. Theo đó, hãng vận tải có thể nộp E-manifest qua hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) hoặc cổng dữ liệu của cơ quan Hải quan dựa trên website. Với hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử, hãng vận tải có thể sử dụng phần mềm EDI do doanh nghiệp mình tự phát triển hoặc sử dụng ứng dụng của nhà cung cấp dịch vụ phần mềm để trao đổi dữ liệu E-manifest với cơ quan Hải quan. Hãng vận tải cũng có thể sử dụng bên thứ ba, ví dụ như đại lý khai thuê Hải quan, dịch vụ mang giá trị gia tăng (VAN) hoặc hãng vận tải khác thay mặt họ gửi E-manifest điện tử tới cơ quan Hải quan. Hiện nay, một số nước tiên tiến đã xây dựng cổng thông tin điện tử (portal) để các hãng vận tải truyền dữ liệu đến và các cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành truy cập, xử lý thông tin.

a2) Quy trình thiết lập, nộp và luân chuyển E-manifest

E-manifest hàng nhập khẩu do hãng vận tải lập sau khi hàng đã được xếp lên phương tiện vận tải và sau đó được nộp cho cơ quan Hải quan ở nước nhập khẩu trước khi phương tiện vận tải khởi hành để cơ quan Hải quan kiểm tra, giám sát.

E-manifest hàng xuất khẩu được lập sau khi đã xếp xong hàng lên phương tiện vận tải và hãng vận tải nộp cho cơ quan Hải quan trước khi tàu xuất cảnh, căn cứ số liệu khai báo trên E-manifest, cơ quan hải quan xác nhận số lượng hàng xuất khẩu thực tế ra khỏi lãnh thổ nước xuất khẩu.

 a3) Tiêu chí thông tin của E-manifest

Theo Tổ chức Hàng hải quốc tế, E-Manifest có các tiêu chí thông tin sau:

– Thông tin về tàu: Tên tàu, quốc tịch, số hiệu/hô hiệu, số chuyến, tên thuyền trưởng, cảng xếp hàng, cảng dỡ hàng, cảng chuyển tải, cảng đích.

– Thông tin về hàng hóa: Số vận đơn, tên người gửi hàng, tên người nhận hàng, tên người thông báo (nếu có), tên hàng, loại hàng, phẩm chất, ký mã hiệu, số kiện, trọng lượng hàng…

a4) Vai trò của E-Manifest trong vận tải và giao nhận hàng hóa

 E-Manifest có tác động tích cực đến các đối tượng liên quan đến vận tải hàng hóa và hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu như cơ quan hải quan, đại lý hãng tàu, doanh nghiệp kinh doanh cảng, doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa.

Đối với cơ quan hải quan, thông qua dữ liệu của E-manifest được gửi trước, cơ quan hải quan có nguồn thông tin ban đầu để đánh giá rủi ro và phân luồng hàng hóa, góp phần thông quan nhanh hàng hóa và phương tiện vận tải, nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước về hải quan. Thông tin về tàu như tên tàu, quốc tịch, số hiệu/hô hiệu, số chuyến tàu, tịch, số hiệu/hô hiệu, số chuyến tàu, tên thuyền trưởng, cảng xếp hàng, cảng dỡ hàng, cảng chuyển tải, cảng đích và thông tin về hàng hóa như số vận đơn, tên người gửi hàng, tên người nhận hàng, tên người thông báo, tên hàng, loại hàng, phẩm chất, ký mã ký hiệu, số kiện, trọng lượng hàng…trở thành thông tin đầu vào phục vụ cho công tác quản lý, đánh giá rủi ro và công tác giám sát của Hải quan.

Sử dụng E-manifest sẽ hỗ trợ tích cực cho người vận tải gửi thông tin các lô hàng đang vận chuyển trên tàu tới hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của cơ quan hải quan và doanh nghiệp kinh doanh cảng. Các dữ liệu này hỗ trợ cho việc hài hòa và thống nhất dữ liệu khai báo E-manifest với dữ liệu khai báo trên tờ khai của doanh nghiệp nhập khẩu, dữ liệu trên vận đơn và dữ liệu quản lý hàng ra – vào cảng của doanh nghiệp kinh doanh kho bãi, tạo thuận lợi cho việc thông quan, xếp dỡ hàng hóa, giảm ách tắc tại cửa khẩu. Ngoài ra, thông tin kết xuất từ E-manifest nếu được tích hợp với dữ liệu của các công cụ hỗ trợ kỹ thuật như máy soi container, hệ thống camera giám sát, cân điện tử…sẽ giúp nâng cao hiệu kiểm tra, giám sát hải quan trước và trong thông quan tại cảng biển, cảng hàng không, góp phần đắc lực cho công tác kiểm soát hải quan, ngăn chặn hàng lậu, hàng giả, hàng kém phẩm chất và hàng cấm nhập khẩu.

Đối với đại lý hãng tàu, E-manifest là điều kiện giúp đại lý chủ động đăng ký kế hoạch xếp dỡ hàng với cảng và chủ hàng. Hàng hóa sẽ được dỡ ngay khi cập cảng, rút ngắn được thời gian lưu tàu tại cảng, đáp ứng tiến độ tàu chạy, doanh nghiệp không phải chờ đợi lâu để làm các thủ tục hành chính hay chậm trễ trong việc xếp dỡ hàng hóa.

Đối với doanh nghiệp kinh doanh cảng, E-manifest giúp việc dỡ hàng hóa được nhanh chóng, chính xác, và thuận lợi. Theo đó, tàu sẽ được giải phóng khỏi cảng nhanh hơn, đảm bảo kế hoạch tàu ra – vào cảng, đồng thời nâng cao tần suất hoạt động của cảng. Do đó, đẩy nhanh quá trình vận tải, giao – nhận hàng hóa. Liên quan đến vấn đề này và theo yêu cầu quản lý hải quan, dựa trên thông tin E-manifest, các lô hàng nghi vấn sẽ được kiểm tra không xâm nhập trước khi chuyển đến lưu tại các kho bãi trong cảng.

Đối với doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa, do E-manifest giúp thông quan tàu biển và giao nhận hàng tại cảng nhanh chóng, kịp thời nên doanh nghiệp nhập khẩu giảm thiểu được thời gian và chi phí khi nhận hàng, rút ngắn được độ trễ dịch vụ logistics, giúp việc giao nhận hàng đúng hạn cho đối tác thương mại, đảm bảo hàng hóa kịp đưa ra thị trường, từ đó nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường.

Tóm lại, E-manifest là chứng từ gửi trước giúp cho cơ quan hải quan phân tích, xử lý dữ liệu của bản khai hàng hóa, từ đó triển khai các biện pháp nghiệp vụ nhanh gọn, đem lại lợi ích cho doanh nghiệp, người dân. Các hãng tàu hay đại lý hãng tàu cũng sẽ dựa vào đó để chủ động trong kế hoạch xếp dỡ hàng hóa tại cảng. Căn cứ vào E-manifest, hàng hóa sẽ được bốc dỡ ngay nên rút ngắn được thời gian lưu tàu tại cảng, đáp ứng được tiến độ tàu chạy, rút ngắn thời gian để làm các thủ tục hành chính. Doanh nghiệp kinh doanh cảng sẽ được hưởng lợi từ việc khai báo trước E-manifest của đại lý hãng tàu. Thông tin trước từ bản khai hàng hóa giúp cho việc bốc dỡ hàng hóa, giao nhận hàng hóa đúng tiến độ, khai thác tối đa hiệu quả công năng của cảng và nâng cao tần suất hoạt động của cảng, giảm thiểu tối đa ách tắc hàng hóa tại cảng. Hơn nữa, doanh nghiệp nhập khẩu sẽ được hưởng lợi từ việc thông quan nhanh phương tiện vận tải và thủ tục giao nhận hàng tại cảng nên tiết kiệm được thời gian, chi phí, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Ngoài ra, việc có thông tin trước từ E-manifest sẽ làm cơ sở để cơ quan hải quan thực hiện thủ tục thông quan cho hàng hóa trước khi tàu cập cảng. Đây là một bước cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý hải quan. Việc có được thông tin từ E-manifest tạo điều kiện giản đơn hóa các thủ tục liên quan đến hải quan, vận tải, biên phòng, xuất nhập cảnh, kiểm dịch, y tế… tại các cảng biển, tạo điều kiên tối đa cho hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư, du lịch…b) Phán quyết trước

b1) Khái niệm, bản chất, lợi ích của phán quyết trước

Khái niệm: “Phán quyết” theo từ điển tiếng Việt là một quyết định có tính pháp lý buộc người khác phải tuân theo. Phán quyết trước là thuật ngữ ghép, chỉ một quyết định đã được định đoạt trước.

Thuật ngữ “Phán quyết trước hay Quyết định trước – Advance Ruling” được đề cập trong lĩnh vực hải quan là việc một cơ quan hải quan (hoặc cơ quan có thẩm quyền) đưa ra quyết định trước bằng văn bản đối với một vấn đề cụ thể hoặc nghĩa vụ mà doanh nghiệp phải thực hiện, ví dụ như phân loại hàng hóa, trị giá, xuất xứ hàng hóa hoặc ưu đãi đối với hàng hoá dự kiến sẽ xuất khẩu, nhập khẩu.

Phán quyết trước về mã số hàng hóa, xuất xứ và trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được cơ quan hải quan thực hiện đối với hàng hóa của doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu trước khi cơ quan hải quan làm thủ tục hải quan để thông quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

Xét về bản chất, mặc dù các nước có quy định khác nhau về phán quyết trước, tuy nhiên những điểm cơ bản của một phán quyết trước thường tương tự nhau bao gồm:

–  Phán quyết trước được ban hành theo đề nghị của doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp;

–  Có tính ràng buộc pháp lý, ban hành trước khi xuất khẩu hoặc nhập khẩu hàng hóa, dưới dạng văn bản của Cơ quan hải quan có thẩm quyền;

– Có giá trị trong khoảng thời gian xác định kể từ ngày ban hành.

Cơ quan Hải quan chỉ ban hành các Phán quyết trước theo yêu cầu của bên có liên quan, với điều kiện cơ quan Hải quan có được tất cả những thông tin về hàng hóa xuất nhập khẩu theo quy định mà cơ quan Hải quan cho là cần thiết. Yêu cầu về hồ sơ đề nghị phải đáp ứng đầy đủ các quy định, đồng thời có khung thời gian xác định cho việc xem xét, xử lý hồ sơ;

– Lợi ích và vai trò của hoạt động phán quyết trước trong lĩnh vực hải quan

Công ước Kyoto sửa đổi (Việt Nam đã ký nghị định thư tham gia từ 2008) cũng như các cam kết quốc tế trong khuôn khổ Tổ chức thương mại thế giới, các nước ASEAN và một số Hiệp định thương mại tự do đều khuyến nghị cơ quan hải quan cho phép doanh nghiệp được áp dụng cơ chế phân loại trước về mã số, về xác định trị giá tính thuế, về xuất xứ hàng hoá trước khi làm thủ tục cho hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu. Cơ chế này là chuẩn mực quốc tế về tạo thuận lợi thương mại mang lại cho cả doanh nghiệp và hải quan những lợi ích nhất định. Thông báo kết quả Phán quyết trước thể hiện sự hợp tác và xây dựng niềm tin giữa Hải quan và doanh nghiệp, đóng góp vào việc xây dựng quan hệ đối tác, hợp tác, chia sẻ trách nhiệm và cùng đạt mục tiêu của hai bên là tạo thuận lợi và tuân thủ pháp luật.

Lợi ích có được cho Hải quan từ hoạt động Phán quyết trước bao gồm nâng cao năng suất và hiệu quả quản lý nhờ đẩy nhanh tốc độ thông quan hàng hóa, phân bổ nguồn lực hợp lý vào các giai đoạn trước, trong và sau thông quan. Giúp cơ quan Hải quan tăng hiệu quả quản lý khi thực hiện thủ tục thông quan cho hàng xuất khẩu, nhập khẩu; hạn chế các trường hợp tranh chấp giữa doanh nghiệp và cơ quan Hải quan về việc áp mã hàng hóa, xác định trị giá tính thuế, xuất xứ hàng hoá khi làm thủ tục thông quan. Hai bên sẽ tiết kiệm được cả thời gian và chi phí quản lý không phải theo đuổi các vụ khiếu nại, kiện tụng kéo dài.

Bên cạnh đó, hoạt động phán quyết trước góp phần nâng cao trách nhiệm của cơ quan Hải quan liên quan đến quy trình ra phán quyết. Cơ quan hải quan ra phán quyết phải đưa ra lý do của phán quyết và logic được sử dụng để làm căn cứ cho việc đưa ra phán quyết.Tránh tình trạng lợi dụng Phán quyết trước làm cản trở hoạt động thương mại. Và đặc biệt kết quả thông báo của Phán quyết trước bổ sung cho cơ sở dữ liệu của hệ thống thông quan tự động và việc phân luồng tự động được chính xác hơn.

Đối với doanh nghiệp sẽ căn cứ vào những thông tin được cung cấp trước có tính ràng buộc pháp lý để lập kế hoạch kinh doanh và tính toán lợi nhuận. Điều này làm tăng độ chắc chắn và có thể dự doán được những lợi ích cho các doanh nghiệp khi tham gia các giao dịch thương mại quốc tế. Ngoài ra, Phán quyết trước giúp cho doanh nghiệp giảm thiểu được thời gian và chi phí thông quan hàng hóa vì hưởng lợi từ quá trình thông quan được nhanh chóng.

b2) Quy định về hoạt động phán quyết trước trong lĩnh vực Hải quan

b2.1) Các quy định chung

Công ước Kyoto sửa đổi, Tại Chuẩn mực 9.9 Phụ lục tổng quát của công ước đã quy định: “Cơ quan Hải quan phải ban hành các phán quyết trước mang tính pháp lý theo yêu cầu của bên có liên quan, với điều kiện cơ quan hải quan có tất cả những thông tin mà họ cho là cần thiết”. 

Công ước Kyoto sửa đổi khuyến nghị Hải quan các nước thực hiện phán quyết trước, một số Hiệp định thương mại tự do cũng quy định thực hiện phán quyết trước nhằm cung cấp thông tin trước giúp doanh nghiệp chủ động và tạo thuận lợi cho quá trình tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp. Phán quyết trước được cơ quan Hải quan đưa ra theo đề nghị và dựa trên thông tin về hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu do doanh nghiệp cung cấp. Một số nước đưa nội dung phán quyết trước đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thành quy định bắt buộc trong luật, một số nước khác coi đây là một cam kết.

Phán quyết trước về mã số hàng hóa là yêu cầu phổ biến nhất được các doanh nghiệp đưa ra. Thủ tục đưa ra phán quyết trước đối với các hình thức phán quyết trước về mã số, xuất xứ và trị giá hàng hóa đều tương tự nhau. Theo quy định, để nhận được phán quyết trước doanh nghiệp phải cung cấp cho cơ quan hải quan các thông tin tối thiểu sau:

– Tên và địa chỉ của người nộp đề nghị;

– Thông tin chi tiết về hàng hóa như:

+ Mô tả về thương mại;

+ Đặc tính tự nhiên, cấu tạo, chất lượng;

+ Trị giá, xuất xứ, mục đích sử dụng cuối cùng;

+ Đóng gói và quá trình sản xuất (nếu cần thiết);

+ Thông tin về các lần nhập khẩu trước đó của người nộp đề nghị đối với hàng hóa cùng loại cùng với thuế suất đã được áp dụng;

+ Đơn vị Hải quan nơi hàng hóa sẽ được thông quan.

Cơ quan hải quan có thể yêu cầu doanh nghiệp đề nghị phán quyết trước gửi mẫu hàng hóa, nếu là mặt hàng phù hợp để lấy mẫu, hoặc gửi ảnh, bản vẽ hoặc bản mô tả đầy đủ và chính xác về hàng hóa.

Hiệp định Hải quan ASEAN, Điều 34 quy định: “trong phạm vi pháp luật cho phép, các cơ quan hải quan của các Nước thành viên sẽ quy định bằng văn bản về các quyết định trước phù hợp với các điều khoản quy định tại Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN”. 

  b2.2) Các quy định về phân loại hàng hóa trước

  (i) Nguyên tắc xác định trước mã số hàng hóa xuất nhập khẩu

Để thực hiện xác định trước mã số hàng hóa xuất nhập khẩu, cơ quan phân loại trước tuân thủ các nguyên tắc sau:

– Chỉ phân loại hàng hoá trước đối với hàng hoá chưa làm thủ tục hải quan xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá;

– Khi phân loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu phải dựa vào các yếu tố sau:

+ Danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; Biểu thuế nhập khẩu; Biểu thuế xuất khẩu.

+ 6 Quy tắc tổng quát của Công ước HS;

+ Chú giải bắt buộc của Công ước HS;

+ Chú giải chi tiết Hệ thống hài hoà mô tả và mã hoá hàng hoá (HS).

   – Tuỳ theo từng trường hợp cụ thể của hàng hoá mà dựa vào một hay nhiều căn cứ dưới đây để phân loại:

+ Mẫu hàng hoá;

+ Tài liệu kỹ thuật, mô tả chi tiết hàng hoá, catalogue minh hoạ hàng hoá;

+ Kết quả phân tích, giám định hàng hoá.

(ii) Phân loại trước trong trường hợp có mẫu hàng

  Để thực hiện phân loại trước hàng hóa xuất nhập khẩu người khai hải quan có yêu cầu phân loại trước phải gửi phiếu yêu cầu kèm mẫu hàng và tài liệu liên quan cho Cơ quan Hải quan nơi dự kiến sẽ làm thủ tục hải quan để thực hiện phân loại.

Cơ quan Hải quan tiếp nhận yêu cầu trên, thực hiện việc phân loại và ra Thông báo kết quả phân loại cho người khai hải quan.

Trường hợp không phân loại được thì Cơ quan Hải quan đề nghị cơ quan có thẩm quyền phân tích và thực hiện phân loại.

Hiệu lực của thông báo kết quả phân loại trước    

Thông báo kết quả phân loại trước có hiệu lực thực hiện trong thời gian nhất định kể từ ngày cơ quan hải quan ra Thông báo. Quá thời hạn trên mà người khai hải quan không làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá thì Thông báo đó không còn giá trị thực hiện.

Điều kiện áp dụng kết quả phân loại trước

Hàng hóa được áp dụng kết quả phán quyết trước mã số phải đáp ứng các điều kiện sau:

– Mẫu lưu còn nguyên trạng. Mẫu này có thể được lưu tại cơ quan Hải quan hoặc niêm phong hải quan để tại doanh nghiệp hay kho của người vận.

 – Thực tế hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu được Hải quan cửa khẩu xác định đúng là hàng hoá đã được phân loại trước;

  – Trong thời gian từ khi cơ quan hải quan Thông báo kết quả phân loại trước đến khi người khai hải quan làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu thực tế hàng hoá, quy định của pháp luật về phân loại hàng hoá đối với mặt hàng phân loại trước không có sự thay đổi.

  – Cơ quan hải quan không phát hiện sai sót hoặc khai báo không trung thực của người khai hải quan hoặc sai sót của cơ quan hải quan trong quá trình phân loại trước.

 Đối với hàng có khối lượng, kích thước lớn, hàng có yêu cầu bảo quản đặc biệt cơ quan hải quan thực hiện như sau:

  – Sau khi chấp nhận đề nghị của người khai hải quan và các tài liệu, thông tin cần thiết cho việc phân loại hàng hoá. Chi cục Hải quan cử kiểm hoá viên trực tiếp kiểm tra, chụp ảnh hàng hoá và thực hiện phân loại hàng hoá.

  – Trường hợp không phân loại được thì cơ quan Hải quan đề nghị cơ quan có thẩm quyền thực hiện phân tích để phân loại.

(iii) Phân loại trước trong trường hợp không có mẫu hàng

Đối với hàng hóa không có hàng mẫu, thủ tục đề nghị phân loại trước thực hiện như đối với trường hợp có mẫu hàng. Trường hợp này, người khai hải quan cần mô tả chi tiết hàng hoá tại phiếu yêu cầu phân loại trước và cung cấp tài liệu, thông tin cần thiết cho Hải quan. Nếu không đủ cơ sở phân loại, Hải quan có quyền từ chối yêu cầu của người khai hải quan.

Trường hợp không có mẫu hàng lưu tại cơ quan hải quan, Thông báo kết quả phân loại trước trong trường hợp không có hàng mẫu chỉ có giá trị tham khảo khi làm thủ tục hải quan.

(iv) Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp yêu cầu phán quyết trước mã số

Doanh nghiệp có yêu cầu phán quyết trước mã số hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có quyền và nghĩa vụ sau:

– Được cơ quan hải quan cung cấp thông tin, xem hàng hoặc lấy mẫu hàng phục vụ việc phân loại hàng hoá và khai báo hải quan;

– Được cơ quan hải quan hướng dẫn phân loại hàng hoá khi có yêu cầu;

– Được quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật; 

– Thực hiện phân loại hàng hoá và khai báo hải quan theo đúng quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả phân loại hàng hoá của mình.

– Thực hiện quyết định phân loại hàng hoá của cơ quan hải quan trong quá trình làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá;

– Cung cấp mẫu hàng, chứng từ, tài liệu liên quan để phục vụ mục đích phân loại hàng hoá theo yêu cầu của cơ quan hải quan.

  b2.3) Các quy định về phán quyết trước trị giá

  (i) Nguyên tắc xác định trước trị giá hàng hóa xuất nhập khẩu

Để thực hiện xác định trước trị giá hàng hóa xuất nhập khẩu, cơ quan xác định trước trị giá tuân thủ các nguyên tắc sau:

– Xác định trước trị giá tính thuế đối với hàng hoá chưa làm thủ tục hải quan xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá;

– Khi xác định trị giá hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu phải tuân thủ các phương pháp xác định trị giá hải quan theo quy định của Hiệp định thực thi Điều VII Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT 1994. Xác định trước trị giá tính thuế là “trị giá giao dịch”, ngoài ra các nội dung khác, quy định về sự điều chỉnh giá thanh toán thực tế hoặc giá phải thanh toán, trong trường hợp người mua chịu một số chi phí cấu thành cụ thể nào đó, được coi là đã tạo thành một phần của giá trị mà hải quan dùng để tính thuế, nhưng hiện chưa tính vào giá thực tế đã thanh toán hoặc phải thanh toán cho hàng nhập khẩu. Trị giá giao dịch bao gồm cả các chi phí mà người mua thanh toán cho người bán dưới dạng hàng hóa hay dịch vụ cụ thể nào đó chứ không phải dưới dạng tiền. Nếu không xác định được trị giá bằng phương pháp xác định trị giá giao dịch, ta thực hiện xác định trị giá hải quan bằng các phương pháp khác tuần tự theo quy định tại Hiệp định trị giá hải quan.

(ii) Điều kiện phán quyết trước trị giá đối với hàng hóa xuất nhập khẩu

Các trường hợp và điều kiện phán quyết trước trị giá đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu bao gồm:

– Hàng hóa dự kiến phán quyết trước trị giá phải là hàng hóa chưa làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu;

– Phải xác định truớc phương pháp xác định trị giá tính thuế, các khoản điều chỉnh cộng, điều chỉnh trừ đối với lô hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

Hiệu lực của thông báo kết quả phán quyết trước trị giá    

Thông báo kết quả phán quyết trước phương pháp xác định trị giá có hiệu lực thực hiện trong thời gian nhất định kể từ ngày cơ quan hải quan ra Thông báo . Quá thời hạn trên mà người khai hải quan không làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá thì Thông báo đó không còn giá trị thực hiện.

Đối với phán quyết trước về mức giá chỉ có giá trị đối với lô hàng trực tiếp xin phán quyết trước.

Điều kiện áp dụng kết quả xác định trị giá trước

Hàng hóa được áp dụng kết quả phán quyết trước phương pháp xác định  trị giá tính thuế phải đáp ứng các điều kiện sau:

– Thực tế hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu được Hải quan cửa khẩu xác định đúng là hàng hoá đã được phán quyết trước phương pháp xác định trị giá;

– Trong thời gian từ khi cơ quan hải quan Thông báo kết quả phán quyết trước phương pháp xác định trị giá trước đến khi người khai hải quan làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu thực tế hàng hoá, quy định của pháp luật đối với mặt hàng có phán quyết trước phương pháp xác định trị giá không không có sự thay đổi;

– Cơ quan hải quan không phát hiện sai sót hoặc khai báo không trung thực của người khai hải quan hoặc sai sót của cơ quan hải quan trong xác định phương pháp xác định trị giá.

(iii) Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp yêu cầu xác định trước trị giá

Doanh nghiệp có yêu cầu xác định trước trị giá hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có quyền và nghĩa vụ sau:

– Được cơ quan hải quan cung cấp thông tin, xem hàng hoặc lấy mẫu hàng phục vụ việc xác định trị giá hàng hoá và khai báo hải quan;

– Được cơ quan hải quan hướng dẫn xác định phương pháp xác định trị giá hàng hoá nếu yêu cầu;

– Được quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật; 

  • Thực hiện quyết định phán quyết trước phương pháp xác định trị giá hàng hoá của cơ quan hải quan trong quá trình làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá;
  • Cung cấp chứng từ, tài liệu liên quan để phục vụ mục đích xác định phương pháp xác định trị giá hàng hoá theo yêu cầu của cơ quan hải quan.

  b2.4) Các quy định về phán quyết trước xuất xứ hàng hóa

(i) Nguyên tắc xác định trước xuất xứ của hàng hóa nhập khẩu

Để thực hiện phán quyết trước xuất xứ hàng hóa nhập khẩu, cơ quan hải quan tuân thủ các nguyên tắc sau:

– Phán quyết trước xuất xứ đối với hàng hoá nhập khẩu đối với hàng hóa  chưa làm thủ tục hải quan nhập khẩu;

– Khi xác phán quyết trước xuất xứ hàng hoá nhập khẩu phải tuân thủ các quy định về xác định xuất xứ hàng hóa gồm:

+ Xác định xuất xứ hàng hóa nhập khẩu theo Quy tắc xuất xứ ưu đãi được áp dụng theo các Điều ước quốc tế và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan quy định chi tiết việc thi hành các Điều ước này;

+ Xác định xuất xứ hàng hóa nhập khẩu theo quy tắc xuất xứ không ưu đãi theo quy định của Hiệp định quy tắc xuất xứ hoặc các Hiệp định thương mại đa phương hoặc song phương. Hàng hoá được coi là có xuất xứ khi thuộc một trong các trường hợp sau: Xuất xứ thuần tuý; Xuất xứ không thuần tuý.

(ii) Điều kiện xác định trước xuất xứ đối với hàng hóa nhập khẩu

Các trường hợp và điều kiện phán quyết trước xuất xứ đối với hàng hóa nhập khẩu bao gồm:

– Hàng hóa dự kiến phán quyết trước xuất xứ phải là hàng hóa mà trước đó doanh nghiệp chưa từng nhập khẩu từ nơi định xác định trước xuất xứ;

– Người xin phán quyết trước xuất xứ phải cung cấp mô tả chi tiết về hàng hóa và tất cả các thông tin liên quan cần thiết về lô hàng cần phán quyết trước và cung cấp các thông tin bổ sung trong một thời gian nhất định;

– Căn cứ trên cơ sở thực tế và hoàn cảnh mà người xin cấp trình bày và các thông tin liên quan khác của các nhà hoạch định chính sách.

 Hiệu lực của thông báo kết quả xác định trước xuất xứ    

Thông báo kết quả xác định trước xuất xứ có hiệu lực thực hiện trong thời gian nhất định kể từ ngày cơ quan hải quan ra Thông báo. Quá thời hạn trên mà người khai hải quan không làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá thì Thông báo đó không còn giá trị thực hiện.

Điều kiện áp dụng kết quả xác định trước xuất xứ

Hàng hóa được áp dụng kết quả xác định trước xuất xứ phải đáp ứng các điều kiện sau:

 – Thực tế hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu được Hải quan cửa khẩu xác định đúng là hàng hoá đã được phán quyết trước xuất xứ;

– Trong thời gian từ khi cơ quan hải quan Thông báo kết quả xác định xuất xứ trước đến khi người khai hải quan làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu thực tế hàng hoá, quy định của pháp luật đối với mặt hàng xác định trước xuất xứ không không có sự thay đổi về các tiêu chí xác định xuất xứ như: chuyển đổi mã số, phần trăm giá trị gia tăng, gia công chế biến cơ bản….

– Cơ quan hải quan không phát hiện sai sót hoặc khai báo không trung thực của người khai hải quan hoặc sai sót của cơ quan hải quan trong xác định trước xuất xứ.

(iii) Quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp yêu cầu xác định trước xuất xứ

Doanh nghiệp có yêu cầu phán quyết trước xuất xứ hàng hóa xuất nhập khẩu có quyền và nghĩa vụ sau:

  • Được cơ quan hải quan cung cấp thông tin, xem hàng hoặc lấy mẫu hàng phục vụ việc xác định xuất xứ hàng hoá và khai báo hải quan;

– Được cơ quan hải quan hướng dẫn xác định xuất xứ khi có yêu cầu;

– Được quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật; 

  • Thực hiện quyết định phán quyết trước xuất xứ hàng hoá của cơ quan hải quan trong quá trình làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá;
  • Cung cấp chứng từ, tài liệu liên quan để phục vụ mục đích xác định xuất xứ hàng hoá theo yêu cầu của cơ quan hải quan.

b2.5) Các quy định về khiếu nại

Người khai hải quan không nhất trí với kết luận phán quyết trước về phân loại hàng hóa, phương pháp xác định, mức gia trị giá tính thuế hoặc xuất xứ  hàng hóa của cơ quan hải quan thì có  quyền khiếu nại, cụ thể như sau:

  • Không đồng ý với kết luận phán quyết trước của cơ quan Hải quan thì làm văn bản đề nghị cơ quan Hải quan làm thủ tục lô hàng xem xét lại kết quả phán quyết trước của lô hàng xuất nhập khẩu;
  • Không đồng ý với giải quyết khiếu nại của cơ quan Hải quan làm thủ tục xuất nhập khẩu thì đề nghị cơ quan Hải quan cấp trên liên quan giải quyết;

–  Không nhất trí với giải quyết của cơ quan hải quan cao nhất thì làm văn bản đề nghị cơ quan chủ quản lực lượng Hải quan giải quyết. Quyết định của Cơ quan chủ quản lực lượng Hải quan là quyết định cuối cùng;

–  Trường hợp không nhất trí với kết quả giải quyết khiếu nại trên đây thì có quyền khởi kiện tại toà án theo quy định của luật pháp quốc gia.

  1. c) Thu thập và xử lý thông tin nghiệp vụ

c1) Khái niệm về thu thập, xử lý thông tin nghiệp vụ

Thông tin là một khái niệm trừu tượng, tồn tại khách quan, có thể nhớ trong đối tượng, biến đổi trong đối tượng và áp dụng để điều khiển đối tượng. Thông tin làm tăng thêm hiểu biết của con người, là nguồn gốc của nhận thức. Thông tin về một đối tượng chính là dữ kiện về đối tượng đó, chúng giúp ta nhận biết và hiểu được đối tượng. Thông tin có liên quan chặt chẽ đến khái niệm về độ bất định. Mỗi đối tượng chưa xác định hoàn toàn đều có một độ bất định nào đó. Tính bất định này chưa cho biết một cách chính xác và đầy đủ về đối tượng đó.

Thông tin chứa đựng ý nghĩa, còn dữ liệu là các dữ kiện không có cấu trúc và không có ý nghĩa rõ ràng nếu nó không được tổ chức và xử lý. Cùng một thông tin, có thể được biểu diễn bằng những dữ liệu khác nhau. Cùng biểu diễn một đơn vị, nhưng trong chữ số thập phân ta cùng ký hiệu 1, còn trong hệ đếm La Mã lại dùng ký hiệu I. Mỗi dữ liệu lại có thể được thể hiện bằng những ký hiệu vật lý khác nhau. Cũng là gật đầu, đối với nhiều dân tộc trên thế giới thì đó là tín hiệu thể hiện sự đồng tình; nhưng ngược lại, đối với người Hy Lạp, gật đầu để biểu lộ sự bất đồng. Cùng là ký hiệu I nhưng trong tiếng Anh có nghĩa là đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất (tôi) còn trong toán học là chữ số La Mã có giá trị là 1. Mỗi tín hiệu có thể dùng để thể hiện các thông tin khác nhau.

Có thể khái quát: Thông tin là tất cả các sự việc, sự kiện, ý tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người. Thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp: một nguời có thể nhận thông tin trực tiếp từ người khác thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, từ các ngân hàng dữ liệu, hoặc từ tất cả các hiện tượng quan sát được trong môi trường xung quanh.

Thu thập, xử lý thông tin là một trong những hoạt động cơ bản, quan trọng trong mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của các cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức chính trị – xã hội,… nhằm thu thập đầy đủ các thông tin, dữ liệu ban đầu đề đề ra các giải pháp quản lý và phương án giải quyết công việc một cách tối ưu, hiệu quả, nhằm đạt được những mục đích đã được xác định.

Đối với công tác quản lý trong các hoạt động nghiệp vụ hải quan, hoạt động thu thập, xử lý thông tin nghiệp vụ hải quan là quá trình tổ chức thực hiện các biện pháp nghiệp vụ công khai và bí mật để thu thập thông tin, tài liệu, dữ liệu liên quan đến hàng hóa, người thực hiện xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, quá cảnh để từ đó nghiên cứu, phân tích, đánh giá và tổng hợp mức độ rủi ro của người thực hiện xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, quá cảnh, hỗ trợ hiệu quả quá trình quán lý hải quan, quản lý thuế.

Thông tin phục vụ quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan bao gồm:

  • Thông tin về người thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;
  • Thông tin về hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải, hành lý của hành khách xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;
  • Thông tin về kết quả kiểm tra trong thông quan, kiểm tra sau thông quan, giám sát hải quan, kiểm soát hải quan, thanh tra, điều tra, xử lý vi phạm trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;
  • Thông tin vi phạm pháp luật hải quan, vi phạm pháp luật thuế, vi phạm trong lĩnh vực kế toán, thống kê;
  • Các thông tin khác có liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.

Các yếu tố cơ bản trong xử lý thông tin: Con người nhận thông tin thông qua các giác quan: âm thanh qua thính giác; hình ảnh và văn bản qua thị giác; trạng thái, nhiệt độ, cảm xúc qua xúc giác; mùi vị qua khứu giác. Để giải thích và hiểu được các tín hiệu nhận được từ các giác quan, con người phải phát triển và học các hệ thống ngôn ngữ phức hợp, nó bao gồm một “bộ chữ cái” các tín hiệu và các tác nhân kích thích cùng với các quy tắc sử dụng chúng. Điều đó cho phép người ta nhận ra các đối tượng mà họ nhìn thấy, hiểu được các thông báo mà họ đọc hoặc nghe, cảm nhận được các tín hiệu nhận được qua xúc giác và khứu giác. Với công nghệ thông tin hiện đại, thông tin được biểu diễn dưới dạng các tín hiệu số nhị phân, dựa trên kỹ thuật số. Đó có thể coi là bước chuyển biến mang ý nghĩa lịch sử vào cuối thế kỷ 20 trong cách thức mà con người sáng tạo, tiếp cận và sử dụng thông tin.

c2)Nội dung hoạt động thu thập, xử lý thông tin nghiệp vụ hải quan

Công tác thu thập, xử lý thông tin nghiệp vụ được tiến hành theo năm bước: Xác định như cầu; Thu thập thông tin; Xử lý thông tin; Cung cấp thông tin và Đánh giá hiệu quả, giá trị của thông tin.

Trong đó việc xác định nhu cầu thu thập thông tin phải được xác định dựa vào cơ sở nhu cầu của công tác quản lý nước về hải quan, dự báo và định hướng công tác quản lý hải quan hoặc theo đề nghị trao đổi, phối hợp của các cơ quan bảo vệ pháp luật trong nước, tổ chức hải quan và thực thi pháp luật quốc tế.

Sau khi xác định nhu cầu thông tin, tiến hành thu thập thông tin công khai và bí mật theo từng loại phương pháp. Đối với các thông tin công khai, tiến hành thu thập các thông tin do các đơn vị nghiệp vụ cung cấp, thông tin từ cơ sở dữ liệu ngành Hải quan và các cơ quan nhà nước khác, thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng trong và ngoài nước, tổng hợp từ nội dung các công văn, báo cáo về các nội dung có liên quan, thu thập thông tin từ các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, Hải quan các nước và Tổ chức Hải quan quốc tế…

c3) Đối tượng thu thập và xử lý thông tin

Để công tác quản lý trước thông quan đạt hiệu quả, công tác thu thập và xử lý thông tin cần tập trung vào các đối tượng sau:

Thu thập, xử lý thông tin liên quan đến các lĩnh vực hải quan

Trên cơ sở yêu cầu, nhiệm vụ, phạm vi thẩm quyền về công tác quản lý rủi ro của ngành Hải quan trong từng thời gian, mặt hàng cụ thể, lực lượng hải quan chuyên trách các cấp cần tổ chức thu thập và làm rõ những nội dung có liên quan đến từng cấp, từng thời điểm…

Nội dung thông tin liên quan cần thu thập, xử lý gồm:

  • Chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các văn bản pháp quy Bộ Tài chính và các Bộ, Ngành có liên quan, các văn bản hướng dẫn và quy trình nghiệp vụ Hải quan còn hiệu lực;
  • Tình hình xu thế phát triển thương mại trên thế giới, khu vực cũng như tại Việt Nam, các dịch vụ và logistics;
  • Tình hình buôn lậu, gian lận thương mại tại các nước trong khu vực, vùng lãnh thổ và trên thế giới, cũng như phương thức, thủ đoạn hoạt động của các đối tượng;
  • Tình hình và phương thức thủ đoạn hoạt động của các đối tượng buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và các vi phạm khác về pháp luật Hải quan của các đối tượng ở trong nước hoặc các đường dây buôn lậu liên quan đến yếu tố nước ngoài;
  • Tình hình vi phạm pháp Hải quan của cơ quan, tổ chức và cá nhân trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh nhập cảnh, quá cảnh và các vi phạm khác liên quan đến lĩnh vực Hải quan của các cơ quan, doanh nghiệp và các cộng đồng dân cư trong địa bàn hoạt động Hải quan;
  • Tình hình và kết quả thực hiện các quy chế hợp tác giữa các ngành, các cấp và các cơ quan hữu quan trong nước và nước ngoài về lĩnh vực Hải quan, đặc biệt là hiệu quả trong động phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức về phòng, chống buôn lậu.

  Thu thập, xử lý thông tin về nghiệp vụ hải quan

  • Thông tin về bộ hồ sơ hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;
  • Thông tin về quá trình kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cành;
  • Thông tin về doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu, quy mô hoạt động, phạm vi ngành hàng, quá trình tuân thủ pháp luật…

Thông tin từ Bộ, Ngành có liên quan

  • Thông tin về chính sách quản lý hàng hóa sản xuất xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh và phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh thuộc lĩnh vực quản lý chuyên ngành;
  • Thông tin về cấp phép hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;
  • Thông tin về xử lý vi phạm đối với tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu.

Thông tin về tổ chức, cá nhân tham gia hoặc có liên quan đên sản xuất và hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh

  • Thông tin về đăng ký, thành lập, giải thể, phá sản và tình trạng tài chính của tổ chức, cá nhân;
  • Thông tin về quá trình thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;
  • Thông tin về quá trình tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực hải quan, thuế, kế toán, thống kê;
  • Thông tin khác có liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cành do các tổ chức, cá nhân thực hiện.

c4) Phương pháp thu thập và xử lý thông tin

Nguồn thông tin cần thu thập

  • Thu thập các thông tin tài liệu thông qua các biện pháp nghiệp vụ công khai của lực lượng hải quan.
  • Thu thập các thông tin tài liệu thông qua các biện pháp nghiệp vụ trinh sát của lực lượng kiểm soát hải quan.
  • Thu thập thông tin qua các phương tiện thông đại chúng, như: Đài phát thanh, vô tuyến, báo chí, internet, nguồn tin tố giác của quần chúng,….
  • Thu thập thông tin từ các Bộ, Ngành và cơ quan hữu quan trong nước theo các quy chế, từ Hải quan các nước, tổ chức hải quan khu vực, WCO theo cơ chế hợp tác, trao đổi thông tin.

Phương pháp thu thập thông tin

Để công tác thu thập, xử lý thông tin đạt hiệu quả, lực lượng Hải quan cần tiến hành điều tra nghiên cứu nắm tình hình theo một số phương pháp cơ bản sau:

  • Kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, hành khách, phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh tại cửa khẩu và địa điểm làm thủ tục Hải quan;
  • Tiếp nhận thông tin về hàng hóa, hành lý của hành khách trước khi đến hoặc rời biên giới; tiếp nhận thông tin khai hải quan đối với hàng hóa, phương tiện vận tải, hành lý của hành khách;
  • Cập nhật kết quả thực hiện thủ tục hải quan, kiểm tra trong thông quan, kiểm tra sau thông quan, giám sát hải quan, kiểm soát hải quan, thanh tra, điều tra, xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;
  • Kết nối chia sẻ, cập nhật, quản lý hệ thống thông tin về người thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; quá trình hoạt động và chấp hành pháp luật Hải quan, pháp luật thuế của người thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;
  • Khai thác cơ sở dữ liệu thông tin của Hải quan và thông tin về xử lý vi phạm pháp luật hải quan;
  • Xây dựng hệ thống thông tin hải quan một cửa quốc gia; kết nối, cập nhật, chia sẻ thông tin về chính sách quản lý, chính sách thuế, xuất xứ hàng hóa, các thông tin khác liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh;
  • Phối hợp với các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Tài chính và các cơ quan, đơn vị thuộc các Bộ, Ngành liên quan trong việc trao đổi, cung cấp thông tin phục vụ quản lý hải quan, quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tại xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh,
  • Phối hợp trao đổi thông tin với Hải quan các nước, các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan ở nước ngoài
  • Tiếp nhận thông tin của người thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh cung cấp theo quy định của pháp luật;
  • Mua tin theo chế độ quy định;
  • Thiết lập đường dây nóng qua cổng thông tin điện tử của Tổng cục Hải quan, điện thoại, thư điện tử (e-mail) để tiếp nhận các thông tin ở trong và ngoài ngành, trong nước và nước ngoài liên quan đến hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại và các hành vi khác vi phạm pháp Luật Hải quan, pháp luật thuế;
  • Thu thập, xác minh thông tin, tài liệu theo các chuyên đề nghiệp vụ hoặc để phân tích các nguy cơ vi phạm pháp Luật Hải quan, pháp luật thuế trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;
  • Tổng hợp, phân tích thông tin trên các báo, đài, truyền hình, công thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân và thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng khác;
  • Tiến hành các biện pháp nghiệp vụ cần thiết khác theo quy định của pháp luật để thu thập thông tin liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.

Yêu cầu của công tác thu thập xử lý thông tin

Kể từ năm 2011 hoạt động quản lý rủi ro đã và đang đuợc ngành Hải quan đẩy mạnh, triển khai sâu rộng trong các khâu nghiệp vụ. Tuy nhiên xuất phát từ tính chất đặc thù của công tác quản lý nhà nước về hải quan là hoạt động nghiệp vụ khó khăn, phức tạp, đồng thời tiến trình toàn cầu hóa kinh tế thế giới đang diễn ra nhanh chóng, tác động mạnh mẽ tới mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia, hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại diễn ra với thủ đoạn ngày càng tinh vi. Vì vậy, việc chủ động thu thập và xử lý thông tin của ngành Hải quan mang ý nghĩa vô cùng quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến sự thành công và thất bại trong việc thực hiện các mục tiêu của ngành Hải quan.

Để góp phần thực hiện tốt các mục tiêu trên, công tác thu thập, xử lý thông tin cần đảm bảo các yêu cầu sau:

  • Công tác thu thập, xử lý thông tin phải được tổ chức thường xuyên, liên tục;
  • Thông tin thu thập phải đảm bảo tính khách quan, toàn diện, phản ảnh đúng tình hình thực tế;
  • Công tác thu thập, xử lý thông tin cần phải tập trung vào các lĩnh vực, vấn đề trọng tâm, trọng điểm mà ngành Hải quan quan tâm, phù hợp với từng giai đoạn, yêu cầu quản lý hải quan;
  • Thông tin thu thập được phải được xử lý và phục vụ kịp thời các nhiệm vụ quản lý, các hoạt động nghiệp vụ thông quan, kiểm tra sau thông quan và Kiểm soát chống buôn lậu.
  • Phân công, phân cấp thực hiện công tác thu thập, xử lý thông tin phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, phạm vi thẩm quyền và năng lực của từng đơn vị và của các công chức thuộc quyền.
  • Các đơn vị Hải quan thuộc lực lượng Kiểm soát phải thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn và chấn chỉnh các hoạt động thu thập, xử lý thông tin đối với từng đơn vị, cá nhân trong việc triển khai thực hiện hoạt động điều tra cơ bản đối với từng địa bàn, lĩnh vực và chuyên đề.
  • Gắn trách nhiệm của lãnh đạo, công chức với hiệu quả công tác thu thập, xử lý thông

c5) Mục đích của hoạt động thu thập, xử lý thông tin

Mục đích của hoạt động thu thập, xử lý thông tin không chỉ nhằm xác định đối tượng đấu tranh mà còn nhằm xác định những người có thể sử dụng cho các mục đích, ý đồ nghiệp vụ. Do đó, người có liên quan đến hoạt động phòng, chống buôn lậu mà lực lượng Kiểm soát Hải quan cần thu thập thông tin là những người có điều kiện cư trú, nghề nghiệp, vị trí công tác thuận lợi hoặc có quan hệ mật thiết với các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh,… có dấu hiệu liên quan hoặc nghi vấn về buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và các hành vi vi phạm khác về pháp luật Hải quan.

c6) Vai trò của hoạt động thu thập và xử lý thông tin 

Hoạt động thu thập xử lý thông tin là hoạt động nghiệp vụ có tính chất mở đầu, làm cơ sở, căn cứ để áp dụng quản lý rủi ro đối với các hoạt động nghiệp vụ trước thông quan, giảm bớt gánh nặng đối với các hoạt động trong và sau thông quan. Bên cạnh đó, kết quả thu thập xử lý thông tin cũng là cơ sở để xem xét, đánh giá thực trạng công tác tổ chức quản lý hoạt động nghiệp vụ của lực luợng hải quan trên từng địa bàn, từng lĩnh vực theo thẩm quyền quản lý, giúp chủ động phát hiện sơ hở, bất cập trong quá trình quản lý nghiệp vụ của đơn vị.

18.2. Thực trạng cơ sở pháp lý hoạt động quản lý trước thông quan của Hải quan Việt Nam

18.2.1. Thực tiễn cơ sở pháp lý đối với E-Manifest

Hệ thống E-Manifest là hệ thống tiếp nhận và xử lý dữ liệu tập trung tại Tổng cục Hải quan; các Cục Hải quan tỉnh, thành phố và các đơn vị liên quan khai thác, sử dụng chương trình theo chức năng nghiệp vụ được phân quyền trên hệ thống. Hệ thống được điều chỉnh tại các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản hướng dẫn của Tổng cục Hải quan. Cụ thể :

Trong giai đoạn thực hiện thí điểm từ 2011 – 2013, hoạt động triển khai áp dụng E-manifest được quy định bởi các văn bản như:

– Quyết định số 19/2011/QĐ – TTg ngày 23/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc thí điểm thực hiện tiếp nhận bản khai hàng hóa, các chứng từ có liên quan và thông quan điện tử đối với tàu biển nhập cảnh, xuất cảnh;

– Thông tư số 64/2011/TT-BTC ngày 13/5/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Quyết định số 19/2011/QĐ-TTg ngày 23/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc thí điểm tiếp nhận bản khai hàng hóa, các chứng từ khác có liên quan và thông quan điện tử đối với tàu biển nhập cảnh, xuất cảnh;

– Quyết định số 1870/QĐ-TCHQ ngày 28/9/2011 của Tổng cục Hải quan về việc ban hành bản hướng dẫn thí điểm thực hiện tiếp nhận bản khai hàng hóa, các chứng từ có liên quan và thông quan điện tử đối với tàu biển nhập cảnh, xuất cảnh. 

Giai đoạn triển khai chính thức từ 2014: các hoạt động liên quan đến E-manifest được thực hiện theo:

– Nghị định số 21/2012/NĐ-CP ngày 21/3/2012 của Chính phủ về quản lý cảng biển và luồng hàng hải;

– Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan; và

– Thông tư số 42/2015/TT-BTC ngày 27/3/2015 của Bộ Tài chính quy định về thủ tục hải quan đối với phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.

Những nội dung cơ bản liên quan đến E-manifest theo Thông tư 42/2015/TT-BTC bao gồm:

Về người khai hải quan: Thuyền trưởng hoặc người đại diện hợp pháp của người vận tải (Hãng tàu hoặc Đại lý hãng tàu) chịu trách nhiệm khai và làm thủ tục hải quan. Trường hợp Hãng tàu hoặc Đại lý hãng tàu không có đầy đủ thông tin chi tiết về vận đơn gom hàng như mô tả chi tiết hàng hóa, người gửi hàng, người nhận hàng thì Công ty giao nhận phát hành vận đơn đó có trách nhiệm tạo lập, gửi thông tin điện tử chi tiết về vận đơn gom hàng đến Cổng thông tin điện tử Tổng cục Hải quan.

– Về thủ tục hải quan điện tử đối với tàu biển nhập cảnh:

Người khai hải quan được lựa chọn một trong hai hình thức tạo lập thông tin điện tử: tạo lập theo chuẩn định dạng do Tổng cục Hải quan công bố để gửi đến Cổng thông tin điện tử Tổng cục Hải quan; hoặc khai trực tiếp trên Cổng thông tin điện tử Tổng cục Hải quan.

Trong danh mục các chứng từ thuộc bộ hồ sơ hải quan điện tử đối với tàu biển nhập cảnh thì E-manifest là một trong 8 loại chứng từ cần nộp.

Bản khai hàng hóa nhập khẩu phải được gửi chậm nhất là 12 giờ trước khi tàu dự kiến cập cảng đối với tàu biển có hành trình dưới 5 ngày; chậm nhất 24 giờ trước khi dự kiến cập cảng đối với tàu biển có hành trình khác

Cổng thông tin điện tử Tổng cục Hải quan tiếp nhận thông tin khai điện tử 24 giờ trong ngày và 07 ngày trong tuần;

Trường hợp thông tin khai đảm bảo đầy đủ các tiêu chí và khuôn dạng theo quy định thì hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan tự động gửi thông tin chấp nhận nội dung khai hải quan.

Trường hợp thông tin khai chưa đầy đủ thì hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan tự động gửi thông báo lý do chưa tiếp nhận và hướng dẫn người khai hải quan khai lại.

Về khai sửa đổi, bổ sung thông tin về hồ sơ hải quan điện tử tàu biển nhập cảnh: Thông tin hồ sơ hải quan điện tử tàu biển nhập cảnh đã gửi cho cơ quan hải quan nếu người khai hải quan có yêu cầu sửa đổi, bổ sung thì người khai hải quan thực hiện việc sửa đổi, bổ sung với cơ quan Hải quan nơi làm thủ tục tàu. Thời điểm khai sửa đổi, bổ sung thực hiện trước hoặc sau khi tàu nhập cảnh;

Chi cục Hải quan nơi làm thủ tục tàu nhập cảnh tiếp nhận thông tin khai sửa đổi, bổ sung lưu vào hệ thống và cung cấp cho các đơn vị chức năng để triển khai công tác nghiệp vụ có liên quan;

Đối với sửa đổi, bổ sung bản khai hàng hóa nhập khẩu, vận đơn thứ cấp: hệ thống quản lý rủi ro của cơ quan hải quan sẽ tự động cập nhật thông tin sửa đổi, bổ sung để áp dụng biện pháp quản lý phù hợp cho lô hàng khi làm thủ tục hải quan;

Đối với việc sửa các chứng từ khác: trường hợp sau khi tàu đã nhập cảnh, người khai hải quan có yêu cầu sửa đổi, bổ sung thông tin khai, nếu có lý do chính đáng, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan nơi làm thủ tục tàu quyết định cho phép khai sửa đổi, bổ sung thông tin.

Trường hợp bất khả kháng khi hệ thống khai điện tử gặp sự cố, việc khai và làm thủ tục hải quan được thực hiện bằng hồ sơ giấy. Khi hệ thống được phục hồi, người khai hải quan tạo lập và gửi thông tin điện tử lên hệ thống.

Chi cục Hải quan tiếp nhận, khai thác thông tin khai hải quan trên Cổng thông tin điện tử Tổng cục; kiểm tra, tổng hợp, phân tích thông tin khai báo và các thông tin khác (thông tin quản lý rủi ro, thông tin từ các đơn vị khác trong và ngoài ngành) và xử lý:

Nếu thông tin khai hải quan phù hợp với các quy định của pháp luật, không có thông tin nghi ngờ thì hoàn thành thủ tục hải quan cho tàu biển nhập cảnh;

Trường hợp thông tin khai hải quan chỉ có thông tin về vận đơn chủ (master bill) mà không có thông tin về vận đơn thứ cấp (house bill) thì vẫn hoàn thành thủ tục hải quan cho tàu biển nhập cảnh, đồng thời yêu cầu người khai khai bổ sung thông tin về vận đơn thứ cấp (nếu có). Nếu có vận đơn thứ cấp mà người khai không khai vận đơn thứ cấp, cơ quan hải quan áp dụng biện pháp nghiệp vụ như không thông quan, hoặc không cho phép lô hàng nhập khẩu đưa ra khu vực giám sát hải quan;

Trường hợp có dấu hiệu vận chuyển hàng hóa vi phạm pháp luật hải quan, cơ quan hải quan thực hiện thủ tục nhập cảnh cho tàu biển, tổ chức giám sát tàu, giám sát hàng hóa khi dỡ xuống, lưu giữ trong khu vực giám sát hải quan; đồng thời báo cáo Chi cục trưởng Chi cục Hải quan quyết định hình thức, mức độ kiểm tra thực tế hàng hóa và thực hiện các biện pháp nghiệp vụ khác có liên quan theo quy định;

Trường hợp có yêu cầu bằng văn bản tạm dừng làm thủ tục hải quan từ các cơ quan chức năng khác như Cảng vụ hàng hải, Tòa án, cơ quan Công an, Biên phòng thì chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng xử lý theo quy định, đồng thời báo cáo Cục Hải quan tỉnh, thành phố và Tổng cục Hải quan để được hướng dẫn xử lý.

Sau khi hoàn thành thủ tục hải quan cho tàu biển nhập cảnh, Chi cục Hải quan gửi “Thông báo hoàn thành thủ tục hải quan tàu” dưới dạng điện tử cho người khai hải quan, Cảng vụ hàng hải và cơ quan quản lý khác có liên quan thông qua Cổng thông tin Một cửa quốc gia.

Người khai hải quan có trách nhiệm thực hiện các quyết định của cơ quan hải quan theo quy định của pháp luật về thủ tục hải quan đối với tàu biển nhập cảnh; tạo lập thông tin điện tử về hồ sơ hải quan, gửi hồ sơ hải quan điện tử theo quy định;

Khi tàu biển nhập cảnh đã vào vị trí neo đậu an toàn do Cảng vụ hàng hải chỉ định và sau khi hoàn tất thủ tục nhập cảnh với các cơ quan quản lý khác, người khai hải quan gửi Thông báo xác nhận tàu đến cảng bằng phương thức điện tử cho Chi cục Hải quan nơi làm thủ tục tàu. Thời điểm gửi Thông báo xác nhận tàu đến cảng được xác định là thời điểm hàng hóa nhập khẩu chuyên chở trên tàu đến cửa khẩu Việt Nam, làm cơ sở thực hiện các chính sách quản lý có liên quan.

– Về thủ tục hải quan điện tử đối với tàu biển xuất cảnh:

Tương tự như thủ tục đối với tàu biển nhập cảnh, người khai hải quan được lựa chọn một trong hai hình thức tạo lập thông tin điện tử: tạo lập theo chuẩn định dạng do Tổng cục Hải quan công bố để gửi đến Cổng thông tin điện tử Tổng cục Hải quan hoặc khai trực tiếp trên Cổng thông tin điện tử Tổng cục Hải quan.

Bản khai hàng hóa xuất khẩu bằng đường biển (E-manifest) là một trong những chứng từ bắt buộc thuộc hồ sơ hải quan điện tử đối với tàu biển xuất cảnh.

Thời hạn cung cấp các thông tin E-manifest cho hàng xuất khẩu chậm nhất là 01 giờ trước khi xuất cảnh.

Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan tiếp nhận thông tin khai điện tử 24 giờ trong ngày và 7 ngày trong tuần;

Trường hợp thông tin khai đảm bảo đầy đủ các tiêu chí và khuôn dạng theo quy định thì hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan tự động gửi thông tin chấp nhận nội dung khai hải quan;

Trường hợp thông tin khai chưa đầy đủ thì hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan tự động gửi thông báo lý do chưa tiếp nhận và hướng dẫn người khai hải quan khai lại theo mẫu.

Đối với thông tin hồ sơ hải quan điện tử từ tàu biển xuất cảnh đã gửi cho cơ quan hải quan nếu người khai hải quan có yêu cầu sửa đổi, bổ sung thì người khai hải quan được thực hiện việc sửa đổi, bổ sung với cơ quan Hải quan nơi làm thủ tục tàu xuất cảnh.

Về thời điểm khai sửa đổi, bổ sung: Đối với bản khai hàng hóa xuất khẩu: trong thời hạn 24 giờ kể từ khi tàu xuất cảnh; Các chứng từ khác phải thực hiện trước thời điểm tàu xuất cảnh. Trường hợp sau khi tàu đã xuất cảnh, người khai hải quan có yêu cầu sửa đổi, bổ sung thông tin, nếu có lý do chính đáng, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan nơi làm thủ tục tàu quyết định cho phép khai sửa đổi, bổ sung thông tin.

Chi cục Hải quan nơi làm thủ tục tàu xuất cảnh tiếp nhận thông tin khai sửa đổi, bổ sung lưu vào hệ thống và cung cấp cho các đơn vị chức năng để triển khai công tác nghiệp vụ có liên quan.

Trường hợp bất khả kháng khi hệ thống khai điện tử gặp sự cố, việc khai và làm thủ tục hải quan được thực hiện bằng hồ sơ giấy. Khi hệ thống được phục hồi, người khai hải quan tạo lập và gửi thông tin điện tử lên hệ thống.

Trách nhiệm của Chi cục Hải quan là tiếp nhận, khai thác thông tin khai hải quan trên hệ thống xử lý dữ liệu điện tử Tổng cục; kiểm tra, tổng hợp, phân tích thông tin khai và các thông tin khác (quản lý rủi ro, từ các đơn vị khác trong và ngoài ngành) và xử lý:

Nếu thông tin khai hải quan phù hợp với các quy định của pháp luật, không có thông tin nghi ngờ thì hoàn thành thủ tục hải quan cho tàu biển xuất cảnh;

Trường hợp có yêu cầu bằng văn bản tạm dừng làm thủ tục hải quan từ các cơ quan chức năng khác như Cảng vụ hàng hải, Tòa án, cơ quan Công an, Biên phòng thì chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng xử lý theo quy định, đồng thời báo cáo Cục Hải quan tỉnh, thành phố và Tổng cục Hải quan để được hướng dẫn xử lý.

Sau khi hoàn thành thủ tục hải quan cho tàu biển xuất cảnh, Chi cục Hải quan gửi “Thông báo hoàn thành thủ tục hải quan tàu” dưới dạng điện tử cho người khai hải quan, Cảng vụ hàng hải và cơ quan quản lý khác có liên quan thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia.

Người khai hải quan có trách nhiệm thực hiện các quyết định của cơ quan hải quan theo quy định của pháp luật về thủ tục hải quan đối với tàu biển xuất cảnh; tạo lập thông tin điện tử về hồ sơ hải quan, gửi hồ sơ hải quan điện tử theo quy định; sau khi hoàn tất thủ tục xuất cảnh với các cơ quan quản lý, người khai hải quan gửi Thông báo xác nhận tàu rời cảng bằng phương thức điện tử cho Chi cục Hải quan nơi làm thủ tục tàu. Thời điểm gửi Thông báo xác nhận tàu rời cảng được xác định là thời điểm tàu và hàng hóa xuất khẩu chuyên chở trên tàu rời cảng Việt Nam, làm cơ sở thực hiện các chính sách quản lý có liên quan.

– Về thủ tục hải quan điện tử đối với tàu biển quá cảnh

Trách nhiệm của người khai hải quan khi tàu nhập cảnh: thực hiện tạo lập thông tin hồ sơ hải quan điện tử và thực hiện thủ tục hải quan đối với tàu nhập cảnh; Khi tàu xuất cảnh: nếu có sự thay đổi về các chứng từ khi nhập cảnh, người khai hải quan tạo lập thông tin hồ sơ hải quan điện tử các chứng từ đã có sự thay đổi so với lúc nhập cảnh và thực hiện thủ tục hải quan đối với tàu xuất cảnh.

Chi cục Hải quan nơi tàu nhập cảnh có trách nhiệm thực hiện thủ tục hải quan điện tử tàu biển nhập cảnh; lập phiếu chuyển hồ sơ tàu quá cảnh, xác nhận bằng chữ ký số, gửi lên Hệ thống; niêm phong kho dự trữ và hầm hàng (nếu có điều kiện và khi cần thiết);

Kiểm tra trên Hệ thống kết quả làm thủ tục hải quan đối với tàu xuất cảnh do Chi cục Hải quan nơi làm thủ tục tàu xuất cảnh hồi báo, phối hợp với Chi cục Hải quan nơi làm thủ tục tàu xuất cảnh xác minh làm rõ và xử lý theo quy định đối với trường hợp tàu quá cảnh có vi phạm pháp luật hải quan (nếu có); thực hiện thủ tục hải quan đối với tàu biển nhập cảnh theo quy định.

Chi cục Hải quan nơi tàu xuất cảnh có trách nhiệm khai thác trên Hệ thống thông tin về bản lược khai hàng hóa quá cảnh, về thông tin liên quan đến hàng hóa, đến tàu; kiểm tra tình trạng niêm phong kho dự trữ, hầm hàng (nếu có); xác nhận bằng chữ ký số, gửi vào Hệ thống thông báo về việc đã tiếp nhận thông tin về tàu, hàng hóa và các vi phạm liên quan đến tàu, hàng hóa, thuyền viên, hành khách, phối hợp với Chi cục Hải quan nơi làm thủ tục tàu nhập cảnh xác minh làm rõ và xử lý theo quy định đối với trường hợp tàu quá cảnh có vi phạm pháp luật hải quan (nếu có); thực hiện thủ tục hải quan đối với tàu biển xuất cảnh theo quy định.

 Một số vướng mắc về quy định pháp luật và các văn bản hướng dẫn khi triển khai hệ thống E-manifest

+ Về thời hạn khai và nộp hồ sơ hải quan: Tại điểm b khoản 2 Điều 69 Luật Hải quan quy định về thời điểm khai báo: “Đối với phương tiện vận tải đường biển nhập cảnh được thực hiện chậm nhất 02 giờ sau khi cảng vụ thông báo phương tiện vận tải nhập cảnh đã đến vị trí đón hoa tiêu”. Tuy nhiên, theo một số hãng tàu/ đại lý hãng tàu phản ánh quy định trên là chưa phù hợp với thực tế do có trường hợp phải sử dụng bộ chứng từ thuyền trưởng cung cấp khi tàu cập cảng để phục vụ khai và nộp hồ sơ hải quan. Trong khi đó, nhiều trường hợp sau 2 tiếng kể từ khi đến địa điểm đón hoa tiêu, tàu vẫn chưa thể cập cầu cảng, thậm chí phải sau 1-2 ngày mới cập cảng tùy theo sự điều động của cảng vụ. Điều đó dẫn đến việc khai báo không thể thực hiện theo đúng hạn định.

+ Về việc sửa đổi bổ sung thông tin, hồ sơ hải quan: Thông tư 42/2015/TT-BTC còn thiếu quy định cơ sở để chấp nhận việc khai sửa đổi, bổ sung thông tin hồ sơ hải quan, thiếu quy định thời hạn khai bổ sung thông tin vận đơn thứ cấp. Ngoài ra, trong thực tế, nhiều trường hợp người khai hải quan đề nghị sửa đổi bổ sung thông tin như số lượng hàng hóa, số lượng container, cảng xếp hàng…Việc sửa đổi những thông tin như vậy liên quan đến việc áp dụng chính sách thuế, chính sách quản lý xuất, nhập khẩu hàng hóa. Do đó, nếu không có quy định biện pháp kiểm tra, thẩm định, đánh giá thêm các chứng từ khác (bản giấy) do người khai xuất trình thì có nhiều nguy cơ rủi ro từ việc sửa đổi bổ sung. Hơn nữa, chưa có quy định cụ thể đối với trường hợp khai sửa đổi, bổ sung hồ sơ tàu biển khi hệ thống khai điện tử gặp sự cố.

18.2.2. Các quy định pháp luật đối với hoạt động phán quyết trước (xác định trước)

Với định hướng tăng cường hội nhập với thế giới, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào ngày 11/01/2007 và gia nhập Nghị định thư sửa đổi Công ước Kyoto vào ngày 08/01/2008. Bên cạnh đó, Việt Nam tham gia ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTA) với một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Australia và New Zealand… Do đó, Việt Nam phải tuân thủ và thực thi cam kết quốc tế bằng cách xây dựng pháp luật phù hợp với các điều ước và hiệp định đã ký.

“Phán quyết trước” là quy định đề cập đến việc cơ quan Hải quan (hoặc cơ quan có thẩm quyền) đưa ra quyết định trước bằng văn bản đối với một vấn đề cụ thể hoặc nghĩa vụ mà cá nhân, tổ chức phải thực hiện. Ngay khi chưa gia nhập WTO, các quy định về phán quyết trước của Việt Nam trong lĩnh vực Hải quan cũng đã được chính thức luật hóa trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11. Tại khoản 12 điều 5 của Luật này quy định: “Xác định trước mã số, trị giá hải quan, xác nhận trước xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là việc cơ quan hải quan ban hành văn bản xác định mã số, trị giá hải quan, xác nhận xuất xứ của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trước khi làm thủ tục hải quan”.

Khi Luật Thuế sửa đổi bổ sung được ban hành, Bộ Tài chính đã có Công văn số 8356/BTC-TCHQ ngày 28/6/2013 về việc hướng dẫn về xác định trước mã số, trị giá và thời hạn nộp thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế sửa đổi. Tại Công văn 8356, quy trình thủ tục và hồ sơ cấp Thông báo kết quả xác định trước về mã số hàng hóa, trị giá hải quan được quy định chi tiết. Tuy nhiên tại công văn trên, Thông báo kết quả xác định trước về xuất xứ chưa được đề cập. Thông tư 128/2013/TT-BTC ngày 10/9/2013 có hiệu lực kể từ ngày 01/11/2013, tại Điều 7, Điều 8 và Điều 9 quy định chi tiết về Thông báo kết quả xác định trước về mã số, trị giá, và xuất xứ hàng hóa. Tuy nhiên kết quả thông báo này chỉ có tính chất tham khảo.

 Luật Hải quan số 54/2014/QH13 đã nội luật hóa các điều ước quốc tế về hải quan mà Việt Nam là thành viên. Cụ thể tại Điều 28. Xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan, quy định:

 Trong trường hợp người khai hải quan đề nghị cơ quan hải quan xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan đối với hàng hóa dự kiến xuất khẩu, nhập khẩu, người khai hải quan cung cấp thông tin, chứng từ liên quan, mẫu hàng hóa dự kiến xuất khẩu, nhập khẩu cho cơ quan hải quan để cơ quan hải quan xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan. Trường hợp không thể cung cấp mẫu hàng hóa dự kiến xuất khẩu, nhập khẩu, người khai hải quan phải cung cấp tài liệu kỹ thuật liên quan đến hàng hóa đó.

 Cơ quan hải quan căn cứ quy định của pháp luật về phân loại hàng hóa, xuất xứ, trị giá hải quan và các thông tin, chứng từ liên quan do người khai hải quan cung cấp để xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan và có văn bản thông báo cho người khai hải quan biết kết quả xác định trước. Trường hợp không đủ cơ sở hoặc thông tin để xác định theo yêu cầu của người khai hải quan, cơ quan hải quan thông báo cho người khai hải quan hoặc đề nghị bổ sung thông tin, chứng từ liên quan.

Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày có văn bản thông báo kết quả xác định trước, nếu người khai hải quan không đồng ý với kết quả xác định trước thì có quyền yêu cầu cơ quan hải quan xem xét lại kết quả xác định trước. Cơ quan hải quan có trách nhiệm xem xét và trả lời kết quả cho người khai hải quan trong thời hạn quy định.

 Văn bản thông báo kết quả xác định trước có giá trị pháp lý để cơ quan hải quan làm thủ tục hải quan khi hàng hóa thực xuất khẩu, nhập khẩu phù hợp với thông tin, chứng từ liên quan, mẫu hàng hóa mà người khai hải quan đã cung cấp.

 Chính phủ quy định chi tiết điều kiện, thủ tục, thời hạn xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan.

Tại Điều 24 Nghị định 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ, quy định thủ tục xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan:

(i) Điều kiện xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan

– Tổ chức, cá nhân đề nghị cơ quan hải quan xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan đối với hàng hóa dự kiến xuất khẩu, nhập khẩu và cung cấp thông tin, chứng từ, hồ sơ cần thiết liên quan đến việc xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan;

– Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu cần xác định trước trị giá hải quan là hàng hóa lần đầu xuất khẩu, nhập khẩu hoặc có thay đổi lớn, bất thường so với trị giá hải quan mà người khai hải quan đang thực hiện hoặc là hàng hóa có tính chất đơn chiếc hoặc không có tính phổ biến hoặc không có hàng hóa giống hệt, tương tự trên thị trường để so sánh.

(ii) Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân đề nghị xác định trước

– Nộp đủ hồ sơ đề nghị xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan đến Tổng cục Hải quan;

– Tham gia đối thoại với cơ quan hải quan nhằm làm rõ nội dung đề nghị xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan theo đề nghị của cơ quan hải quan;

– Thông báo bằng văn bản cho Tổng cục Hải quan trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày có sự thay đổi nào liên quan đến hàng hóa đã đề nghị xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan, trong đó nêu rõ nội dung, lý do, ngày, tháng, năm có sự thay đổi.

(iii) Trách nhiệm của Tổng cục Hải quan

– Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn đề nghị, Tổng cục Hải quan có văn bản từ chối xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan gửi tổ chức, cá nhân đối với trường hợp không đủ điều kiện, hồ sơ xác định trước;

–  Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan ban hành văn bản thông báo kết quả xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ (đối với trường hợp thông thường) hoặc 60 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ (đối với trường hợp phức tạp cần xác minh, làm rõ). Văn bản thông báo kết quả xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan được gửi cho tổ chức, cá nhân, đồng thời cập nhật vào cơ sở dữ liệu của cơ quan hải quan và công khai trên trang điện tử của Tổng cục Hải quan.

(iv) Tính pháp lý

Văn bản thông báo kết quả xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan là cơ sở để khai hải quan khi làm thủ tục hải quan. Trường hợp tổ chức, cá nhân không đồng ý với nội dung xác định trước của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan mà tổ chức, cá nhân cần thiết thông quan hàng hóa thì tổ chức, cá nhân thực hiện nộp thuế theo giá khai báo hoặc thực hiện bảo lãnh theo quy định để thực hiện thông quan hàng hóa. Cơ quan hải quan thực hiện kiểm tra sau thông quan tại cơ quan hải quan.

(v) Trường hợp không đồng ý với nội dung xác định trước

Trường hợp không đồng ý với nội dung xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan, tổ chức, cá nhân có văn bản yêu cầu Tổng cục Hải quan xem xét. Trong thời hạn 10 ngày làm việc (đối với hàng hóa thông thường) hoặc 30 ngày (đối với trường hợp phức tạp cần xác minh, làm rõ), kể từ ngày nhận được yêu cầu của người khai hải quan, Tổng cục Hải quan có văn bản trả lời kết quả cho người khai hải quan.

(vi) Hiệu lực của văn bản thông báo kết quả xác định trước

– Văn bản thông báo kết quả xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan có hiệu lực tối đa không quá 03 năm kể từ ngày Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan ký ban hành. Riêng văn bản thông báo kết quả xác định trước mức giá có hiệu lực trực tiếp đối với lô hàng được xác định trước mức giá;

– Văn bản thông báo kết quả xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan không có hiệu lực áp dụng trong trường hợp hàng hóa hoặc hồ sơ thực tế xuất khẩu, nhập khẩu khác với mẫu hàng hóa hoặc hồ sơ đề nghị xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan;

– Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan ban hành văn bản hủy bỏ văn bản thông báo kết quả xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan trong trường hợp phát hiện hồ sơ xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan do tổ chức, cá nhân cung cấp không chính xác, không trung thực;

– Văn bản thông báo kết quả xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan chấm dứt hiệu lực trong trường hợp quy định của pháp luật làm căn cứ ban hành văn bản thông báo kết quả xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế.

Có thể nhận thấy, các quy định của hệ thống pháp luật Việt Nam về xác định trước mã số, xuất xứ và trị giá hải quan đã đáp ứng được các khuyến nghị của quốc tế về phán quyết trước mã số, xuất xứ hàng hóa, trị giá hải quan. Tuy nhiên, cách sử dụng từ “xác định trước” chưa thực sự có hiệu lực mạnh như dùng từ “phán quyết trước” của quốc tế.

Về thời gian

Đối với Hải quan Việt Nam việc ban hành phán quyết trước được quy định trong thời gian là 30 ngày kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ hoặc trong thời hạn tối đa 60 ngày làm việc kể từ ngày làm việc kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ (đối với các hàng hoá phải phân tích, giám định, hoặc trường hợp hàng hoá phức tạp).

Văn bản thông báo kết quả xác định trước có hiệu lực tối đa là 03 năm kể từ ngày Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan ký ban hành.

Đối với Hải quan Úc, Nhật việc ban hành phán quyết trước được quy định trong thời gian là 30 ngày đối với hàng hoá thông thường, và đối với hàng hoá phức tạp sẽ cần thêm 30 ngày tiếp theo, trong 30 ngày tiếp theo đó, cơ quan Hải quan sẽ có trách nhiệm gửi thông báo bằng văn bản cho người nộp đơn về thời gian gia hạn. Hải quan Mỹ thì thời gian ra phán quyết trước trong vòng 120 ngày tùy từng trường hợp.

Về hiệu lực của phán quyết trước, Phán quyết trước của Hải quan Úc có hiệu lực là 5 năm, của Nhật là 3 năm.

Về tính pháp lý

 Phán quyết trước ở các nước Úc, Mỹ, Nhật có giá trị pháp lý. Có thể dùng phán quyết trước để thay thể một phần các chứng từ liên quan đến lĩnh vực mà phán quyết trước đề cập như phán quyết trước về xuất xứ có thể được dùng thay cho tờ khai xuất xứ. Còn ở Việt Nam, phán quyết trước tuy Luật Hải quan 54/2014/QH13 quy định có giá trị pháp lý, nhưng thực tế Nghị định 08/2015/NĐ-CP và Thông tư 38 2015/TT-BTC chỉ quy định là cơ sở để khai báo hải quan.

Ngoài những phán quyết trước được ban hành dưới dạng văn bản, Hải quan Nhật còn tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham vấn bằng miệng hoặc trả lời các thắc mắc của doanh nghiệp liên quan đến phán quyết trước qua điện thoại. Đây là một nét ưu việt của hải quan Nhật, tháo gỡ được nhiều vấn đề cho doanh nghiệp mà không mất thời gian chuẩn bị giấy tờ cũng như thời gian chờ đợi hải quan ban hành phán quyết trước.

Bảo mật thông tin

Hải quan các nước rất chú trọng đến vấn đề bảo mật phán quyết trước. Cơ quan Hải quan cần phân biệt rõ giữa bí mật thương mại và nguyên tắc minh bạch. Quá trình ra quyết định liên quan đến việc ban hành một phán quyết trước cần phải đảm bảo tính minh bạch và bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp xin phán quyết trước. Tuy nhiên, các cơ quan chức năng cần phải bảo mật các thông tin nhạy cảm về thương mại. Nhìn chung, theo quy định của các nước, Hải quan cần đảm bảo bí mật thông tin kinh doanh của doanh nghiệp. Cụ thể, trong thời gian Hải quan đang xem xét để ban hành các phán quyết trước theo yêu cầu của doanh nghiệp thì Hải quan sẻ đảm bảo không công bố thông tin thương mại của doanh nghiệp, đặc biệt là những thông tin liên quan đến lô hàng đang là đối tượng xin thụ hưởng phán quyết trước. Cơ quan Hải quan có thể ban hành các phán quyết chung có thể áp dụng rộng rãi cho tất cả các doanh nghiệp.

Ở Việt Nam khi doanh nghiệp có yêu cầu phán quyết trước cho lô hàng dự kiến nhập khẩu thì doanh nghiệp phải có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin, chứng từ liên quan hoặc mẫu hàng hoá dự kiến xuất nhập khẩu. Hiện tại chưa có văn bản quy định rõ về vấn đề cơ quan Hải quan có trách nhiệm bảo mật các thông tin do tổ chức, cá nhân có yêu cầu cung cấp thông tin phán quyết trước.

 Trách nhiệm của Hải quan khi ban hành phán quyết sai

Khuyến nghị chung, đặc biệt Hải quan Úc có quy định rất rõ ràng về trách nhiệm của Hải quan khi ban hành phán quyết sai, cụ thể như sau: Khi người nộp đơn xin phán quyết trước không hài lòng với phán quyết thì có thể yêu cầu Văn phòng trung ương rà soát lại phán quyết. Khi đó, người nộp đơn phải gửi một đơn bằng văn bản và nêu đầy đủ lý do tại sao không đồng ý với phán quyết. Việc rà soát sẽ chỉ căn cứ những thông tin đã được cung cấp trước đó của người nộp đơn khi đưa ra phán quyết ban đầu. Nếu người nộp đơn xin phán quyết trước vẫn không hài lòng với phán quyết đã rà soát thì có thể đưa vấn đề này ra giải quyết tại Tòa án Hành chính hoặc tòa án có thẩm quyền xét xử và Hải quan có trách nhiệm trước Tòa và thi hành các quyết định của Tòa.

Ở Việt Nam, trường hợp không đồng ý với nội dung phán quyết trước của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, doanh nghiệp có văn bản kiến nghị Bộ Tài chính để xem xét, chưa có quy định việc giải quyết khiếu nại về việc không đồng ý với phán quyết trước tại tòa.

18.2.3. Cơ sở pháp lý cho công tác thu thập và xử lý thông tin nghiệp vụ hải quan

    Hải quan Việt Nam đã áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan. Cơ quan hải quan thực hiện thu thập, phân tích thông tin, đánh giá rủi ro ở các giai đoạn trước, trong và sau thông quan theo các tiêu chí được xác định trong từng thời điểm, phù hợp với quy định của pháp luật về hải quan, điều kiện và khả năng thực tế để ra quyết định việc kiểm tra, giám sát, kiểm tra sau thông quan, kiểm soát hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh theo các trường hợp: không tuân thủ pháp luật hải quan; có dấu hiệu vi phạm pháp luật hải quan; kết quả phân tích, đánh giá xác định mức độ rủi ro cao và qua lựa chọn ngẫu nhiên. Để thực hiện quản lý rủi ro tốt, cần xây dựng bộ tiêu chí quản lý rủi ro.

    Tiêu chí quản lý rủi ro trong hoạt động hải quan: là những đặc điểm về dấu hiệu của việc chấp hành pháp luật hải quan có thể xảy ra trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; được cơ quan Hải quan lựa chọn, phân tích, tổng hợp để phục vụ công tác quản lý Nhà nước về hải quan. Để làm tốt công tác quản lý rủi ro, Hải quan cần xây dựng được các tiêu chí quản lý rủi ro. Các tiêu chí rủi ro chủ yếu để quản lý Nhà nước về hải quan bao gồm:

– Bộ tiêu chí theo quy định của pháp luật hải quan, chính sách quản lý nhà nước về hải quan trong từng thời điểm, giai đoạn cụ thể.

– Bộ tiêu chí phân tích là nhóm các chỉ số phản ánh về dấu hiệu vi phạm pháp luật về hải quan.

– Bộ tiêu chí tính điểm rủi ro là nhóm các chỉ số được tập hợp và tính toán mức độ rủi ro dựa trên việc đánh giá và cho điểm rủi ro trước đối với các chỉ số tham gia vào quá trình tính toán.

– Bộ tiêu chí lựa chọn ngẫu nhiên là việc áp dụng phép toán xác suất, thống kê dựa trên các chỉ số liên quan để lựa chọn ngẫu nhiên các đối tượng kiểm tra theo tỉ lệ nhất định.

 Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan căn cứ vào tình hình thực tế quyết định và phân cấp xây dựng bộ tiêu chí quản lý rủi ro cho phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước về hải quan trong từng thời kỳ, từng địa phương.

  Hiện nay Hải quan Việt Nam sử dụng các tiêu chí phân loại theo: các tiêu chí tĩnh; tiêu chí động; tiêu chí lựa chọn sác xuất trong các hoạt động nghiệp vụ áp dụng quản lý rủi ro.

a) Tiêu chí tĩnh

Tiêu chí tĩnh là các tiêu chí có tính chất ổn định trong khoảng thời gian nhất định. Tiêu chí này xác định khả năng và mức độ rủi ro bằng cách áp dụng các phương pháp tính toán dựa trên cơ sở thông tin do cơ quan hải quan thu thập, phân tích. Tiêu chí tĩnh được đánh giá trước khả năng xảy ra rủi ro dựa trên thang điểm và cơ sở dữ liệu do Hải quan thu thập. Tổng hợp đánh giá mức độ rủi ro của các tiêu chí tĩnh sẽ đưa ra mức độ rủi ro tổng thể. Tiêu chí tĩnh được thay đổi, bổ sung theo kết quả phân tích thông tin. Khoảng thời gian cho việc thay đổi này phụ thuộc vào khả năng và nguồn lực thực tế của cơ quan Hải quan.

Bộ tiêu chí quản lý rủi ro là tập hợp các tiêu chí quản lý rủi ro, được cơ quan Hải quan phân tích, phân loại và tổng hợp để đánh giá về khả năng, mức độ vi phạm pháp luật hải quan có thể xảy ra nhằm phục vụ thông quan, kiểm tra sau thông quan, phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới và các hành vi khác vi phạm pháp luật về hải quan. 

    Bộ tiêu chí tĩnh bao gồm 07 nhóm tiêu chí:  Nhóm tiêu chí ưu tiên; Nhóm tiêu chí đánh giá, phân loại doanh nghiệp; Nhóm tiêu chí phân loại hàng hoá; Nhóm tiêu chí phân loại xuất xứ; Nhóm tiêu chí phân loại hình thức thanh toán; Nhóm tiêu chí loại hình xuất – nhập khẩu; và Nhóm các tiêu chí khác.

  Mức độ rủi ro tổng thể của tập hợp các tiêu chí là tổng hợp mức độ rủi ro của các nhóm tiêu chí được tính toán ứng với từng lô hàng cụ thể (theo công thức toán học); trong đó sử dụng trọng số đối với các nhóm tiêu chí được đánh giá là trọng điểm.

  Đánh giá  phân loại rủi ro để cho điểm đối với từng tiêu chí, sau đó tính rủi ro theo hàm toán học tính toán mức độ rủi ro chung cho cả lô hàng.  

                       n

            R = S ki*ri

                  i = 1

  Trong đó: R: mức độ rủi ro chung; ri: mức độ rủi ro của từng tiêu chí; ki : Trọng số rủi ro có thể điều chỉnh đối với từng tiêu chí (Tổng ki = hằng số k); n: là số tiêu chí.  Sau khi tính toán được mức độ  rủi ro chung cho cả lô hàng; kết quả sẽ cho ra 3 mức độ đánh giá:

  1. Kiểm tra thực tế hàng hóa – Bắt buộc phải kiểm tra
  2. Kiểm tra chi tiết hồ sơ –  Cần xem xét lại
  3. Kiểm tra sơ bộ hồ sơ –  Không phải kiểm tra 
  4. b) Tiêu chí động

  Tiêu chí động là các tiêu chí có tính chất biến động theo thời gian và được áp dụng ngay tại thời điểm phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật Hải quan. Các tiêu chí này dựa trên các thông tin trinh sát, thông tin về DN, hàng hoá có khả năng và mức độ rủi ro cao và phải kiểm tra hải quan. Tiêu chí động được hiểu là những thông tin về DN, hàng hoá hoặc các thông tin có liên quan khác (thông tin theo các tiêu thức trên tờ khai hải quan) phản ánh có dấu hiệu vi phạm pháp luật hải quan hoặc cần phải áp dụng biện pháp quản lý đặc thù. Cán bộ quản lý rủi ro mã hoá thông tin này theo mẫu tiêu thức được cài đặt sẵn trên phần mềm công nghệ thông tin và cung cấp tới đơn vị có trách nhiệm giải quyết, xử lý.

  Tiêu chí rủi ro động gồm :

– Thông tin phục vụ xác định doanh nghiệp đăng ký tờ khai như: Doanh nghiệp giải thể; Doanh nghiệp cưỡng chế thuế; Danh mục hàng hoá cấm XK, cấm NK.

– Doanh nghiệp được ưu tiên làm thủ tục hải quan.

– Doanh nghiệp được ân hạn thuế.

  – Thông tin lựa chọn lô hàng phải kiểm tra thực tế bao gồm: Thông tin về chính sách, chế độ quản lý đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất cảnh nhập cảnh cần phải tiến hành kiểm tra thực tế hàng hoá; Thông tin về dấu hiệu vi phạm pháp luật hải quan của tổ chức, cá nhân; Thông tin về dấu hiệu vi phạm liên quan đến hàng hoá, hành lý xuất khẩu, nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh.

Năm 2011, một trong những mục tiêu của Hải quan Việt Nam là phát triển nâng cao hiệu quả công tác quản lý rủi ro nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách, hiện đại hoá hải quan và thông quan tự động. Tổng cục đã trình Bộ thành lập Ban Quản lý rủi ro là đơn vị độc lập thuộc cơ quan Tổng cục, trực tiếp chỉ đạo thực hiện thống nhất quy trình áp dụng quản lý rủi ro trong tất cả các khâu nghiệp vụ. Ngày 7/6/2011, Bộ Tài chính ra Quyết định số 1402/QĐ-BTC về việc thành lập Ban Quản lý rủi ro trực thuộc Tổng cục Hải quan.

Trong năm 2011 đã hoàn thiện và triển khai thông tin hệ thống quản lý rủi ro giai đoạn 2, bắt đầu xây dựng kế hoạch triển khai áp dụng quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử theo nội dung tại Nghị định 87/2012/NĐ-CP ngày 13/8/2010 của Chính phủ và Thông tư 196/2012/TT-BTC ngày 15/11/2012 của Bộ Tài chính; kế hoạch triển khai 06 Thông tư liên tịch về trao đổi, thu thập thông tin giữa Bộ Tài chính (cơ quan Hải quan và Thuế) với 11 Bộ, Ngành, đồng thời thiết lập và triển khai thu thập thông tin qua đường dây nóng tiếp nhận thông tin về vi phạm pháp luật hải quan; Hệ thống thông tin quản lý rủi ro trước thông quan (e – Manifest); Hệ thống thông tin vi phạm.

Năm 2013, Tổng cục đã trình Bộ Tài chính ban hành Quyết định 1773/QĐ-BTC ngày 30/7/2013 phê duyệt Đề án “Tăng cường năng lực quản lý rủi ro của Hải quan giai đoạn 2013 – 2015, tầm nhìn 2020”. Tổng cục chỉ đạo cho Cục Công nghệ thông tin luôn bảo đảm hoạt động của hệ thống Riskman2 thông suốt phục vụ hải quan điện tử. Triển khai xây dựng và đưa vào vận hành Hệ thống thông tin quản lý rủi ro trước thông quan E-manifest; nâng cấp Hệ thống thông tin vi phạm hải quan và xây dựng Quy chế quản lý, vận hành.

Về cơ bản các quy định về công tác thu thập xử lý thông tin phục vụ cho hoạt động nghiệp vụ hải quan cơ bản phù hợp với các quy định quốc tế. Tuy nhiên hiện Hải quan Việt Nam đã thực hiện xử lý dữ liệu tập trung nhưng chưa xây dựng được Khung quản lý rủi ro theo khuyến nghị của Tổ chức Hải quan thế giới mà các nước phát triển đã và đang áp dụng.

18.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý trước

18.3.1. Đối với hoạt động E-Manifest

  1. a) Hoàn thiện cơ sở pháp lý đối với E-Manifest

Tại Điều 28 Luật Hải quan số 54/2014/QH13 và Điều 65, Điều 66 Nghị định 08/2015/NĐ-CP  ngày 21/01/2015 của Chính phủ có quy định về việc triển khai thực hiện E-Manifest. Tuy nhiên có một số vướng mắc như đã trình bày tại chương 2. Hiện nay, Chính phủ đang có chủ trương xây dựng Nghị định thay thế Nghị định 08/2015/NĐ-CP, Tổng cục Hải quan cần nghiên cứu, tham mưu đề xuất một số điều chỉnh về những nội dung liên quan đến E-manifest hiện nay đang bị vướng như quy định về thời điểm xác định hành vi khai và nộp hồ sơ hải quan hay việc chấp nhận sửa đổi bổ sung thông tin, hồ sơ hải quan, việc xử lý trường hợp hệ thống hải quan điện tử gặp sự cố. Những bổ sung, sửa đổi cần quy định theo hướng: đối với tàu nhập cảnh, sử dụng thời điểm phương tiện vận tải đến cảng làm cơ sở xác định thời hạn khai và nộp hồ sơ hải quan; trường hợp hệ thống gặp sự cố, người khai hải quan có đề nghị sửa đổi, bổ sung hồ sơ tàu biển xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh thì thực hiện bằng hồ sơ giấy; sau khi sự cố được khắc phục, người khai hải quan có trách nhiệm gửi lại thông tin sửa đổi, bổ sung, công chức hải quan xử lý thông tin sửa đổi, bổ sung trên hệ thống theo quy định. Tuy nhiên, nên có thêm quy định biện pháp kiểm tra, đánh giá thêm các chứng từ khác do người khai xuất trình để tránh các nguy cơ rủi ro từ việc sửa đổi, bổ sung hồ sơ khai báo. 

b) Về xử lý thông tin E-manifest

Đối với một số vướng mắc về kỹ thuật của Hệ thống, Tổng cục Hải quan:

– Cần đảm bảo hạ tầng công nghệ thông tin để khắc phục những sự cố về đường truyền mạng và tốc độ tải trong giờ cao điểm.

– Chỉnh sửa hoặc nghiên cứu bổ sung thêm một số chức năng của Hệ thống như chức năng phê duyệt của lãnh đạo chi cục đối với các trường hợp sửa đổi, bổ sung thông tin khai báo; chức năng theo dõi các hồ sơ tàu xuất cảnh, nhập cảnh hoặc quá cảnh; chức năng quản lý vi phạm để phục vụ công tác theo dõi xử lý vi phạm, chức năng cập nhật thông tin xử lý vi phạm vào phân hệ quản lý rủi ro trước thông quan; chức năng tra cứu thông tin số vận đơn, tra cứu thông tin người nhận, người gửi hàng; thống kê hồ sơ đã được chấp nhận sửa đổi bổ sung; chức năng thống kê tổng số tàu xuất nhập cảnh tại từng chi cục; chức năng cho phép can thiệp dừng thông quan tàu đột xuất khi có yêu cầu của các cơ quan chức năng hoặc sau khi thông quan phát hiện dấu hiệu vi phạm; chức năng cảnh báo và ngăn chặn đối với những hãng tàu/đại lý giao nhận khai nhiều mã khai báo cho một phương tiện xuất nhập cảnh và chức năng hỗ trợ công chức hải quan trong việc xác định tính đầy đủ của thông tin do doanh nghiệp khai báo trên hệ thống, nhất là thông tin về vận đơn gom hàng, giúp nâng cao hiệu quả công tác quản lý hải quan đối với phương tiện và hàng hóa xuất nhập cảnh – xuất nhập khẩu Việt Nam. 

– Đồng bộ hóa dữ liệu và kích hoạt cấu phần E-manifest trên hệ thống VNACCS/VCIS. Từ đây, các thông tin E-manifest sẽ trở thành thông tin đầu vào quan trọng để tích hợp với hệ thống quản lý rủi ro của Hải quan, hỗ trợ phân tích và xử lý thông tin trước khi hàng đến theo đúng tinh thần Thông tư 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015, các quyết định 464/QĐ-BTC và 465/QĐ-BTC (Nội dung 02 QĐ này được quản lý theo chế độ mật)  về các quy định áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan. 

 Đối với một số vướng mắc liên quan đến cổng thông tin của Hệ thống Một cửa quốc gia:

– Cần điều chỉnh hệ thống cổng thông tin Một cửa quốc gia để cho phép tiếp nhận các chứng từ đi kèm vào các thời điểm khác nhau trong trường hợp hãng tàu cần sửa đổi bổ sung hồ sơ khai báo nhất là trong trường hợp hồ sơ doanh nghiệp gửi lên hệ thống Một cửa đã được một cơ quan chấp nhận.

– Bổ sung nội dung tàu chuyển cảng trên hệ thống Một cửa quốc gia.

– Bổ sung chức năng thống kê số liệu phục vụ công tác tổng hợp, báo cáo.

Về nội dung xử lý thông tin E-manifest đối với hàng hóa nhập khẩu vận chuyển bằng tàu biển trên cơ sở học tập kinh nghiệm của Hải quan một số nước tiên tiến trên thế giới.

Hiện nay, theo quy định của pháp luật Việt Nam, đối với tàu biển nhập cảnh, thời hạn cung cấp thông tin hồ sơ hải quan cụ thể là bản khai hàng hóa nhập khẩu, thông tin về vận đơn thứ cấp: chậm nhất là 12 giờ trước khi dự kiến cập cảng đối với tàu biển có hành trình dưới 5 ngày; chậm nhất 24 giờ trước khi dự kiến cập cảng đối với tàu biển có hành trình khác; còn đối với thông tin về vận đơn thứ cấp, danh sách thuyền viên, bản khai hành lý thuyền viên, nhân viên làm việc trên tàu biển, bản khai dự trữ của tàu, danh sách hành khách và bản khai hàng hóa nguy hiểm phải gửi trước ít nhất 08 giờ trước khi dự kiến cập cảng. Như vậy, trong những tình huống muộn nhất, khoảng thời gian tối đa để cơ quan Hải quan xử lý thông tin trước khi hàng đến chỉ có 24 giờ. Khoảng thời gian đó tương đối hạn chế để Hải quan xác định trọng điểm hàng hóa có độ rủi ro cao cũng như để kịp thời đưa ra các biện pháp xử lý.

Do vậy, việc nới quy định thời hạn nộp trước thông tin E-manifest là cần thiết. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của một số nước, Nhóm Nghiên cứu đề xuất dãn hẳn thời hạn nộp thông tin hàng hóa trong vòng 24 giờ trước khi hàng hóa được xếp lên tàu tại cảng của nước xuất khẩu. Thông tin E-manifest phải được gửi đến hệ thống VNACCS/VCIS để hệ thống xử lý và ra quyết định các mức độ xử lý:

(i) Nếu ngay sau khi nhận được thông tin E-manifest, qua hệ thống quản lý rủi ro xử lý, Hải quan Việt Nam xác định hàng hóa có độ rủi ro cao, có nguy cơ đe dọa an ninh, sẽ gửi ngay một bản thông báo hãng tàu/ hãng vận tải để yêu cầu tạm dừng việc xếp hàng lên tàu từ cảng xuất đi Việt Nam. Trường hợp hàng hóa đã được chất lên tàu và được vận chuyển khỏi nước xuất khẩu, Hải quan Việt Nam sẽ gửi một thông báo để ngăn chặn việc bốc, dỡ hàng xuống cảng nhập của Việt Nam.

(ii) Nếu phát hiện hồ sơ hải quan điện tử chưa được khai điền đầy đủ, Hải quan Việt Nam sẽ gửi thông báo yêu cầu chi tiết hãng vận tải hoàn thiện hoặc chỉnh sửa, bổ sung hồ sơ cho đầy đủ, hợp lệ. Việc bổ sung, chỉnh sửa và hoàn thiện hồ sơ phải được kết thúc trước khi tàu cập cảng Việt Nam. Trong cả hai trường hợp (i) và (ii), nếu doanh nghiệp vẫn cố tình xếp hàng lên tàu hoặc không bổ sung đầy đủ hồ sơ thì sau khi cập cảng Việt Nam sẽ bị Hải quan thu giữ và cơ quan chức năng sẽ tiến hành điều tra, xử lý nghiêm.

(iii) Nếu hồ sơ điện tử không được kê khai theo đúng thời hạn quy định hoặc chủ tàu, hãng vận tải không tiến hành khai báo hàng hóa thì cơ quan Hải quan Việt Nam sẽ gửi thông báo không cho phép hàng hóa được dỡ hàng tại cảng nhập của Việt Nam cho đến khi vụ việc được giải quyết được.

Mô hình quy trình khai báo và xử lý thông tin E-Manifest được cụ thể như hình 18.1.

Bước 1. Khai báo thông tin E-Manifest

Hãng vận tải, hoặc chủ tàu chậm nhất sau khi hàng chất lên tàu và bắt đầu rời cảng phải gửi các thông tin khai báo E-Manifest theo quy định đến Hệ thống một cửa quốc gia của Việt Nam.

Bước 2. Hải quan Việt Nam xử lý thông tin E-Manifest

Hải quan Việt Nam dựa trên thông tin khai báo E-Manifest của Hãng vận tải hoặc chủ tàu, sử dụng cấu phần xử lý E-Manifest trong hệ thống VNACCS/VCIS, kết hợp CSDL của Hải quan và các thông tin thu thập được phục vụ công tác quản lý nhà nước về hải quan đối với lô hàng được Hãng vận tải hoặc chủ tàu khai báo khai báo trên xử lý và đưa ra các quyết định gửi qua Hệ thống một cửa quốc gia:

Hình 18.1. Quy trình xử lý thông tin E-Manifest

……………………….

– Đến Hãng vận tải và Chủ tàu thông tin về lô hàng không được phép nhập khẩu vào Việt Nam, không được dỡ hàng xuống cảng, đồng thời nêu rõ lý do hàng không được phép nhập khẩu vào Việt Nam.

– Đến doanh nghiệp kinh doanh kho bãi tại cảng:

+  Thông tin về lô hàng không được phép nhập khẩu vào Việt Nam, không được dỡ hàng xuống cảng;

+ Thông tin về lô hàng có nghi ngờ cần kiểm tra thực tế (bằng phương tiện kỹ thuật hoặc thủ công) trước khi hàng được đưa vào kho bãi;

+ Thông tin về lô hàng được chuyển thẳng từ tàu về kho bãi lưu giữ hàng.

– Giám sát hàng hóa khi hàng được dỡ khỏi tàu bằng các phương tiện kỹ thuật hiện có.

Bước 3. Doanh nghiệp kinh doanh cảng

Doanh nghiệp kinh doanh cảng biển nhận thông tin E-Manifest của Hãng vận tải hoặc Chủ tàu và các thông tin xử lý của Hải quan thông qua Hệ thống Một cửa quốc gia và thực hiện các việc sau:

– Thông báo cho Hãng vận tải hoặc Chủ tàu về quyết định không nhập khẩu lô hàng được khai báo trên;

– Thực hiện dỡ hàng khi tầu cập cảng đưa qua khu vực kiểm tra đối với những lô hàng phải kiểm tra theo yêu cầu của Hải quan trước khi đưa vào kho bãi;

– Đưa vào kho bãi những lô hàng được phép của Hải quan (lô hàng không có nghi ngờ về vi phạm pháp luật hải quan).

Bước 4. Thực hiện kiểm tra, cập nhật thông tin 

Cơ quan hải quan phụ trách cảng phối hợp với doanh nghiệp kinh doanh cảng thực hiện kiểm tra bằng máy soi container hoặc kiểm tra thủ công (tùy theo mức độ rủi ro của lô hàng). Và thực hiện:

–  Chuyển hàng vào kho, bãi đối với lô hàng không vi phạm;

–  Lập biên bản, xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật đối với lô hàng vi phạm pháp luật hải quan ở mức độ có thể chấp nhận xử lý;

–  Yêu cầu tái xuất những lô hàng sau khi kiểm tra thực tế khi không đáp ứng điều kiện nhập khẩu;

– Cập nhật thông tin vào hệ thống cơ sở dữ liệu hải quan.

Mô hình thu thập và xử lý thông tin E-Manifest do nhóm đề xuất, nếu thực hiện tốt sẽ tránh được việc bốc dỡ những lô hàng không đủ điều kiện nhập khẩu xuống cảng, giải quyết được vấn đề chủ hàng bỏ hàng hóa không nhận như ở các khu vực cảng biển hiện nay.

18.3.2. Đối với hoạt động phán quyết trước

  1. a) Hoàn thiện cơ sở pháp lý trong hoạt động phán quyết trước

Hệ thống cơ sở pháp lý của Việt Nam về hoạt động xác định trước trị giá tính thuế, mã số hàng hóa và xuất xứ hàng hóa XNK cơ bản đã phù hợp với các khuyến nghị của Công ước Kyoto sửa đổi, các quy định trong các Hiệp định thương mại và khá tương đồng với các quy định về hoạt động phán quyết trước của một số nước như Mỹ, Úc, Nhật Bản, Đài Loan hay Singapore. Điều này thể hiện qua cách thức thực hiện phán quyết trước, thời gian xác định phán quyết trước, hiệu lực của Phán quyết trước…(như đã so sánh ở trên). Tuy nhiên, về cơ sở pháp lý còn một vấn đề như công tác bảo mật, lưu trữ tại cơ sở dữ liệu chúng ta chưa có quy định cụ thể, đặc biệt giá trị pháp lý của Thông báo kết quả phán quyết trước của Việt Nam chỉ có tác dụng tham khảo (nhất là trị giá và xuất xứ) nên thực tế các doanh nghiệp chưa mặn mà với hoạt động phán quyết trước. Mặt khác một số Hải quan khác trên thế giới như Hải quan Đài Loan, phán quyết trước về mã số được áp dụng vĩnh viễn nếu không có sự thay đổi về luật pháp và các quy định xác định mã số hàng hóa, vì vậy ta cần nghiên cứu về hiệu lực của kết quả thông báo xác định trước về mã số để bổ sung vào quy định của pháp luật.

  Hệ thống thông quan tự động VNACCS đã đi vào hoạt động, công tác xác định trước trị giá, mã số hàng hóa, xuất xứ hàng hóa (một hình thức tạo cơ sở kiểm soát trước thông quan) là hết sức cần thiết phục vụ cho công tác quản lý rủi ro. Vì vậy, để làm tốt công tác này, cần bổ sung quy định về công tác bảo mật, xây dựng cơ sở dữ liệu và nhất là xác định tính pháp lý của thông báo kết quả xác định trước trong khi làm thủ tục thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu vào Nghị định 08/2015/NĐ-CP và Thông tư 38/2015/TT-BTC. Thông báo này phải có giá trị khi làm thủ tục thông quan cho hàng hóa xuất nhập khẩu như các nước khác đã quy định chứ không chỉ có tác dụng tham khảo như quy định hiện hành của Nghị Định 08/2015/NĐ-CP và Thông tư 38/2015/TT-BTC. Tất nhiên để làm việc này trong quy định về xác định trước trị giá chỉ quy định xác định trước phương pháp xác định trị giá, không quy định về xác định trước mức giá. Còn trong quy định xác định trước về xuất xứ chỉ quy định xác định trước về xuất xứ đối với hàng hóa có xuất xứ từ các nước không có áp dụng tối huệ quốc hoặc không có thỏa thuận ưu đãi đối với Việt Nam.

  Xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ cho công tác phán quyết trước về trị giá, mã số và xuất xứ hàng hóa xuất nhập khẩu để phục vụ quản lý rủi ro. Đồng thời thường xuyên cập nhật vào cơ sở dữ liệu này các văn bản hướng dẫn về xác định, kiểm tra trị giá, mã số và xuất xứ hàng hóa xuất nhập khẩu và đặc biệt phải cập nhật những thay đổi về quy định xác định, kiểm tra trị giá, mã số và xuất xứ hàng hóa xuất nhập khẩu, cũng như cần công khai các thay đổi này trên phương tiện thông tin đại chúng để các doanh nghiệp cùng thực thi.

b) Xây dựng quy trình thực hiện phán quyết trước

Mô hình quy trình thủ tục xác định trước trị giá, mã số, xuất xứ hàng hóa hiện nay được thực hiện theo những quyết định khác nhau. Về xác định trước mã số hàng hóa theo Quyết định số 2135/QĐ-TCHQ ngày 31/7/2015 của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan và xác định trước xuát xứ hàng hóa theo Quyết định số 4286/QĐ-TCHQ ngày 31/12/2015 của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, việc nộp đơn đề nghị xác định trước được gửi đến Tổng cục Hải quan (Bộ phận có trách nhiệm tham mưu cho Lãnh đạo Tổng cục Hải quan ra quyết định xác định trước). Còn quy trình xác định trước trị giá theo Quyết định 3537/QĐ-TCHQ ngày 31/10/2013 của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan thì người nộp đơn có thể nộp tại Chi cục nơi dự kiến làm thủ tục hải quan, sau đó thông qua Cục Hải quan địa phương gửi về Tổng cục Hải quan. Về cơ bản mô hình này giống mô hình xác định trước xuất xứ của Hải quan Nhật Bản. Các thủ tục phải qua cấp Cục hải quan địa phương (Nhật Bản được gửi đến Hải quan Vùng). Tuy nhiên, sự khác nhau căn bản là thẩm quyền ra quyết định xác định trước. Ở Nhật Bản, những xác định trước không quá phức tạp thì việc ra thông báo kết quả xác định trước được quyết định bởi cấp vùng. Ở Việt Nam, theo quy định, đơn vị thực hiện phán quyết trước là một bộ phận của Tổng cục Hải quan (đối với lĩnh vực trị giá hàng hóa và phân loại hàng hóa thì một bộ phận thuộc Cục Thuế xuất nhập khẩu xử lý; đối với lĩnh vực xuất xứ hàng hóa thì một bộ phận thuộc Cục Giám sát quản lý xử lý). Còn cấp Cục địa phương chỉ là nơi tiếp nhận hồ sơ và kiểm tra gửi cho cơ quan trung ương là Tổng cục Hải quan. Đây cũng là yếu tố làm cho thời gian ra thông báo trước đối với trường hợp không cần bổ sung hồ sơ dài hơn 5 ngày làm việc so với thời gian ra thông báo kết quả trước của Hải quan Úc. Vì ở Úc, cơ quan quyết định ra thông báo kết quả xác định trước và tiếp nhận hồ sơ xác định trước là ở cấp trung ương. Có thể nhận thấy thẩm quyền quyết định của ta là cấp cao nhất, nhưng hồ sơ doanh nghiệp cần gửi phải đi qua cấp Cục nên thực sự chưa thuận tiện cho doanh nghiệp. Vì vậy cần có sự thông nhất trong việc thực hiện quy trình xác định trước. Tuy nhiên, việc xử lý dữ liệu tập trung phục vụ cho hệ thống tự động thông quan VNACCS, nên mô hình phân cấp cho cấp Cục chưa thực sự thuyết phục, nhóm nghiên cứu đề xuất mô hình quy trình cụ thể như hình 18.2.

Hình 18.2. Quy trình thực hiện phán quyết trước

————————–


Chi tiết các bước được thực hiện như sau:

Bước 1

Tiếp nhận và phân công xử lý hồ sơ xác định trước (thời gian thực hiện không quá ½ ngày làm việc).

 Bộ phận một cửa của Tổng cục Hải quan tiếp nhận hồ sơ xác định trước do tổ chức, cá nhân gửi theo quy định hiện hành về tiếp nhận, xử lý công văn đến và chuyển ngay hồ sơ, kèm nguyên mẫu hàng hóa (nếu có) đến các đơn vị chuyên trách xác định trước của Tổng cục Hải quan (Cục Thuế xuất nhập khẩu đối với hồ sơ xin xác định trước về mã số và trị giá; Cục giám sát quản lý đối với hồ sơ xin xác định trước về xuất xứ hàng hóa).

Bộ phận nhận hồ sơ, kèm mẫu hàng hóa (nếu có) từ bộ phận một cửa Tổng cục Hải quan, chuyển cho Văn thư Cục Thuế xuất nhập khẩu (đối với hồ sơ xin xác định trước về mã số và trị giá) hoặc Cục Giám sát quản lý (đối với hồ sơ xin xác định trước về xuất xứ hàng hóa) thực hiện tiếp nhận,chuyển hồ sơ theo quy định hiện hành về tiếp nhận, xử lý công văn đến, chuyển ngay cho bộ phận (phòng) chịu trách nhiệm xử lý hồ sơ xin xác định trước để phân công công chức xử lý.

Bước 2.

Kiểm tra và xử lý kết quả kiểm tra Hồ sơ xác định trước (Thời gian thực hiện không quá 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ. Riêng trường hợp từ chối xác định trước, thời hạn xử lý tối đa là 02 ngày làm việc).

Công chức được phân công thụ lý hồ sơ thực hiện:

(i) Kiểm tra hồ sơ:

Trường hợp hồ sơ không đáp ứng các quy định tại khoản 1 Điều 7 Thông tư số 38/2015/TT-BTC: công chức lập phiếu đề xuất, đồng thời dự thảo văn bản từ chối xác định trước để thông báo đến tổ chức, cá nhân và trả lại hồ sơ. Trong đó nêu rõ lý do từ chối, báo cáo lãnh đạo đơn vị, trình lãnh đạo Tổng cục duyệt ký.

Trường hợp đơn đề nghị xác định trước chưa được điền đầy đủ tiêu chí theo mẫu đơn hoặc thiếu tài liệu kỹ thuật (trường hợp không có mẫu hàng trong hồ sơ)  công chức lập phiếu đề xuất, đồng thời dự thảo văn bản trả lại hồ sơ để thông báo đến tổ chức, cá nhân biết và điền đầy đủ các tiêu chí theo mẫu đơn đề nghị xác định trước, báo cáo lãnh đạo đơn vị.

Thời hạn xử lý hồ sơ xác định trước tính từ ngày Tổng cục Hải quan nhận được Đơn và tài liệu kỹ thuật do tổ chức, cá nhân gửi bổ sung đúng quy định.

Trường hợp mẫu hàng (trường hợp có mẫu) do tổ chức, cá nhân đề nghị xác định trước gửi chưa đủ số lượng mẫu, quy cách mẫu,… theo hướng dẫn của Tổng cục Hải quan để thực hiện phân tích, giám định (đối với trường hợp phải phân tích, giám định để xác định mã số hàng hóa), công chức lập phiếu đề xuất, đồng thời dự thảo văn bản thông báo để tổ chức, cá nhân gửi mẫu theo đúng hướng dẫn của Tổng cục Hải quan, báo cáo lãnh đạo Phòng Phân loại, lãnh đạo Cục Thuế XNK trình lãnh đạo Tổng cục duyệt ký. 

Thời hạn xử lý hồ sơ xác định trước tính từ ngày Tổng cục Hải quan nhận được mẫu do tổ chức, cá nhân gửi bổ sung đúng quy định.

 Trường hợp hồ sơ đầy đủ theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Thông tư số 38/2015/TT-BTC, mẫu hàng gửi đủ, đúng hướng dẫn của Tổng cục Hải quan, đơn đề nghị đã được điền đầy đủ tiêu chí theo mẫu, công chức thực hiện. Tra cứu Cơ sở dữ liệu để thực hiện xác định trước.

Công chức đối chiếu hàng hóa được mô tả trong hồ sơ với các nguyên tắc và căn cứ xác định trước quy định tại Luật Hải quan số 54/2014/QH13, Nghị định số 08/2015/NĐ-CP, Thông tư số 38/2015/TT-BTC, Thông tư số 39/2015/TT-BTC và Thông tư số 14/2015/TT-BTC để xác trước về phương pháp xác định trị giá, mã số hàng hóa, xuất xứ hàng hóa và xử lý như sau:

Nếu đủ căn cứ để xác định trước, công chức xác định trước, lập phiếu đề xuất báo cáo lãnh đạo đơn vị, trình lãnh đạo Tổng cục duyệt ký.

 Nếu chưa đủ căn cứ để xác định trước thì yêu cầu bổ sung thêm thông tin, hoặc mời tổ chức, cá nhân đến cơ quan hải quan làm việc để cung cấp tài liệu, giải thích, làm rõ các nội dung tại hồ sơ đề nghị xác định trước, báo cáo lãnh đạo đơn vị, trình Lãnh đạo Tổng cục duyệt ký nội dung đề nghị bổ sung thông tin hoặc đề xuất lãnh đạo đơn vị chủ trì buổi làm việc. 

Trường hợp hàng hóa cần phân tích, giám định, công chức lập phiếu đề xuất, dự thảo văn kèm theo mẫu hàng hóa và bản chụp hồ sơ đề nghị xác định trước gửi cơ quan có thẩm quyền phân tích để thực hiện phân tích hoặc trưng cầu giám định. Sau khi có kết quả phân tích nhưng cần có thêm thông tin về hàng hóa đã phân tích để xác định trước.

Phê duyệt hồ sơ

Thời gian thực hiện không quá 07 (bảy) ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ do công chức trình. Riêng trường hợp từ chối xác định trước trả lại hồ sơ để tổ chức, cá nhân bổ sung thông tin, đề nghị gửi mẫu theo đúng hướng dẫn, thời hạn xử lý tối đa là 2 (hai) ngày làm việc.

 Lãnh đạo đơn vị kiểm tra hồ sơ, đề xuất của công chức và xử lý như sau:

Trường hợp lãnh đạo đơn vị đồng ý, ký trình văn bản lên lãnh đạo phê duyệt.

Trường hợp lãnh đạo đơn vị không đồng ý với đề xuất của công chức; ghi rõ lý do, ý kiến chỉ đạo vào phiếu đề xuất và trả lại hồ sơ để công chức giải trình hoặc thực hiện ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo đơn vị.

 Trường hợp lãnh đạo đơn vị và công chức chưa thống nhất được phương án xử lý hồ sơ thì lãnh đạo đơn vị cùng công chức lập báo cáo nêu rõ quan điểm xử lý, xin ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo cấp trên.

 Lãnh đạo Tổng cục Hải quan kiểm tra hồ sơ, đề xuất của Lãnh đạo Cục và xử lý như sau (thời gian thực hiện: không quá 03 (ba) ngày làm việc):

 Trường hợp lãnh đạo Tổng cục đồng ý với đề xuất của Cục: duyệt ký văn bản. 

 Trường hợp lãnh đạo Tổng cục không đồng ý với đề xuất của Cục có ý kiến chỉ đạo vào Phiếu đề xuất và trả lại hồ sơ để Cục Thuế xuất nhập khẩu hoặc Cục Giám sát quản lý giải trình hoặc thực hiện ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo Tổng cục.

 Bước 3.

Phát hành văn bản, lưu trữ hồ sơ

Sau khi đã được lãnh đạo Tổng cục duyệt ký, văn bản phải được phát hành ngay. Bộ phận tổng hợp thuộc Văn phòng Tổng cục Hải quan chuyển văn bản đến văn thư Tổng cục để phát hành cho tổ chức, cá nhân xin xác định trước và các Cục Hải quan địa phương.

 Việc lưu trữ hồ sơ phải có bảng kê chứng từ tài liệu bàn giao và thực hiện theo đúng quy định hiện hành.

Cập nhập Cơ sở dữ liệu

Công chức được giao thụ lý hồ sơ thực hiện cập nhật đầy đủ, chính xác các thông tin và nội dung đã xử lý trong ngày ban hành văn bản Thông báo xác định trước hoặc trong ngày làm việc liền kề, Chi tiết các thông tin cập nhập thực hiện theo Quy chế thu thập, cập nhật, sử dụng Cơ sở dữ liệu về Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam.

Công khai thông tin trên trang thông tin điện tử của Tổng cục Hải quan

Sau khi công chức thụ lý xử lý hồ sơ cập nhật vào Cơ sở dữ liệu, căn cứ Thông tin tại thông báo kết quả xác định trước, công chức thuộc Cục Công nghệ thông tin và Thống kê hải quan cập nhật nội dung Thông báo kết quả xác định trước lên trang thông tin điện tử của Tổng cục Hải quan theo hướng dẫn tại Quy chế thu thập, cập nhật, sử dụng Cơ sở dữ liệu về Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam.  Cơ sở dữ liệu về Biểu thuế; Cơ sở dữ liệu về phân loại hàng hóa và áp dụng mức thuế của Tổng cục Hải quan.

  Ban hành văn bản hủy Thông báo kết quả xác định trước

Tổng cục Hải quan ban hành văn bản hủy Thông báo kết quả xác định trước, trong thời hạn tối đa là 10 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị hủy Thông báo xác định trước của Cục Hải quan tỉnh, thành phố (theo nội dung quy định tại khoản 5 Điều 27 Thông tư số 38/2015/TT-BTC); của các đơn vị thuộc cơ quan Tổng cục Hải quan; của doanh nghiệp; của các đơn vị khác hoặc do công chức, lãnh đạo thuộc Cục Thuế xuất nhập khẩu, Cục Giám sát quản lý tự phát hiện hồ sơ do tổ chức, cá nhân có đơn đề nghị xác định trước cung cấp không chính xác, không trung thực.

Ban hành văn bản chấm dứt hiệu lực Thông báo kết quả xác định trước

Khi văn bản quy phạm pháp luật về xác định trước có thay đổi, đơn vị đề xuất kết quả xác định trước phân công công chức kiểm tra, đối chiếu Thông báo kết quả xác định trước còn hiệu lực với các văn bản quy phạm pháp luật làm căn cứ để ban hành Thông báo xác định trước.

Nếu căn cứ pháp lý để đưa ra kết quả xác định trước có thay đổi thì công chức lập phiếu đề xuất và dự thảo văn bản chấm dứt hiệu lực của Thông báo xác định trước, báo cáo lãnh đạo đơn vị, trình Lãnh đạo Tổng cục duyệt ký. Văn bản chấm dứt hiệu lực của Thông báo kết quả xác định trước có hiệu lực cùng thời điểm với văn bản làm căn cứ ban hành Thông báo xác định trước được sửa đổi, bổ sung, thay thế có hiệu lực thi hành.

Thời hạn xử lý ít nhất là 10 ngày trước ngày có hiệu lực thi hành của văn bản pháp luật làm căn cứ ban hành Thông báo kết quả xác định trước được sửa đổi, bổ sung, thay thế.

Việc ban hành văn bản đi và lưu trữ hồ sơ thực hiện theo quy định. Công chức thực hiện cập nhật vào Cơ sở dữ liệu và công khai thông tin trên trang thông tin điện tử của Tổng cục Hải quan.  Chi tiết hóa quy trình tiếp nhận, xử lý hồ sơ và ra thông báo kết quả xác định trước được mô tả ở hình 18.3.

Về thủ tục

Hiện tại, doanh nghiệp khi có yêu cầu cần điền nội dung vào mẫu đơn theo quy định tại Thông tư 38/2013/TT-BTC và hướng dẫn tại các quyết định của Tổng cục Hải quan gửi hồ sơ về Tổng cục Hải quan hoặc Cục Hải quan địa phương nơi quản lý doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của Nhật Bản và theo thực tế tiến trình hiện đại hóa của ngành Hải quan Việt Nam hiện nay, đề xuất đa dạng hóa các hình thức đơn gửi: ngoài việc gửi đơn đề nghị bằng văn bản giấy qua đường công văn như thông thường, doanh nghiệp còn có thể gửi đơn đề nghị qua đường thư điện tử hoặc điện thoại.

Đối với hình thức qua thư điện tử, cơ quan hải quan cần xây dựng mẫu đơn trên website www.customs.gov.vn doanh nghiệp tự điền rồi scan các văn bản cần thiết kèm theo, sau đó gửi toàn bộ cho cơ quan hải quan bằng thư điện tử (có sử dụng chữ ký số như trong hệ thống thông quan VNACCS). Cơ quan hải quan thực hiện phán quyết trước và gửi email trả lời. Email này có giá trị pháp lý như văn bản giấy.

Hình 18.3.  Chi tiết việc thực hiện xác định trước về mã hóa hàng hóa, xuất xứ hàng hóa và phương pháp xác định trị giá hàng hóa

———————-

Đối với hình thức qua điện thoại, cơ quan hải quan sẽ bố trí một đường dây nóng vào giờ hành chính để doanh nghiệp có thể gọi điện hỏi trực tiếp. Câu trả lời được của cán bộ hải quan qua điện thoại chỉ mang tính chất tham khảo chứ không có giá trị pháp lý như văn bản hoặc email. Nếu trường hợp hàng hóa phức tạp, cán bộ hải quan sẽ có hướng dẫn đối với doanh nghiệp để thực hiện các công đoạn tiếp theo; hoặc nếu chưa trả lời được trong ngày làm việc hôm đó thì hẹn lại doanh nghiệp thời gian trả lời.

Đối với phán quyết trước về trị giá nên xem xét các điều kiện như: doanh nghiệp phải thanh toán toàn bộ tiền hàng, giao hàng toàn bộ một lần có thực sự cần thiết không. Đây là những điều kiện gây khó khăn cho doanh nghiệp muốn tham gia vào hoạt động phán quyết trước. Theo kinh nghiệm của các nước đã thực hiện phán quyết trước, doanh nghiệp có quyền được yêu cầu phán quyết trước, và hoạt động thương mại quốc tế là đa dạng, linh hoạt, hàng hóa có thể được giao nhiều lần và việc xác định trước còn là cơ sở để doanh nghiệp lập kế hoạch kinh doanh. Vì vậy, không nên tạo khung cứng như quy định của Việt Nam mà nên bỏ các điều kiện như đã nêu ở trên.

Tổng cục Hải quan cần xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ công tác xác định trước. Khi một thông báo về kết quả xác định trước được đưa ra, cán bộ chuyên trách có trách nhiệm cập nhật thông tin vào cơ sở dữ liệu và cung cấp thông tin cho bộ phận quản lý rủi ro để quản lý.

Phối hợp với các cơ quan cấp giấy chứng nhận xuất xứ, cơ sở sản xuất, hải quan nước xuất khẩu và các Bộ, Ngành để thực hiện xác định trị giá, phân loại hàng hóa và xác định xuất xứ.

Các vấn đề liên quan đến khiếu nại về kết quả thông báo trước cần được xử lý kịp thời, không để việc khiếu kiện kéo dài quá 30 ngày.

18.3.3. Đối với công tác thu thập và xử lý thông tin nghiệp vụ

a) Hoàn thiện cơ sở pháp lý đối với công tác thu thập và xử lý thông tin

Luật Hải quan số 54/2014/QH13 đã có hiệu lực từ 01/01/2015, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13 ngày 06/4/2016 có hiệu lực từ 01/9/2016. Tuy nhiên công tác thu thập và xử lý thông tin được thực hiện trên nguyên tắc của Thông tư 175/2013/TT-BTC ngày 29/11/2013 của Bộ Tài chính dựa chủ yếu trên cơ sở của các văn bản quy phạm pháp luật đã hết hiệu lực. Vì vậy Bộ Tài chính có quyết định 464/2015/QĐ-BTC nhằm thực hiện tốt công tác thu thập và xử lý thông tin nghiệp vụ phục vụ quản lý rủi ro. Do vậy để có cơ sở thực hiện tốt hơn công tác thu thập, xử lý thông tin nghiệp vụ phục vụ quản lý rủi ro cần thiết phải xây dựng một Nghị định hay Thông tư mới hướng dẫn thực hiện công tác thu thập, xử lý thông tin nghiệp vụ. Mặt khác, công tác thu thập thông tin nghiệp vụ trước đây do Cục Điều tra chống buôn lậu thực hiện mà công tác xử lý thông tin phục vụ quản lý do Ban quản lý rủi ro (nay là Cục Quản lý rủi ro) đảm nhận. Theo Quyết định 1386/QĐ-BTC, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý rủi ro, quy định rõ, việc thu thập và xử lý thông tin hải quan, thông tin nghiệp vụ hải quan do Cục quản lý rủi ro thực hiện.  Cần xây dựng, quản lý, áp dụng tiêu chí quản lý rủi ro, chỉ số tiêu chí quản lý rủi ro trong trong hoạt động nghiệp vụ hải quan theo khuyến nghị của Tổ chức Hải quan thế giới. Mặt khác, Tổ chức Hải quan thế giới đã xuất bản cẩm nang quản lý rủi ro, trong đó có hướng dẫn xây dựng khung quản lý rủi ro, chu trình quản lý rủi ro cũng như cách thức xây dựng bản chỉ dẫn rủi ro.

b) Xử lý thông tin nghiệp vụ

  Để thực hiện tốt các biện pháp thu thập và xử lý thông tin nghiệp vụ hải quan nâng cao hiệu quả quản lý trước thông quan, công tác thu thập và xử lý thông tin phải tuân thủ nguyên tắc:

  – Công tác thu thập, xử lý thông tin phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, chính xác, kịp thời, khoa học, có trọng tâm, trọng điểm, đúng quy định;

  – Công tác thu thập xử lý thông tin thực hiện thống nhất, dữ liệu được quản lý theo chế độ mật, theo quy định của Tổng cục Hải quan;

  – Phải chủ động thực hiện và phối hợp với các lực lượng trong và ngoài ngành để thu thập và xử lý thông tin.

  Dựa trên nguyên tắc thu thập và xử lý thông tin phương pháp thu thập thông tin cần thực hiện:

  – Khai thác rộng rãi các nguồn tài liệu sẵn có liên quan đến công tác quản lý nhà nước về hải quan phục vụ công tác xử lý thông tin;

  – Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, sử dụng các biện pháp kiểm soát, các biện pháp hành chính để thu thập thông tin, tài liệu liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan;

  – Thông tin, tài liệu cần được xác minh, tiến hành tổng hợp, phân tích, đánh giá về các đối tượng để xác định mức độ, nguy cơ rủi ro, và dự báo diễn biến , từ đó đề xuất các giải pháp phòng ngừa, xử lý thích hợp;

  – Cập nhật bổ sung vào hồ sơ rủi ro, hồ sơ doanh nghiệp vào cơ sở dữ liệu hệ thống thông tin quản lý rủi ro theo quy định của Tổng cục Hải quan.

  Nội dung thu thập thông tin phải toàn diện, nắm thông tin cả về địa bàn, tuyến vận chuyển, nắm thông tin về hoạt động xuất nhập khảu, nắm thông tin về phương tiện vận tải, nắm thông tin về tổ chức cá nhân tham gia hoạt động xuất nhập khẩu.

  Đối với thu thập thông tin địa bàn, tuyến, cần nắm rõ:

  (i) Về tình hình chung:

  – Tên địa bàn, vị trí địa lý, tên vị trí tuyến đường cả trong nước và quốc tế;

  – Những đặc điểm của địa bàn, đặc điểm tuyến, những thuận lợi khó khăn cho hoạt động thương mại;

  – Tình trạng chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội có tác động liên quan đến công tác quản lý nhà nước về hải quan;

  – Lập hồ sơ địa bàn, tuyến đưa vào cơ sở dữ liệu;

  (ii) Tình hình hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu:

– Tổng quát về tình hình xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh trên địa bàn, tuyến;

– Nhận xét tác động của cơ chế, chính sách đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, quá cảnh, những hạn chế, bất cập có thể xảy ra.

Đối với hiện tượng bất thường trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa:

– Cần ghi nhận được nội dung, diễn biến của vụ việc, hiện tượng và các đối tượng liên quan đến vụ việc, hiện tượng;

– Số lượng vụ việc, hiện tượng tương tự đã xảy ra ở địa bàn, tuyến, thời gian xảy ra của từng vụ việc;

– Kết quả, quan điểm xử lý vụ việc, hiện tượng của các cơ quan có thẩm quyền;

– Các chủ trương, chính sách quản lý về hải quan đối với lĩnh vực, ngành liên quan đến vụ việc, hiện tượng đó. Những sơ hở thiếu sót mà đối tượng có thể lợi dụng;

– Những thông tin, tài liệu trong cơ sở dữ liệu của Hải quan;

– Nhận xét, đánh giá về vụ việc, hiện tượng, tính chất, mức độ, biện pháp có thể xử lý.

Đối với phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, cần thu thập được các thông tin:

– Thông tin về phương tiện như: tên, chủng loại, số hiệu, năm sản xuất, trọng tải, lịch trình, tuyến đường đi thường xuyến;

– Thông tin về chủ sở hữu;

– Thông tin về người điều khiển, người tham gia điều khiển và những người làm việc trên phương tiện;

– Loại hàng hóa thường xuyên được vận chuyển trên phương tiện;

– Các vi phạm của chủ phương tiện, người điều khiển và người làm việc trên phương tiện, cơ quan xử lý, hình thức xử lý, mức độ xử lý;

– Công tác quản lý về hải quan đối với phương tiện , những sơ hở, thiếu sót, bất cập cần giải quyết.

Đối với tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xuất nhập khẩu cần nắm:

– Tên tổ chức, cá nhân, địa chỉ trụ sở làm việc chính, nơi giao dịch, số tài khoản, mã số thuế, mã số doanh nghiệp…;

– Địa bàn thường xuyên hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu , số liệu về kim ngạch, loại mặt hàng xuất khẩu, nhập khẩu;

– Quá trình chấp hành pháp luật hải quan;

– Những vi phạm liên quan trong quá trình hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu;

– Những phương thức, thủ đoạn đã thực hiện trong các vụ vi phạm pháp luật hải quan;

– Các thông tin, tài liệu liên quan đến công tác quản lý về hải quan ở địa bàn của tổ chức cá nhân hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu.

Quy trình thu thập thông tin, xử lý thông tin được mô tả như hình 18.4:

Hình 18.4. Quy trình thu thập, xử lý thông tin nghiệp vụ hải quan

——————————–

 

Bước 1.

Tiến hành rà soát đối tượng, nội dung cần thu thập về đối tượng, lập hồ sơ nghiên cứu, báo cáo lãnh đạo để triển khai thực hiện.

Bước 2.

Xây dựng kế hoạch thu thập thông tin, xác định mục đích, yêu cầu, nội dung và phương pháp tiến hành thu thập thông tin, tài liệu cần thiết theo nhiệm vụ đã xác định.

Bước 3.

Tiến hành thu thập, phân tích đánh giá thông tin, tài liệu thu thập được:

(i) Nguồn thu thập thông tin:

– Trong ngành Hải quan bao gồm: các thông tin tài liệu từ cơ sở dữ liệu của hệ thống thông tin hải quan, thông tin nghiệp vụ hải quan, thông tin từ hệ thống hồ sơ rủi ro, hồ sơ tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của hệ thống quản lý rủi ro…;

– Thông tin từ các cơ quan, Ban, Ngành, các phương tiện thông tin, truyền thông và do các cá nhân cung cấp;

– Thông tin từ công tác quản lý nghiệp vụ hải quan tại các cửa khẩu thu thập được;

– Thông tin từ các biện pháp kiểm soát hải quan;

– Thông tin về các vi phạm pháp luật hải quan của các đối tượng.

(ii) Phương pháp thu thập thông tin, tài liệu:

– Áp dụng mọi biện pháp nghiệp vụ kiểm soát hải quan;

– Phối hợp các Bộ, Ngành và các lực lượng chức năng khác để điều tra thu thập;

– Phối hợp với hải quan nước ngoài thu thập.

(iii) Đánh giá, phân loại tài liệu đã thu thập được, xác định những tin, tài liệu có giá trị.

(iv) Xác định những nội dung cần thiết chứ thu thập được để tiếp tục thu thập.

Bước 4.

Nghiên cứu, tổng hợp xây dựng phương án, kế hoạch xử lý

Từ kết quả thu thập thông tin, năm dữ liệu, cần xác định những rủi ro có thể xảy ra, những sơ hở thiếu sót trong công tác quản lý để xây dựng phương án, kế hoạch xử lý.

Bước 5.

Thường xuyên nghiên cứu dữ liệu, cập nhật bổ sung thêm thông tin.

Để thực hiện tốt việc xử lý thông tin cần nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro, Tổ chức Hải quan thế giới đã xác định bối cảnh rủi ro trong lĩnh vực hải quan, ảnh hưởng mạnh đến kinh tế và an ninh gồm:

– Thu ngân sách;

– An ninh quốc gia;

– Bảo vệ cộng đồng;

– Tạo thuận lợi thương mại;

– Thu thập dữ liệu thương mại.

Những rủi ro này cần được kiểm soát trên toàn bộ chuỗi cung ứng, nhiều tầng, nhiều lớp của các chủ thể quản lý rủi ro, cũng như công tác thu thập thông tin quản lý của hải quan. Từ đó, Tổ chức Hải quan thế giới đã khuyến nghị các nước thực hiện quản lý rủi ro theo các nguyên tắc :

– Quản lý rủi ro phải góp phần hoàn thành nhiệm vụ Hải quan và nâng cao chất lượng của tổ chức;

– Quản lý rủi ro là một bộ phận không thể tách rời trong quy trình tổ chức ở cơ quan hải quan;

– Quản lý rủi ro có tính hệ thống, cơ cấu và thời sự;

– Quản lý rủi ro phải được xây dựng phù hợp với bối cảnh bên trong và bên ngoài của ngành Hải quan;

– Quản lý rủi ro là một phần trong tẩt cả các quy trình đưa ra quyết định nghiệp vụ hải quan;

– Quản lý rủi ro phải dựa trên các thông tin tốt nhất sẵn có không làm ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về hải quan.

Nhận thấy việc áp dụng khuyến nghị của Tổ chức Hải quan thế giới là cần thiết. Vì vậy, Hải quan Việt Nam xây dựng khung quản lý rủi ro theo mô hình tại hình 18.5 dưới đây.

Hình 18.5.  Khung quản lý rủi ro (nguồn WCO)

————————–

Thực hiện xây dựng khung quản lý rủi ro cần xác định rõ các việc phải thực hiện trong khung quản lý rủi ro:

(i) Các yêu cầu và cam kết:

 Đây là các yêu cầu và cam kết của người đứng đầu trong tổ chức và được sự hỗ trợ từ cấp quản lý cao nhất những vấn đề cần thực hiện trong quản lý hải quan.

(ii) Xây dựng khung  quản lý rủi ro

Hải quan Việt Nam cần nhận thức rõ về tổ chức và bối cảnh hoạt động, xem xét kỹ các yếu tố bên trong và bên ngoài như chính trị, văn hóa, công nghệ; quản trị nội bộ; các mục tiêu chiến lược mà tổ chức đề ra; các chính sách quản lý rủi ro. Ai là người đứng đầu, chuyên môn nghiệp vụ.

(iii) Triển khai thực hiện quản lý rủi ro

(iv) Giám sát và rà soát chu trình quản lý rủi ro

(v) Liên tục cải tiến chu trình quản lý rủi ro.

Trên cơ sở khung quản lý rủi ro, cần xây dựng chu trình quản lý rủi ro theo mô hình 18.6 dưới đây:

Hình 18.6.  Chu trình quản lý rủi ro (nguồn WCO)

————————————–

Từ thực tiễn khung quản lý rủi ro và chu trình quản lý rủi ro, chúng ta có thể áp dụng mô hình quản lý mục tiêu chiến lược (hình 18.7) để thực hiện quản lý rủi ro trong lĩnh vực nghiệp vụ hải quan.

Hình 18.7.  Mô hình mục tiêu chiến lược (Michael Porter)

—————————————-

Mô hình mục tiêu chiến lược hay còn gọi là chuỗi giá trị (được giáo sư Michael Porter – là giáo sư của Đại học Harvard, Hoa Kỳ, nhà tư tưởng chiến lược, chuyên gia hàng đầu về chiến lược và chính sách cạnh tranh của thế giới) đưa ra năm 1985 là công cụ chiến lược bên trong cho phép tách biệt các hoạt động khác nhau trong một lĩnh vực hoạt động cụ thể của tổ chức. Trong mô hình này các hoạt động của tổ chức được phân tích theo giác độ các hoạt động chính, hoạt động hỗ trợ để phục vụ thực hiện mục tiêu chiến lược và quá trình kiểm soát hệ thống. Như vậy nếu áp dụng mô hình này, chúng ta cần xác định rõ mục tiêu trong công tác quản lý rủi ro, xác định rõ các rủi ro và đánh giá, xây dựng các kế hoạch để thực hiện được mục tiêu đó.

Chẳng hạn ta xác định mục tiêu đảm bảo nguồn thu ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu là một trong những mục tiêu chiến lược của Hải quan Việt Nam. Để thực hiện mục tiêu này trước hết ta phải nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn thu (nghiên cứu thị trường) như:

  (i) Gian lận thương mại diễn ra trong các lĩnh vực:

  –  Khai báo sai về đối với hàng hóa do phân loại sai để được hưởng ưu đãi về thuế suất;

  – Khai báo trị giá thấp hơn, cao hơn trị giá thực tế để nộp thuế ít hơn;

  – Khai báo số lượng, trọng lượng ít hơn so với thực tế;

  – Khai báo sai chất lượng so với thực tế;

  – Khai báo sai về mã số (như hàng hóa nguyên chiếc nhưng khai báo là linh kiện);

  – Khai báo sai về xuất xứ để hưởng ưu đãi về thuế suất;

  – Khai xuất khẩu nhưng thực tế không xuất, hoặc xuất ít hơn khai báo;

  – Sử dụng 01 bộ chứng từ cho nhiều lô hàng xuất khẩu nhưng thực tế không xuất;

  – Khai một mặt hàng nhưng thực tế nhiều mặt hàng có thuế suất khác nhau;

  – Hàng hóa gia công, sản xuất xuất khẩu không đúng mục đích;

  – Tạm nhập nhưng không tái xuất;

  – Buôn lậu….

  (ii) Rủi ro về liêm chính:

  – Tham nhũng;

  – Năng lực kém;

  – Thu nhập thấp…

  (iii) Rủi ro về trang thiết bị, thông tin:

Điều kiện vật chất cho cơ sở làm việc;

Hạ tầng công nghệ thông tin;

Liên kết trao đổi thông tin;

Cơ sở dữ liệu về giá, mã số, xuất xứ …thiếu, không cập nhật kịp thời…

Xác định được các rủi ro chính là việc nghiên cứu được môi trường trong mô hình quản lý mục tiêu chiến lược.

Với từng rủi ro lớn, chúng ta đề ra các biện pháp và lên kế hoạch cụ thể chính là việc thực hiện thiết kế sản phẩm trong mô hình mục tiêu chiến lược. Triển khai thực hiện kế hoạch bằng các biện pháp giảm thiểu rủi ro chính là việc thực thi kế hoạch; thông qua việc công khai hóa, minh bạch hóa các rủi ro thường gặp được coi là quảng cáo sản phẩm; Thường xuyên cập nhật thông tin, thông tin kịp thời tới các đơn vị và doanh nghiệp xem như việc chăm sóc khách hàng. Bên cạnh đó chúng ta có cơ sở hạ tầng đảm bảo, nguồn công chức chuyên nghiệp minh bạch, lượng thông  tin phản hồi tin cậy, và hệ thống công nghệ thông tin hiện hiện đại sẽ là những hoạt động hỗ trợ đắc lực cho việc kiểm soát nguồn thu. Trên cơ sở kết quả đạt được so với mục tiêu chiến lược đề ra ta có kế hoạch rà soát điều chỉnh để ra quyết định nhằm đạt được mục tiêu chiến lược.

  Để đảm bảo không có sai sót cần đánh giá mức độ rủi ro theo các bước sau:

  Bước 1. Xác định mục tiêu chiến lược (các rủi ro lớn) ví dụ như:

Đảm bảo nguồn thu;

Đơn giản hóa  thủ tục;

Đảm nảo an toàn, an ninh….

Bước 2. Xây dựng bảng chỉ dẫn rủi ro

Để xác định rủi ro trước hết xây dựng bảng chỉ dẫn rủi ro (bảng 18.1). Ở đó các rủi ro cần được liệt kê chi tiết tất cả những gì đã xảy ra và xảy ra như thế nào.

Bảng 18.1. Bảng chỉ dẫn rui ro 

Số TT

Rủi ro

Cái gì đã xảy ra

Xảy ra như thế nào

1

 

 

.1

 

 

 

.2

 

 

 

.3

 

 

 

 

 

2

 

 

.1

 

 

 

.2

 

 

 

.3

 

 

 

 

 

3

 

 Bước 3. Đánh giá rủi ro

Trong bước này cần phân tích khả năng và hậu quả của rủi ro. Việc đánh giá rủi ro thực hiện theo cách chấm điểm dựa trên mô hình đánh giá điểm mạnh, điểm yếu để đanh giá chấm điểm rủi ro, tuân thủ bảng chấm điểm 18.2.

Bảng 18.2. Bảng chấm điểm rủi ro 

Hậu quả

Kém quan trọng

1

Thứ yếu

2

Vừa phải

3

Chủ yếu

4

Nghiêm trọng

5

Khả năng

Chắc chắn

5

5

10

15

20

25

Dễ xảy ra

4

4

8

12

16

20

Có thể xảy ra

3

3

6

9

12

15

Khó xảy ra

2

2

4

6

8

10

Hiếm

1

1

2

3

4

5

Và được đánh giá: Mức độ quan trọng

Thấp:  1-4

Trung bình:  5-9

Cao:  10-19

Rất cao: 20-25

Từ đó xác định các yếu tố có mức độ quan trọng cao để quản lý chặt chẽ nhằm giảm thiểu rủi ro.

Dựa trên kết quả này thực hiện xây dựng bảng đánh giá rủi ro (bảng 18.3)

Bảng 18.3. Bảng đánh giá rủi ro 

Số TT

Rủi ro

Tỷ lệ   khả năng xảy ra

Tỷ lệ     hậu quả

Mức độ quan trọng

Ưu tiên

rủi ro

Cái gì đã xảy ra

Xảy ra như thế nào

1

 

 

.1

 

 

 

 

 

 

 

.2

 

 

 

 

 

 

 

.3

 

 

 

 

 

 

2

 

 

.1

 

 

 

 

 

 

 

.2

 

 

 

 

 

 

 

.3

 

 

 

 

 

 

 

 

Bước 4.   Biện pháp thực hiện và chủ thể rủi ro

Từ kết quả đánh giá chấm điểm, xác định được rủi ro ưu tiên, rủi ro chấp nhận, cán bộ cần xác định chủ thể rủi ro, các biện pháp thực hiện, tổ chức theo dõi rủi ro, người đứng đầu để thực hiện. Để làm tốt công tác xử lý này cần thiết lập bảng theo dõi rủi ro (bảng 18.4) nhằm mục đích xác định rõ các rủi ro xảy ra do ai chịu trách nhiệm xử lý, tổ chức thực hiện nhằm giảm thiểu các rủi ro.

Bảng 18.4. Bảng theo dõi thực hiện quản lý rủi ro

 

STT

Rủi ro

Khả năng xảy ra

Hậu quả

Mức độ nguy hiểm

Biện pháp thực hiện

Chủ thể RR

Theo dõi rủi ro

Cái gì   xảy ra

Xảy ra như thế nào

1

 

 

.1

 

 

 

 

 

 

 

 

 

.2

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2

 

 

.1

 

 

 

 

 

 

 

 

 

.2

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 Bước 5. Giám sát và rà soát

Thực hiện giám sát, rà soát bao gồm tất cả các khía cạnh của quá trình quản lý rủi ro, được thực hiện trên toàn thể hệ thông rủi ro, kể cả những thay đổi có thể ảnh hưởng đến hệ thống nhưng rủi ro không đổi.

18.3.4. Nâng cao hiệu quả công tác phối hợp và tuyên truyền và một số đề xuất kiến nghị

a) Công tác phối hợp

a1) Phối hợp các lực lượng trong nước

Tổng cục Hải quan cần phối hợp với các Bộ, Ngành cũng như cộng đồng doanh nghiệp trong công tác quản lý trước thông quan. Đối với việc khai thác thông tin E-manifest cần phối hợp chặt chẽ với Bộ giao thông vận tải, đặc biệt là các doanh nghiệp khai thác cảng và các hãng vận tải thường cập cảng Việt Nam. Đối với việc thực hiện phán quyết trước và công tác thu thập thông tin, Hải quan Việt Nam cần phối hợp với tất cả các lực lượng liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, đặc biệt là công tác trao đổi thông tin, tài liệu, nghiệp vụ. Cần thống nhất giữa các lực lượng thường xuyên trao đổi thông tin, tài liệu trên các lĩnh vực sau:

  • Những chủ trương, quy định của pháp luật, chính sách liên quan đến hoạt động của các lực lượng; tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong nước và quốc tế; chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mỗi lực lượng liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu

Những tổ chức cá nhân sau khi nhập khẩu hàng hoá không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, bỏ trốn khỏi địa chỉ đăng ký kinh doanh để chiếm đoạt tiền thuế; những doanh nghiệp nợ đọng thuế xuất nhập khẩu kéo dài, có dấu hiệu lừa đảo, trốn thuế hoặc chiếm đoạt tiền thuế xuất nhập khẩu.

 

  • Phối hợp trao đổi thông tin nghiệp vụ phục vụ quản lý rủi ro gồm:

+ Tổng cục Hải quan trao đổi, cung cấp kịp thời những thông tin nghiệp vụ liên quan đến các đối tượng vi phạm pháp luật hải quan cho các lực lượng liên quan về nội dung chuyển đổi phương thức quản lý hải quan, các quy định áp dụng liên quan đến quản lý rủi ro, phối hợp triển khai thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp quản lý rủi ro, phòng ngừa, phát hiện và ngăn chặn kịp thời những hành vi lợi dụng quản lý rủi ro để buôn lậu và gian lận thương mại.

+ Lực lượng liên quan, đặc biệt là Công an và Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển cung cấp thường xuyên, kịp thời cho Tổng cục Hải quan và Cục Hải quan các tỉnh các thông tin về phương thức thủ đoạn mới về hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại và các vi phạm khác về hải quan để Tổng cục Hải quan kịp thời điều chỉnh, bổ sung tiêu chí quản lý rủi ro; phối hợp triển khai các biện pháp nghiệp vụ, hỗ trợ hiệu quả các hoạt động quản lý rủi ro.

  • Những sơ hở, thiếu sót hoặc những thay đổi trong thực hiện quy trình nghiệp vụ, thủ đoạn tội phạm trên phạm vi địa bàn và trên những tuyến, địa bàn trọng điểm; những thông tin liên quan đến công tác quản lý, phân luồng các doanh nghiệp thực hiện kinh doanh xuất nhập khẩu trong địa bàn có những biểu hiện nghi vấn và vi phạm pháp luật hải quan; những đối tượng có đường dây, ổ nhóm tội phạm có liên quan đến hoạt động gian lận thương mại.
  • Những thông tin của Cảnh sát quốc tế, của Tổ chức Hải quan thế giới và các tổ chức quốc tế khác có liên quan về hoạt động tội phạm quốc tế hoặc ngoài nước;
  • Các tài liệu nghiệp vụ, hồ sơ vụ việc khi có yêu cầu của mỗi bên;
  • Những tài liệu, thông tin phục vụ công tác tuyên truyền về pháp luật, về công tác đấu tranh chống tội phạm, về gương người tốt việc tốt của mỗi lực lượng.

a2) Phối hợp trong phạm vi quốc tế

Xu hướng tội phạm trên thế giới ngày càng cao, nhiều đường dây buôn bán xuyên quốc gia được thiết lập và tiểm ẩn nguy cơ rửa tiền. Nhiều tội phạm buôn lậu, ma túy nước ngoài triệt để lợi dụng sự thông thoáng, thuận lợi khi Việt Nam gia nhập WTO, tham gia AFTA… nhập cảnh vào nước ta, núp bóng dưới vỏ bọc tinh vi để buôn bán, vận chuyển hoặc quá cảnh sang nước khác. Bản ghi nhớ giữa Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và các nước có chung đương biên giới về hợp tác kiểm soát buôn lậu, gian lận thương mại, ma túy, các chất hướng thần và tiền chất tuy được thực hiện nhưng còn rất nhiều việc cần phối hợp thực hiện. Để mở rộng và nâng cao hiệu quả quốc tế trong đấu tranh chống tội phạm buôn lậu, gian lận thương mại, ma túy, nhóm nghiên cứu kiến nghị các cấp rà soát lại các cam kết trong các Bản ghi nhớ và Thỏa thuận đã ký kết với các nước về phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại, để phối hợp với các đối tác thực hiện đầy đủ nội dung hợp tác ở cấp Trung ương, cấp tỉnh. Chủ động tham mưu đề xuất cấp có thẩm quyền mở rộng phạm vi hợp tác với các nước về phòng, chống tội phạm. Xây dựng và bổ sung các cam kết trong Quy chế phối hợp để hình thành hành lang pháp lý thuận lợi trong hoạt động phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, nhất là về kiểm tra, kiểm soát các hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư, quá cảnh hàng hóa từ các hoạt động tại biên giới, cửa khẩu như: đơn giản hóa các thủ tục qua lại biên giới trong trường hợp khẩn cấp thực hiện các yêu cầu phối hợp điều tra bắt giữ các; thực hiện trao đổi thông tin nhanh khi phát hiện tội phạm hoạt động qua biên giới…

Để có được sự phối hợp trong hoạt động kiểm soát hàng hoá xuất nhập khẩu, chống gian lận thương mại, ngoài sự hợp tác chặt chẽ giữa Tổng cục Hải quan Việt Nam với cơ quan cùng cấp của Hải quan các nước, Hải quan các địa phương cần có sự hợp tác chặt chẽ với đơn vị Hải quan của nước bạn ở cửa khẩu đối diện. Kết quả hợp tác ở cơ sở được thể hiện bằng Biên bản hội đàm giữa Cục Hải quan các tỉnh của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam với Hải quan các tỉnh của các nước có chung đường biên giới. Biên bản hội đàm thể hiện rõ sự phối hợp giữa Hải quan Việt Nam với Hải quan nước bạn trên các lĩnh vực sau:

  • Nâng cao chất lượng phục vụ, nhằm tạo thuận lợi cho thương mại, giảm thời gian thông quan;
  • Tăng cường giúp đỡ, trao đổi thông tin (thông tin nghiệp vụ hải quan “tình báo”) trong hoạt động giám sát hải quan, đặc biệt các thông tin về trị giá hải quan, xuất xứ hàng hóa và các mặt hàng mới xuất hiện chưa được phân loại. Tăng cường đấu tranh phòng, chống tội phạm và gian lận thương mại. Đối với những nước có đường biên giới chung cần thiết lập đường dây liên lạc nóng giữa Hải quan hai cửa khẩu;
  • Tăng cường hợp tác trong công tác đào tạo, huấn luyện cán bộ, trao đổi nghiệp vụ nâng cao năng lực nghiệp vụ cho cán bộ.

Một điểm cần phối hợp trong phạm vi quốc tế là thực hiện kiểm soát xuất khẩu hàng lưỡng dụng. Để biết được mục đích cuối cùng của hàng hóa không thể không có sự hợp tác của Hải quan các nước nói chung nước có chung đường biên giới nói riêng. Bởi chỉ có nước nhập khẩu mới biết được mục đích sử dụng cuối cùng. Vì vậy tăng cường kiểm soát xuất khẩu hàng lưỡng dụng không chỉ là nhiệm vụ riêng của Hải quan nước xuất khẩu mà đòi hỏi sự quan tâm của các cơ quan chức năng của nước nhập khẩu.

a3) Hợp tác giữa Hải quan với chính quyền địa phương và quần chúng

Nâng cao nhận thức về phòng ngừa, ngăn chặn việc buôn lậu và gian lận thương mại cho toàn xã hội là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân. Trong địa bàn quản lý của mình, Hải quan chủ động xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại. Kế hoạch này, được tuyên truyền đến các tổ chức Đảng, Chính quyền địa phương, các cơ quan, doanh nghiệp và toàn thể nhân dân trong địa bàn.

Tạo sự hưởng ứng tích cực của quần chúng nhân dân, huy động được sự vào cuộc mạnh mẽ, quyết liệt của các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể tố giác tội phạm gian lận thương mại cho lực lượng Hải quan. Hải quan phối hợp với các cấp uỷ Đảng và Chính quyền địa phương tạo sự chuyển biến theo chiều hướng tích cực cả về nhận thức, trách nhiệm và hành động thiết thực nhằm đẩy lùi, tệ nạn buôn lậu và gian lận thương mại.

b) Giải pháp về công tác tuyên truyền

Công tác tuyên truyền về phòng, chống buôn lậu, gian lận  thương mại là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân. Trong địa bàn hoạt động của Hải quan, nhiệm vụ tổ chức công tác phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại là nhiệm vụ chung của các cấp chính quyền, Công an, Bộ đội biên phòng cũng như thuộc trách nhiệm của Cục trưởng Cục Hải quan các tỉnh. Cục trưởng và các Chi Cục trưởng Chi cục Hải quan. Để làm tốt công tác này, ngoài việc phối hợp với các phương tiện thông tin đại chúng để phổ biến các quy định của pháp luật về công tác phòng, chống buôn lậu, và gian lận thương mại Hải quan Việt Nam cần thực hiện các việc sau:

(i) Phổ biến, quán triệt thực hiện Luật Hải quan, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý nhà nước về Hải quan cũng như các văn bản liên quan đến thương mại quốc tế. Các văn bản này không chỉ quán triệt đến cán bộ công chức hải quan trong toàn ngành Hải quan. Đồng thời mỗi cán bộ, công chức hải quan phải có trách nhiệm tuyên truyền đến nhân dân trong địa bàn quản lý.  Thông qua công tác quán triệt này, cán bộ công chức Hải quan nhận thức rõ nhiệm vụ và quyết tâm thực hiện công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại là nhiệm vụ chính trị quan trọng của ngành Hải quan cũng như của bản thân.

(ii) In và phát tài liệu phổ biến tuyên truyền trong địa bàn hoạt động hải quan của Hải quan cho quần nhân dân và khách xuất nhập cảnh để quần chúng và hành khách nhận thấy rõ tác hại của buôn lậu, gian lận thương mại.

(iii) Tổ chức khen thưởng, động viên kịp thời các tập thể, cá nhân lập thành tích. Đề nghị chính quyền địa phương khen thưởng kịp thời và có giải pháp bảo vệ các cá nhân tố giác tội phạm. Kỷ luật thích đáng các cá nhân, đơn vị để lọt buôn lậu, gian lận thương mại.

c) Đề xuất kiến nghị

c1)  Đối với Chính phủ

(i) Chỉ đạo các Bộ Ngành thực hiện đầy đủ Cơ chế một cửa Một cửa quốc gia. Đây là nhiệm vụ có tính chất quyết định, tạo dựng khuôn khổ pháp lý vững chắc cho thu thập các thông tin phục vụ quản lý trước thông quan. Để làm tốt vấn đề này, Chính phủ cần chỉ đạo thực hiện tốt các vấn đề sau:

– Nghiên cứu nhằm xác định các biện pháp thích hợp để giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan đến trao đổi dữ liệu thương mại xuyên quốc gia.

– Tuân thủ các văn bản hướng dẫn của UN/CEFACT để đảm bảo các vấn đề pháp lý thường gặp nhất liên quan đến trao đổi dữ liệu thương mại xuyên quốc gia và quốc gia được đưa vào khung làm việc.

– Chỉ đạo sửa đổi, bổ sung các quy định, nghị định, luật pháp hiện hành cần thiết để thực thi cơ chế một cửa quốc gia đầy đủ. Đặc biệt là khung pháp lý về quyền được cung cấp dữ liệu từ hệ thống một cửa quốc gia; cơ cấu về chia sẻ thông tin đối với các tổ chức trong nước và các tổ chức của nước khác.

(ii) Đảm bảo cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin và truyền thông

Trong nhiều năm trở lại đây, cơ sở hạ tầng thông tin – truyền thông Việt Nam được đánh giá có tiến bộ hơn trước. Tuy vậy, Việt Nam vẫn chưa được đánh giá cao ở mức độ sẵn sàng. Thực tế chứng minh, quá trình xây dựng Cơ chế một cửa quốc gia ở bất kể quốc gia nào cũng không thể tách rời được vai trò quan trọng của công nghệ thông tin (CNTT). Ứng dụng CNTT có thể tạo ra một lượng thông tin to lớn, thường xuyên được lưu giữ, công bố, cung cấp trực tuyến cho cả xã hội; tạo ra sự tiếp cận trên diện rộng của người dân; thay đổi về chất trách nhiệm của các cơ quan công quyền, tạo nên tính công khai, minh bạch cho nền hành chính. Ngoài ra, CNTT có thể tạo ra sự thay đổi lớn trong cách thức làm việc của các cơ quan hành chính như trao đổi thông tin (gửi báo cáo, số liệu thống kê, gửi ý kiến tham gia, thẩm định, chia sẻ thông tin v.v….) qua thư điện tử, thay vì qua bưu điện, qua fax; Môi trường giao tiếp điện tử giúp giảm thiểu những tốn kém về chi phí, thời gian, công sức của người dân và doanh nghiệp. Thực tiễn của nhiều nước và của Việt Nam về hải quan điện tử, chứng minh thư điện tử, cấp giấy phép kinh doanh qua mạng, hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS đang hoạt động v.v… là những minh chứng thuyết phục về tác động do ứng dụng công nghệ thông tin mang lại cho nền hành chính và cho xã hội.

Đơn giản hóa thủ tục hành chính là một nhiệm vụ trọng tâm Chính phủ đặt ra, với mục tiêu là loại bỏ bớt các thủ tục hành chính rườm rà với người dân và doanh nghiệp.

  Để làm được việc này, ngoài việc Chính phủ quyết tâm, các cơ quan công quyền dần thay đổi thói quen làm việc dựa trên công văn, tài liệu giấy tờ chuyển sang phong cách làm việc dựa trên các văn bản điện tử và hệ thống thông tin trợ giúp. Quá trình số hóa thông tin phải được đẩy mạnh. Cải tiến quy trình thủ tục hành chính, chuẩn hóa nghiệp vụ, cung cấp thông tin trực tuyến cho cán bộ, người dân. Bản thân triển khai ứng dụng CNTT là cải cách hành chính, tiết kiệm công sức, tiền của của nhân dân và nâng cao được hiệu quả quản lý của nhà nước.

(iii) Tổ chức vận hành và thực hiện đầy đủ cơ chế một cửa quốc gia

Hệ thống một cửa quốc gia đã triển khai kết nối với hầu hết các bộ: Kiến nghị cần tiếp tục thực hiện đúng lộ trình, đầy đủ các thông tin mà thống một cửa quốc gia có thể thực hiện được chứ không chỉ một số thủ tục như hiện nay.

c2) Kiến nghị với Bộ, Ngành liên quan

Các Bộ, Ngành, các doanh nghiệp thống nhất cùng sử dụng một dữ liệu thông tin dưới dạng chuẩn hóa và các doanh nghiệp chỉ phải khai báo một lần tới hệ thống một cửa quốc gia. Cơ chế một cửa quốc gia vận hành theo nguyên tắc tạo ra môi trường liên thông giữa các cơ quan chính phủ thành một hệ thống duy nhất. Hệ thống này khi phản hồi công việc với công dân hay cộng đồng doanh nghiệp chỉ thông qua một cửa duy nhất. Các vấn đề của công dân hay cộng đồng doanh nghiệp giao dịch, hệ thống sẽ tự động gửi đến các Bộ, Ngành có liên quan. Khi xử lý một vấn đề, hệ thống của các Bộ, Ngành sẽ xử lý đồng thời và hồi đáp lại phía cơ quan giải quyết trên cơ sở ý kiến giải quyết của tất cả các Bộ, Ngành.

Tuy nhiên, hiện nay tồn tại một khó khăn bất cập trong việc triển khai cơ chế Một cửa Quốc gia đó là cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin giữa các Bộ, Ngành có liên quan đến quá trình quản lý nhà nước về hải quan chưa được tiến hành một cách nghiêm túc. Việc thực hiện cơ chế một cửa quốc gia sẽ không thực hiện được nếu không có cơ chế phối hợp về cung cấp thông tin hiệu quả và chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước có chức năng quản lý và cấp phép đối với hàng hóa chuyên ngành. Như vậy, khi thực hiện cơ chế một cửa đòi hỏi các Bộ, Ngành có liên quan phải chuyển đổi hoàn toàn phương thức quản lý thủ công sang áp dụng CNTT và tự động hóa, đồng thời vấn đề quan trọng là phải xây dựng một cơ chế phối hợp và cung cấp thông tin hiệu quả hơn giữa các Bộ, Ngành mà người chỉ đạo trực tiếp là Chính phủ, và các Bộ, Ngành có liên quan:

– Tham gia đầy đủ, có hiệu quả từ việc huy động nguồn lực đến tổ chức thực hiện các phần công việc liên quan đến hoạt động của các Bộ, Ngành;

  • Cải tiến thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, nhanh chóng từ khâu lấy ý kiến tham gia từ các Bộ, Ngành đến việc triển khai các hoạt động liên quan đến các Bộ, Ngành trong việc triển khai các hoạt động của cơ chế một cửa quốc gia.

Ngoài ra các Bộ, Ngành cùng với Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) sửa đổi, bổ sung Quy chế phối hợp trong cả lĩnh vực trao đổi thông tin và phối hợp hành động tại các cửa khẩu biên giới.

 c3Kiến nghị với Bộ Tài chính (TCHQ)

 Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị như sau:

  • Thông qua Hệ thống một cửa quốc gia tích hợp thông tin khai báo E-manifest vào hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS.
  • Chủ động phối hợp với Bộ đội Biên phòng, Tổng cục Cảnh sát, Cảnh sát Biển và các lực lượng khác xây dựng quy chế phối hợp trong đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, tổng kết đánh giá kết quả thực hiện quy chế phối hợp hàng năm để đánh giá mặt mạnh, mặt yếu, nguyên nhân tồn tại để đề xuất các biện pháp hữu hiệu cho việc cung cấp thông tin phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại phục vụ rủi ro.

–  Xây dựng chi tiết khung quản lý rủi ro về quản lý nhà nước về hải quan. Trên cơ sở khung quan lý rủi ro, thiết kế chu trình quản lý rủi ro và sử dụng mô hình mục tiêu chiến lược thực hiện giảm thiểu rủi ro.

 PHỤ LỤC

KINH NGHIỆM QUẢN LÝ TRƯỚC THÔNG QUAN CỦA MỘT SỐ NƯỚC

a) Kinh nghiệm quốc tế về xử lý E-Manifest

Hiện nay, hệ thống xử lý E-manifest đối với phương tiện vận tải thuộc môi trường thương mại tự động (ACE) của Hải quan Mỹ đã được triển khai tại 99 địa điểm nhập cảnh biên giới. ACE là hệ thống xử lý tờ khai thương mại mới do Cơ quan hải quan và bảo vệ biên giới Hoa Kỳ phát triển nhằm tạo thuận lợi thương mại và tăng cường an ninh quốc gia. E-manifest cung cấp thông tin về hàng hóa, bao gồm thông tin về người điều khiển, phương tiện vận tải, thiết bị, thông tin chi tiết lô hàng. Những thông tin này giúp cơ quan Hải quan xử lý thông tin trước khi phương tiện vận tải đến cửa khẩu. Người điều khiển phương tiện vận tải phải nộp E-manifest cho cơ quan Hải quan một giờ trước khi hàng hóa đến cảng, hoặc nửa giờ nếu như người vận tải đó là thành viên của Chương trình thương mại Tự do và An toàn.

Nộp hồ sơ E-manifest

Người vận tải có thể nộp E- manifest qua Cổng dữ liệu an toàn ACE dựa trên web hoặc Hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử do Cơ quan hải quan chứng nhận (EDI). Với hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), doanh nghiệp có thể sử dụng phần mềm EDI do doanh nghiệp mình tự phát triển để trao đổi với Cơ quan hải quan hoặc sử dụng ứng dụng của nhà cung cấp dịch vụ phần mềm nào đó.

Người vận tải cũng có thể sử dụng bên thứ ba, ví dụ như đại lý khai thuê Hải quan, Trung tâm xử lý biên giới hoặc người vận tải khác thay mặt họ gửi manifest điện tử tới cơ quan Hải quan qua Cổng ACE hoặc EDI.

Quy trình xử lý E-manifest

Việc tiếp nhận thông tin E- manifest sớm giúp Cơ quan hải quan và các cơ quan an ninh biên giới khác xử lý thông tin E-manifest trước khi phương tiện vận tải đó đến cảng. Việc tiếp cận trước thông tin E- manifest giúp Cơ quan hải quan xử lý nhanh phương tiện vận tải và lô hàng. Theo đó, cơ quan Hải quan sẽ dành nhiều thời gian để kiểm tra hàng hóa có độ rủi ro cao hơn mà vẫn đảm bảo không làm ách tắc việc vận chuyển qua biên giới của những người vận tải hợp pháp.

Khi một phương tiện vận tải tiếp cận đến địa điểm khai báo E- manifest đầu tiên, tờ khai E- manifest được tự động truy xuất và đối chiếu với các dữ liệu đã nộp trước đây, ví dụ như yêu cầu gửi hàng vào kho hay tờ khai giải phóng hàng để cán bộ Hải quan xem xét và xử lý. Cán bộ hải quan có thể giải phóng hàng hoặc đề nghị chuyển phương tiện vận tải và hàng hóa đó cho bộ phận kiểm tra thứ hai để tiếp tục xử lý. Tiếp theo đó, kết quả xử lý của cơ quan hải quan sẽ được tiếp cận thông qua Cổng dữ liệu an toàn ACE.

Lợi ích của E-manifest

Việc sử dụng E- manifest mang lại cho cả cơ quan hải quan và doanh nghiệp lợi ích thiết thực: Tính trung bình, việc xử lý E- manifest nhanh hơn việc xử lý manifest bằng giấy 33%. Bên cạnh đó, thông qua việc thiết lập tài khoản truy cập tại cổng ACE, người vận chuyển có thể lập được nhiều loại báo cáo đánh giá và xác định tuân thủ và rủi ro. Người vận chuyển cũng có thể lưu giữ và theo dõi thông tin chi tiết về tài khoản liên quan đến người lái, phương tiện vận tải, thiết bị, người xuất hàng, người nhận hàng thông qua cổng ACE. Việc này giúp loại bỏ được tình trạng gửi thông tin lặp lại nhiều lần qua EDI hoặc phải nhập lại thông tin này trên từng tờ khai manifest, qua đó giúp giảm sai sót trong quá trình gửi manifest. 

Một đặc điểm nữa của hệ thống E- manifest là cho phép người vận tải gửi thông tin chi tiết lô hàng tới hệ thống giao diện tự động của đại lý. Các dữ liệu này hỗ trợ việc hài hòa và thống nhất manifest với dữ liệu nhập, do đó giúp giảm ách tắc tại cửa khẩu. 

Cuối cùng, thông qua việc sử dụng cổng ACE, người vận tải cũng có thể yêu cầu trực tiếp từ manifest việc vận chuyển hàng hóa vào kho. Người vận tải cũng có thể báo cáo tình hình hàng hóa đến kho thông qua cổng ACE khi hàng hóa đó đến cảng đích tại Hoa Kỳ. (Theo Website Hải quan Việt Nam

b) Kinh nghiệm thực hiện phán quyết trước

b1) Hải quan Úc

Việc xây dựng và thực hiện một hệ thống phán quyết trước sẽ mang đến sự chắc chắn, minh bạch và khả năng dự đoán cho doanh nghiệp và các cơ quan liên quan. Tại Úc, dịch vụ phán quyết trước luôn sẵn sàng đối với các nhà nhập khẩu của Úc, các nhà xuất khẩu nước ngoài và đại lý của họ. Nguồn nhân lực của Hải quan Úc dành cho việc ban hành phán quyết trước gồm có 5 công chức cho việc ban hành phán quyết trước vể trị giá và xuất xứ, 22 công chức cho việc ban hành phán quyết trước về phân loại hàng hóa. Hàng năm Hải quan Úc ban hành hàng ngàn phán quyết trước về phân loại, trị giá và xuất xứ. Ví dụ từ 01/7/2012 đến 30/6/2013, Hải quan Úc đã ban hành 2499 phán quyết trước cả về phân loại hàng hóa, về xuất xứ và trị giá hải quan (nguồn Annual Report 2010-2011, Annual Report 2011 – 2012, Annual Report 2012 – 2013, Australia Customs and Border Protection Service tại trang www.customs.gov.au)

 Thủ tục phán quyết trước về trị giá (VA)

 Tại Úc, khi doanh nghiệp muốn xin một phán quyết trước về trị giá, doanh nghiệp đó cần gửi một đơn xin tư vấn trị giá (VA) tới cơ quan Hải quan. Đơn có thể được gửi bằng thư điện tử thông qua việc nhập thông tin trực tiếp vào cơ sở dữ liệu máy chủ Hải quan (Hệ thống TAPIN – Tariff and Precedents Information Network System) hoặc bằng văn bản theo mẫu B174 được đăng tải trên website của Hải quan Úc. Các thông tin xin tư vấn được nhập thủ công vào hệ thống TAPIN do cán bộ Hải quan thực hiện. Mỗi đơn xin tư vấn cần phải có chứng từ đi kèm gồm có mô tả hàng hoá; thông tin của các bên liên quan đối với hàng hóa nhập khẩu; đề xuất hướng xử lý đối với vấn đề trị giá và lý do đưa ra cách xử lý; các thông tin về giao dịch và các khoản thuế phải nộp. 

Theo quy định, mỗi một đơn xin VA chỉ được xem xét giải quyết một nội dung trị giá. Người nộp đơn có thể rút đơn nộp tại bất kỳ thời điểm nào trước khi cơ quan Hải quan ra phán quyết cuối cùng. Khi cần thêm thông tin yêu cầu để đưa ra kết luận tư vấn trị giá, Hải quan có thể yêu cầu doanh nghiệp cung cấp thêm thông tin trong vòng 28 ngày. Nếu người nộp đơn không cung cấp thông tin thêm theo yêu cầu, hoặc yêu cầu gia hạn thì hải quan sẽ huỷ đơn nộp.

Nhằm cung cấp một dịch vụ hiệu quả cho nhà nhập khẩu, Hải quan Úc giải quyết tất cả các đơn nộp trong vòng 30 ngày trong trường hợp người nộp đơn không phải gửi thêm thông tin bổ sung. Đối với các vấn đề trị giá phức tạp, Hải quan có thể cần hơn 30 ngày để đưa ra tư vấn trị giá cuối cùng. Nếu tư vấn trị giá không thể hoàn thành trong thời gian 30 ngày, Hải quan phải thông báo cho người nộp đơn về thời gian gia hạn.  

Mỗi phán quyết đối với một đơn nộp dù chấp nhận hay từ chối, đều bao gồm lý do đưa ra phán quyết và nội dung trích dẫn Luật Hải quan làm cơ sở. Phán quyết này được chuyển đến cho người nộp đơn bằng văn bản và được lưu lại trong TAPIN. Tư vấn có giá trị trong toàn lãnh thổ nước Úc trong thời hạn 5 năm kể từ ngày thông báo VA. Sau 5 năm, VA tự động bị huỷ. Nếu doanh nghiệp cần một phán quyết mới thì doanh nghiệp phải nộp một tờ đơn mới.

Hải quan Úc đưa ra VA với điều kiện doanh nghiệp cung cấp thông tin chính xác và không sai lệch và cung cấp đầy đủ các chứng từ đi kèm. Phán quyết trước mang tính ràng buộc pháp lý. Việc này đảm bảo với doanh nghiệp rằng phán quyết trước không bị thay đổi tuỳ tiện. Hải quan có thể thu hồi hoặc sửa đổi VA trong thời hạn 5 năm trong một số trường hợp cụ thể như: sửa đổi, bổ sung hệ thống luật pháp liên quan đến trị giá; thông tin do doanh nghiệp cung cấp không chính xác hoặc các thông tin liên quan bị thay đổi; do Hải quan thay đổi quan điểm của mình mặc dù việc này rất ít khi xảy ra và có thể bắt nguồn từ tiền lệ pháp lý hoặc tiếp nhận thông tin bổ sung. 

Thủ tục áp dụng cho phán quyết về phân loại hàng hóa (TA)

Phán quyết trước về phân loại hàng hóa (TA) là phán quyết mang tính ràng buộc do Cơ quan hải quan ban hành theo yêu cầu của doanh nghiệp hoặc đại lý của họ liên quan đến việc phân loại một hàng hoá cụ thể. Thủ tục để đưa ra tư vấn phân loại hàng hóa được thực hiện giống như tư vấn trị giá. Doanh nghiệp hoặc đại lý của họ có thể nộp đơn xin TA bằng phương pháp điện tử thông qua TAPIN; hoặc bằng văn bản, sử dụng mẫu B102 có trên website Hải quan. Các chứng từ đi kèm với đơn xin tư vấn gồm có bản mô tả đầy đủ về hàng hóa, thành phần của hàng hóa, mô tả ngắn gọn quy trình sản xuất hàng hóa, đóng gói hàng hóa, dự kiến sử dụng hàng hóa, hình ảnh hoặc biểu đồ của nhà sản xuất về hàng hóa…

Khi Hải quan đưa ra một phán quyết trước, kết quả phải được thông báo cho doanh nghiệp hoặc đại lý thông qua việc hoàn trả bản thông báo bằng giấy hoặc thông báo qua TAPIN. Cũng giống như VA, TA vẫn có ràng buộc pháp lý về hải quan trong vòng 5 năm kể từ ngày ra thông báo.

Thủ tục áp dụng cho phán quyết về xuất xứ (OA)

Hải quan Úc cung cấp phán quyết trước các vấn đề về xuất xứ theo yêu cầu thông qua các văn bản. Tư vấn xuất xứ (OA) hỗ trợ nhập khẩu, sản xuất và xuất khẩu về các vấn đề cụ thể liên quan đến xuất xứ hàng hoá của doanh nghiệp cho mục đích xác định đủ điều kiện áp dụng thuế suất ưu đãi đối với hàng hóa nhập khẩu vào Úc. Các thông tin mà doanh nghiệp xin cấp OA phải cung cấp cho Hải quan gồm có các chứng từ liên quan đến nguồn gốc hàng hóa; một tờ khai chứa đầy đủ tất cả các thông tin liên quan đến việc nhập khẩu, trong đó các thông tin được trình bày là chính xác và đầy đủ; tên, địa chỉ và các thông tin xác nhận khác của tất cả các bên liên quan; bản sao của bất kỳ OA, TA hoặc VA đã được ban hành liên quan đến hàng hoá nhập khẩu…

Quyết định của Hải quan Úc đưa ra dựa trên tờ khai và những tài liệu đi kèm trong đơn xin OA. Tương tự như VA và TA, OA có hiệu lực trong toàn lãnh thổ nước Úc trong vòng 5 năm kể từ ngày Hải quan Úc phát hành OA. Sau 5 năm, OA sẽ tự động hủy bỏ. Nếu doanh nghiệp cần một phán quyết mới thì doanh nghiệp phải nộp một tờ đơn mới. Thủ tục để đưa ra tư vấn xuất xứ sử dụng mẫu được đăng tải trên website Hải quan. Trong những mối quan hệ với các nước khác nhau, Úc sử dụng những mẫu OA khác nhau như đối với Hiệp định thương mại tự do Úc – Mỹ (AUSFTA) sử dụng mẫu B178, với Hiệp định thương mại tự do Thái – Úc (TAFTA) là mẫu B184, còn đối với tất cả các nước còn lại sử dụng mẫu B659. Trong quá trình xử lý một OA, vào bất kì lúc nào, Hải quan Úc có thể yêu cầu thông tin bổ sung cần thiết để đánh giá đơn xin tư vấn. Khi người nộp đơn xin OA không hài lòng với phán quyết, đầu tiên người nộp đơn có thể trao đổi trực tiếp với người ra quyết định ban hành OA. Việc rà soát sẽ chỉ căn cứ dựa trên những thông tin đã được cung cấp trước đó của người nộp đơn khi đưa ra phán quyết ban đầu. Nếu người nộp đơn xin OA vẫn không đồng ý với phán quyết thì người nộp đơn có thể yêu cầu kháng cáo vấn đề này đến Tòa án Hành chính.

Hải quan Úc cho rằng để thực hiện tốt hệ thống phán quyết trước, cơ quan Hải quan cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:

(i) Các phán quyết trước cần được ban hành dưới dạng văn bản;

(ii) Các phán quyết trước phải được gắn với thẩm quyền ban hành;

(iii) Các phán quyết trước cần có hiệu lực trong một thời hạn xác định và cần thông báo cho doanh nghiệp biết. Bên cạnh đó, hệ thống phán quyết trước nên linh hoạt để các cấp có thẩm quyền có thể điều chỉnh hay thu hồi phán quyết trước trong những trường hợp nhất định;

(iv) Doanh nghiệp cần được thông báo bằng văn bản về việc sửa đổi hoặc thu hồi phán quyết trước và lý do thu hồi;

(v) Cơ quan Hải quan cần tạo cơ hội để doanh nghiệp đề nghị xem xét lại phán quyết trước;

(vi) Hệ thống dữ liệu về phán quyết trước cần được lưu trữ thống nhất, duy trì thông tin và xử lý phán quyết trước cần được dễ dàng tiếp cận.

b2) Hải quan Singapore

Từ năm 2002, Singapore đã triển khai chương trình phán quyết trước cho hàng hóa nhập khẩu thông qua hai hiệp định tự do thương mại song phương, Hiệp định đối tác kinh tế Kỷ nguyên mới Nhật Bản – Singapore và Hiệp định tự do thương mại Hoa Kỳ – Singapore. Mặc dù trước năm 2002 Hải quan Singapore chưa có kinh nghiệm thực tế trong việc đưa ra phán quyết trước, nhưng việc đó cũng không gây khó khăn cho họ trong việc giải đáp thắc mắc thông tin từ các doanh nghiệp, như trong trường hợp của một số quốc gia khác.

Mục tiêu chính là chỉ ra các tiêu chuẩn rõ ràng và cơ bản tiến hành các thủ tục dựa theo cái mà các phán quyết trước trước đó bị ràng buộc có thể được tiến hành và quản lý. Theo đó, Singapore đã phải cố gắng phát triển các yếu tố về thủ tục nhằm xây dựng sự cân bằng giữa việc cung cấp khả năng dự đoán với mục đích là đảm bảo sự chắc chắn về phía doanh nghiệp, mặt khác giảm bớt áp lực công việc cho hải quan.

 Đối tượng đăng ký

 Nhằm tránh những yêu cầu không phù hợp, chỉ những người xuất khẩu và nhập khẩu hoặc hãng đại diện của họ mới có thể yêu cầu một phán quyết trước. Tất cả các yêu cầu về phán quyết trước có thể được làm dưới dạng văn bản, được ký bởi cá nhân được ủy quyền bởi bên đưa ra yêu cầu và sử dụng mẫu quy định của công ty. Mỗi đơn đăng ký sẽ được giới hạn với một sản phẩm.

Thông tin yêu cầu từ những người yêu cầu

 Các phán quyết trước chỉ được đưa ra khi người yêu cầu đã cung cấp đầy đủ và khai báo chính xác về tất cả những thông tin có liên quan (bao gồm các tài liệu hỗ trợ). Nhằm tránh những trì hoãn không cần thiết trong việc xử lý đăng ký, người yêu cầu phải đảm bảo rằng Hải quan đã được cung cấp tất cả những thông tin có liên quan. Tuy nhiên, một vài người yêu cầu có thể không biết về số lượng thông tin và chi tiết được yêu cầu. Như thế, trong phạm vi có thể, Hải quan sẽ đưa ra  những thông tin họ yêu cầu từ người yêu cầu, ví dụ, cấu tạo hàng hóa, mô tả quá trình mà hàng hóa được sản xuất hoặc trị giá giao dịch của hàng hóa. Theo đó, một khả năng tiếp cận là yêu cầu tất cả đơn đăng ký được tạo nên từ một mẫu tiêu chuẩn.

 Ban hành phán quyết trước

 Phán quyết trước nên được ban hành trong một khoảng thời gian nhất định dựa theo thời điểm nhận được tất cả thông tin và tài liệu cần thiết từ người đăng ký.

 Để người đăng ký có thể tin tưởng vào phán quyết trước, Hải quan Singapore có mẫu văn bản chuẩn về thông báo kết quả phán quyết trước.

 Phán quyết trước có thể có hiệu lực tại ngày ban hành hoặc vào thời điểm cụ thể trong phán quyết, mà thời điểm này không muộn hơn thời điểm xuất, nhập khẩu của hàng hóa.

 Phán quyết trước có thể được áp dụng cho việc nhập khẩu mà không cần chú ý đến sự giống nhau hoặc trùng lặp của người nhập khẩu, người xuất khẩu hoặc người sản xuất, với điều kiện và hoàn cảnh giống nhau ở mọi khía cạnh nguyên vật liệu.

 Phán quyết trước được duy trì hiệu lực trong một khoảng thời gian nhất định kể từ ngày ban hành nếu:

– Không có thay đổi về điều kiện và hoàn cảnh nguyên vật liệu;

– Mọi điều khoản và điều kiện của phán quyết trước đều được chấp hành;

– Chưa bị thu hồi.

Hải quan Singapore cũng có những điều khoản để Hải quan cung cấp thông tin cho người đăng ký, theo yêu cầu, với những lý do cho phán quyết.

Điều kiện không áp dụng, thay đổi hoặc thu hồi phán quyết trước

 Một phán quyết trước có thể không được áp dụng nếu nó được phân tích rằng những hàng hóa được nhập khẩu khác biệt về nguyên vật liệu so với hàng hóa được khai trong phán quyết hoặc người yêu cầu phán quyết không thực hiện được những điều kiện và điều khoản của phán quyết. Phán quyết trước có thể bị thay đổi hoặc thu hồi nếu:

  • Phán quyết trước dựa trên một cơ sở hoặc pháp luật sai sót;
  • Có sự thay đổi trong luật pháp; hoặc
  • Có sự thay đổi về điều kiện và hoàn cảnh của nguyên vật liệu mà phán quyết đó dựa trên.

Đối xử đặc biệt và phân biệt

Tuy nhiên, Hải quan Singapore nhận thấy các quốc gia kém phát triển và một số quốc gia đang phát triển có thể gặp phải những khó khăn trong việc thi hành chương trình phán quyết trước. Đối xử đặc biệt và phân biệt do đó là một phần không thể thiếu của bất cứ sự cam kết nào trong khu vực này. Theo đó, các thành viên có thể muốn được tham luận về những vấn đề sau:

– Các yếu tố về thủ tục và chủ thể mà có thể được bao gồm trong các chương trình phán quyết trước của các thành viên. Ví dụ, các quốc gia đang phát triển hoặc các quốc gia kém phát triển có thể cần ngay từ đầu chỉ để giao các phán quyết trước cho việc phân loại mã số hàng hóa.

– Những khung thời gian thi hành dài hơn cho các quốc gia đang phát triển hoặc kém phát triển, và các phương pháp tiếp cận từng giai đoạn khác.

– Cho phép các quốc gia phát triển và kém phát triển được thi hành những nghĩa vụ nặng hơn dựa trên sự cố gắng căn bản nhất.

  1. c) Kinh nghiệm thu thập và xử lý thông tin nghiệp vụ

Việc thực hiện thu thập thông tin nghiệp vụ hải quan của các nước chủ yếu được thực hiện tại Cục chống buôn lậu và gian lận thương mại. Việc thu thập thông tin nghiệp vụ hải quan được thực hiện ở cả trung ương và ở địa phương.

Nguồn thông tin phục vụ quản lý rủi ro được Hải quan một số nước như Nhật Bản , Hàn Quốc , Pháp, Trung Quốc xác định từ 3 nguồn chính:

(i) Nguồn cung cấp thông tin chính thống (do doanh nghiệp khai báo);

(ii) Nguồn thông tin từ công tác kiểm soát, giám sát hải quan đưa lại (nguồn tin từ việc không tuân thủ pháp luật hải quan của doanh nghiệp mà hải quan và các cơ quan khác thu thập và cập nhật thường xuyên vào cơ sở dữ liệu hải quan); và

(iii) Nguồn thông tin tình báo (thu thập được ở trong nước và ở nước ngoài, hoặc do các cơ quan khác hoặc hải quan nước ngoài cung cấp cho hải quan Đài Loan).

Nhằm thực hiện tốt quản lý trước thông quan trong lĩnh vực thu thập và xử lý thông tin nghiệp vụ, các nước đã tập trung quản lý trong lĩnh vực:

– Thu ngân sách;

– An ninh quốc gia;

– Bảo vệ cộng đồng;

– Tạo thuận lợi thương mại;

– Thu thập dữ liệu thương mại.

Và được thực hiện trên toàn bộ chuỗi cung ứng, nhiều tầng, nhiều lớp của các chủ thể quản lý, cũng như công tác thu thập thông tin quản lý của hải quan.

Về cơ cấu tổ chức:

Hải quan Trung Quốc

 Cơ cấu lực lượng tình báo chống buôn lậu – Hải quan Trung Quốc gồm 03 cấp: Phòng tình báo thuộc Cục Chống buôn lậu – Cao uỷ Hải quan Trung Quốc, Phòng tình báo thuộc Cục Chống buôn lậu – Hải quan địa phương và đơn vị tình báo thuộc phân cục Hải quan địa phương. Hiện nay cán bộ chuyên trách làm công tác tình báo của Hải quan Trung Quốc hơn 600 người. Hải quan Trung Quốc cũng đã có tuỳ viên Hải quan tại Bỉ, Hoa Kỳ, Hồng Kông..

 Năm 2015, Phòng Hợp tác quốc tế về Kiểm soát Hải quan được thành lập, được tách ra từ Phòng Tình báo thuộc Cục Chống buôn lậu.

Nhiệm vụ công tác Tình báo: Thu thập xử lý thông tin tài liệu, tin tức tình báo; phân tích, xác minh, điều tra làm rõ các vi phạm Hải quan; quản lý nguồn kinh phí tình báo; triển khai trao đỏi thông tin tình báo với các đơn vị trong và ngoài nước.

Trong thời gian 2015, lực lượng tình báo của Hải quan Trung Quốc đã góp phần phát hiện và xử lý 80% vụ án trong cả nước và 90% các vụ án về ma tuý.

Hải quan Nhật Bản

Lực lượng tình báo của Hải quan Nhật được cơ cấu theo 02 cấp: Trung ương và Hải quan vùng. Tại Trung ương, đơn vị tình báo và phân tích tác nghiệp được đặt tại Hải quan Tokyo với biên chế khoảng 70 nhân viên. Công tác tình báo gồm lĩnh vực: Phân tích thông tin tình báo về ma tuý và vũ khí (nhóm nước: Châu Mỹ, Châu Âu, Đông Nam Á, châu Đại Dương, Đông Á, Nga); Phân tích xu hướng; Thông tin tình báo về khủng bố và ma tuý (nhóm nước Trung Đông và Châu Phi); Gian lận thương mại và sở hữu trí tuệ. Hải quan Nhật Bản có văn phòng tình báo quốc tế để thực hiện thu thập, trao đổi và  xử lý các thông tin tình báo với các cơ quan Hải quan và các tổ chức thực thi pháp luật nước ngoài.

Hải quan Hàn Quốc

 Phòng tình báo chiến lược thuộc Cục Điều tra và giám sát Hải quan Hàn Quốc. Đơn vị này có nhiệm vụ đánh giá, quản lý và phát huy tối đa thông tin và thông tin tình báo Hải quan; vận hành hệ thống CSDL để xác định các xu hướng buôn lậu; trao đổi thông tin tình báo trong và ngoài nước. Ngoài ra các đơn vị chức năng thuộc Cục Điều tra và giám sát Hải quan Hàn Quốc đều có chức năng thu thập và phân tích thông tin theo từng mảng nghiệp vụ cụ thể.

Hải quan Pháp

Hệ thống tình báo được tổ chức theo hệ thống dọc gồm 02 cấp: tại cấp Tổng cục có Cục tình báo, cấp vùng (10 Hải quan vùng) có 01 phòng tình báo/1 vùng. Hệ thống tình báo của Hải quan Pháp được thành lập và hoạt động từ năm 1987 và ngày càng được cải cách và hiện đại hoá theo yêu cầu của nhiệm vụ mới. Nhiều chức năng, nhiệm vụ được bổ sung, cùng với việc trao thêm nhiều quyền lực cho lực lượng này để nâng cao năng lực hoạt động tình báo Hải quan. Cục tình báo thực hiện hoạt động tình báo và xác định trọng điểm theo từng lĩnh vực ở mức độ chuyên sâu và đảm nhận vai trò điều phối thống nhất toàn bộ các hoạt động kiểm tra, điều tra và chống buôn lậu ở phạm vi toàn ngành, nâng cao hiệu quả hoạt động Hải quan. Hải quan Pháp có hệ thống tuỳ viên Hải quan rộng khắp

 —————————TÀI LIỆU THAM KHẢO———————————–

  1. Tài liệu tiếng Việt
  2. Luật Hải quan năm 2014, Quốc hội (2014);
  3. Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan.
  4. Nghị định số 21/2012/NĐ-CP ngày 21/3/2012 của Chính phủ về quản lý cảng biển và luồng hàng hải.
  5. Quyết định số 19/2011/QĐ-TTg ngày 23/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện thí điểm tiếp nhận bản khai hàng hóa nhập khẩu, các thông tin khác có liên quan và thông quan điện tử đối với tàu biển nhập cảnh, xuất cảnh.
  6. Quyết định số 2278/QĐ-BTC ngày 26/9/2011 về việc phê duyệt chủ trương đầu tư dự án “Xây dựng phân hệ tiếp nhận bản khai hàng hóa, các chứng từ có liên quan và thông quan điện tử đối với tàu biển nhập cảnh, xuất cảnh phục vụ mở rộng thủ tục Hải quan điện tử (eManifest)”.
  7. Quyết định 1870/QĐ-TCHQ ngày 28/9/2011 về việc ban hành hướng dẫn thí điểm thực hiện tiếp nận bản khai hàng hóa, các chứng từ có liên quan và thông quan điện tử đối với tàu biển nhập cảnh, xuất cảnh.
  8. Quyết định số 3091/QĐ-TCHQ ngày 24/10/2014 về việc ban hành quy trình thí điểm thực hiện việc trừ lùi, thống kê container hàng hóa nhập khẩu đưa ra và tôn trọng địa bàn giảm sát hải quan tại Cục Hải quan thành phố Hải Phòng thực hiện trên hệ thống thông tin E-manifest.
  9. Quyết định 3987/QĐ- TCHQ về việc ban hành quy trình xác định trước mã số đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và quy trình phân loại đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải phân tích.
  10. Thông tư số 38/2015/TT-BTC Quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.
  11. Thông tư số 42/2015/TT-BTC ngày 27/3/2015 của Bộ Tài chính quy định về thủ tục hải quan đối với phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.
  12. Thông tư số 64/2011/TT-BTC ngày 13/5/2011 Hướng dẫn thực hiện Quyết định số 19/2011/QĐ-TTg.
  13. Đề tài cấp Bộ “Nâng cao hiệu quả quản ly trước thông quan của Hải quan Việt Nam” Mã số 2015-09. Chủ Nhiệm Thạc sỹ: Nguyễn Hữu Trí – Viện Nghiên cứu Hải quan.

 

 

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *