Chuyên đề 18 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ CÔNG TÁC PHÂN TÍCH, DỰ BÁO TRONG XÂY DỰNG KẾ HOẠCH DỰ TRỮ QUỐC GIA

Chuyên đề 18: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ CÔNG TÁC PHÂN TÍCH, DỰ BÁO TRONG XÂY DỰNG KẾ HOẠCH DỰ TRỮ QUỐC GIA

 TS. Nguyễn Ngọc Long

Vụ Chính sách và Pháp chế – Tổng cục Dự trữ Nhà nước

Dự trữ quốc gia (DTQG) là dự trữ những vật tư, thiết bị, hàng hóa nhằm đáp ứng các yêu cầu đột xuất, cấp bách trong phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh; phục vụ quốc phòng, an ninh; tham gia bình ổn thị trường, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội. Dự trữ quốc gia là một tất yếu khách quan trong mọi thời kỳ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; với mục tiêu là bảo đảm cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, bảo đảm an sinh xã hội trước tình huống cấp bách về thiên tai, dịch bệnh, quốc phòng, an ninh.

Hoạt động dự trữ quốc gia không chỉ dừng lại ở vật tư, hàng hoá hay dự trữ mà bao hàm toàn bộ quá trình dự báo, hoạch định chiến lược, xây dựng kế hoạch, quy hoạch, dự toán ngân sách nhà nước, tổ chức thực hiện kế  hoạch, chiến lược DTQG để chủ động thực hiện các yêu cầu đột xuất cấp bách của Nhà nước. Để thực hiện tốt mục tiêu của DTQG thì việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng và phân tích, dự báo trong xây dựng kế hoạch dự trữ quốc gia có ý nghĩa to lớn, tác động trực tiếp đến hoạt động dự trữ quốc gia bảo đảm hiệu lực, hiệu quả.

18.1. Những nội dung cơ bản của kế hoạch dự trữ quốc gia

18.1.1  Khái niệm kế hoạch dự trữ quốc gia

Dự trữ các tư liệu vật chất là điều kiện tất yếu của mọi nền sản xuất xã hội, dự trữ quốc gia thể hiện sức mạnh của Nhà nước về kinh tế. Chính Lê Nine đã coi sản xuất và dự trữ lương thực là vận mệnh của toàn bộ cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Nga và Lê Nin đã khẳng định “Chỉ khi nào có được một số dự trữ lương thực đầy đủ thì khi đó nhà nước công nhân mới đứng vững về mặt kinh tế”. Dự trữ quốc gia là công cụ để nhà nước điều hành vĩ mô nền kinh tế, xử lý những diễn biến bất lợi của nền kinh tế trong các tình huống cấp bách.

Kế hoạch DTQG là chương trình hành động cụ thể được lập ra để thực hiện các mục tiêu và phương châm đã được xác định trong chiến lược DTQG nhằm đáp ứng kịp thời những yêu cầu đột xuất, cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh; phục vụ quốc phòng, an ninh.

Kế hoạch DTQG là một bản tổng hợp các mục tiêu về (i) mức dự trữ quốc gia phải có đầu kỳ và cuối kỳ, (ii) ) kế hoạch tăng, giảm dự trữ quốc gia, luân phiên đổi hàng, (iii) đầu tư phát triển cơ sở vật chất – kỹ thuật, (iv) nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ, (v) và phương án cân đối nguồn tài chính cho hoạt động dự trữ quốc gia; các thức hành động và các bước đi để thực hiện các mục tiêu tương ứng với những khoản thời gian cụ thể, tùy theo thời gian thực hiện có thể có kế hoạch ngắn hạn (một năm) và kế hoạch dài hạn (5 năm).

18.1.2 Nội dung  kế hoạch dự trữ quốc gia

Theo quy định của Luật dự trữ quốc gia, kế hoạch bao gồm các nội dung cơ bản như sau:

a. Kế hoạch mức dự trữ quốc gia về vật tư, thiết bị, hàng hóa cuối kỳ (tồn kho cuối kỳ về số lượng và giá trị hàng DTQG);

b. Kế hoạch tăng, giảm, luân phiên đổi hàng dự trữ quốc gia bao gồm: kế hoạch tăng hàng dự trữ quốc; kế hoạch giảm hàng dự trữ quốc; kế hoạch luân phiên, đổi hàng dự trữ quốc gia;

c. Kế hoạch đầu tư phát triển cơ sở vật chất – kỹ thuật dự trữ quốc gia bao gồm kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản dự trữ quốc gia và trụ sở làm việc – nhà điều hành kho DTQG;

d. Kế hoạch nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ bảo quản hàng dự trữ quốc gia;

đ. Kế hoạch tài chính cho hoạt động dự trữ quốc gia.

18.1.3 Các loại kế hoạch dự trữ quốc gia

Theo các cách tiếp cận khác nhau có các kế hoạch dự trữ quốc gia khác nhau:

18.1.3.1 Theo phân cấp quản lý dự trữ quốc gia

Theo phân cấp quản lý có kế hoạch DTQG của bộ, ngành quản lý hàng DTQG, ké hoạch của các đơn vị dự trữ quốc gia và kế hoạch nhà nước về DTQG.

Trong đó, kế hoạch DTQG của các bộ, ngành quản lý hàng DTQG là kế hoạch đề cập đến nội dung hoạt động DTQG được phân công bao gồm: kế hoạch nhập, xuất, mua bán hàng DTQG (danh mục, số lượng, giá trị), kế hoạch bảo quản, kế hoạch ngân sách cho DTQG (mua tăng, mua bù), hoạt động DTQG (chi phí bảo quản, thuê bảo quản), kế hoạch đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho hoạt động DTQG của bộ, ngành.

Kế hoạch của các đơn vị dự trữ quốc gia bao gồm các nội dung về nhập, xuất, mua, bán theo Danh mục hàng DTQG được cấp có thẩm quyền giao; kế hoạch bảo quản, bảo vệ; đầu tư xây dựng kho, trụ sở làm việc- nhà điều hành kho DTQG; kế hoạch lao động và tài chính cho thực hiện nhiệm vụ được giao.

Kế hoạch nhà nước về DTQG được tổng hợp chung trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, là kế hoạch tổng thể về DTQG của cả nước.

18.1.3.2 Theo thời gian và thẩm quyền xây dựng, phê duyệt kế hoạch dự trữ quốc gia

Theo thời gian thực hiện có kế hoạch dài hạn (trên một năm) và kế hoạch hằng năm:

a. Đối với kế hoạch hằng năm: hằng năm, căn cứ kế hoạch 5 năm về dự trữ quốc gia được duyệt và kế hoạch của các bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia lập, Bộ Tài chính (Tổng cục Dự trữ Nhà nước) chủ trì, tổng hợp gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư cân đối chung trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia căn cứ kế hoạch kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội được Thủ tướng Chính phủ giao để phê duyệt; phê duyệt và giao kế hoạch cho các đơn vị trực tiếp quản lý hàng DTQG thực hiện.

b. Đối với kế hoạch 5 năm: các bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia thực hiện xây dựng kế hoạch về dự trữ quốc gia 5 năm gửi Bộ Tài chính (Tổng cục Dự trữ Nhà nước) và Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp chung vào kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội.

Bộ Tài chính (Tổng cục Dự trữ Nhà nước) chủ trì phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn các bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia xây dựng kế hoạch 5 năm về dự trữ quốc gia; thẩm định và tổng hợp gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư để cân đối chung trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội trình Chính phủ để trình Quốc hội phê duyệt kế hoạch 5 năm về dự trữ quốc gia.

  18.1.4 Nguyên tắc, trình tự xây dựng kế hoạch dự trữ quốc gia

  a. Ngyên tắc xây dựng kế hoạch dự trữ quốc gia

Theo quy định của Luật dự trữ quốc gia việc xây dựng kế hoạch dự trữ quôc gia phải tuân thủ ba nguyên tắc cơ bản sau:

– Phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và quy hoạch ngành, vùng lãnh thổ trong từng thời kỳ;

– Phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách nhà nước;

– Căn cứ vào dự báo tình hình thế giới, khu vực và trong nước, tình huống đột xuất, cấp bách có khả năng xảy ra.

  b. Trình tự xây dựng, giao và kiểm tra  kế hoạch dự trữ quốc gia

Trình tự  xây dựng kế hoạch 5 năm

– Bộ Tài chính (Tổng cục Dự trữ Nhà nước) chủ trì phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn các bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia xây dựng kế hoạch dự trữ quốc gia 5 năm, hằng năm theo Danh mục chi tiết hàng dự trữ quốc gia được giao quản lý.

– Các bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia xây dựng kế hoạch 5 năm về dự trữ quốc gia gửi Bộ Tài chính thẩm định và tổng hợp gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư để cân đối chung trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội trình Chính phủ để trình Quốc hội phê duyệt kế hoạch 5 năm về dự trữ quốc gia.

* Trình tự  xây dựng kế hoạch hằng năm

– Bộ Tài chính (Tổng cục Dự trữ Nhà nước) chủ trì phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn các bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia lập kế hoạch năm, gửi Bộ Tài chính (Tổng cục Dự trữ Nhà nước) tổng hợp gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư để cân đối chung trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội.

– Bộ Tài chính tổng hợp kế hoạch dự trữ quốc gia của các bộ, ngành gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư cân đối chung trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

* Giao kế hoạch và kiểm tra thực hiện kế hoạch dự trữ quốc gia

– Hằng năm, căn cứ quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc giao kế hoạch và dự toán ngân sách nhà nước về dự trữ quốc gia, Thủ trưởng các bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia chịu trách nhiệm phân bổ, giao kế hoạch cho các đơn vị dự trữ trực thuộc và tổ chức chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra thực hiện.

– Bộ Tài chính (Tổng cục Dự trữ Nhà nước) chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư kiểm tra việc thực hiện kế hoạch dự trữ quốc gia của các bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia, tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ; đề xuất, kiến nghị những giải pháp cho việc thực hiện kế hoạch dự trữ quốc gia.

18.1.5 Sự cần thiết xác định các nhân tố ảnh hưởng và phân tích dự báo trong xây dựng kế hoạch dự trữ quốc gia

Xác định đúng mục đích và hướng đi là yếu tố cơ bản quan trọng bảo đảm thực hiện tốt mục tiêu của dự trữ quốc gia, để ngành dự trữ nhà nước thực hiện tốt nhiệm vụ  ngắng hạn (trong năm) và làm cơ sở cho việc thực hiện tốt những mục tiêu dài hạn (5 năm).

Trong bối cảnh khu vực và quốc tế có nhiều biến đổi nhanh chóng có cả thuận lợi, thời cơ và thách thức đan xen; thế giới đang thay đổi rất nhanh, phức tạp và khó lường. Trong thời gian tới, hòa bình, hợp tác và phát triển tiếp tục là xu thế lớn, nhưng xung đột sắc tộc và tôn giáo, tranh giành tài nguyên và lãnh thổ, nạn khủng bố và tội phạm xuyên quốc gia có thể gia tăng cùng với những vấn đề toàn cầu khác như đói nghèo, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, các thảm họa thiên nhiên… buộc chúng ta phải có chính sách đối phó và phối hợp hành động. Do đó, việc xây dựng kế hoạch dự trữ quốc gia nhằm chủ động ứng phó với các tình huống đột xuất, cấp bách có ý nghĩa quan trong đối với công cuộc xây dựng đất nước bền vững và bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ trong thời kỳ chiến lược tới.

 Để xây dựng kế hoạch dự trữ quốc gia có đầy đủ căn cứ khoa học, đòi hỏi phải phân tích, dự báo các nhân tố ảnh hưởng trong tương lai gần cũng như tương lai xa từ đó có khả năng nắm bắt, tận dụng thuận lợi, đồng thời giảm bớt khó khăn liên quan đến hoạt động dự trữ quốc gia; chủ động đối phó với với những thay đổi có thể xảy ra.

18.2. Các nhân tố ảnh hưởng và công tác phân tích, dự báo trong xây dựng kế hoạch dự trữ quốc gia

18.2.1. Định hướng xây dựng kế hoạch dự trữ quốc gia

Một trong những định hướng quan trong trong xây dựng kế hoạch dự trữ quốc gia là chiến lược dự trữ quốc gia. Chiến lược phát triển dự trữ quốc gia đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 2091/QĐ-TTg ngày 28/12/2012 với mục tiêu tổng quát là: sẵn sàng đáp ứng yêu cầu cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh; phục vụ động viên công nghiệp; đảm bảo an ninh lương thực, an ninh năng lượng; bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội; tham gia bình ổn thị trường, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội và thực hiện các nhiệm vụ cấp bách khác. Cụ thể:

(1) Danh mục, số lượng hàng dự trữ quốc gia đảm bảo yêu cầu thiết yếu, chiến lược, quan trọng và có quy mô đủ mạnh để can thiệp khi có tình huống cấp bách.

(2) Hiện đại hóa công nghệ bảo quản, nghiên cứu, chuyển giao, áp dụng công nghệ bảo quản tiên tiến của các nước trong khu vực, phù hợp với điều kiện khí hậu và kinh tế – xã hội của Việt Nam nhằm bảo đảm chất lượng hàng dự trữ quốc gia và nâng cao hiệu quả công tác bảo quản.

(3) Hoàn chỉnh hệ thống kho dự trữ quốc gia với trang thiết bị hiện đại, quy mô tập trung, đảm bảo hình thành các vùng, tuyến chiến lược phù hợp với điều kiện về kinh tế, quốc phòng của vùng, lãnh thổ.

(4) Hệ thống thông tin thông suốt trong hoạt động dự trữ quốc gia, bảo đảm tin học hóa 100% quy trình quản lý nghiệp vụ nhập, xuất, bảo quản.

(5) Phát triển nguồn nhân lực dự trữ quốc gia bảo đảm đủ về số lượng, có cơ cấu hợp lý, có phẩm chất chính trị và năng lực công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Mục tiêu cụ thể như sau:

(1) Tổng nguồn lực tài chính ngân sách – dự trữ quốc gia đến năm 2015, đạt 40.700 tỷ đồng và phấn đấu tăng hằng năm 0,10% GDP để đến năm 2020 đạt khoảng 1,5% GDP tương ứng 134.655 tỷ đồng.

(2) Lựa chọn danh mục vật tư, thiết bị, hành hóa phù hợp: tiếp tục rà soát, sắp xếp, hoàn thiện về cơ cấu danh mục hàng dự trữ quốc gia theo hướng tập trung vào những mặt hàng chiến lược, thiết yếu, quan trọng, không dàn trải; tập trung nguồn lực tài chính ngân sách mua kịp thời các mặt hàng trong danh mục để bảo đảm ứng phó với BĐKH, bảo đảm an sinh xã hội.

(3) Mức cụ thể: lương thực đạt mức từ 500.000 tấn đến 800.000 tấn (quy thóc); xăng dầu bảo đảm đáp ứng nhu cầu cho 10 ngày sử dụng (khoảng 500.000 m3, tấn xăng dầu thành phẩm) và 700.000 tấn dầu thô; vật tư, thiết bị ứng phó thiên tai, thảm họa và dịch bệnh khoảng 80.000 tỷ đồng;

(4) Công nghệ bảo quản: nghiên cứu, áp dụng công nghệ tiên tiến vào bảo quản hàng dự trữ quốc gia, chuyển giao công nghệ bảo quản tiên tiến của các nước trong khu vực nhằm bảo đảm chất lượng hàng dự trữ quốc gia; cơ giới hóa trong quá trình nhập, xuất, bảo quản nhằm kéo dài hơn thời hạn bảo quản, hạ thấp tỷ lệ hao hụt, nâng cao năng suất lao động và bảo vệ môi trường. Đối với bảo quản lương thực, đến năm 2020, kéo dài thời hạn bảo quản gấp 1,5 lần so với năm 2010.

(5) Về kho chứa hàng dự trữ quốc gia: kho bảo quản hàng dự trữ phải phù hợp với công nghệ bảo quản từng loại hàng. Hàng dự trữ quốc gia phải có kho bảo quản riêng hoặc phải bảo quản riêng lô, ngăn, bồn, bể.

(6) Phát triển công nghệ thông tin đáp ứng hiện đại hóa: xây dựng một hệ thống thông tin thống nhất trong hệ thống dự trữ quốc gia từ Trung ương đến địa phương, bảo đảm tin học hóa toàn bộ quy trình nghiệp vụ; hỗ trợ tốt công tác chỉ đạo, điều hành hoạt động dự trữ quốc gia.

18.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến dự trữ quốc gia – kế hoạch dự trữ quốc gia

 Dự trữ quốc gia là dự trữ những mặt hàng chiến lược quan trọng của quốc gia, nhằm mục đích đáp ứng yêu cầu đột xuất , cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh; phục vụ quốc phòng, an ninh. Dự trữ quốc gia góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế, bảo đảm sự ổn định chính trị – xã hội.  DTQG là công cụ quan trọng để Nhà nước điều tiết nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Dự trữ quốc gia là hệ số an toàn cho quá trình phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia, bảo đảm cho nền kinh tế – xã hội của đất nước phát triển bền vững trong tình huống thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, tình huống quốc phòng, an ninh nếu xảy ra. Tuy nhiên, kế hoạch hình thành dự trữ quốc gia và quản lý sử dụng DTQG phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau. Cụ thể như sau:

18.2.2.1. Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô

Dự trữ quốc gia là dự trữ của Nhà nước, nó phụ thuộc vào môi trường chính trị – xã hội, tình hình chính trị trong nước, trong khu vực và thế giới. Xu hướng chính trị chung của thế giới là đa cực hoá thì sẽ nảy sinh cực yếu, cực mạnh hoặc những liên kết mới khiến địa vị các cực cũng thay đổi. Thế giới cần hoà bình, mọi nước cần ổn định, kinh tế cần phát triển, loài người cần tiến bộ đó là xu hướng chính của thế giới ngày nay. Thế nhưng thế giới, khu vực vẫn tồn tại, tiềm ẩn những nhân tố bất ổn định về chính trị có thể xảy ra. Dẫn đến chỉ có tăng cường thực lực kinh tế mới có thể đảm bảo sự ổn định chính trị trong nước và an ninh quốc gia. Sự thay đổi điều kiện chính trị ảnh hưởng đến DTQG và hoạt động DTQG có thể làm tăng hoặc giảm quy mô DTQG.

Nước ta bước vào thời kỳ chiến lược mới trong bối cảnh thế giới đang thay đổi rất nhanh, phức tạp và khó lường. Trong thập niên tới, hòa bình, hợp tác và phát triển tiếp tục là xu thế lớn, nhưng xung đột sắc tộc và tôn giáo, tranh giành tài nguyên và lãnh thổ, nạn khủng bố và tội phạm xuyên quốc gia có thể gia tăng cùng với những vấn đề toàn cầu khác như đói nghèo, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, các thảm họa thiên nhiên… buộc các quốc gia phải có chính sách đối phó và phối hợp hành động.

Các nước Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) bước vào thời kỳ hợp tác mới theo Hiến chương ASEAN và xây dựng Cộng đồng dựa trên ba trụ cột: chính trị – an ninh, kinh tế, văn hóa – xã hội; hợp tác với các đối tác tiếp tục phát triển và đi vào chiều sâu. ASEAN đang ngày càng khẳng định vai trò trung tâm trong một cấu trúc khu vực đang định hình nhưng cũng phải đối phó với những thách thức mới.

Khu vực châu Á – Thái Bình Dương tiếp tục phát triển năng động và đang hình thành nhiều hình thức liên kết, hợp tác đa dạng hơn. Tuy vậy, vẫn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định, nhất là tranh giành ảnh hưởng, tranh chấp chủ quyền biển, đảo, tài nguyên…

Toàn cầu hóa kinh tế tiếp tục phát triển về quy mô, mức độ và hình thức biểu hiện với những tác động tích cực và tiêu cực, cơ hội và thách thức đan xen rất phức tạp. Các công ty xuyên quốc gia có vai trò ngày càng lớn. Quá trình quốc tế hoá sản xuất và phân công lao động diễn ra ngày càng sâu rộng. Việc tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu đã trở thành yêu cầu đối với các nền kinh tế. Sự tùy thuộc lẫn nhau, hội nhập, cạnh tranh và hợp tác giữa các nước ngày càng trở thành phổ biến. Kinh tế tri thức phát triển mạnh, do đó con người và tri thức càng trở thành nhân tố quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia.

Sau khủng hoảng tài chính – kinh tế toàn cầu, thế giới sẽ bước vào một giai đoạn phát triển mới. Tương quan sức mạnh của các nền kinh tế và cục diện phát triển toàn cầu thay đổi với sự xuất hiện những liên kết mới. Vị thế của châu Á trong nền kinh tế thế giới đang tăng lên; sự phát triển mạnh mẽ của một số nước khu vực trong điều kiện hội nhập Đông Á và việc thực hiện các hiệp định mậu dịch tự do ngày càng sâu rộng, mở ra thị trường rộng lớn nhưng cũng tạo ra sự cạnh tranh quyết liệt. Quá trình tái cấu trúc các nền kinh tế và điều chỉnh các thể chế tài chính toàn cầu sẽ diễn ra mạnh mẽ, gắn với những bước tiến mới về khoa học, công nghệ và sử dụng tiết kiệm năng lượng, tài nguyên. Mặt khác, khủng hoảng còn để lại hậu quả nặng nề, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy trở thành rào cản lớn cho thương mại quốc tế. Kinh tế thế giới tuy đã bắt đầu phục hồi nhưng còn nhiều khó khăn, bất ổn; sự điều chỉnh chính sách của các nước, nhất là những nước lớn sẽ có tác động đến nước ta.

Sự tăng trưởng của nền kinh tế góp phần củng cố tiềm lực và sức mạnh của nền tài chính quốc gia một cách vững chắc hơn; quy mô thu, chi ngân sách nhà nước được mở rộng, dự tữ quốc gia được tăng cường.

Hệ thống pháp luật trong nước đã được điều chỉnh đồng bộ, thống nhất từng bước tuân thủ hệ thống các chuẩn mực, tôn trọng và thích ứng với các thông lệ quốc tế, phù hợp với quy luật của kinh tế thị trường.

Tổ chức hoạch định chính sách, thực thi pháp luật, điều hành kinh tế đã có bước tiến quan trọng và ngày càng có hiệu quả. Các yếu tố của thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không ngừng được hoàn thiện và phát huy hiệu quả trong việc thúc đẩy sự phát triển mọi mặt của đời sống kinh tế – xã hội.

Thành tựu của phát triển kinh tế – xã hội sau gần 30 năm đổi mới đã góp phàn nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống của đại đã số nhân dân; từng bước đẩy lùi đói nghèo, bảo đảm an sinh xã hội.

Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng trong 5 năm gần đây cho thấy mô hình của nền kinh tế nước ta đã có những điểm không còn phù hợp. Kinh tế phát triển chưa bền vững, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp; hiệu quả sử dụng nguồn lực còn hạn chế, kết cấu hạ tầng yếu kém; một số vấn đề xã hội bức xúc, phát sinh chậm được giải quyết.

Quy mô dân số, tỷ lệ già hóa dân số có xu hướng vận động tăng lên của dân số cả nước ảnh hưởng đến bảo hiểm xã hội và sự phát triển kinh tế cũng như dự trữ quốc gia. Thông thường dân số càng lớn thì quy mô dự trữ hàng hoá thiết yếu cho đời sống dân cư càng lớn, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá dẫn đến sự thay đổi cơ cấu dân số nông thôn thành thị, hình thành nhiều khu công nghiệp tập trung cũng làm cho thay đổi quy mô dự trữ .

Nguồn lực cho dự trữ quốc gia tuy đã được tăng cường nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu đáp ứng mục tiêu của dự trữ quốc gia; đặc biệt là nguồn lực tài chính – ngân sách nhà nước cho dự trữ quốc gia còn hạn chế. Trong bối cảnh cách mạng khoa học bùng nổ khắp toàn cầu như hiện nay, nhưng chất lượng, khả năng nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ cũng như sáng tạo khoa học, công nghệ ở nước ta còn thấp nói chung và dự trữ quốc gia nói riêng; công nghệ bảo quản hàng dự trữ quốc gia chủ yếu vẫn là thủ công.

Tình hình đất nước và bối cảnh quốc tế nêu trên tạo cho nước ta vị thế mới với những thuận lợi và cơ hội to lớn cùng những khó khăn và thách thức gay gắt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ trong thời kỳ chiến lược tới.

18.2.2.2. Các nhân tố về tiềm lực kinh tế – ngân sách nhà nước

Dự trữ quốc gia hình thành từ ngân sách nhà nước do Quốc hội quyết định và phụ thuộc vào tốc độ tăng trường. Nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, ngồn lực tài chính- ngân sách dồi dào ảnh hưởng đến tỷ lệ GDP dành cho DTQG càng lớn và ngược lại nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng thấp, tiềm lực kinh tế yếu dẫn đến tỷ lệ GDP dành cho DTQG càng thấp.

Những hàng hoá DTQG nếu phải nhập khẩu (phụ thuộc vào nguồn của nước ngoài thì dự trữ càng phải lớn), nếu hàng hoá sản xuất trong nước ổn định thì chủ yếu dự trữ mang tính thời vụ.

Quan hệ thương mại càng rộng, hội nhập càng sâu thì tỷ lệ dự trữ bằng tiền( ngoại tệ) lớn và dự trữ hàng hoá ít đi.

Nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững thì khối lượng và quy mô DTQG vừa phải. Nếu nền kinh tế phát triển thiếu ổn định, không bền vững đòi hỏi DTQG cao.

Nguy cơ tiềm ẩn xảy ra xung đột về kinh tế và khủng hoảng càng cao thì DTQG càng lớn. Trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, mạng lưới giao thông vận tải ảnh hưởng đến việc bố trí mạng lưới kho tàng DTQG và việc tập trung hoá cao DTQG.

18.2.2.3. Các nhân tố tự nhiên

Sự đa dạng phức tạp của thời tiết khí hậu, môi trường sinh thái bị biến đổi nảy sinh những tai hoạ mới về thiên tai, thảm họa; bão lụt, động đất, hạn hán, dịch bệnh với tần suất ngày càng dày, cường độ lớn, diện rộng ảnh hưởng tới quy mô và mặt hàng DTQG. Những tai hoạ mới do biến đổi khí hậu(BĐKH) đặt ra yêu cầu phải tăng cường dự trữ những hàng hoá phục vụ cho cứu nạn, cứu sinh, đảm bảo an ninh, quốc phòng.

Ngày nay, trong bối cảnh BĐKH hiện tượng thiên tai bất thường xảy ra ngày càng nhiều ở hầu hết các địa phương trên cả nước ta với tần suất dày và cường độ mạnh, lượng mưa tăng kỷ lục ở nhiều nơi  khiến lũ lụt, lở đất gây kinh hoàng cho người dân. Đặc biệt các tỉnh Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung (Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận) năm nào cũng bị ảnh hưởng nặng nề của bão, lũ gây thiệt hại nặng nề.

Khí hậu, thời tiết, tính chất mùa vụ ảnh hưởng đến cung – cầu hàng hoá, các yêu cầu về bảo quản hàng hoá dự trữ,  thời gian bảo quản, số lượng dự trữ, mặt hàng dự trữ quốc gia.

18.2.2.4. Các nhân tố về cơ sở vật chất và công nghệ

Cơ sở vật chất kỹ thuật mà chủ yếu là hệ thống kho tàng ảnh hưởng rất lớn tới khối lượng, chất lượng hàng hoá dự trữ quốc gia. Nếu không có đủ kho hoặc chất lượng kho tàng không đảm bảo thì không thể đáp ứng được khối lượng hàng hoá dự trữ quốc gia lớn, không thể đảm bảo chất lượng để sử dụng trong các tình huống đột xuất, cấp bách.

Công nghệ ảnh hưởng đến quy trình bảo quản: cơ giới hoá, tự động hoá, tin học hoá, ảnh hưởng đến thời gian bảo quản và chất lượng hàng hoá, đến hao hụt, mất mát, đến chi phí và năng suất lao động; nhất là trong các tình huống khẩn cấp thì sự kịp thời còn phụ thuộc vào yếu tố công nghệ và phương tiện vật chất.

18.2.2.5. Các nhân tố về cơ chế chính sách, cơ chế quản lý nền kinh tế

Nhân tố thuộc về cơ chế chính sách của nhà nước, cơ chế quản lý nền kinh tế tác động trực tiếp đến DTQG. Thực chất, những nhân tố này thể hiện sự tổ chức quản lý của nhà nước đối với DTQG, về sự phân công quản lý DTQG của Chính phủ, sự phối hợp giữa các Bộ, ngành trong hoạt động DTQG và việc tổ chức điều khiển vận hành hệ thống DTQG ứng phó với các tình huống đột xuất, cấp bách trong phòng, chống, khắc phục thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh; phục vụ quốc phòng, an ninh.

 18.2.2.6. Các nhân tố thuộc về quan hệ quốc tế

 Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng thì việc phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng, đặc biệt là các nước trong khu vực Đông Nam Á và ứng phó với những tình huống do BĐKH cần có sự phối hợp của các nước. Quan hệ quốc tế càng rộng, càng sâu cả về ngoại giao và thương mại sẽ ảnh hưởng đến DTQG, tác động đến tỷ lệ dự trữ tiền và hiện vật, đến quy mô và mặt hàng dự trữ. Quan hệ quốc tế là điều kiện cho hiện đại hoá hoạt động DTQG, bằng tiếp thu kinh nghiệm quản lý và công nghệ tiên tiến của các nước phát triển về ứng phó với biến đổi khí hậu.

Hợp tác quốc tế ứng phó với BĐKH sẽ hiệu quả hơn về chi phí so với việc hành động quốc gia đơn lẻ. Chính vì vậy, hợp tác quốc tế, khu vực được coi là chiến lược nhằm ứng phó với những thách thức về BĐKH. Hợp tác quốc tế sẽ có nhiều sáng kiến, biện pháp được đưa ra nhằm ứng phó với BĐKH.

18.2.3. Công tác phân tích, dự báo trong xây dựng kế hoạch dự trữ quốc gia

Dự báo là báo trước về tình hình có nhiều khả năng sẽ xảy ra, dựa trên cơ sở những số liệu, những thông tin đã có, tức là nhằm đánh giá quá khứ, nhận thức hiện tại, dự đoán tương lai để xây dựng lực lượng DTQG nhằm khắc phục những biến cố xảy ra trong tương lai.

Dự trữ quốc gia thuộc loại dự trữ bảo hiểm cho nền kinh tế, dự phòng rủi ro trong tương lai cho quá trình phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia. Mục đích của DTQG suy cho đến cùng là đảm bảo cho an ninh quốc gia, an sinh xã hội. Nhưng DTQG là những hao phí, chi phí, những tổn thất trực tiếp do quá trình dự trữ gây nên, những hao hụt, mất mát (hữu hình, vô hình), tất yếu thường xuyên trong quá trình duy trì dự trữ. Xét về mặt hiệu quả kinh tế trực tiếp là không có hiệu quả, là sự ứ đọng vốn, vốn không sinh lời. Do đó, để DTQG có hiệu quả, tức là vừa đảm bảo hệ số an toàn vừa phù hợp với điều kiện kinh tế của đất nước, vừa không bị bất ngờ lại vừa không hao phí một cách quá lớn thì một trong những nội dung quan trọng của DTQG là cần phải nghiên cứu một cách khoa học, dự báo một cách khá chính xác, phân tích kỹ những xu hướng vận động của các nhân tố ảnh hưởng đến dự trữ quốc gia.

18.2.3.1. Phân tích dự báo về môi trường vĩ mô- tình hình trong nước và quốc tế

Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay nước ta đã duy trì được tốc độ tăng trưởng bình quân khá. Tốc độ GDP đã tăng từ mức bình quân 4,44%  năm trong giai đoạn 1986-1990 lên mức 8,19% giai đoạn 1991-1995. Trong những giai đoạn sau nền kinh tế nước ta chịu tác động của khủng hoảng tài chính, kinh tế trong khu vực và thế giới nên tốc độ tăng trưởng tuy có chậm lại, song vẫn ở mức khá. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 1996-2000 đạt 6,9% năm; giai đoạn 2011- 2014 đạt 5,64%; tăng trưởng GDP đã tạo điều kiện mở rộng quy mô nền kinh tế; đồng thời tác động đến mức chi ngân sách nhà nước cho dự trữ quốc gia.

Công tác đối ngoại của nước ta triển khai chủ động, hội nhập quốc tế tích cực đi vào chiều sâu. Về cơ bản tình hình chính trị trong nước ổn định, kinh tế phát triển, uy tín trên trường quốc tế được nâng cao.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được về tăng trưởng kinh tế thì nước ta vẫn đang phải đối mặt với những thách thức, khó khăn. Kinh tế phát triển chưa bền vững, tốc độ tăng trưởng thấp so với tiềm năng; tăng trưởng chủ yếu dựa vào các ngành công nghệ thấp, tiêu hao vật chất cao, sử dụng nhiều tài nguyên, vốn và lao động. Thương mại có xuất siêu trong những năm gần đây, song tăng xuất khẩu chủ yếu dựa vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài FDI. Nền kinh tế gía trị gia tăng thấp, phụ thuộc vào khai thác tài nguyên và công nghiệp gia công lắp ráp; kết cấu hạ tầng yếu kém. Ngân hàng tồn tại nhiều nợ xấu và tình trạng sở hữu chéo có bản vẫn còn nguyên. Tất cả những yếu kém về môi trường vĩ mô này đều tác động đến dự trữ quốc gia.

Trong giai đoạn tới thế giới hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn tiếp tục là xu thế lớn; ít có khả năng xảy ra chiến tranh lớn nhưng vẫn có nhiều diễn biến phức tạp mới như xung đột sắc tộc và tôn giáo, tranh giành tài nguyên và lãnh thổ, nạn khủng bố và tội phạm xuyên quốc gia có thể gia tăng cùng với những vấn đề toàn cầu khác như đói nghèo, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, các thảm họa thiên nhiên. Thế giới từ đơn cực chuyển sang đa cực; Mỹ là cường quốc số một nhưng vị thế, ảnh hưởng bị suy giảm. Kinh tế thế giới dự báo vẫn có những biến đổi khó lường. Nhiều vấn đề lớn có tính toàn cầu sẽ chi phối đáng kể đến đời sống, kinh tế xã hội của cả thế giới như BĐKH, thiên tai và dịch bệnh.

Châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có Đông Nam Á tiếp tục phát triển năng động và đang hình thành nhiều hình thức liên kết, hợp tác đa dạng hơn. Tuy vậy, vẫn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định, nhất là tranh giành ảnh hưởng, tranh chấp chủ quyền biển, đảo, tài nguyên. Mỹ chuyển trọng tâm chiến lược về khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Trung Quốc tiềm lực kinh tế tăng lên trở thành cường quốc khu vực Châu Á– Thái Bình Dương vừa hợp tác vừa cạnh tranh ảnh hưởng với Mỹ.

ASeAn có khả năng phát huy vai trò trung tâm trong khu vực, nhưng đoàn kết, thống nhất nội bộ trong khối bị thách.

Tình hình trong nước, khu vực và quốc tế có nhiều thuận lợi và thách thức đan xen; dự trữ quốc gia vẫn phải chủ động có kế hoạch đáp ứng những yêu cầu đột xuất, cấp bách có thể xảy ra.

18.2.3.2. Phân tích, dự báo về biến đổi khí hậu trong xây dựng kế hoạch dự trữ quốc gia

Một trong những dự báo quan trọng trong thời gia tới là dự báo BĐKH dẫn đến sự diễn biến của thời tiết và tần suất xảy ra thiên tai.  Dự báo về khả năng xảy ra lũ lụt, bão lốc, hạn hán… tần suất xảy ra, cường độ tàn phá; ví dụ: tình trạng phá hoại môi trường do con người gây ra phá vỡ sự cân bằng sinh thái giữa con người và thiên nhiên, đã dẫn đến thiên tai, lũ lụt, giông bão, lốc xoáy, núi lở, hạn hán, hoả hoạn, ô nhiễm môi trường, bệnh dịch, côn trùng gây hại, tai hoạ các loại ngày càng gia tăng thường xuyên uy hiếp sự sống còn của con người, có những loại tai hoạ mới xuất hiện (đột xuất), nghiêm trọng, xuyên quốc gia cần được dự báo để có những loại hàng hoá DTQG phù hợp nhằm ứng phó nếu xảy ra.

Dự trữ quốc gia gắn liền với quá trình phát triển của đất nước, thì việc dự trữ cái gì, dự trữ bao nhiêu cũng gắn liền với việc dự báo, phân tích bối cảnh quốc tê, trong nước và kinh tế – xã hội trong từng giai đoạn nhất định. Do đó, kế hoạch dự trữ quốc gia cũng có sự khác nhau trong từng giai đoạn. Trong bối cảnh BĐKH hiện nay thì dự trữ quốc gia đảm bảo cho các nhu cầu phòng, chống, khắc phục những hậu quả thiên tai do BĐKH có ý nghĩa vô cùng quan trọng.

Biến đổi khí hậu đang trở thành vấn đề có tính thời dự cấp bách không chỉ của Việt Nam mà cả trong khu vực và trên toàn thế giới. BĐKH sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường chẳng những trên phạm vi từng quốc gia, khu vực mà còn ảnh hưởng đến phạm vi toàn thế giới. BĐKH làm cho nhiệt độ tăng, mực nước biển dâng cao, gây nên thiên tai ngày càng nhiều như lũ lụt, hạn hán, bão tố, sóng thần,… Những nỗi khổ mà con người đang phải đối mặt đó là hậu quả của BĐKH và là một nguy cơ ảnh hưởng sự phát triển kinh tế- xã hội.

Biến đổi khí hậu gây nên thiên tai là tác nhân gây cản trở trực tiếp tới sự phát triển kinh tế, phát triển bền vững, gia tăng đói nghèo; trở lực lớn trong quá trình phấn đấu đạt các mục tiêu phát triển của đất nước. Thiên tai xảy ra đã làm mất đi nhiều thành quả của quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Thiên tai tàn phá, làm suy thoái, gây ô nhiễm môi trường sống, tác động xấu đến sản xuất và đời sống dân cư; làm ô nhiễm nguồn nước, phát sinh dịch bệnh; làm tăng khả năng xảy ra một số bệnh nhiệt đới như sốt rét, sốt xuất huyết; làm tăng tốc độ sinh trưởng và phát triển của nhiều loại vi khuẩn, côn trùng…

Ở Việt Nam sự đa dạng của khí hậu ngoài việc thuận lợi cho cây trồng vật nuôi cũng có những yếu tố bất lợi. BĐKH trong những năm gần đây và dự báo cả thời gian tới đã xảy ra diễn biến bất thường của thiên tai như bão, lũ lụt, hạn hán đe doạ trên diện rộng khắp cả các miền của đất nước. Sự tàn phá do thiên tai gây là vô cùng lớn, hậu quả thật khó lường, nó không chỉ gây nên những thiệt hại trực tiếp về sản xuất, về người và của mà còn gây tác hại đến sự mất cân bằng của nền kinh tế trong tương lai. Khi lũ lụt xảy ra không những gây thiệt hại trực tiếp cho sản xuất nông nghiệp, mất mùa, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống nhân dân. Chưa kể đến nếu thiên tai xảy ra trên diện rộng và cường độ mạnh mất mùa và nạn đói xảy ra thì sự ổn định về chính trị và tiến bộ xã hội có thể bị nạn đói cản trở.

 Do đó, dự trữ quốc gia sẵn sàng ứng phó kịp thời phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh trong bối cảnh BĐKH là vô cùng quan trọng.

Do tính phức tạp của BĐKH và những hiểu biết chưa thật đầy đủ về BĐKH của Việt Nam cũng như trên thế giới, cùng với yếu tố tâm lý, kinh tế, xã hội nên kịch bản về BĐKH mà Việt Nam đưa ra cũng còn những yếu tố chưa chắc chắn cần tiếp tục cập nhật, nghiên cứu hoàn thiện. Nhưng những nghiên cứu dự báo ban đầu và kịch bản được đưa ra là căn cứ để đánh giá tác động của BĐKH để xây dựng kế hoạch dự trữ quốc gia ứng phó với BĐKH; chủ động đáp ứng các yêu cầu trong các tình huống cấp bách do BĐKH gây nên.

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để dự báo được các khả năng xảy ra thiên tai, tần suất và mức độ thiệt hại và số dân bị ảnh hưởng, an sinh dân cư bị đe dọa. Điều quan trọng là phải từ nghiên cứu, phân tích các nhân tố, xu hướng của quá trình BĐKH để dự báo về thiên tai – môi trường và điều kiện kinh tế – xã hội. Từ dự báo, phân tích để xây dựng kế hoạch DTQG về hàng hoá nhằm chủ động đáp ứng các yêu cầu cấp bách xảy ra, sao cho DTQG vừa đủ mạnh vừa hợp lý để ứng phó các tình huống BĐKH gây ra có hiệu quả.

Vấn đề nghiên cứu, dự báo chuẩn xác là vấn đề rất khó khăn và phức tạp, cần có sự tham gia của các nhà khoa học ở nhiều lĩnh vực, của các bộ, ngành và đặc biệt là việc nghiên cứu dự báo tổng hợp từ thực tiễn của hoạt động DTQG của cơ quan quản lý DTQG chuyên trách là Tổng cục Dự trữ Nhà nước (Bộ Tài chính) và dựa trên định hướng ban đầu của kịch bản BĐKH của Việt Nam để đánh giá tác động của BĐKH, nhằm xây dựng được một lực lượng DTQG tối ưu, đảm bảo khắc phục hậu quả thiên tai một cách có hiệu quả và tiết kiệm. Theo khuyến nghị của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì kịch bản BĐKH trung bình là kịch bản hài hòa nhất để các bộ, ngành và địa phương làm định hướng ban đầu để đánh giá tác động của BĐKH nước biển dâng và xây dựng kế hoạch ứng phó với BĐKH. Những nội dung chính của kịch bản BĐKH cần quán triệt để ứng dụng trong dự báo:

– Về nhiệt độ: Nhiệt độ mùa đông có thể tăng nhanh hơn so với nhiệt độ mùa hè ở tất cả các vùng khí hậu ở nước ta. Nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Bắc có thể tăng nhanh hơn so với các vùng khí hậu phía Nam. Theo kịch bản phát thải trung bình (B2): Vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình có thể tăng lên 2,60C ở Tây Bắc, 2,50C ở Đông Bắc, 2,40C ở Đồng bằng Bắc Bộ, 2,80C ở Bắc Trung Bộ, 1,90C ở Nam Trung Bộ, 1,90C ở Tây Nguyên và 20C ở Nam Bộ so với trung bình thời kỳ 1980- 1999.

Bảng 18.1 . Mức tăng nhiệt độ (0C) trung bình năm so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2) 

Vùng

Các mốc thời gian của thế kỷ 21

2020

2030

2040

2050

2060

2070

2080

2090

2100

Tây Bắc

0,5

0,7

1,0

1,3

1,6

1,9

2,1

2,4

2,6

Đông Bắc

0,5

0,7

1,0

1,2

1,6

1,8

2,1

2,3

2,5

Đồng bằng Bắc Bộ

0,5

0,7

0,9

1,2

1,5

1,8

2,0

2,2

2,4

Bắc Trung Bộ

0,5

0,8

1,1

1,5

1,8

2,1

2,4

2,6

2,8

Nam Trung Bộ

0,4

0,5

0,7

0,9

1,2

1,4

1,6

1,8

1,9

Tây Nguyên

0,3

0,5

0,6

0,8

1,0

1,2

1,4

1,5

1,6

Nam Bộ

0,4

0,6

0,8

1,0

1,3

1,6

1,8

1,9

2,0

Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường

– Về lượng mưa: Lượng mưa mùa khô có thể giảm ở hầu hết các vùng khí hậu ở nước ta, đặc biệt là các vùng khí hậu phía Nam. Lượng mưa mùa mưa và tổng lượng mưa năm có thể tăng ở tất cả các vùng khí hậu. Theo kịch bản phát thải trung bình (B2): Vào cuối thế kỷ 21, lượng mưa năm có thể tăng khoảng 7-8% ở Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và từ 2-3% ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ so với trung bình thời kỳ 1980-1999. Lượng mưa thời kỳ từ tháng 3 đến tháng 5 sẽ giảm từ 4-7% ở Tây Bắc, Đông Bắc và Đồng bằng Bắc Bộ, khoảng 10% ở Bắc Trung Bộ, lượng mưa vào giữa mùa khô ở các vùng khí hậu phía Nam có thể giảm tới 10-15% so với thời kỳ 1980-1999. Lượng mưa các tháng cao điểm của mùa mưa sẽ tăng từ 10-15% ở cả bốn vùng khí hậu phía Bắc và Nam Trung Bộ, còn Tây Nguyên và Nam Bộ chỉ tăng trên dưới 1%.

Bảng 18.2. Mức thay đổi lượng mưa (%) so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2)

Vùng

Các mốc thời gian của thế kỷ 21

2020

2030

2040

2050

2060

2070

2080

2090

2100

Tây Bắc

1,4

2,1

3,0

3,8

4,6

5,4

6,1

6,7

7,4

Đông Bắc

1,4

2,1

3,0

3,8

4,7

5,4

6,1

6,8

7,3

Đồng bằng Bắc Bộ

1,6

2,3

3,2

4,1

5,0

5,9

6,6

7,3

7,9

Bắc Trung Bộ

1,5

2,2

3,1

4,0

4,9

5,6

6,4

7,1

7,7

Nam Trung Bộ

0,7

1,0

1,3

1,7

2,1

2,4

2,7

3,0

3,2

Tây Nguyên

0,3

0,4

0,5

0,7

0,9

1,0

1,2

1,3

1,4

Nam Bộ

0,3

0,4

0,6

0,8

1,0

1,1

1,2

1,4

1,5

Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường

Về kịch bản nước biển dâng cho Việt Nam được tính toán theo kịch bản phát thải thấp nhất (B1), kịch bản phát thải trung bình (B2) và kịch bản phát thải cao nhất (A1 FI).

Kết quả tính toán theo các kịch bản phát thải thấp, trung bình và cao cho thấy vào giữa thế kỷ 21 mực nước biển có thể dâng thêm từ 28-33 cm và đến cuối thế kỷ 21 mực nước biển dâng thêm từ 65 đến 100 cm so với thời kỳ 1980-1999.

Bảng 18.3. Mực nước biển dâng (cm) so với thời kỳ 1980-1999

Kịch bản

Các mốc thời gian của thế kỷ 21

2020

2030

2040

2050

2060

2070

2080

2090

2100

Thấp (B1)

11

17

23

28

35

42

50

57

65

Trung bình (B2)

12

17

23

30

37

46

54

64

75

Cao (A1 FI)

12

17

24

33

44

57

71

86

100

Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường

Biến đổi khí hậu được coi là “tình huống khẩn cấp” của một cuộc khủng hoảng hôm nay và mai sau. BĐKH có thể chặn đứng và đẩy lùi thành quả của những nỗ lực giảm nghèo trên toàn thế giới và đặc biệt đối với những quốc gia bị tác động nặng nề thì sẽ dễ bị tổn thương nhất. BĐKH ở Việt Nam đã và đang được nhận diện chẳng những ở lãnh đạo cấp cao, các cấp, các ngành mà đang mở rộng trong phạm vi toàn cộng đồng xã hội.

Do vị trí địa lý Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa vốn là khu vực chịu nhiều ảnh hưởng của BĐKH, cùng với hệ thống sông ngòi dày đặc đã tạo ra nhiều khác biệt về các vùng khí hậu, sinh thái. Với vị trí địa lý như vậy, Việt Nam là một trong 5 nước khu vực Đông Nam Á chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của BĐKH. Dự báo do BĐKH thiên tai xảy ra ngày càng nhiều hơn về loại hình và tần suất xuất hiện, phức tạp hơn về diễn biến và nghiêm trọng hơn về hậu quả. Diễn biến thiên tai và thời tiết ở Việt Nam đã có nhiều biểu hiện bất thường và phức tạp hơn, đó là sự đa dạng về loại hình, gia tăng về cường độ và tần suất. Lũ lịch sử ở các tỉnh miền trung năm 1999 và lũ cao xấp xỉ lũ lịch sử với 5 đến 6 đỉnh lũ nối tiếp nhau trong thời gian gần hai tháng vào năm 2007 ở các tỉnh, thành phố Duyên hải miền Trung. Hạn hán nghiêm trọng, kéo dài trên diện rộng các tỉnh Đông Nam Bộ và Tây Nguyên đầu năm 2005. Rét đậm, rét hại kéo dài diễn ra tại các tỉnh phía Bắc cuối năm 2007 đầu năm 2008. Mưa lũ đặc biệt lớn trên diện rộng gây ngập úng nghiêm trọng nhiều địa phương đồng bằng, trung du  Bắc bộ cuối tháng 10 đầu tháng 11 năm 2008. Triều cường dâng cao nhất trong vòng 49 năm qua ở thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ. Lũ trái vụ muộn nhất đã xảy ra ở miền Trung năm 2008. Năm 2009 – 2010, bên cạnh hàng chục trận dông lốc, mưa đá, lũ quét, lũ bùn đá … đã có 10 cơn bão, áp thấp nhiệt đới có những cơn bão mạnh nhất trong vòng 40 năm trở lại đây. Năm 2010, bão lũ lụt xảy ra ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình lớn nhất trong hơn 100 năm qua và đã tàn phá khốc liệt vào các tỉnh Bắc miền Trung. BĐKH làm tăng tính thất thường của thời tiết, các hiện tượng EL Nino, La Nina và sự gia tăng các cơn bão nhiệt đới, hạn hán v.v…, các dịch bệnh lớn thường xuyên xảy ra như: dịch SARS, sốt xuất huyết, cúm H5N1 và cúm A/H1N1… gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản và tính mạng con người, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế và an sinh xã hội.

Dự báo các tình huống khẩn cấp do BĐKH trong tương lai ở Việt Nam phải hứng chịu là: bão và áp thấp nhiệt đới, lũ lụt, lũ quét, sạt lở đồi núi, sạt lở bờ sông, úng ngập, triều cường ngập mặn, hạn hán, cháy rừng, dịch bệnh và ô nhiễm môi trường… với các tình huống có thể xảy ra và mức độ khẩn cấp gồm:

(1) Bão và áp thấp nhiệt đới mỗi năm Việt Nam phải hứng chịu từ 6- 13 cơn bão và áp thấp nhiệt đới; trong tương lai thì tần suất sẽ càng dày và cấp độ ngày càng lớn, mức độ thiệt hại ngày càng tăng, tính phức tạp ngày càng cao. Những tình huống mà bão và áp thấp nhiệt đới xảy ra là gây tác hại đến tàu thuyền đánh cá trên biển, làm sập đổ nhà cửa, chết và bị thương người, làm hư hỏng cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi, y tế, trường học, bệnh viện, nông nghiệp… ô nhiễm môi trường, phát sinh dịch bệnh tràn lan và nghèo đói, an sinh xã hội bị ảnh hưởng. Bão và áp thấp nhiệt đới đã và sẽ ảnh hưởng đến chẳng những ở vùng nông thôn, vùng biển, vùng núi mà cả ở đô thị thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng… cũng bị đe dọa, cần phải có giải pháp phòng, chống và khắc phục. Triều cường là một trong những hệ quả của BĐKH, đang và sẽ tác động đến sinh kế của người dân ở đồng bằng sông Cửu Long, thành phố Hồ Chí Minh… và theo dự báo của các chuyên gia riêng việc nước biển dâng cao có thể khiến 22 triệu người Việt Nam mất nhà; một phần lớn diện tích của đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long có thể bị ngập lụt.

 (2) Lũ lụt khi có ảnh hưởng kết hợp của bão, áp thấp nhiệt đới, hay dãy hội tụ nhiệt đới với gió mùa Đông Bắc sẽ có mưa lớn kéo dài nhiều ngày sinh ra. Bão lũ là thiên tai diễn ra hàng năm đối với Việt Nam với mức độ nghiêm trọng và có xu hướng ngày càng gia tăng, mức độ tàn phá ngày càng khốc liệt nhất là ở vùng đồng bằng và ven biển. Tình huống chia cắt nhiều ngày có những vùng trở thành “ốc đảo”, làm chết và bị thương nhiều người, gây thiệt hại lớn về tài sản, phát sinh dịch bệnh và đói nghèo.

(3) Lũ quét, sạt lở đồi núi xảy ra khi có mưa cường độ lớn với nơi có cấu tạo địa chất yếu và những tác động của con người như bạt núi mở đường, chặt phá rừng làm đường thoát lũ bất lợi; lũ quét phát sinh bất ngờ, xảy ra trong phạm vi hẹp nhưng rất khốc liệt và gây ra thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản; gây ách tắc giao thông hoặc giao thông bị chia cắt nhiều ngày mới khắc phục được; đời sống khó khăn thiếu lương thực, đói nghèo gia tăng.

(4) Gió Tây Nam khô nóng hạn hán và xâm nhập mặn: hàng năm ở nước ta từ tháng 4 đến tháng 8 các đợt gió Tây Nam xuất hiện; dự báo trong tương lai do nhiệt độ tăng lên, nhiệt độ không khí cao hơn 370 C và độ ẩm không khí nhỏ hơn 45%. Thời tiết không mưa kéo dài, kết hợp với gió Tây Nam khô nóng sẽ gây nên những đợt hạn hán trên diện rộng ở hầu hết các vùng. Gió Tây Nam khô nóng là nguyên nhân của những vụ cháy rừng, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái. Khô hạn và xâm nhập mặn diễn ra khi thời gian không mưa kéo dài kết hợp với gió Tây Nam khô nóng; hạn hán và xâm nhập mặn xảy ra gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp, thiếu nước sinh hoạt, phát sinh dịch bệnh, đói nghèo; an sinh xã hội thiếu bền vững.

(5) Tố lốc và giông sét: giông xảy ra thường kèm theo gió lốc, sét và mưa đá làm thiệt hại về người, nhà cửa, các công trình thông tin liên lạc, điện và hoa màu. Hậu quả của tố lốc và giông sét làm chết và bị thương người,  sập đổ nhà cửa, công trình… an sinh xã hội bị ảnh hưởng.

(6) Nước biển dâng: nếu mực nước biển dâng 1 m sẽ có 10% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp, tổn thất 10% GDP, nếu nước biển dâng 3 m sẽ có khoảng 25% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp và tổn thất khoảng 25% GDP.

Dự báo về thiên tai gây ra do BĐKH, nhằm xây dựng kế hoạch dự trữ quốc gia đáp ứng các tình huống thiên tai xảy ra để ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai xảy ra đảm bảo an sinh xã hội có ý nghĩa quan trọng. Xuất phát từ vị trí, vai trò và mục tiêu thì dự trữ quốc gia là nguồn lực chiến lược quan trọng để chủ động đáp ứng những yêu cầu cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh; bảo đảm quốc phòng, an ninh và an sinh xã hội.

Có kế hoạch DTQG đủ mạnh về số lượng, phù hợp về cơ cấu, bố trí hợp lý, quản lý thống nhất, điều hành linh hoạt thì khả năng ứng phó có hiệu quả các tình huống khẩn cấp trong bối cảnh BĐKH đảm bảo an sinh xã hội bền vững.

Xây dựng kế hoach về Danh mục vật tư, thiết bị phù hợp với dự báo về tình huống của BĐKH nhằm mục đích khi xảy ra tình huống đột xuất, cấp bách về thiên tai, thảm họa, dịch bệnh được khắc phục ngay có hiệu quả.

Dự báo được mức DTQG đối với từng loại vật tư, thiết bị, hàng hóa phù hợp với nhiệm vụ ứng phó với BĐKH để khi xảy ra thiên tai, thảm họa, dịch bệnh đáp ứng đúng, đủ, kịp thời; không để xảy ra trường hợp có vật tư, thiết bị, hàng hóa DTQG nhưng lại không đủ đáp ứng khắc phục được những tình huống đột xuất, cấp bách xảy ra; trong khi tồn kho những vật tư, thiết bị, hàng hóa DTQG mà không phù hợp với nhiệm vụ.

18.2.3.3. Dự báo nguồn lực tài chính ngân sách trong xây dựng kế hoạch dự trữ quốc gia trong thời gian tới

Nguồn lực ngân sách nhà nước là nguồn lực chủ yếu chi cho DTQG để mua sắm các loại vật tư, thiết bị, hàng hóa đưa vào DTQG để sẵn sàng đáp ứng các yêu cầu phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa do BĐKH gây nên. Nguồn lực hình thành DTQG phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế và khả năng của ngân sách nhà nước; chi ngân sách nhà nước cho DTQG trong thời gian qua đã góp phần hình thành một khối lượng hàng DTQG để đáp ứng những yêu cầu đột xuất, cấp bách ứng phó với thiên tai. Tuy nhiên, so với yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ ứng phó với BĐKH thì nguồn lực ngân sách nhà nước chi cho DTQG cần được ưu tiên hơn. Động thái chi ngân sách nhà nước cho DTQG hàng năm so với tổng chi ngân sách nhà nước và tổng sản phẩm trong nước (GDP) thời gian qua làm căn cứ để dự báo nguồn lực tài chính ngân sách trong xây dựng kế hoạch dự trữ quốc gia trong thời gian tới.

Thực trạng tổng sản phẩm xã hội (GDP) thời gian qua và chi ngân sách nhà nước nói chung, trong đó có chi cho DTQG so với GDP hằng năm và tổng chi của ngân sách nhà nước. Từ đó, phân tích, dự báo nguồn lực tài chính ngân sách nhà nước trong xây dựng kế hoạch dự trữ quốc gia hằng năm và 5 năm.

Qua bảng 19.4 cho thấy từ năm 2000 đến năm 2013 nguồn lực NSNN chi cho DTQG hằng năm chỉ chiếm tỷ lệ từ 0,01% đến 0,18% GDP và chiếm 0,04% đến 0,53% tổng chi NSNN.

  Nguồn lực tài chính ngân sách chi cho DTQG để phục vụ cho những tình huống đột biến bất ngờ và việc xây dựng kế hoạch DTQG phải tính toán việc đáp ứng được bao nhiêu phần trăm khắc phục sự cố khi xảy ra, đảm bảo cho sự phát triển kinh tế- xã hội bền vững và đảm bảo an sinh xã hội. Nguồn lực tài chính ngân sách nhà nước bảo đảm cho dự trữ quốc gia cần được dự báo trong xây dựng kế hoạch dự trữ quốc gia

Thời điểm chấm dứt hiệu lực kể từ ngày quy định của pháp luật làm căn cứ ban hành văn bản thông báo kết quả xác định trước mã số được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế có hiệu lực thi hành.

Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan ban hành văn bản hủy bỏ văn bản thông báo kết quả xác định trước mã số trong trường hợp phát hiện hồ sơ xác định trước mã số do tổ chức, cá nhân cung cấp không chính xác, không trung thực.

 Bảng 18.4.  Động thái ngân sách nhà nước chi cho dự trữ quốc gia

thời kỳ từ năm 2000 đến năm 2013

 

Năm

GDP

(tỷ đồng)

(giá hiện hành)

Tổng chi NSNN

(tỷ đồng)

(giá hiện hành)

Chi cho

DTQG

(tỷ đồng)

Tỷ lệ chi cho DTQG (%)

So với GDP

So với chi NSNN

2000

441.646

108.961

40

0,01

0,04

2001

481.295

129.773

93,859

0,02

0,08

2002

536.098

148.208

144,750

0,02

0,11

2003

605.500

181.183

456

0,07

0,27

2004

715.307

214.176

236

0,02

0,09

2005

839.211

262.697

500

0,05

0,19

2006

974.266

308.058

937,50

0,09

0,30

2007

1.143.715

399.402

1.139,60

0,09

0,28

2008

1.485.038

494.600

1.568,29

0,10

0,31

2009

1.658.389

584.695

3.121,05

0,18

0,53

2010

1.736.280

661.370

1.869,10

0,10

0,28

2011

2.536.631

725.600

1.688,54

0,06

0,23

2012

2.950.684

903.100

2.492,91

0,08

0,27

2013

3.584.261

986.200

1.352,00

0,03

0,13

Nguồn: Tổng cục Thống kê và Bộ Tài chính

 Chiến lược dự trữ quốc gia đến năm 2020 đề ra: lộ trình đến năm 2015 đạt tổng mức dự trữ quốc gia khoảng 0,8 – 1% GDP và đến năm 2020 đạt khoảng 1,5% GDP.

Hiện tại năm 2012 tổng nguồn lực tài chính ngân sách – DTQG mới đạt 0,28% GDP (8.292,865 tỷ đồng). Chiến lược phát triển đất nước đến năm 2020 nước ta phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân 7 – 8%/năm. Có thể dự báo tổng sản phẩm quốc nội và dự báo tổng nguồn lực tài chính ngân sách – DTQG giai đoạn 2013-2020 làm cơ sở để xây dựng kế hoạch dự trữ quốc gia.

Kế hoạch nguồn lực ngân sách chi cho DTQG theo lộ trình tăng dần hằng năm để phấn đấu tổng nguồn lực DTQG đến năm 2015 đạt từ 0,8- 1% GDP với giá trị 40.690.000 tỷ đồng, đến năm 2020 đạt 1,5% GDP với giá trị đạt 134.655.000 tỷ đồng. Như vậy, kế hoạch nguồn lực ngân sách chi cho DTQG phải tăng dần hằng năm tương ứng khoảng 0,1% GDP. Dự báo nguồn lực ngân sách nhà nước là một trong những dự báo quan trọng để xây dựng kế hoạch DTQG trong thời gian tới.

Bảng 18.5  Kế hoạch ngân sách chi cho dự trữ quốc gia giai đoạn 2013 – 2020

STT

Năm

Tổng mức DTQG

(Nghìn tỷ đồng)

GDP

(Nghìn tỷ đồng)

Tỷ lệ DTQG/  GDP (%)

1

2013

24,000

3.000

0,8

2

2014

31,401

3.489

0,9

3

2015

40,690

4.069

1,0

4

2016

52,580

4.780

1,1

5

2017

66,816

5.568

1,2

6

2018

84,539

6.503

1,3

7

2019

106,512

7.608

1,4

8

2020

134,655

8.977

1,5

Nguồn: Bộ Tài chính, Tổng cục Dự trữ Nhà nước

Qua bảng 2.5 cho thấy để xây dựng kế hoạch DTQG cần phải căn cứ vào dự báo về tỷ lệ chi NSNN hằng năm cho DTQG so với GDP để tính toán mức chi cho DTQG trong tổng chi NSNN hằng năm mới thực hiện được yêu cầu của chiến lược dự trữ quốc gia. 

18.2.3.4. Phân tích, dự báo cơ chế, chính sách trong xây dựng kế hoạch dự trữ quốc gia

Quản lý dự trữ quốc gia phải được thực hiện bằng hệ thống cơ chế chính sách gồm Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Quyết định, Quy định… thông qua hệ thống tổ chức quản lý nhằm thực hiện chiến lược, kế hoạch DTQG. Nhận rõ điều đó, trong những năm gần đây việc xây dựng cơ chế chính sách, bổ sung sửa đổi, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý DTQG, thực hiện kế hoạch DTQG đã được đặc biệt coi trọng.

Đặc biệt, Quốc hội đã ban hành Luật dự trữ quốc gia số 22/2012/QH13 tạo ra hành lang pháp lý ổn định lâu dài và là cơ sở quan trọng nhất cho hoạt động DTQG trong đó có việc xây dựng chiến lược, kế hoạch và quy hoạch dự trữ quốc gia.

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược phát triển dự trữ quốc gia đến năm 2020” tại quyết định số 2091/QĐ-TTg ngày 28/12/2012 là căn cứ quan trọng để xây dựng kế hoạch dự trữ quốc gia; Quyết định số 94/QĐ-TTg ngày 17/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Quy hoạch tổng thể hệ thống kho dự trữ nhà nước đến năm 2020”; Nghị định số 94/2013/NĐ-CP ngày 21/8/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật dự trữ quốc gia. Bộ Tài chính đã ban hành và tiếp tục sẽ ban hành đủ 08 Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định số 94/2013/ NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật dự trữ quốc gia và các điều, khoản có liên quan đến nhiệm vụ quản lý nhà nước về DTQG của Bộ Tài chính trong Luật dự trữ quốc gia.

 Toàn bộ hệ thống cơ chế chính sách đã góp phần tạo ra mối quan hệ phân công, phối hợp giữa các cơ quan dự trữ quốc gia theo cả chiều dọc và chiều ngang, nâng cao hiệu lực QLNN về DTQG, củng cố tổ chức bộ máy  đáp ứng yêu cầu của quá trình xây dựng và phát triển đất nước nói chung và xây dựng, thực hiện kế hoạch DTQG nói riêng.

Tuy nhiên, trong thời gian tới cần tiếp tục nghiên cứu, phân tích dự báo để xây dựn sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách quản lý DTQG để phục vụ cho công tác xây dựng kế hoạch dự trữ quốc gia theo các nguyên tắc của Luật dự trữ quốc gia.

Một trong những nội dung thuộc cơ chế, chính sách tác động đến xây dựng kế hoạch dự trữ quốc gia là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước phải được quy định thành một nhiệm vụ riêng trong Luật ngân sách nhà nước. Để phù hợp với hoạt động đặc thù của DTQG là để phục vụ các nhiệm vụ đột xuất, cấp bách của nhà nước về phòng, chống khắc phục thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, quốc phòng, an ninh. Vì vậy, nhiệm vụ chi cho mua tăng, mua bù hàng DTQG phải quy định một nhiệm vụ riêng của NSNN và giao cho cơ quan quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia chủ trì từ khâu lập dự toán, phân bổ, quyết toán mới bảo đảm được sự điều hành tập trung thống nhất của nhà nước và nâng cao chất lượng xây dựng kế hoạch dự trữ quốc gia.

Đồng thời, đề cao vai trò của Quốc hôị trong quyết định dự toán NSNN, quyết định phân bổ NSTW đề cao trách nhiệm bảo đảm nguồn lực tài chính ngân sách cho. Nguồn lực tài chính ngân sách chi cho DTQG do Quốc hội quyết định hằng năm phải căn cứ vào kế hoạch 5 năm được Quốc hội phê duyệt. Nâng cao trách nhiệm, quyền hạn của Ủy ban thường vụ Quốc hội trong quyết định nguồn lực ngân sách trung ương mua bù hàng dự trữ quốc gia đã xuất cấp.

Kết luận: Chuyên đề này nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng và công tác phân tích, dự báo trong xây dựng kế hoạch dự trữ quốc gia. Với việc nghiên cứu, chỉ rõ những nhân tố ảnh hưởng đến kế hoạch dự trữ quốc gia và hoạt động dự trữ quốc gia; đặc biệt,  đi sâu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến dự trữ quốc gia như môi trường vĩ mô, bối cảnh trong nước, khu vực và quốc tế có ảnh hưởng đến dự trữ quốc gia. Nghiên cứu, phân tích dự báo về biến đổi khí hậu tác động đến kế hoạch dự trữ quốc gia là một trong những nghiên cứu có tính chất điểm nhấn chỉ rõ xu hướng của BĐKH và những tác động của BĐKH đến kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh để chủ động trong xây dựng kế hoạch dự trữ quốc gia. Đồng thời, nghiên cứu phân tích dự báo về NSNN chi cho DTQG trong thời gian tới để xây dựng kế hoạch dự trữ quốc gia và thực hiện được chiến lược dự trữ quốc gia đến năm 2020;  Với việc xuất phát từ những đặc thù trong hoạt động điều hành dự trữ quốc gia cần tiếp tục xây dựng sửa đổi, bổ sung hoàn thiện cơ chế, chính sách phù hợp với quy định của Luật dự trữ quốc gia để xây dựng kế hoạch dự trữ quốc gia có tính khả thi cao, hoạt động dự trữ quốc gia bảo đảm có hiệu lực, hiệu quả./.

 

 

 

 

 

 

 

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *