Chuyên đề 17 GIẢI PHÁP ĐỂ TỔ CHỨC THÔNG TIN BÁO CÁO TÀI CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

Chuyên đề 17: GIẢI PHÁP ĐỂ TỔ CHỨC THÔNG TIN BÁO CÁO TÀI CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

 TS. Vũ Đức Chính

Vụ Kế toán Nhà nước – Kho bạc nhà nước Trung ương

 17.1. Thực trạng kế toán nhà nước hiện nay

17.1.1. Đặc điểm về thực trạng về kế toán nhà nước

17.1.1.1. Khung pháp lý về kế toán nhà nước 

 

(1)

LUẬT KẾ TOÁN

 

(2)

LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH

 

QUỐC HỘI, UB TVQH

 

 

 

 

NGHỊ ĐỊNH:

(3)

Hướng dẫn Luật kế toán trong lĩnh vực kinh doanh

 

NGHỊ ĐỊNH:

(4)

Hướng dẫn Luật kế toán trong lĩnh vực kế toán trong lĩnh vực nhà nước

 

NGHỊ ĐỊNH:

(5)

Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán

 

CHÍNH PHỦ

 

 

 

 

 

 

 

 

(6)

Hệ thống chuẩn mực kế toán doanh nghiệp

 

(7)

Đang xây dựng hệ thống chuẩn mực kế toán công

 

(Không có quy định)

 

BỘ TÀI CHÍNH

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(8)

Các chế độ kế toán doanh nghiệp

 

(9)

Các văn bản hướng dẫn

 

(10)

Các CĐKT trong lĩnh vực NN

 

(11)

Các văn bản hướng dẫn

 

(12)

Thông tư hướng dẫn Nghị định

 

BỘ TÀI CHÍNH

 

(1) Luật Kế toán ban hành theo Luật số 03/2003/QH11 ngày 17/6/2003.

(2) Luật xử lý vi phạm hành chính ban hành theo Luật số 15/2012/QH13 ngày 20/6/2012.

(3) Nghị định số 129/2004/NĐ-CP ngày 31/5/2004 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Kế toán áp dụng trong hoạt động kinh doanh.

(4) Nghị định số 128/2004/NĐ-CP ngày 31/5/2004 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Kế toán áp dụng trong lĩnh vực kế toán nhà nước.

(5) Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính.

(6) Bộ Tài chính đã ban hành 26 Chuẩn mực kế toán doanh nghiệp được xây dựng trên cơ sở Chuẩn mực kế toán quốc tế phù hợp với đặc thù của Việt Nam.

(7) Bộ Tài chính đang xây dựng hệ thống chuẩn mực kế toán công dựa trên cơ sở Chuẩn mực kế toán công quốc tế phù hợp với đặc thù của Việt Nam theo lộ trình đã được xác định;

(8) Các chế độ kế toán doanh nghiệp được bao gồm:

– Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính;

– Các chế độ kế toán áp dụng cho các loại hình doanh nghiệp khác cần được quy định đặc thù.

(9) Các văn bản hướng dẫn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các nội dung chưa được quy định trong các văn bản khác.

(10) Các chế độ kế toán nhà nước bao gồm:

– Thông tư số 08/2013/TT-BTC ngày 10/01/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện KTNN áp dụng cho Hệ thống thông tin quản lý Ngân sách và Kho bạc (TABMIS);

– Chế độ kế toán thuế xuất, nhập khẩu theo Thông tư số 32/2006/TT-BTC ngày 10/4/2006 về việc hướng dẫn kế toán nghiệp vụ thuế và thu khác đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, Thông tư số 121/2007 ngày 17/10/2006 về việc bổ sung, sửa đổi Thông tư số 32/2006/TT-BTC ngày 10/4/2006;

– Chế độ kế toán Ngân sách và tài chính xã ban hành kèm theo Quyết định số 94/2005/QĐ-BTC ngày 12/12/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính và Thông tư số 146/2011/TT-BTC ngày 26/10/2011 về việc sửa đổi, bổ sung chế độ kế toán, tài chính ngân sách xã;

– Chế độ kế toán Bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Thông tư số 178/2012/TT-BTC ngày 23/10/2012 của Bộ Tài chính;

– Chế độ kế toán dự trữ nhà nước ban hành kèm theo Thông tư số 213/2009/TT-BTC ngày 10/11/2009 của Bộ Tài chính;

– Các chế độ kế toán khác trong lĩnh vực kế toán Nhà nước.

17.1.1.2. Đặc điểm các chế độ kế toán trong lĩnh vực nhà nước

a. Kế toán nhà nước áp dụng cho TABMIS

– Mục đích: Theo dõi, phản ánh các thông tin về thu, chi NSNN; vay nợ của Nhà nước và các hoạt động nghiệp vụ KBNN.

– Đơn vị áp dụng: Các đơn vị trong hệ thống Kho bạc nhà nước, từ trung ương đến địa phương; các đơn vị, bộ phận thuộc cơ quan tài chính các cấp tham gia TABMIS; Các cơ quan tài chính ở các Bộ, ngành trong trường hợp tham gia trực tuyến trên TABMIS (áp dụng đối với quy trình phân bổ dự toán).

– Chế độ kế toán: Thông tư số 08/2009/TT-BTC ngày 10/01/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện KTNN áp dụng cho hệ thống thông tin quản lý Ngân sách và Kho bạc. KBNN hướng dẫn cụ thể về phương pháp hạch toán kế toán theo từng quy trình nghiệp vụ.

– Hệ thống thông tin: Cấu trúc của TABMIS được thiết lập bao gồm các phân hệ Sổ Cái, quản lý phân bổ ngân sách, quản lý thu, quản lý chi, cam kết chi, quản lý ngân quỹ. Ngoài ra đã thiết lập và vận hành các quy trình chuyển nguồn NSNN và khai thác báo cáo. Đây là hệ thống thông tin kế toán NSNN được thiết lập tập trung trên phạm vi toàn quốc, với hơn 14.000 người dùng, tại hơn 700 đơn vị hoạt động, trải khắp 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Hệ thống được triển khai từ năm 2009, theo hình thức cuốn chiếu, hoàn thành vào cuối năm 2012. Hiện nay đang được vận hành ổn định, có thể cung cấp báo cáo NSNN các cấp theo các kỳ ngày, tháng, năm hoặc vào các thời điểm đột xuất theo yêu cầu quản lý.

– Báo cáo đầu ra: Báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán NSNN quy định trong kế toán nhà nước áp dụng cho TABMIS là các thông tin được tổng hợp, phản ánh tình hình thu, chi, vay nợ của Ngân sách nhà nước, thuyết minh các chỉ tiêu kinh tế tài chính nhà nước và hoạt động nghiệp vụ Kho bạc nhà nước trong một kỳ kế toán hoặc một niên độ ngân sách. Báo cáo tài chính Ngân sách nhà nước và hoạt động nghiệp vụ Kho bạc nhà nước gồm báo cáo tài chính và báo cáo quản trị KBNN.

Báo cáo tài chính của kế toán nhà nước áp dụng cho TABMIS có nhiệm vụ cung cấp những chỉ tiêu kinh tế, tài chính nhà nước cần thiết cho các cơ quan chức năng và chính quyền nhà nước các cấp. Cung cấp những số liệu cần thiết, đáng tin cậy để kiểm tra tình hình thực hiện Ngân sách nhà nước, thực hiện chế độ kế toán, chấp hành các chế độ, chính sách của Nhà nước và các ngành kinh tế. Báo cáo tài chính còn cung cấp các số liệu chủ yếu làm cơ sở để phân tích, đánh giá tình hình và kết quả hoạt động của Ngân sách nhà nước các cấp, của từng đơn vị Kho bạc nhà nước và của toàn bộ hệ thống Ngân sách nhà nước và các đơn vị Kho bạc nhà nước giúp cho việc chỉ đạo, điều hành hoạt động Ngân sách nhà nước và hoạt động nghiệp vụ Kho bạc nhà nước có hiệu quả.

Báo cáo thu chi NSNN trên phạm vi toàn quốc, trên từng địa bàn, một số biểu mẫu được thiết kế chi tiết theo các yêu cầu quản lý. Cụ thể như sau: Báo cáo về tổng hợp dự toán; Báo cáo tổng hợp thu và vay của NSNN; Báo cáo tổng hợp chi ngân sách; Báo cáo chi chương trình mục tiêu quốc gia; Báo cáo sử dụng kinh phí; Báo cáo vay, trả nợ vay; Báo cáo ghi thu, ghi chi vốn ngoài nước; Báo cáo nhanh, báo cáo cân đối thu chi NSNN; Báo cáo quản trị nghiệp vụ KBNN.

b. Kế toán nghiệp vụ Thuế nội địa

– Mục đích: Theo dõi, phản ánh thông tin quản lý thu NSNN theo từng đối tượng có nghĩa vụ thuế, phí và lệ phí với NSNN.

– Đơn vị áp dụng: Các đơn vị thuộc Tổng cục Thuế để thực hiện kế toán nghiệp vụ thuế nội địa.

– Chế độ kế toán: Chế độ kế toán thuế nội địa ban hành theo Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

– Hệ thống thông tin: Hệ thống thông tin kế toán thuế nội địa theo mô hình tập trung do Tổng cục Thuế xây dựng, quản lý và vận hành.

– Báo cáo đầu ra: Báo cáo phản ánh số phải thu theo từng đối tượng, số đã thu vào NSNN và số còn phải thu theo từng đối tượng nộp thuế nội địa trên cơ sở dồn tích. Số liệu đã thu đảm bảo khớp đúng với số liệu thu NSNN được hạch toán trên TABMIS.

c. Kế toán nghiệp vụ Thuế xuất, nhập khẩu

– Mục đích: Theo dõi, phản ánh thông tin quản lý thu NSNN theo đối tượng có nghĩa vụ thuế xuất, nhập khẩu, phí và lệ phí với NSNN.

– Đơn vị áp dụng: Các đơn vị thuộc Tổng cục Hải quan để thực hiện kế toán nghiệp vụ thuế xuất, nhập khẩu.

– Chế độ kế toán: Áp dụng chế độ kế toán thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ban hành theo Thông tư số 32/2006/TT-BTC ngày 10/4/2006 về việc hướng dẫn kế toán nghiệp vụ thuế và thu khác đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, Thông tư số 121/2007 ngày 17/10/2006 về việc sửa đổi Thông tư số 32/2006/TT-BTC ngày 10/4/2006.

– Hệ thống thông tin: Tổ chức hệ thống thông tin kế toán nghiệp vụ thu thuế xuất, nhập khẩu tại từng đơn vị Hải quan, có giải pháp hỗ trợ để tổng hợp báo cáo chung trên phạm vi toàn quốc và từng địa bàn.

– Báo cáo đầu ra: Báo cáo phản ánh số phải thu, số đã thu vào NSNN và số còn phải thu theo từng đối tượng nộp thuế, phí, lệ phí xuất, nhập khẩu trên cơ sở dồn tích. Số liệu thuế đã thu đảm bảo khớp đúng với số liệu thu NSNN được hạch toán trên TABMIS.

d. Kế toán áp dụng cho các đơn vị chi tiêu NSNN

– Mục đích: Theo dõi, phản ánh tình hình tiếp nhận, quản lý và sử dụng kinh phí NSNN tại các đơn vị sử dụng NSNN.

– Đơn vị áp dụng: Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức có sử dụng kinh phí NSNN, kể cả các đơn vị an ninh, quốc phòng.

– Chế độ kế toán: Quyết định số 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/03/2006 về việc ban hành chế độ kế toán hành chính sự nghiệp của Bộ Tài chính và Thông tư số 185/2010/TT-BTC ngày 15/11/2010 hướng dẫn sửa đổi, bổ sung Chế độ kế toán hành chính sự nghiệp. Chế độ kế toán này được xây dựng trên cơ sở dồn tích có điều chỉnh, khá nhiều nội dung quy định trong chế độ này thực hiện tương đồng với chuẩn mực kế toán công quốc tế hiện nay.

– Hệ thống thông tin: Các đơn vị sử dụng ngân sách áp dụng các phần mềm kế toán khác nhau và tổ chức hệ thống thông tin độc lập, một số đơn vị thiết lập hệ thống thông tin kết nối trên phạm vi hẹp nội bộ đơn vị.

– Báo cáo đầu ra: Báo cáo về số liệu quyết toán NSNN và tình hình quản lý các nguồn kinh phí và sử dụng kinh phí, tình hình vốn, tài sản từ nguồn tự có của đơn vị.

đ. Kế toán áp dụng cho các đơn vị dự trữ nhà nước

– Mục đích: Theo dõi, phản ánh thông tin về tình hình cất trữ và sử dụng tài sản dự trữ nhà nước.

– Đơn vị áp dụng: Các đơn vị thuộc Tổng cục Dự trữ nhà nước.

– Chế độ kế toán: Thực hiện theo Thông tư số 213/2009/TT-BTC ngày 10/11/2009 về việc hướng dẫn chế độ kế toán áp dụng cho các đơn vị Dự trữ nhà nước.

– Hệ thống thông tin: Tổ chức hệ thống thông tin kế toán nghiệp vụ dự trữ tại từng đơn vị thuộc Tổng cục Dự trữ nhà nước, có giải pháp hỗ trợ để tổng hợp báo cáo chung trên phạm vi toàn quốc.

– Báo cáo đầu ra: Báo cáo phản ánh tình hình biến động và hiện có của tài sản dự trữ nhà nước do Tổng cục dự trữ Nhà nước quản lý.

e.  Kế toán tại các đơn vị Bảo hiểm xã hội

– Mục đích: Theo dõi, phản ánh thông tin về tình hình tăng, giảm quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.

– Đơn vị áp dụng: Các đơn vị Bảo hiểm xã hội.

– Chế độ kế toán: Thực hiện theo Thông tư số 178/2012/TT-BTC ngày 23/10/2012 về việc hướng dẫn chế độ kế toán áp dụng cho Bảo hiểm xã hội.

– Hệ thống thông tin: Tổ chức hệ thống thông tin kế toán nghiệp vụ cho từng đơn vị Bảo hiểm xã hội, có giải pháp hỗ trợ để tổng hợp báo cáo chung trên phạm vi toàn quốc.

– Báo cáo đầu ra: Báo cáo phản ánh tình hình trích lập, sử dụng và hiện có của Quỹ Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế do Bảo hiểm xã hội Việt Nam quản lý.

f.  Kế toán vốn nhà nước tại doanh nghiệp

– Mục đích: Theo dõi, phản ánh thông tin về tình hình huy động và sử dụng vốn tại các doanh nghiệp, trong đó có vốn thuộc sở hữu của Nhà nước.

– Đơn vị áp dụng: Các doanh nghiệp có vốn của Nhà nước.

– Chế độ kế toán: Thực hiện theo Thông tư số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 về việc ban hành chế độ kế toán doanh nghiệp.

– Hệ thống thông tin: Tổ chức hệ thống thông tin kế toán tại từng doanh nghiệp, thực hiện hợp nhất báo cáo tài chính đối với mô hình tập đoàn kinh tế và tổng hợp báo cáo đối với các tổng công ty.

– Báo cáo đầu ra: Báo cáo phản ánh tình hình tài sản, nguồn vốn; tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tổng công ty hoặc tập đoàn.

Qua các đặc điểm nêu trên, có thể thấy hiện nay, tất cả các đơn vị kế toán nhà nước đều đã được tổ chức công tác kế toán, được quy định các chế độ kế toán tương ứng để áp dụng, phản ánh đầy đủ các đối tượng của kế toán nhà nước. Tuy nhiên, do mục tiêu chỉ hướng đến là thông tin quyết toán NSNN nên các đơn vị này không được yêu cầu lập thông tin tài chính. Cụ thể, các đơn vị (trừ các doanh nghiệp) không phải lập bảng tổng kết tài sản hoặc các báo cáo tài chính khác. Vì vậy, để có thông tin lập báo cáo tài chính của Chính phủ (hoặc từng địa phương) các đơn vị này cần thực hiện báo cáo bổ sung thêm các thông tin về tài chính nhà nước.

17.1.1.3. Thực trạng về tổ chức bộ máy kế toán

Bộ máy kế toán trong lĩnh vực kế toán nhà nước bao gồm bộ máy kế toán tại các đơn vị KBNN và tại các đơn vị kế toán nhà nước khác.

a. Tại các đơn vị KBNN

Tại các đơn vị KBNN, bộ máy kế toán nghiệp vụ hiện nay đang thực hiện kế toán theo Thông tư số 08/2013/TT-BTC ngày 10/01/2013 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn chế độ kế toán nhà nước áp dụng cho TABMIS. Một số đặc điểm cơ bản của bộ máy kế toán nghiệp vụ tại KBNN cụ thể như sau:

– Các bộ phận kế toán được đặt tại các đơn vị KBNN từ quận, huyện, thị xã; tỉnh, thành phố và trung ương theo nguyên tắc quản lý theo chiều dọc. Trong đó, Vụ KTNN thuộc KBNN chịu trách nhiệm tham mưu cho lãnh đạo trong việc nghiên cứu cơ chế, chính sách, tổ chức chỉ đạo, điều hành công tác kế toán trong toàn hệ thống KBNN. Ngoài ra còn có trách nhiệm tổng hợp thông tin báo cáo về quyết toán NSNN trên phạm vi toàn quốc. Các đơn vị kế toán thuộc KBNN tỉnh, huyện có nhiệm vụ hạch toán kế toán và tổng hợp thông tin báo cáo cho các cấp có thẩm quyền trên địa bàn.

Theo thống kê của KBNN tính đến cuối năm 2013, tổng số công chức, cán bộ làm kế toán là hơn 5.000 người, chiếm gần 40% tổng số cán, bộ công chức của hệ thống KBNN, trong đó tại các văn phòng KBNN tỉnh, thành phố là gần 1.000 người và các KBNN quận, huyện là hơn 4.000 người. Đội ngũ cán bộ kế toán nghiệp vụ nêu trên đang thực hiện nhiệm vụ được giao trong lĩnh vực KTNN áp dụng cho TABMIS (trên TABMIS). Như vậy, cho đến thời điểm hiện nay, trong hệ thống KBNN, chưa bố trí cán bộ kế toán chuyên trách tổng hợp báo cáo tài chính nhà nước để thực hiện chức năng Tổng kế toán đặt tại KBNN.

Về cơ cấu, số lượng cán bộ là nữ chiếm tỷ lệ khá cao với 72,2% trong toàn hệ thống, đặc biệt là khối văn phòng KBNN tỉnh tỷ lệ này lên tới 81,6%. Tỷ lệ cán bộ dưới 50 tuổi là 81,6%, tỷ lệ cán bộ trên 50 tuổi còn ít thời gian công tác là 18,4% trên tổng số cán bộ kế toán nghiệp vụ. Về trình độ đào tạo, hầu hết đội ngũ cán bộ kế toán nghiệp vụ được đào tạo cơ bản; hơn 3500 người trong số hơn 5000 cán bộ kế toán nghiệp vụ trong toàn hệ thống có trình độ đào tạo đại học và trên đại học, chiếm 71,7% tổng số cán bộ kế toán. Đặc biệt, hầu hết cán bộ kế toán có chứng chỉ tin học trở lên, chiếm 93%, trong đó có đến 15% cán bộ có trình độ đại học chuyên ngành tin học.

b. Tại các đơn vị kế toán nhà nước khác

Tại các đơn vị kế toán khác như đơn vị dự toán và đơn vị sử dụng ngân sách (đơn vị hành chính, sự nghiệp); Thuế, Hải quan; các quỹ tài chính (Bảo hiểm xã hội) và các cơ quan, đơn vị khác thuộc lĩnh vực nhà nước đều có tổ chức bộ máy kế toán nghiệp vụ, kế toán chi tiêu nội bộ theo quy định của Luật Kế toán và các văn bản hướng dẫn.

Kế toán tại các đơn vị này có nhiệm vụ thực hiện quy định của các chế độ kế toán áp dụng cho đơn vị, có trách nhiệm lập và báo cáo thông tin về hoạt động tiếp nhận và sử dụng kinh phí NSNN cấp, tình hình tài sản hiện có và các nguồn lực khác của đơn vị. Cho đến nay chưa có báo cáo về số lượng cán bộ kế toán trong các đơn vị kế toán nhà nước khác. Có thể đánh giá trình độ cán bộ kế toán tại các đơn vị này không đồng đều, khá đa dạng, được tổ chức theo đặc điểm của từng đơn vị theo quy định của Luật kế toán.

17.1.1.4. Thực trạng về hệ thống thông tin

Các hệ thống thông tin đang được áp dụng tại các đơn vị trong lĩnh vực kế toán nhà nước bao gồm:

a. Hệ thống thông tin KTNN áp dụng cho TABMIS

Đây là hệ thống thông tin quản lý ngân sách và Kho bạc phản ánh và lưu giữ toàn bộ các thông tin về NSNN, vay nợ của Nhà nước và các thông tin có tính quản trị về nghiệp vụ KBNN. Hệ thống thông tin KTNN áp dụng cho TABMIS là hệ thống tập trung, được vận hành tại các điểm theo địa bàn từ trung ương, tỉnh (thành phố) đến huyện (quận). Quá trình tổng hợp báo cáo chung toàn quốc được thực hiện trực tiếp tại KBNN. Hàng ngày các bộ phận nghiệp vụ trực tiếp tác nghiệp có thể chiết xuất các thông tin báo cáo NSNN trên phạm vi toàn quốc hoặc từng địa phương.

b. Hệ thống thông tin kế toán thuế nội địa

Đây là hệ thống thông tin quản lý thuế nội địa đang được phát triển để theo dõi số phải thu, đã thu và còn phải thu về thuế nội địa theo từng đối tượng nộp thuế. Căn cứ để xây dựng quy trình và thiết lập hệ thống này là chế độ kế toán thuế nội địa đang được Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế) nghiên cứu xây dựng. Theo dự kiến, đây cũng là hệ thống tập trung, được triển khai đến các đơn vị của Tổng cục Thuế từ trung ương đến địa phương, từ đó có thể cung cấp các báo cáo theo yêu cầu quản lý thuế trên phạm vi toàn quốc và từng địa bàn.

c. Hệ thống thông tin kế toán thuế xuất, nhập khẩu

Hệ thống thông tin kế toán thuế xuất, nhập khẩu đã được xây dựng và vận hành để phản ánh và theo dõi số phải thu, đã thu và còn phải thu về thuế xuất, nhập khẩu theo từng đối tượng nộp thuế. Căn cứ để xây dựng quy trình của hệ thống là chế độ kế toán thuế xuất nhập khẩu. Đặc điểm lưu ý là hệ thống này chưa được thiết kế theo mô hình tập trung, vì vậy, việc tổng hợp báo cáo tổng hợp toàn quốc còn phải thực hiện thủ công theo phương án tổng hợp thông tin báo cáo của các đơn vị cấp dưới.

d. Hệ thống thông tin kế toán tại các đơn vị hành chính, sự nghiệp

(1) Tại các đơn vị dự toán trực tiếp chi tiêu: Các đơn vị đang sử dụng các phần mềm kế toán khác nhau: IMAS, MISA, MIMOSA.Net, DAS, … với các tính năng ứng dụng khác nhau. Hệ thống thông tin kế toán được xây dựng trên cơ sở chế độ kế toán hành chính sự nghiệp với cơ sở kế toán dồn tích khá đầy đủ, trừ một số nghiệp vụ như hạch toán ghi nhận tài sản cố định, nguồn kinh phí. Ngoài ra, một số ít đơn vị khác (có quy mô nhỏ, hoặc rất nhỏ) đang hạch toán thủ công, chưa áp dụng phần mềm kế toán.

(2) Tại các đơn vị dự toán cấp trên: Một số đơn vị đang sử dụng các phần mềm tổng hợp báo cáo tài chính, quyết toán với công cụ ứng dụng khác nhau: THQT (cho phép nhận dữ liệu từ IMAS), MISA, MIMOSA X1 (cho phép nhận dữ liệu từ MISA.NET). Ngoài ra, vẫn còn một số đơn vị đang tổng hợp thủ công, chưa áp dụng công nghệ thông tin trong việc tổng hợp báo cáo quyết toán.

đ. Hệ thống thông tin kế toán ngân sách tại các xã, phường

Qua khảo sát, cho đến nay, khoảng 50% các đơn vị xã, phường đã sử dụng phần mềm kế toán ngân sách và nghiệp vụ tài chính xã, phường (KTXA) do Bộ Tài chính cung cấp. Một số xã phường sử dụng các phần mềm khác như: MISA BAMBOO, …; ngoài ra vẫn còn một số xã, phường đang thực hiện hạch toán thủ công.

e. Hệ thống thông tin kế toán tại các doanh nghiệp có vốn nhà nước:

Phần lớn các doanh nghiệp đã sử dụng phần mềm để phục vụ công tác kế toán như phần mềm MIMA SME, 1C, FAST Accounting, SIS, … Hệ thống được xây dựng trên cơ sở chế độ kế toán doanh nghiệp và các chuẩn mực kế toán doanh nghiệp của Việt Nam được xây dựng trên cơ sở chuẩn mực kế toán quốc tế. Một số đơn vị triển khai hệ thống thông tin kế toán theo mô hình tập trung áp dụng cho toàn bộ các công ty con, các chi nhánh hoặc sử dụng các phần mềm tổng hợp báo cáo tài chính để tổng hợp báo cáo từ các đơn vị cấp dưới (Các công ty thành viên, công ty con).

f. Hệ thống đăng ký và quản lý tài sản nhà nước

Đây là hệ thống thông tin thống kê quản lý chi tiết về tài sản nhà nước có giá trị lớn hơn 500.000.000 đồng. Hệ thống tiếp nhận các thông tin về mua sắm, sử dụng và thanh lý tài sản do các đơn vị sử dụng NSNN và các doanh nghiệp Nhà nước đăng ký trực tiếp qua mạng hoặc qua các báo cáo trên giấy. Mặc dù quản lý theo các tiêu chí khá chi tiết thông tin về các tài sản có giá trị lớn, tuy nhiên, do một số đơn vị, doanh nghiệp chưa cung cấp thông tin báo đầy đủ theo quy định, dẫn đến việc chưa quản lý, theo dõi được đầy đủ toàn bộ tài sản theo yêu cầu.

17.1.2. Đánh giá về thực trạng kế toán nhà nước

17.1.2.1. Khuôn khổ pháp lý

Đánh giá về khuôn khổ pháp lý của KTNN hiện nay, thể hiện qua các nội dung sau:

a. Các điểm tích cực

Một là, về cơ bản Việt Nam đã có hệ thống khung pháp lý về kế toán khá đầy đủ, bao gồm các văn bản khác nhau do các cơ quan có thẩm quyền ban hành theo các cấp độ khác nhau. Sự ra đời của Luật Kế toán thay thế Pháp lệnh kế toán và Thống kê đánh dấu 1 bước tiến quan trọng sự phát triển của kế toán Việt Nam. Cùng với các văn bản hướng dẫn dưới Luật, như Nghị định, Thông tư, chúng ta đã xây dựng và tổ chức thực hiện một khung pháp lý khá đồng bộ và đầy đủ, quy định theo hình thức nguyên tắc chung hoặc hướng dẫn chi tiết, áp dụng cho toàn bộ các đối tượng kế toán nói chung và đối tượng thuộc lĩnh vực nhà nước nói riêng.

Hai là, về cơ sở kế toán áp dụng cho các đơn vị, đã tiếp cận với các thông lệ chung trên thế giới và khu vực:

Đối với các đơn vị KBNN, kế toán NSNN hiện nay đang thực hiện ghi chép theo mô hình kế toán tiền mặt điều chỉnh, trong đó, đan xen một số nghiệp vụ được ghi chép trên cơ sở dồn tích. Các báo cáo thu, chi NSNN được lập trên cơ sở tiền mặt, theo số tiền thực thu vào hoặc chi ra từ quỹ NSNN.

– Đối với các đơn vị HCSN, các quỹ tài chính, đã được phản ánh trên cơ sở dồn tích, thông qua các tài khoản phải thu, phải trả. Theo đó về cơ bản các báo cáo của các đơn vị này đã được lập và trình bày trên cơ sở dồn tích có điều chỉnh. Do yêu cầu về mục đích cung cấp thông tin, các báo cáo này được ràng buộc theo quy định về điều hành NSNN, hướng đến mục tiêu quyết toán NSNN và phản ánh tình hình tài sản của các đơn vị.

– Đối với các cơ quan quản lý thu NSNN, hiện nay đã xây dựng hướng đến kế toán dồn tích. Theo đó, có các thông tin về phải thu, số đã thu và số còn phải thu NSNN đã được theo dõi theo từng đối đối tượng nộp thuế.

Ba là, về chất lượng của thông tin báo cáo, các báo cáo tài chính luôn được lập theo đúng mẫu biểu quy định phục vụ yêu cầu quản lý, điều hành, phản ánh đầy đủ các chỉ tiêu đã được quy định đối với từng loại báo cáo; phương pháp tổng hợp số liệu và lập các chỉ tiêu được thực hiện thống nhất ở các đơn vị; các chỉ tiêu trong báo cáo phải đảm bảo tính đồng nhất, liên hệ logic với nhau một cách có hệ thống, phục vụ cho việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực hiện Ngân sách nhà nước và hoạt động nghiệp vụ của hệ thống Kho bạc nhà nước. Đối với hệ thống báo cáo của kế toán nhà nước áp dụng cho TABMIS đã phản ánh đầy đủ thông tin về NSNN và ngân sách các cấp. Một số biểu mẫu được quy định lập khá chi tiết, có thể truy vấn các thông tin khá cụ thể theo từng đối tượng sử dụng ngân sách hoặc theo Mục lục NSNN.

Bốn là, về các thông tin tài chính nhà nước, mặc dù chưa có hệ thống báo cáo chung của Chính phủ, các Chính quyền địa phương, nhưng tại từng đơn vị cũng đã tổ chức thực hiện thông tin báo cáo tài chính, phù hợp với yêu cầu của từng đơn vị. Để các thông tin này được tổng hợp chung trong báo cáo toàn quốc, của từng địa phương cần phải thực hiện theo quy định của pháp luật với sự hỗ trợ của hệ thống thông tin.

b. Một số tồn tại

Một là, về mục tiêu, nội dung của các cơ chế chính sách, có thể thấy, điểm khác biệt của Việt Nam so với một số nước là chưa ban hành Luật Tài chính công, chính vì vậy chưa có một văn bản nào đặt ra yêu cầu cụ thể phải lập báo cáo tài chính nhà nước ở cấp Chính phủ hoặc chính quyền địa phương. Các quy định, chế độ hiện nay được tập trung vào mục đích cung cấp các thông tin về quyết toán NSNN. Các thông tin này được lập cho từng năm, số liệu quyết toán ngân sách được cấp có thẩm quyền phê duyệt với thời hạn khác nhau, trong đó NSNN được Quốc hội phê duyệt vào thời điểm 18 tháng sau khi kết thúc năm ngân sách. Vì vậy, nó chỉ có ý nghĩa trong việc giám sát thu, chi NSNN, từ khâu lập dự toán, chấp hành và quyết toán NSNN.

Hai là, các thông tin quyết toán NSNN chưa cung cấp tình hình tài sản của Nhà nước, nguồn lực và các nghĩa vụ phải trả hiện tại và tiềm năng của Nhà nước, vì vậy thiếu các thông tin để đánh giá hiệu quả chi NSNN, đầu tư công, … Chính vì thiếu các thông tin có tính liên tục giữa các năm như trên nên các quyết sách của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa thật sự hiệu quả, do chưa được dựa trên các thông tin đa chiều do kế toán tài chính nhà nước mang lại.

Với việc triển khai Dự án cải cách quản lý tài chính công, có thể nói việc thực hiện kế toán trên hệ thống thông tin quản lý Ngân sách và KBNN (TABMIS) đã cơ bản đáp ứng được các yêu cầu của Luật ngân sách và Luật Kế toán hiện hành. Trong đó, KBNN có trách nhiệm hạch toán kế toán NSNN, báo cáo tình hình thực hiện dự toán, thu, chi ngân sách cho các đơn vị quản lý tài chính cùng cấp và các đơn vị liên quan. Tuy nhiên, trên góc độ tổng hợp thông tin tài chính nhà nước vẫn chưa phản ánh được đầy đủ các đối tượng kế toán và chưa thiết lập được bảng cân đối kế toán toàn quốc.

Chính vì vậy, để khắc phục nhược điểm này, cần phải có quy định ở mức văn bản cao nhất (Luật) với mục tiêu tổ chức hệ thống thông tin tài chính nhà nước, để phục vụ các nhu cầu cấp thiết, trong đó, có việc đánh giá, phân tích và đưa ra các quyết định điều hành nền tài chính và ngân sách nhà nước. Từ đó, các đơn vị có trách nhiệm lập thêm báo cáo tài chính. Các báo cáo tài chính này được tổng hợp theo từng cấp đơn vị dự toán, đảm bảo yêu cầu là từng đơn vị dự toán cấp I theo từng cấp ngân sách phải lập báo cáo tài chính theo mẫu biểu quy định. Các báo cáo tài chính của các đơn vị này sẽ là nguồn thông tin đầu vào để cung cấp cho Tổng KTNN, từ đó tổng hợp nên báo chung cho Chính phủ (hoặc chính quyền địa phương).

Ba là, hiện nay, Việt Nam đã ban hành hệ thống chuẩn mực kế toán doanh nghiệp, tuy nhiên chưa có hệ thống chuẩn mực kế toán công. Trong các quan hệ kinh tế quốc tế hiện nay, các thông tin kế toán được phản ánh theo các thông lệ, ngôn ngữ chung là xu thế khách quan. Đối với hệ thống chuẩn mực kế toán công, Bộ Tài chính (Vụ Chế độ Kế toán và Kiểm toán) đang tiến hành nghiên cứu, xây dựng. Việc ban hành các chuẩn mực kế toán công là rất cần thiết, sẽ giúp cho các thông tin kế toán được minh bạch, phù hợp và điều quan trọng là được thừa nhận trong khu vực và thế giới. Điều này rất quan trọng không chỉ giúp nâng cao vị thế về kế toán của Việt Nam mà còn nâng cao hệ số tín nhiệm quốc gia, giúp cho việc đàm phán, hợp đồng kinh tế quốc tế được thừa nhận ở mức cao hơn.

Bốn là, về công tác tổ chức thực hiện các văn bản pháp lý, hiện nay, các đơn vị KTNN đang thực hiện trên cơ sở các văn bản hướng dẫn trong lĩnh vực KTNN, được xây dựng căn cứ trên Luật Kế toán và Luật NSNN. Các văn bản quy định và hướng dẫn Luật Kế toán và Luật NSNN do các cơ quan quản lý Nhà nước ban hành, mà vai trò chính là của Bộ Tài chính. Trên thực tế vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc nhất định trong tổ chức thực hiện cần phải được hoàn thiện hơn nữa đối với hệ thống KTNN. Mỗi đơn vị kế toán có mục đích kế toán, phương pháp, đối tượng, nội dung và các chỉ tiêu báo cáo khác nhau, tuân thủ theo chế độ kế toán áp dụng cho đơn vị mình dẫn đến những khác biệt trong quá trình tổ chức thực hiện công tác kế toán của mỗi đơn vị dẫn đến số liệu không được thống nhất giữa các đơn vị báo cáo. Nguyên nhân của thực trạng này là do chưa có một quy định về việc tổng hợp thông tin theo mô hình KTNN thống nhất, trong khâu tổ chức thực hiện còn có sự thiếu nhất quán, chưa đồng bộ. Điều này dẫn tới một số khác biệt nhất định giữa số liệu kế toán được tổng hợp theo số liệu của các đơn vị sử dụng ngân sách và số liệu thu, chi ngân sách của KBNN.

17.1.2.2. Đánh giá đội ngũ cán bộ kế toán

a. Các điểm tích cực

Một là, đội ngũ cán bộ kế toán thuộc lĩnh vực KTNN bao gồm các đơn vị thuộc hệ thống KBNN và các đơn vị KTNN khác, qua phân tích thực trạng cho thấy, cán bộ kế toán nghiệp vụ thuộc các đơn vị này được đánh giá về cơ bản có trình độ chuyên môn tốt, có ý thức trách nhiệm cao. Trong thời gian qua, với nhiệm vụ đổi mới cơ chế, chính sách, cùng với việc triển khai các hệ thống thông tin,… luôn thể hiện sự cố gắng, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Hai là, đối với cán bộ kế toán thuộc hệ thống KBNN, trong thời gian qua với việc triển khai TABMIS thực hiện chuyển đổi từ chế độ kế toán NSNN và hoạt động nghiệp vụ KBNN sang áp dụng Chế độ KTNN áp dụng cho TABMIS đã thể hiện sự tiếp cận, thích ứng nhanh chóng khi chế độ kế toán có những thay đổi lớn từ việc bố trí sắp xếp hệ thống tài khoản, kết cấu tài khoản và phương pháp hạch toán, cùng với việc sử dụng hệ thống thông tin tập trung với những quy trình nghiệp vụ chặt chẽ, phức tạp hơn… Bên cạnh đó, đã chứng tỏ khả năng làm chủ về nghiệp vụ, kỹ thuật khi triển khai các hệ thống thông tin khác như TCS tập trung, các chương trình giao diện, hệ thống thanh toán,… Điều này chứng tỏ đội ngũ cán bộ kế toán luôn yêu nghề, vượt khó sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ được giao.

b. Một số tồn tại

Một là, một số cán bộ có tuổi đời cao, chưa được đào tạo cơ bản cả về nghiệp vụ và công nghệ thông tin, nên ngại tiếp thu các vấn đề mới, đặc biệt là về công nghệ thông tin. Đối với cán bộ trẻ, do chương trình và điều kiện của các trường, các cơ sở đào tạo về các chuyên ngành liên quan đến kế toán chưa theo kịp với yêu cầu của nền kinh tế – xã hội nên ảnh hưởng đáng kể đế chất lượng đầu vào của đội ngũ cán bộ kế toán, từ đó luôn đặt ra yêu cầu phải đào tạo lại và cập nhật kiến thức thường xuyên cho đội ngũ cán bộ làm công tác kế toán.

Khả năng làm việc độc lập, kỹ năng phối hợp nhóm chưa được chú trọng, một số cán bộ kế toán không thể hiện rõ ý thức cố gắng phấn đấu nâng cao trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ, phương pháp làm việc, dẫn đến hiệu quả công việc chưa cao. Việc phân bổ số lượng cán bộ chưa thực sự phù hợp với yêu cầu công việc của từng đơn vị, dẫn đến có lúc, có nơi thiếu cán bộ cả về số lượng và chất lượng. Việc xử lý để khắc phục vướng mắc được thực hiện bằng các giải pháp tình thế, chưa có tính dài hạn, dẫn đến chất lượng cán bộ không được thường xuyên nâng cao, do chỉ tập trung vào một khâu công việc, thiếu tính tổng hợp, bao quát.

Hai là, khả năng học tập để nâng cao kiến thức chuyên môn và tiếp cận công nghệ thông tin còn hạn chế. Áp lực do khối lượng công việc lớn dẫn đến rất khó bố trí thời gian dành cho tập huấn, triển khai chế độ chính sách mới ngay tại đơn vị và đào tạo tập trung cho cán bộ kế toán trong khi nghiệp vụ chuyên môn kế toán đòi hỏi phải thường xuyên được cập nhật, đào tạo. Một số trường hợp do tính chất công việc đã thiếu động lực trong việc học hỏi, nghiên cứu để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.

Ba là, đội ngũ cán bộ nghiệp vụ về kế toán thuộc KBNN chưa quen với việc tổng hợp, phân tích các thông tin tài chính, do chức năng nhiệm vụ hiện nay là kế toán NSNN. Vì vậy, trong điều kiện hệ thống KBNN đang xây dựng mô hình và tổ chức thực hiện nhiệm vụ Tổng KTNN cần có những phân tích một cách khách quan để lựa chọn mô hình phù hợp, đảm bảo tính khả thi khi triển khai mô hình Tổng KTNN. Vì vậy, trước yêu cầu của nhiệm vụ mới, để hoàn thành nhiệm vụ của hệ thống KBNN, trong thời gian tới đội ngũ kế toán của hệ thống KBNN phải nắm vững yêu cầu nghiệp vụ hiện nay để vận hành thông suốt hệ thống thông tin quản lý Ngân sách và Kho bạc (TABMIS); nắm thêm kế toán về tài chính nhà nước, chuẩn mực kế toán công quốc tế; quy trình tổng hợp thông tin, phân tích được số liệu báo cáo tài chính.

17.1.2.3. Đánh giá thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực KTNN

a. Các điểm tích cực

Một là, hệ thống thông tin kế toán trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin được triển khai rộng khắp tại các đơn vị kế toán nhà nước. Một số đơn vị đã triển khai hệ thống thông tin tập trung trên diện rộng, phục vụ công tác kiểm soát, thực hiện nhiệm vụ thường xuyên và tổng hợp thông tin báo cáo. Các hệ thống thông tin đã hỗ trợ rất hiệu quả cho các đơn vị, việc áp dụng công nghệ thông tin đã góp phần nâng cao chất lượng công tác kế toán, hỗ trợ cho việc cải cách thủ tục hành chính và cơ chế chính sách.

Hai là, thị trường dịch vụ về công nghệ thông tin phát triển như vũ bão, tạo điều kiện giúp cho các đơn vị có thể lựa chọn các sản phẩm phù hợp với đặc điểm của mình, với hiệu quả cao nhất.

Ba là, đối với KBNN, hệ thống TABMIS đã hoàn thành triển khai diện rộng trên phạm vi toàn quốc từ tháng 10/2012 và đến tháng 10/2013 đã kết thúc hợp đồng với nhà thầu IBM. Với kết quả đó, trong năm 2013, tất cả các đơn vị KBNN và cơ quan Tài chính đã vận hành và khai thác báo cáo trên TABMIS. Việc hoàn thành triển khai TABMIS tiếp tục thể hiện hiệu quả rõ rệt trong việc cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin báo cáo về tình hình phân bổ dự toán kinh phí NSNN; tình hình thu, chi NSNN các cấp; tình hình vay và trả nợ vay của NSNN và các hoạt động nghiệp vụ KBNN. Các thông tin báo cáo do TABMIS cung cấp, ngoài việc được thực hiện định kỳ, còn được cung cấp nhanh chóng khi có yêu cầu đột xuất, bên cạnh việc thể hiện dưới dạng các mẫu biểu chung theo quy định còn được truy vấn và trình bày linh hoạt theo yêu cầu cụ thể, phục vụ thiết thực công tác điều hành NSNN của Lãnh đạo các cấp. Các số liệu về thu NSNN do TABMIS cung cấp luôn được đối chiếu, khớp đúng với số liệu của các cơ quan Thuế và Hải quan.

b. Khó khăn

Một là, đặc điểm rõ nét hiện nay là các hệ thống thông tin kế toán của các đơn vị kế toán nhà nước đang được tổ chức phân tán, chưa có sự kết nối, tích hợp. Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc là hệ thống tập trung nhưng mới chỉ cung cấp thông tin về NSNN, chưa có thông tin tài chính. Như vậy, ở Việt Nam chưa triển khai được hệ thống thông tin tài chính Chính phủ theo mô hình tập trung (GFMIS), xử lý một cách tổng thể các thông tin tài chính nhà nước.

Hai là, chưa xây dựng và vận hành các cơ sở dữ liệu tổng hợp, đầy đủ của KTNN, chưa khai thác một cách hiệu quả các hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu hiện có, đang được tổ chức phân tán, phục vụ việc cung cấp thông tin tài chính nhà nước. Như vậy, cần phải xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin tài chính nhà nước tập trung với giải pháp công nghệ phần mềm tiên tiến, hiện đại.

Ba là, đối với hệ thống KBNN, một mặt, cần phải phát triển Hệ thống thông tin quản lý Ngân sách và Kho bạc, mặt khác, phát triển một cách hợp lý hệ thống thông tin để tổng hợp một cách đầy đủ, kịp thời, chính xác thông tin KTNN trên phạm vi toàn quốc. Hệ thống thông tin KTNN phải được thiết kế phù hợp với phương án tổng hợp thông tin, có khả năng nhận thông tin từ các giao diện, đảm bảo kết quả tổng hợp thông tin phù hợp với yêu cầu quản lý của các cấp ngân sách.

17.2. Giải pháp thực hiện tổ chức báo cáo tài chính nhà nước

17.2.1. Sự cần thiết tổ chức thông tin báo cáo tài chính nhà nước

17.2.1.1. Yêu cầu cung cấp thông tin tài chính nhà nước

(1) Tùy theo chức năng, nhiệm vụ cụ thể, các cơ quan, đơn vị có nhu cầu thông tin báo cáo khác nhau từ nguồn thông tin tài chính nhà nước. Các đơn vị sử dụng thông tin tài chính nhà nước bao gồm:

– Nhóm cơ quan quyền lực: Quốc hội; Hội đồng nhân dân tỉnh, huyện, xã;

– Nhóm cơ quan chấp hành: Chính phủ; Ủy ban nhân dân các cấp tỉnh, huyện;

– Nhóm cơ quan quản lý tổng hợp: Các Bộ, ngành quản lý; Các đơn vị khác;

– Nhóm đơn vị dự toán NSNN và các quỹ tài chính của Nhà nước: Các Bộ ngành; Các quỹ tài chính;

– Các đơn vị, tổ chức khác: Công chúng, tổ chức quốc tế (các thông tin được phép công khai theo quy định của pháp luật).

(2) Các cơ quan quản lý, các cấp có thẩm quyền hiện nay đang được cung cấp các thông tin về tình hình lập, phân bổ dự toán; chấp hành ngân sách và quyết toán ngân sách hàng năm trên phạm vi toàn quốc hoặc trên từng địa bàn. Các thông tin này phản ánh và đánh giá tình hình thực hiện NSNN theo từng năm ngân sách. Ngoài các thông tin báo cáo về NSNN nêu trên, để có thể đưa ra các quyết định phù hợp và hiệu quả, các cơ quan, đơn vị cần có thêm thông tin tài chính nhà nước (về tài sản nhà nước, nguồn lực và nghĩa vụ của nhà nước, kết quả hoạt động, …). Từ đó, đánh giá hiệu quả chi tiêu công, phân tích khả năng tài chính của đất nước, của từng địa phương, đánh giá hiệu quả của các cơ chế, chính sách, chủ trương, đường lối.

Nội dung thông tin về tài chính nhà nước cần được cung cấp cho các cơ quan, đơn vị, bao gồm:

– Tình hình tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước được quản lý tại các đơn vị.

– Kết quả hoạt động (thường xuyên, đầu tư, tài chính) của Chính phủ, của cơ quan đơn vị của Nhà nước từ trung ương đến địa phương.

– Nguồn lực tài chính và nghĩa vụ hiện hữu và tiềm năng của Nhà nước.

– Các thông tin thuyết minh và tình hình chi tiêu NSNN của Chính phủ, các cấp chính quyền địa phương, hiệu quả sử dụng tài sản thuộc sở hữu nhà nước.

17.2.1.2. Sự cần thiết tổ chức hệ thống thông tin báo cáo tài chính nhà nước

Để thực hiện yêu cầu cung cấp đầy đủ thông tin tài chính nhà nước, công tác kế toán tại KBNN và các đơn vị kế toán khác có một số đặc điểm sau đây:

(1) Chưa tổ chức thực hiện lập và trình bày báo cáo tài chính nhà nước của Chính phủ trên phạm vi toàn quốc, báo cáo của chính quyền địa phương trên từng địa bàn. Cụ thể:

+ Các thông tin về kế toán NSNN, nợ của nhà nước, thuế xuất nhập khẩu, thuế nội địa, tình hình quản lý và sử dụng tài sản nhà nước, tình hình tiếp nhận và sử dụng kinh phí NSNN của các đơn vị; tình hình hình thành và sử dụng các quỹ tài chính… đã được phản ánh ở các đơn vị. Tuy nhiên các thông tin này chưa được tổng hợp chung thành báo cáo tài chính nhà nước của Chính phủ hoặc của chính quyền địa phương. Vì vậy, việc tổ chức tổng hợp thông tin tài chính nhà nước chưa được thực hiện đồng bộ, nhất quán về phạm vi, nội dung và phương pháp, chưa mang lại hiệu quả cao nhất cho việc sử dụng và phân tích số liệu phục vụ công tác quản lý vĩ mô.

+ Chưa hình thành hệ thống cơ chế, chế độ về KTNN thống nhất; phạm vi, đối tượng kế toán trong KTNN chưa đầy đủ; các phương pháp và nguyên tắc kế toán chưa tuân thủ theo thông lệ quốc tế, vì vậy, luôn có sự thay đổi, không ổn định giữa các thời kỳ.

(2) Chưa tổ chức một bộ máy kế toán nhà nước chuyên trách ở cấp Chính phủ, từng cấp chính quyền địa phương để tiếp nhận, phân loại và tổng hợp các thông tin tài chính nhà nước, cung cấp cho các cơ quan, đơn vị có liên quan để phân tích và sử dụng trong quản lý điều hành và tổ chức hoạt động kinh tế.

(3) Mặc dù đã triển khai thành công hệ thống thông tin quản lý Ngân sách và Kho bạc, tuy nhiên về góc độ tài chính nhà nước, chưa triển khai và vận hành hệ thống thông tin tài chính Chính phủ tập trung để tổng hợp, cung cấp và phân tích thông tin kế toán tài chính một cách đầy đủ, phù hợp và có hiệu quả về tổng tài sản và nguồn lực nhà nước, tình hình hoạt động tài chính của Chính phủ và các chính quyền địa phương.

Từ thực tế nêu trên, Quyết định số 108/2009/QĐ-TTg ngày 26/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ đã quy định nhiệm vụ của Kho bạc Nhà nước là thực hiện chức năng Tổng KTNN, nhằm xây dựng và vận hành hệ thống thông tin kế toán tài chính trong lĩnh vực KTNN, lập báo cáo tài chính của Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương.

17.2.2. Mô hình Tổng kế toán nhà nước

17.2.2.1. Khái niệm

Tổng KTNN là mô hình tổ chức, vận hành các yếu tố cấu thành nên KTNN, nhằm đạt mục tiêu tổ chức công tác hạch toán kế toán, tổng hợp và trình bày thông tin báo cáo tài chính nhà nước của Chính phủ trên phạm vi toàn quốc và báo cáo của chính quyền địa phương trên từng địa bàn. Các nguyên tắc ghi chép và tổng hợp thông tin báo cáo tài chính của Tổng KTNN, một mặt cần đảm bảo phù hợp với chuẩn mực, thông lệ quốc tế về kế toán công, mặt khác cần phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.

Phạm vi của báo cáo Tổng KTNN bao gồm toàn bộ thông tin về tài chính nhà nước, bao gồm: tài sản của Nhà nước, nguồn lực thuộc sở hữu nhà nước, các thông tin về NSNN, các quỹ ngoài ngân sách, vốn nhà nước tại các doanh nghiệp,…

17.2.2.2. Mục tiêu

a. Mục tiêu tổng quát

Xây dựng hệ thống KTNN thống nhất, trên cơ sở áp dụng công nghệ thông tin hiện đại, đảm bảo yêu cầu quản lý ngân sách và tài chính công nhằm ghi nhận, tổng hợp và trình bày hệ thống thông tin tài chính nhà nước dưới hình thức báo cáo tài chính của Chính phủ (chính quyền địa phương), bao gồm đầy đủ các đối tượng KTNN;… đảm bảo tính kịp thời, đầy đủ, công khai, minh bạch, phù hợp thông lệ quốc tế.

b. Mục tiêu cụ thể

Hoàn thành thực hiện các nội dung cụ thể để triển khai:

 – Xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý cần thiết để thực hiện chức năng Tổng KTNN của Kho bạc Nhà nước trên cơ sở thống nhất, tập trung dữ liệu của các đơn vị KTNN; thống nhất về kế toán đồ và phương pháp kế toán phù hợp với thông lệ quốc tế, hướng dần đến kế toán dồn tích đối với một số đối tượng KTNN. Đảm bảo theo dõi đầy đủ các đối tượng kế toán gồm: số liệu thu, chi NSNN; tình hình hiện có và sự vận động tài sản, nguồn hình thành tài sản; nguồn vốn, quỹ của Nhà nước, các quỹ TCNN, các đơn vị hành chính sự nghiệp và các đơn vị khác; tình hình vay nợ của Chính phủ và các chính quyền địa phương, …

– Tổ chức công tác kế toán tại các đơn vị KTNN (KBNN và các đơn vị khác) phù hợp với điều kiện thực tế. Tổ chức bộ máy kế toán tại các đơn vị hiệu quả, phù hợp với tổ chức bộ máy hành chính và cơ chế quản lý tài chính – ngân sách trên cơ sở phân định rõ chức năng, nhiệm vụ các đơn vị thuộc Bộ Tài chính (Vụ CĐKT và Kiểm toán, Vụ NSNN, KBNN), giữa Bộ Tài chính (KBNN) với các Bộ, ngành và địa phương trong việc xây dựng cơ chế chính sách về kế toán; trình bày các thông tin báo cáo về NSNN và tài chính nhà nước.

– Triển khai và vận hành hệ thống thông tin trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin, đảm bảo tổng hợp nhanh chóng, chính xác các thông tin tài chính nhà nước một cách hiệu quả, kịp thời, đầy đủ theo yêu cầu quản lý. Việc vận hành hệ thống thông tin kế toán đảm bảo tính bảo mật và an toàn dữ liệu kế toán.

Tổ chức triển khai trên toàn quốc các nội dung sau đây:

Tổng hợp, trình bày các báo cáo của Chính phủ (cấp chính quyền địa phương), đáp ứng yêu cầu quản lý, phù hợp với thông lệ quốc tế. Xây dựng hệ thống thông tin kế toán; các chỉ tiêu tài chính phục vụ cho quản lý điều hành, phân tích dự báo trong việc đánh giá hiệu quả thu, chi NSNN; yêu cầu lập và phân bổ NSNN; đánh giá hiệu quả chi tiêu công, tiềm lực và nghĩa vụ tài chính nhà nước,… nhằm nâng cao hiệu quả việc sử dụng mọi nguồn lực tài chính nhà nước và hoạch định chính sách kinh tế.

Các báo cáo cần cung cấp bao gồm:

– Bảng tổng kết tài sản Nhà nước (hoặc địa phương): Cung cấp thông tin về tình hình hiện có và biến động so với kỳ trước của toàn bộ tài sản và nguồn hình thành tài sản của Nhà nước. 

– Báo cáo kết quả hoạt động: Phản ánh và đánh giá hiệu quả điều hành NSNN, kết quả hoạt động thu, chi NSNN và các hoạt động khác của Chính phủ (hoặc địa phương) trên cơ sở dồn tích trong 1 năm tài chính (phù hợp với năm ngân sách).

– Báo cáo tình hình biến động tài sản nhà nước: Phản ánh dưới hình thức giá trị tình hình tăng, giảm; chênh lệch giữa tổng tài sản Nhà nước và tổng nghĩa vụ phải trả của Nhà nước, … để có thông tin đánh giá thực chất tiềm lực tài chính Nhà nước.

– Báo cáo lưu chuyển luồng tiền: Phản ánh dòng tiền thuộc NSNN cùng với các thông tin vận động của luồng tiền tại các đơn vị thuộc lĩnh vực Nhà nước, … cung cấp thông tin phục vụ các chính sách tiền tệ và điều hành ngân quỹ.

– Các thuyết minh báo cáo tài chính: Phân tích các số liệu và đánh giá cụ thể kết quả của hoạt động tài chính và điều hành ngân sách trên bình diện chung và trong từng lĩnh vực, phục vụ cho việc hoạch định và đưa ra các chính sách kinh tế vĩ mô trên phạm vi toàn quốc và các khu vực.

17.2.2.3. Đối tượng áp dụng

Đối tượng áp dụng Tổng KTNN là các đơn vị KBNN, cơ quan quản lý thu (Thuế, Hải quan), các đơn vị dự toán, các quỹ tài chính, các doanh nghiệp có vốn nhà nước và các đơn vị khác được tiếp nhận, quản lý và sử dụng kinh phí, tài sản của Nhà nước.

Về cơ bản, các thông tin tài chính nhà nước đã được phản ánh tại các đơn vị nêu trên, nhưng chưa được tổng hợp thành báo cáo chung, nên trên thực tế việc tổ chức Tổng kế toán nhà nước chỉ thực hiện tại hệ thống KBNN, không ảnh hưởng và có tác động nhiều đến các đơn vị khác.

Với việc thực hiện chức năng Tổng KTNN, KBNN có nhiệm vụ tiếp nhận thông tin báo cáo tài chính từ các đơn vị dự toán cấp I, thực hiện tổng hợp và trình bày các báo cáo tài chính nhà nước theo mục tiêu đã xác định.

17.2.3. Ý nghĩa việc tổ chức báo cáo tài chính nhà nước

Việc triển khai Tổng KTNNN để tổ chức hệ thống thông tin tài chính nhà nước là hoạt động có phạm vi và đối tượng rất lớn, liên quan đến hầu hết các đơn vị trong lĩnh vực KTNN. Trong giai đoạn cải cách cơ chế quản lý kinh tế, hiện đại hóa theo hướng áp dụng công nghệ thông tin và thực hiện chức năng của KBNN thì hoạt động này luôn mang tính cấp bách khách quan và có ý nghĩa khoa học cả về lý luận và thực tiễn.

Việc triển khai thành công hoạt động này sẽ đảm bảo cung cấp thông tin đầy đủ, toàn diện về tài chính và Ngân sách Nhà nước cho các cơ quan, tổ chức liên quan. Các thông tin này sẽ là căn cứ đánh giá kết quả hoạt động quản lý điều hành của Chính phủ, Ủy ban Nhân dân các cấp; căn cứ để cung thông tin phân tích dự báo kinh tế; cung cấp cho các tổ chức quốc tế.

Các báo cáo của Tổng KTNN sẽ cung cấp thông tin về tình hình tổng tài sản của Nhà nước, của từng địa phương. Trên thực tế, báo cáo quyết toán NSNN hàng năm mới chỉ cho biết số liệu về thu, chi NSNN, phản ánh tình hình chấp hành NSNN, thực hiện kế hoạch dự toán và quyết toán NSNN theo từng niên độ NS. Tuy nhiên, các số liệu này chưa cho thấy hiệu quả hoạt động chi NSNN, của các chính sách điều hành tài chính, ngân sách. Để bổ sung các thông tin trên, thông tin báo cáo của Tổng KTNN cung cấp về mặt giá trị toàn bộ tài sản của Nhà nước trên phạm vi toàn quốc. Các tài sản này bao gồm đất đai, nhà cửa, phương tiện vận tải, cầu cống, công trình, đường xá,…. Các tài sản này được theo dõi theo nguyên giá và khấu hao. Từ đó, có thể định giá hiệu quả các hoạt động đầu tư, chi tiêu công. Ngoài ra, các nguồn lực của Nhà nước cũng được phản ánh trên cơ sở dồn tích, giúp cho người sử dụng nắm được… về các nguồn lực và nghĩa vụ hiện tại, tiềm năng của nhà nước. Từ đó, có thể có những phương án, kế hoạch phù hợp liên quan đến điều hành NSNN, các quyết định đầu tư hay chi tiêu công khác.

Các thông tin báo cáo về kết quả hoạt động được phản ánh trên cơ sở dồn tích, theo đó chi phí hoạt động bao gồm các chi phí khấu hao tài sản cố định phản ánh đầy đủ kết quả hoạt động của Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương, qua đó, đánh giá thực chất hiệu quả của việc sử dụng tiền và tài sản của Nhà nước.

Như vậy, có thể nói, thông tin tài chính do Tổng KTNN cung cấp sẽ rất hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng của các chính sách, quyết định của Đảng, Nhà nước và Chính phủ.

Tuy nhiên, để đạt được điều đó, cần có sự phối hợp và thực hiện của tất cả các cấp, các ngành, các địa phương từ khâu nghiên cứu cơ chế, chính sách, tổ chức thực hiện, lập và gửi báo cáo, sử dụng thông tin báo cáo.

 17.2.4. Giải pháp thực hiện

17.2.4.1. Xây dựng khung pháp lý

Để triển khai Tổng KTNN cần giải quyết nhiều nội dung, liên quan đến hầu hết các đơn vị kế toán trong lĩnh vực nhà nước. Các nội dung cần phải thực hiện như sau:

a.  Bổ sung, sửa đổi Luật kế toán, Luật NSNN

Đối với Luật NSNN, mặc dù phạm vi của tài chính nhà nước rộng hơn NSNN, nhưng do thông tin tài chính nhà nước luôn gắn với NSNN kể cả về nội dung và đối tượng, vì vậy cần phải đề cập đến nội dung liên quan đến Tổng KTNN trong Luật NSNN. Trong đó, lưu ý đến trách nhiệm của các đơn vị trong việc cung cấp thông tin dưới hình thức báo cáo tài chính cho KBNN để thực hiện tổng hợp báo cáo toàn quốc.

Đối với Luật Kế toán, do Tổng KTNN là một mô hình tổ chức thông tin, nên cần đề cập đến chủ thể của nó là Chính phủ hoặc các chính quyền địa phương, trong đó cần phải quy định đối tượng áp dụng Luật kế toán là cơ quan nhà nước lập báo cáo tài chính của Chính phủ và các chính quyền địa phương. Đối với từng cấp chính quyền cần quy định nội dung báo cáo tài chính nhà nước cần phải thực hiện.

Sau khi Luật NSNN và Luật Kế toán được bổ sung sửa đổi, các nội dung hướng dẫn về Tổng KTNN sẽ được Bộ Tài chính báo cáo Chính phủ để ban hành dưới hình thức Nghị định của Chính phủ, đồng thời Bộ Tài chính cũng sẽ có các hướng dẫn về mặt kỹ thuật kế toán để tổ chức, triển khai và vận hành.

b. Xây dựng và ban hành Nghị định của Chính phủ về Tổng KTNN

Để xây dựng và vận hành Tổng KTNN để thực hiện chức năng Tổng KTNN của Kho bạc Nhà nước, cần có các quy định hướng dẫn Luật Kế toán, Luật NSNN ở mức độ phù hợp quy định cụ thể hơn về đối tượng, phạm vi, tổ chức xử lý các thông tin và yêu cầu về các báo cáo đầu ra của Tổng KTNN. Theo đó, Chính phủ cần ban hành Nghị định quy định và hướng dẫn về Tổng KTNN trên cơ sở Luật Kế toán, Luật NSNN bổ sung, sửa đổi.

Các nội dung cần phải quy định trong Nghị định, bao gồm:

– Về các quy định có tính pháp lý: Mục đích, ý nghĩa, vai trò thông tin báo cáo tài chính nhà nước; Khái niệm, yêu cầu, phạm vi, đối tượng; Xác định đơn vị báo cáo là Chính phủ; UBND cấp tỉnh, thành phố; huyện, quận; Đơn vị có trách nhiệm lập báo cáo là KBNN ở các cấp tương ứng; Kỳ báo cáo, hình thức báo cáo của các đơn vị, quy trình phê duyệt báo cáo; Nguyên tắc tổ chức và xử lý thông tin đầu vào, quy trình tổng hợp thông tin báo cáo, chế độ báo cáo đầu ra của Tổng KTNN (huyện, tỉnh, toàn quốc); Tổ chức thực hiện, trách nhiệm báo cáo, trách nhiệm giải trình; Mối quan hệ với các thông tin báo cáo của Ngân sách nhà nước và của các thông tin KTNN khác; Trách nhiệm của các đơn vị trong việc ban hành chế độ, mẫu biểu báo cáo tài chính nhà nước; tổ chức hoạt động triển khai Tổng KTNN.

– Về bộ máy kế toán: Chức năng nhiệm vụ, mô hình tổ chức bộ máy kế toán đặt tại hệ thống KBNN; Mối quan hệ với cơ quan quản lý, đơn vị thực hiện kế toán Nhà nước; Chức năng nhiệm vụ, mô hình tổ chức bộ máy bộ máy kế toán tại các đơn vị khác trong lĩnh vực KTNN. 

– Tổ chức hệ thống thông tin: Hệ thống thông tin kế toán của Tổng KTNN do KBNN quản lý, vận hành để tổng hợp báo cáo; Hệ thống thông tin kế toán của các đơn vị (chuẩn bị thông tin đầu vào để tổng hợp báo cáo); Giao diện và các hình thức trao đổi thông tin giữa các hệ thống thông tin tài chính nhà nước.

c. Hoàn thiện quy định về chế độ kế toán, thông tin báo cáo của các đơn vị kế toán nhà nước

(1) Hoàn thiện Chế độ KTNN áp dụng cho Hệ thống thông tin quản lý Ngân sách và Kho bạc (TABMIS). Đây là một hoạt động khách quan, do TABMIS là 1 hệ thống thông tin khá hiện đại, cần tuân thủ các quy trình chặt chẽ, do vậy, để phù hợp với đặc thù của Việt Nam thì cần phải qua các bước triển khai thực tế, mới dần có thể đưa ra các quy định phù hợp với yêu cầu quản lý và quy trình nghiệp vụ. Ngoài việc cung cấp các báo cáo theo chế độ KTNN áp dụng cho TABMIS, còn phải cung cấp các thông tin liên quan đến thu, chi NSNN hàng năm, thông tin về tình hình vay nợ của Chính phủ, của các quỹ tài chính dưới dạng các mẫu biểu theo quy định để cung cấp thông tin đầu vào cho Tổng KTNN.

(2) Xây dựng hệ thống kế toán về thuế nội địa, đảm bảo mục tiêu quản lý nghiệp vụ thuế cho các cơ quan Thuế. Nghiên cứu và hoàn thiện thông tin của các nghiệp vụ này phù hợp với nội dung của kế toán thu ngân sách tại KBNN, hạch toán đầy đủ số phải thu, số đã thu và số còn phải thu của các khoản thuế, lệ phí và các khoản thu khác trên cơ sở dồn tích theo từng đối tượng nộp thuế. Các thông tin của kế toán thuế nội địa sẽ bổ sung thêm các thông tin về thu NS hiện nay, theo đó, người sử dụng biết số phải thu và còn phải thu để xác định chiến lược đôn đốc thu hồi, tránh nợ đọng, thất thu thuế.

(3) Hoàn thiện chế độ kế toán thuế xuất nhập khẩu áp dụng cho các cơ quan Hải quan. Các thông tin nghiệp vụ về thuế xuất nhập khẩu được tổ chức thực hiện cùng với việc hoàn thiện các hệ thống thông tin của ngành Hải quan. Các thông tin này cũng có nhiệm vụ bổ sung cho các thông tin về thu NSNN, xác định rõ số phải thu, số còn phải thu đối với các đối tượng nộp thuế XNK.

(4) Hoàn thiện hệ thống kế toán hành chính sự nghiệp. Để có thể thống nhất các nội dung với các chế độ kế toán khác, đảm bảo có thể cung cấp thông tin để tổng hợp báo cáo tài chính nhà nước, trong chế độ kế toán này, cần bổ sung một số mẫu biểu chỉ tiêu báo cáo, để có thể sử dụng làm thông tin ban đầu để cung cấp cho Tổng KTNN.

(5) Xây dựng và hoàn thiện hệ thống kế toán nợ Chính phủ (chính quyền địa phương – nếu có). Triển khai hệ thống thông tin quản lý nợ tại các đơn vị liên quan, đảm bảo cung cấp thông tin cần thiết để tổng hợp báo cáo tài chính nhà nước.

(6) Hoàn thiện chế độ kế toán áp dụng cho các đơn vị khác. Ngoài các chế độ kế toán trong lĩnh vực KTNN, ban hành các chế độ kế toán cho các quỹ TCNN, cho đơn vị thực hiện quản lý và kinh doanh vốn nhà nước (các doanh nghiệp có vốn nhà nước),… để đảm bảo cung cấp thông tin đầu vào cho Tổng KTNN để tổng hợp báo cáo tài chính nhà nước một cách đầy đủ.

 17.2.4.2. Tổ chức bộ máy kế toán

a. Các mô hình tổ chức bộ máy KTNN

Về nguyên tắc, việc tổ chức công tác kế toán tại các đơn vị KTNN phù hợp với điều kiện thực tế, phù hợp với tổ chức bộ máy hành chính và cơ chế quản lý tài chính – ngân sách trên cơ sở phân định rõ chức năng, nhiệm vụ các đơn vị KTNN, giữa KBNN với các Bộ, ngành và địa phương trong việc thu thập, ghi chép và tổng hợp và trình bày các thông tin tài chính kế toán.

Việc tổ chức bộ máy kế toán tại KBNN để thực hiện Tổng KTNN được cân nhắc theo các mô hình tổ chức: Mô hình tập trung, mô hình phân tán hoặc mô hình kết hợp vừa tập trung vừa phân tán như sau:

Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung là hình thức tổ chức mà toàn bộ công tác kế toán của đơn vị được tiến hành tập trung tại trung tâm. Ở các đơn vị trực thuộc khác không tổ chức bộ máy kế toán riêng mà chỉ bố trí các nhân viên làm nhiệm vụ hướng dẫn kiểm tra công tác kế toán ban đầu, thu nhận kiểm tra chứng từ, ghi chép sổ sách hạch toán nghiệp vụ phục vụ cho nhu cầu quản lý của đơn vị, lập báo cáo nghiệp vụ và chuyển chứng từ cùng báo cáo về trung tâm để xử lý và tiến hành công tác kế toán.

Mô hình tập trung là mô hình mà tất cả các công việc kế toán được tập trung xử lý tại trung tâm. Theo mô hình này, có 3 loại đơn vị tham gia gồm:  (1) Tổng KTNN là cơ quan quản lý thông tin đặt tại Trung ương, (2) KTNN cấp dưới là cơ quan lưu chuyển thông tin đặt tại các đơn vị tỉnh, huyện; (3) Cơ quan cung cấp thông tin là các cơ quan thu NSNN, đơn vị sử dụng NSNN và các đơn vị khác.

Mô hình này có ưu điểm là tạo điều kiện thuận lợi để vận dụng các phương tiện kỹ thuật tính toán hiện đại, bộ máy kế toán ít nhân viên nhưng cũng đảm bảo được việc cung cấp thông tin kế toán kịp thời.

Mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán là hình thức tổ chức mà công tác kế toán không những được tiến hành ở trung tâm mà còn được tiến hành ở những đơn vị kế toán trực thuộc. Công việc kế toán ở những đơn vị kế toán trực thuộc do bộ máy kế toán ở nơi đó đảm nhận từ công việc kế toán ban đầu, kiểm tra xử lý chứng từ đến kế toán chi tiết và kế toán tổng hợp một số hoặc tất cả các phần hành kế toán và lập báo cáo kế toán trong phạm vi của đơn vị. Kế toán trung tâm thực hiện tổng hợp số liệu từ báo cáo ở các bộ phận gửi đến, phản ánh các nghiệp vụ có tính chất chung toàn hệ thống, lập báo cáo theo quy định của Nhà nước đồng thời thực hiện việc hướng dẫn kiểm tra công tác kế toán của các đơn vị trực thuộc.

Mô hình phân tán là mô hình mà các công việc kế toán phát sinh ở cấp quản lý tài chính nhà nước nào thì được tập trung xử lý ở cấp quản lý đó. Tại đây thực hiện đầy đủ các khâu thông tin từ xử lý chứng từ kế toán, ghi sổ kế toán, lập báo cáo tài chính và báo cáo quyết toán của tổ chức quản lý tài chính trên địa bàn. Với mô hình này, (1) Tổng KTNN được đặt tại KBNN, (2) KTNN cấp tỉnh, huyện thực hiện các khâu công việc thuộc địa bàn và cung cấp thông tin lên KTNN cấp trên, (3) Cơ quan cung cấp thông tin là các cơ quan thu NSNN, đơn vị sử dụng NSNN và các đơn vị khác, hình thức cung cấp thông tin có thể thực hiện trực tiếp trên hệ thống.

Mô hình tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán: Đây là hình thức tổ chức bộ máy kết hợp hai mô hình tổ chức trên, bộ máy tổ chức theo hình thức này gồm kế toán trung tâm của hệ thống và các bộ phận kế toán ở các đơn vị kế toán trực thuộc. Kế toán trung tâm thực hiện kế toán các nghiệp vụ kinh tế liên quan cả hệ thống, đồng thời thực hiện tổng hợp các tài liệu kế toán từ các đơn vị kế toán trực thuộc gửi đến, lập báo cáo chung toàn đơn vị, hướng dẫn kiểm tra toàn bộ công tác kế toán, toàn hệ thống. Các bộ phận kế toán ở các bộ phận khác thực hiện công tác kế toán tương đối hoàn chỉnh các nghiệp vụ kế toán phát sinh ở bộ phận đó theo sự phân công của phòng kế toán trung tâm. Các nhân viên kế toán ở các bộ phận có nhiệm vụ thu thập thông tin kế toán và có thể xử lý sơ bộ thông tin kế toán và gửi về phòng kế toán trung tâm.

Căn cứ ba mô hình tổ chức kế toán về mặt lý thuyết và các yêu cầu được xác định trên đây, mô hình tổ chức phân tán là mô hình phù hợp với thực tế hiện nay ở Việt Nam, với việc KBNN thực hiện tổ chức báo cáo tài chính nhà nước.

Để thực hiện tổ chức bộ máy KTNN phù hợp với nhiệm vụ tổ chức báo cáo tài chính nhà nước, ngoài việc thiết lập mô hình tổ chức, cần phải hoàn thiện và đưa ra các quy định cụ thể như các quy định về tổ chức bộ máy, quy định về Kế toán trưởng, bàn giao công việc của Kế toán, kế toán trưởng, nguyên tắc phân công bố trí cán bộ kế toán,… phù hợp với các giai đoạn triển khai.

b. Tổ chức bộ máy KTNN tại KBNN

Để thực hiện chức năng Tổng KTNN tại KBNN, bộ máy kế toán cần đáp ứng các yêu cầu sau:

– Bộ máy kế toán KBNN phải được tổ chức khoa học, hợp lý, chuyên môn hóa, đảm bảo sự chỉ đạo tập trung, thống nhất, đồng thời cũng phải phù hợp việc tổ chức công việc và mục tiêu tổng hợp báo cáo tài chính nhà nước.

– Việc tổ chức lại bộ máy kế toán KBNN phải đảm bảo sự ổn định tương đối trong hệ thống, không gây ảnh hưởng lớn đến việc triển khai thực hiện nhiệm vụ của các đơn vị.

– Việc tổ chức lại bộ máy kế toán KBNN phải dựa vào sự nghiên cứu sâu sắc, xác định cụ thể chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị có tham gia vào hệ thống KTNN, phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước và mối quan hệ giữa các đơn vị, từ đó đưa ra các phương án tổ chức có thể thực hiện, đánh giá rõ các ưu điểm, nhược điểm của từng phương án để lựa chọn được phương án tối ưu.

Xuất phát từ yêu cầu thu thập, tổng hợp và cung cấp thông tin kế toán của từng cấp Ngân sách, bộ máy kế toán của tổ chức báo cáo tài chính nhà nước được tổ chức từ trung ương đến địa phương, trong đó cần bố trí các phòng, bộ phận nghiệp vụ tại KBNN, các tổ/bộ phận kế toán nhà nước tại KBNN tỉnh, thành phố và bộ phận kế toán nhà nước tại KBNN quận, huyện. Phương án cụ thể như sau:

 (1) Tại Trung ương (KBNN)

+ Vị trí, chức năng: Tham mưu, giúp cho lãnh đạo các cấp trong việc tổ chức, triển khai thực hiện các nhiệm vụ có liên quan đến công tác kế toán nhà nước áp dụng cho hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc (TABMIS), công tác thanh toán của hệ thống Kho bạc Nhà nước và chức năng Tổng kế toán nhà nước.

+ Nhiệm vụ: Dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hướng dẫn về chế độ kế toán nhà nước áp dụng cho TABMIS trong phạm vi được giao của Kho bạc Nhà nước; Chế độ, quy trình thanh toán trong hệ thống Kho bạc Nhà nước; Các văn bản, chế độ để thực hiện Tổng kế toán nhà nước; Tổ chức triển khai nhiệm vụ tổ chức báo cáo tài chính nhà nước theo kế hoạch, lộ trình được cấp có thẩm quyền phê duyệt; Lập báo cáo tài chính nhà nước theo quy định của pháp luật về Tổng kế toán nhà nước; Tổ chức công tác thanh toán trong toàn bộ hệ thống Kho bạc Nhà nước; Hướng dẫn, kiểm tra các đơn vị Kho bạc Nhà nước trong việc thực hiện công tác kế toán nhà nước, công tác thanh toán trong hệ thống Kho bạc Nhà nước; Tổ chức thực hiện công tác tổng hợp thông tin, điện báo, báo cáo tài chính, báo cáo kế toán định kỳ và đột xuất của hệ thống Kho bạc Nhà nước về thu, chi ngân sách nhà nước, các quỹ và tài sản của Nhà nước được giao quản lý, các khoản vay nợ, viện trợ, trả nợ của Chính phủ và chính quyền địa phương theo quy định. Xác nhận số liệu thu, chi ngân sách, giao dịch qua hệ thống Kho bạc Nhà nước; Quyết toán thu, chi ngân sách nhà nước và hoạt động nghiệp vụ Kho bạc Nhà nước; Thực hiện hoạt động quản lý, điều hành hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc (hệ thống TABMIS) theo nhiệm vụ được giao; Thực hiện công tác tổng hợp, phân tích tình hình thực hiện công tác kế toán nhà nước và công tác thanh toán của hệ thống Kho bạc Nhà nước; Chủ trì thực hiện việc thiết kế mẫu và đề xuất nhu cầu in ấn, phát hành các loại giấy tờ có giá trong lĩnh vực kế toán, thanh toán của Kho bạc Nhà nước.

(2) Tại KBNN tỉnh, thành phố và tương đương

Thực hiện theo mô hình vừa đảm nhiệm chức năng nghiệp vụ như hiện nay (kế toán nhà nước áp dụng cho TABMIS) và vừa thực hiện chức năng Tổng KTNN. Theo mô hình này, Phòng KTNN tại KBNN tỉnh cần được tổ chức thành các bộ phận nghiệp vụ như sau: (1) Tổ tổng hợp số liệu tổ chức báo cáo tài chính nhà nước (2) Tổ kế toán giao dịch, (3) Tổ kế toán thanh toán. Trong đó, Tổ tổng hợp số liệu tổ chức báo cáo tài chính nhà nước ngoài việc tổng hợp số liệu báo cáo của Chế độ kế toán nhà nước áp dụng cho TABMIS, còn phải tiếp nhận báo cáo của các đơn vị HCSN, các đơn vị có vốn nhà nước,….

Về mặt đối tượng kế toán, cơ bản tương tự như hoạt động tại KBNN, nhưng với phạm vi thực hiện đối với các đối tượng trong địa bàn quản lý. Theo đó cũng cần tổ chức các bộ phận liên quan đến từng mảng nghiệp vụ tổng hợp báo cáo theo mô hình phân công tại KBNN. Với phương án này, không cần thành lập thêm phòng/bộ phận, tuy nhiên cần bố trí bổ sung mỗi đơn vị một số cán bộ kế toán nghiệp vụ, có khả năng am hiểu, kinh nghiệm về KTNN nói chung.

(3) Tại KBNN quận, huyện

Việc bố trí cán bộ phụ thuộc vào quy mô hoạt động của đơn vị KBNN. Mô hình đối với KBNN quận, huyện có tổ chức phòng kế toán hoặc tổ kế toán vừa đảm nhiệm chức năng nghiệp vụ vừa đảm nhiệm chức năng Tổng kế toán trên địa bàn, theo đó cần được bổ sung cán bộ kế toán nghiệp vụ. Để thực hiện chức năng Tổng KTNN, cần bố trí bổ sung mỗi đơn vị một số cán bộ kế toán nghiệp vụ, có khả năng am hiểu, kinh nghiệm về KTNN nói chung.

c. Tổ chức bộ máy kế toán tại các đơn vị KTNN khác

Theo phương án tổ chức thông tin đầu vào cho tổ chức báo cáo tài chính nhà nước nêu trên, bộ máy kế toán tại các đơn vị KTNN khác, ngoài việc thực hiện các nhiệm vụ hiện nay, được giao thêm việc cung cấp thông tin đầu vào cho Tổng KTNN. Các thông tin cung cấp cho tổ chức báo cáo tài chính nhà nước được quy định theo các mẫu biểu quy định trong chế độ kế toán áp dụng cho từng loại hình đơn vị. Như vậy, tại các đơn vị KTNN khác, việc tổ chức bộ máy kế toán không có thay đổi lớn, tương đối ổn định, chỉ bổ sung thêm một số nhiệm vụ để phục vụ cung cấp thông tin đầu vào cho Tổng KTNN.

17.2.4.3. Tổ chức hệ thống thông tin kế toán nhà nước

a.  Xây dựng các hệ thống thông tin đáp ứng các yêu cầu nghiệp vụ

* Củng cố và hoàn thiện các hệ thống thông tin hiện nay

(1) Hệ thống thông tin quản lý Ngân sách và nghiệp vụ Kho bạc (TABMIS)

TABMIS là hệ thống tập trung thông tin quản lý Ngân sách – Kho bạc. Hệ thống kế toán trên máy, thực hiện ghi chép, xử lý và quản lý dữ liệu tập trung, có khả năng cung cấp thông tin, dữ liệu về tình hình thực hiện ngân sách ở các cấp, các bộ, ngành và đơn vị sử dụng ngân sách. Hệ thống thông tin tập trung này được kết nối giữa các đơn vị Kho bạc và các cơ quan tài chính từ Trung ương đến quận huyện. Do vậy, TABMIS là hệ thống thông tin giúp các cơ quan liên quan tới NSNN thực hiện quản lý chi tiêu NSNN, đồng thời cũng giúp Bộ Tài chính quản lý hiệu quả hoạt động thu, chi NSNN. Khi triển khai báo cáo tài chính nhà nước, TABMIS có nhiệm vụ cung cấp các thông tin thu, chi NSNN, vay nợ của Nhà nước tổng hợp báo cáo.

 (2) Hệ thống thông tin quản lý Thuế

Các hệ thống thông tin quản lý nghiệp vụ của ngành Thuế, Hải quan được phát triển để cung cấp các thông tin theo trách nhiệm báo cáo theo chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị này. Ngoài ra, các thông tin này còn được cung cấp cho KBNN để tổng hợp thành báo cáo tài chính nhà nước.

 (3) Hệ thống thông tin của các đơn vị dự toán cấp 1

Hiện nay các đơn vị sử dụng ngân sách sử dụng các phần mềm kế toán khác nhau, thậm chí trong cùng một đơn vị dự toán cấp 1, các đơn vị cấp dưới cũng không dụng cùng 1 phần mềm kế toán. Hầu hết các phần mềm này chưa được kết nối, tập trung, mà do các đơn vị tổ chức phân tán. Theo phương án cung cấp báo cáo cho Tổng KTNN, các đơn vị dự toán cấp 1 có trách nhiệm tổng hợp báo cáo của đơn vị mình và cung cấp cho KBNN để tổng hợp báo cáo tài chính nhà nước.

Các đơn vị dự toán cấp I (kể cả quỹ tài chính), sau khi lập báo cáo tài chính theo mẫu biểu định sẵn, gửi cho KBNN để lập báo cáo tài chính nhà nước theo hình thức thủ công hoặc qua cổng thông tin điện tử. Các thông tin của các đơn vị bao gồm các thông tin về quản lý tài sản, cung cấp cho chương trình quản lý tài sản do Cục Công sản – Bộ Tài chính quản lý.

 (4) Các đơn vị KTNN khác

Đối với các đơn vị còn lại, hiện nay đang áp dụng chế độ kế toán khác nhau, sử dụng các thông tin kế toán độc lập. Theo đó, các đơn vị này cũng cần phải chiết xuất các báo cáo dưới dạng biểu mẫu quy định sẵn và chuyển cho KBNN theo hình thức thủ công hoặc qua cổng thông tin điện tử.

Đề xuất hệ thống trung tâm dữ liệu của Tổng KTNN

Hệ thống thông tin dữ liệu báo cáo tài chính nhà nước cần được xây dựng mới, tập trung, được triển khai tại KBNN trung ương, KBNN tỉnh, thành phố; KBNN quận, huyện. Hệ thống này có khả năng tiếp nhận các báo cáo của các đơn vị KTNN, thực hiện các bước, quy trình xử lý để tổng hợp thông tin báo cáo theo từng cấp (Chính phủ/chính quyền địa phương). Quy trình tổng hợp thông tin báo cáo cần được xử lý nhanh, chính xác theo hướng cần đặt tự động, được quy trình hóa. Vì vậy cần có sự đánh giá, phân tích để xây dựng một hệ thống thông tin phù hợp, hiệu quả. Các thông tin của Tổng KTNN nằm trong hệ thống thông tin tài chính Chính phủ (GFMIS), vì vậy, cần có sự kết hợp một cách hiệu quả khi xây dựng hệ thống thông tin tài chính Chính phủ của Bộ Tài chính.

Sơ đồ 17.1. Mô hình ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ tổng kế toán nhà nước

Kết nối thông tin của các hệ thống khác với hệ thống thông tin của Tổng KTNN

Thông tin từ các hệ thống khác có thể được trao đổi với Tổng KTNN theo các hình thức sau:

(1) Các đơn vị gửi báo cáo theo mẫu quy định sẵn, gửi văn bản về Tổng KTNN, bộ phận nghiệp vụ của Tổng KTNN truy nhập vào hệ thống.

(2) Các đơn vị gửi báo cáo theo biểu mẫu quy định sẵn, gửi về Tổng KTNN qua thư điện tử, bộ phận nghiệp vụ của Tổng KTNN xử lý để truy nhập vào hệ thống.

(3) Các đơn vị gửi báo cáo theo mẫu biểu định sẵn qua cổng thông tin điện tử. Hệ thống tự động xử lý để truy nhập vào dữ liệu của Tổng KTNN.

(4) Các hệ thống được xây dựng để kết nối, giao diện, trong đó, một số chỉ tiêu được ánh xạ tự động sang chỉ tiêu tài chính trong báo cáo Tổng KTNN.

b. Vận hành hệ thống thông tin đáp ứng yêu cầu tổng hợp thông tin, an toàn, bảo mật

(1) Thiết lập quy trình nghiệp vụ trên hệ thống

– Mã hóa, định dạng các chỉ tiêu trên của báo cáo đảm bảo tính khoa học, logic giúp cho việc tổng hợp báo cáo được thuận lợi, chính xác.

– Thiết lập quy trình nghiệp vụ để tổng hợp các thông tin báo cáo từ khâu tiếp nhận báo cáo của các đơn vị đến khâu chiết xuất báo cáo đầu ra.

(2) Yêu cầu đối với việc vận hành hệ thống thông tin như sau:

– Đảm bảo một môi trường để có thể khai thác được các thông tin báo cáo theo các cấp độ thông tin:

+ Theo từng cấp chính quyền, tương ứng với từng cấp của Tổng KTNN, trong đó có các thông tin của Trung ương và các cấp địa phương.

+ Theo từng loại hình báo cáo, gồm: (1) Báo cáo về tình hình tài sản nhà nước, các nguồn hình thành tài sản, (2) Báo cáo về tình hình thu, chi và quyết toán ngân sách nhà nước, (3) Báo cáo về tình hình vay nợ của chính phủ, các cấp chính quyền,…

+ Theo kỳ báo cáo cáo, gồm: (1) Báo cáo nhanh phục vụ điều hành, (2) Báo cáo đột xuất, (3) Báo cáo tháng, quý, (4) Báo cáo năm.

– Đảm bảo môi trường với đầy đủ hiệu năng để có thể xử lý thông tin ở mức độ phù hợp với yêu cầu quản lý.

– Đảm bảo môi trường thông tin an toàn, bảo mật. Theo đó cần có các giải pháp dự phòng thảm họa với tất cả các tình huống có thể xảy ra. Có chế độ phân quyền chặt chẽ, hợp lý theo từng đối tượng người dùng.

– Đảm bảo sự kết nối thông tin giữa các hệ thống thông tin khác nhau được thông suốt, liên tục.

– Các giao diện phải được vận hành chính xác, đảm bảo kịp thời.

– Đảm bảo đội ngũ cán bộ nghiệp vụ, chuyên môn kỹ thuật có đủ trình độ để vận hành các hệ thống thông tin tài chính nhà nước.

17.3. Điều kiện để thực hiện

17.3.1. Cần có sự quan tâm, phối hợp của các cấp, các ngành

Việc triển khai mô hình Tổng KTNN liên quan đến tất cả các bộ, ngành, các đơn vị KTNN, trên phạm vi toàn quốc, vì vậy, cần có sự đồng lòng, thống nhất trong khâu tổ chức thực hiện. Ðối với các đơn vị KTNN, phát sinh thêm việc lập báo cáo tài chính, thời hạn lập phải kịp thời hơn so với báo cáo quyết toán ngân sách, vì vậy, các đơn vị cần chủ động và tích cực hơn trong việc lập báo cáo tài chính nhà nước và chuyển cho KBNN để tổng hợp theo quy định của các chế độ kế toán. Để thực hiện các nội dung này, cần sự quan tâm, chỉ đạo của Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành và các địa phương. Cần thống nhất trong việc sử dụng các thông tin báo cáo tài chính nhà nước để làm căn cứ nghiên cứu, phân tích xây dựng và hoạch định các cơ chế, chính sách, đảm bảo phù hợp và có hiệu quả.

17.3.2. Đảm bảo sự đồng bộ trong cơ chế chính sách

Theo phương án triển khai Tổng KTNN, một khung pháp lý phù hợp sẽ được ban hành liên quan đến Tổng KTNN. Tuy nhiên, đối với các văn bản pháp lý khác của tài chính nhà nước, ngân sách nhà nước cũng cần được quy định một cách phù hợp. Theo đó, cần được luật hóa để nâng cao trách nhiệm giải trình của thủ trưởng các đơn vị, từ đó, đảm báo tính pháp lý của các báo cáo tài chính của các đơn vị cung cấp cho Tổng KTNN. Các cơ chế, chính sách cũng cần được bổ sung, sửa đổi phù hợp với thông lệ quốc tế. Việc nghiên cứu, triển khai Chuẩn mực kế toán công cần được thực hiện một cách đầy đủ, rộng khắp nhằm giúp cho các thông tin báo cáo tài chính nhà nước được minh bạch, phù hợp thông lệ quốc tế.

17.3.3. Kiện toàn tổ chức bộ máy phù hợp

Có thể thấy, phương án triển khai Tổng KTNN không đặt ra vấn đề cơ cấu lại bộ máy kế toán tại các đơn vị kế toán nhà nước ngoài hệ thống KBNN. Tuy nhiên, việc tổ chức bộ máy kế toán một cách hiệu quả, phù hợp với yêu cầu mới của từng đơn vị, tránh lãng phí nguồn lực của Nhà nước là một yêu cầu cần được đặt ra và thực hiện mọi lúc, mọi nơi. Nội dung này nằm trong chương trình, kế hoạch của công tác cán bộ của các đơn vị nói chung, trong lĩnh vực công (nhà nước) nói riêng. Mặc dù là một yêu cầu cấp bách, nhưng việc triển khai cũng đòi hỏi thời gian dài, thực hiện từng bước, đảm bảo có hiệu quả.

17.3.4. Ứng dụng công nghệ thông tin

Việc ứng dụng công nghệ thông tin cần được thực hiện có chọn lọc. Thị trường dịch vụ công nghệ phát triển là một thuận lợi, tuy nhiên đây cũng là thách thức cần quan tâm lưu ý, để lựa chọn được phần mềm, giải pháp phù hợp và có hiệu quả nhất. Khi lựa chọn giải pháp công nghệ thông tin cho Tổng KTNN cần tính đến các yếu tố xử lý về yêu cầu nghiệp vụ, tính an toàn, bảo mật, khả năng trao đổi thông tin với các hệ thống khác một cách hiệu quả, khả năng đảm bảo kỹ thuật và vận hành của KBNN. Đây chính là các yếu tố thiết thực, đảm bảo thành công việc triển khai hệ thống thông tin.

17.3.5. Hội nhập quốc tế

Xu hướng hội nhập là tất yếu, không chỉ đối với kế toán mà còn đối với cả nền kinh tế – xã hội. Có thể nói, lĩnh vực kế toán – kiểm toán đang đi tiên phong trong các hoạt động hội nhập quốc tế. Bên cạnh việc ban hành các chuẩn mực kế toán công, Việt Nam cần có những tuyên bố, những hoạt động cùng với cộng đồng các quốc gia trong khu vực và trên thế giới về nội dung kế toán, kiểm toán. Chính điều này không chỉ tạo nên vị thế trong phạm vi hẹp của ngành, nghề mà còn mở rộng ra các hoạt động kinh tế khác.

17.3.6. Xử lý linh hoạt các khó khăn, vướng mắc

Đây là hoạt động có phạm vi rất rộng, liên quan đến hầu hết các đơn vị, tổ chức trong lĩnh vực kế toán nhà nước, có đối tượng kế toán phức tạp. Vì vậy, cần phải nghiên cứu và ban hành một khối lượng văn bản pháp lý rất lớn, từ văn bản cao nhất là Luật NSNN, Luật Kế toán đến các nghị định của Chính phủ và thông tư hướng dẫn. Trong đó, toàn bộ các thông tư hướng dẫn chế độ kế toán của các đơn vị kế toán nhà nước cần bổ sung quy định lập báo cáo tài chính nhà nước, tổng hợp theo đơn vị dự toán cấp 1 và chuyển cho KBNN. Các quy định về mẫu biểu, quy trình tổng hợp thông tin báo cáo theo từng cấp chính quyền cần được nghiên cứu đúng hướng, theo đúng thông lệ quốc tế, đảm bảo có kêt quả mang lại lợi ích cho người sử dụng.

Việc tổ chức bộ máy kế toán nghiệp vụ tại KBNN, nếu kế toán không hợp lý, sẽ dẫn đến lãng phí của cải xã hội, không hiệu quả. Tuy nhiên, tại một số đơn vị, nếu không bổ sung thêm cán bộ nghiệp vụ có năng lực thì rất khó thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ, nhưng nếu bổ sung một cách thiếu tính toán sẽ dẫn đến cơ cấu, bộ máy cồng kềnh, lãng phí nguồn nhân lực.

Việc thiết kế quy trình nghiệp vụ trên hệ thống thông tin của Tổng KTNN có thể gặp khó khăn về hiệu năng của hệ thống và khâu kết xuất báo cáo. Do đó cần phân tích, thiết kế để xây dựng một hệ thống thông tin của Tổng KTNN theo hướng tự động hóa, theo đó các thông tin đầu vào sẽ được kết xuất/giao diện từ TABMIS, các cơ quan quản lý thu, các đơn vị HCSN, các quỹ tài chính và các đơn vị khác./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

————————-

1. Luật Ngân sách nhà nước số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002 (hiện nay đang được nghiên cứu để bổ sung, sửa đổi);

2. Luật Kế toán số 03/2003/QH11 ngày 17/6/2003 (hiện nay đang được nghiên cứu để bổ sung, sửa đổi).

3. Nghị định số 215/2008/NĐ-CP ngày 23/12/2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;

4. Nghị định số 128/2004/NĐ-CP ngày 31/05/2004 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều trong lĩnh vực kế toán Nhà nước;

5. Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính.

6. Quyết định số 108/2009/QĐ-TTg ngày 13/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Kho bạc Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính;

7. Quyết định số 138/2007/QĐ-TTg ngày 21/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển Kho bạc Nhà nước đến năm 2020;

8. Quyết định số 480/QĐ-TTg ngày 18/03/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược kế toán – kiểm toán đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

9. Quyết định số 2261/QĐ-BTC ngày 10/9/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc phê duyệt kế hoạch triển khai “Chiến lược kế toán – kiểm toán đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”.

10.  26 Chuẩn mực kế toán doanh nghiệp Việt Nam.

11.  Hệ thống Chuẩn mực kế toán công quốc tế.

12. Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính;

13. Các chế độ kế toán áp dụng cho các loại hình doanh nghiệp khác cần được quy định đặc thù.

14. Thông tư số 08/2013/TT-BTC ngày 10/01/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện KTNN áp dụng cho Hệ thống thông tin quản lý Ngân sách và Kho bạc (TABMIS);

15. Chế độ kế toán thuế xuất, nhập khẩu theo Thông tư số 32/2006/TT-BTC ngày 10/4/2006 về việc hướng dẫn kế toán nghiệp vụ thuế và thu khác đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, Thông tư số 121/2007 ngày 17/10/2006 về việc bổ sung, sửa đổi Thông tư số 32/2006/TT-BTC ngày 10/4/2006;

16. Chế độ kế toán Ngân sách và tài chính xã ban hành kèm theo Quyết định số 94/2005/QĐ-BTC ngày 12/12/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính và Thông tư số 146/2011/TT-BTC ngày 26/10/2011 về việc sửa đổi, bổ sung chế độ kế toán, tài chính ngân sách xã;

17. Chế độ kế toán Bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Thông tư số 178/2012/TT-BTC ngày 23/10/2012 của Bộ Tài chính;

18. Chế độ kế toán dự trữ nhà nước ban hành kèm theo Thông tư số 213/2009/TT-BTC ngày 10/11/2009 của Bộ Tài chính;

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *