Chuyên đề 14: LUẬT HẢI QUAN SỬA ĐỔI VÀ CÁC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CÓ LIÊN QUAN

Chuyên đề 14: LUẬT HẢI QUAN SỬA ĐỔI VÀ CÁC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CÓ LIÊN QUAN

 CN. Trần Thị Thuý Hoà

Vụ Pháp chế – Tổng Cục Hải quan

 Trước xu thế phát triển mạnh mẽ về kinh tế – xã hội của Việt Nam những năm qua đồng thời trong bối cảnh Việt Nam càng ngày càng tham dự sâu rộng vào các quan hệ quốc tế đa dạng, đặc biệt là các quan hệ kinh tế đối ngoại cốt lõi; tốc độ phát triển thương mại quốc tế và yêu cầu đòi hỏi phát triển các khu vực tự do thương mại; tốc độ phát triển công nghệ thông tin…;Việt Nam là thành viên chính thức của WTO; ký kết tham gia nhiều điều ước quốc tế và các bản ghi nhớ về lĩnh vực hải quan. Điều đó, đòi hỏi phải tiếp tục cải cách, hiện đại hóa để tạo thuận lợi cho kinh tế xã hội phát triển và phù hợp với cam kết quốc tế mà chúng ta là thành viên.

Chính phủ, Bộ Tài chính cũng như ngành hải quan đã xác định trong chiến lược phát triển của hải quan Việt Nam đến năm 2020: Xây dựng Hải quan Việt Nam hiện đại, có cơ chế, chính sách đầy đủ, minh bạch, thủ tục hải quan đơn giản, hài hòa đạt chuẩn mực quốc tế, trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin, xử lý dữ liệu tập trung và áp dụng rộng rãi phương pháp quản lý rủi ro, đạt trình độ tương đương với các nước tiến tiến trong khu vực. Đồng thời, xây dựng lực lượng hải quan đạt trình độ chuyên nghiệp, chuyên sâu có trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả góp phần tạo thuận lợi cho các hoạt động thương mại hợp pháp, phát triển du lịch, thu hút đầu tư nước ngoài, đảm bảo an ninh quốc gia, an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và nghĩa vụ hợp pháp của tổ chức, cá nhân là mục tiêu chủ yếu và quan trọng trong bối cảnh hội nhập và xây dựng, phát triển ngành Hải quan trong giai đoạn đến năm 2020.

Để đạt được mục tiêu trên đòi hỏi hệ thống pháp luật về hải quan tiếp tục được hoàn thiện, hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành Luật Hải quan phải bao quát toàn diện về thủ tục hải quan, các hoạt động nghiệp vụ hải quan, các chế độ quản lý hải quan, quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu nhập khẩu. Các quy phạm pháp luật tiếp cận các chuẩn mực quốc tế, phù hợp với yêu cầu quản lý và tạo cơ sở triển khai một số hoạt động cải cách, phát triển hải quan.

Trong phạm vi chuyên đề này, xin được trình bày sự cần thiết ban hành Luật Hải quan sửa đổi; các nội dung cơ bản cần sửa đổi, bổ sung trong Luật Hải quan, trên cơ sở đó hoàn thiện văn bản hướng dẫn thi hành Luật Hải quan và các văn bản pháp luật khác có liên quan.

14.1. Về Luật Hải quan sửa đổi

14.1.1. Tình hình thực hiện Luật Hải quan những năm qua

a. Đánh giá kết quả đạt được trong quá trình thực hiện Luật Hải quan

Luật Hải quan được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2001 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2002 được xây dựng trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những quy định của Pháp lệnh Hải quan năm 1990 và thể chế hóa đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước ta trong điều kiện mới. Luật Hải quan ra đời nhằm thực hiện mục tiêu: “Góp phần bảo đảm thực hiện chính sách của Nhà nước về kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học và công nghệ, hợp tác và giao lưu quốc tế, bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia, lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. Trước đó hoạt động hải quan được điều chỉnh bởi Pháp lệnh Hải quan được xây dựng và ban hành trước khi Hiến pháp năm 1992 ra đời, chủ yếu dựa trên kinh nghiệm quản lý nhà nước về hải quan từ những năm 1985 trở về trước, do đó chưa phản ánh được đầy đủ tinh thần của Hiến pháp năm 1992, chưa thể chế hóa kịp thời các quan điểm đổi mới của Đảng về chính sách phát triển kinh tế-xã hội liên quan đến yêu cầu quản lý nhà nước về hải quan, bên cạnh đó nhiều nội dung của Pháp lệnh không thống nhất và không còn phù hợp với các văn bản pháp luật được ban hành từ sau năm 1990 đến nay và chưa đáp ứng kịp thời những đòi hỏi của các cam kết quốc tế liên quan đến hoạt động hải quan mà Việt Nam tham gia hoặc có nghĩa vụ phải thực hiện. Luật Hải quan ra đời nhằm mục đích giải quyết những mâu thuẫn đó.

Luật Hải quan ra đời là một bước hoàn thiện hệ thống pháp luật hải quan với mục tiêu thể chế hóa đường lối chính sách của Đảng, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp 1992 về xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội vào lĩnh vực hải quan, nội luật hóa các quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia nhằm tạo ra khuôn khổ pháp lý thống nhất, đồng bộ điều chỉnh các quan hệ kinh tế-xã hội liên quan đến hoạt động hải quan phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế mới, thúc đẩy tiến trình cải cách hành chính, góp phần giữ vững ổn định chính trị để phát triển kinh tế – xã hội, tạo thuận lợi cho hội nhập quốc tế đồng thời tham gia bảo vệ lợi ích, chủ quyền và an ninh quốc gia, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Sau hơn 10 năm thực hiện, Luật Hải quan đã góp phần thúc đẩy tiến trình cải cách hành chính, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư, kinh doanh phát triển, bảo đảm an ninh kinh tế, lợi ích chủ quyền và an ninh quốc gia, đã đạt được kết quả quan trọng sau:

Một là, kế thừa quy định đã thực hiện ổn định và hội nhập quốc tế

Luật Hải quan đã tiếp thu, kế thừa những ưu điểm của pháp luật hải quan hơn 56 năm qua, nhất là từ khi đất nước đổi mới, mở cửa và kinh nghiệm qua 10 năm thực hiện Pháp lệnh Hải quan, tiếp thu, tham khảo kinh nghiệm lập pháp của một số nước khu vực và trên thế giới về lĩnh vực hải quan; nội luật hóa tối đa những thỏa thuận trong Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập, có tính đến các tập quán và thông lệ quốc tế về lĩnh vực hải quan trên thế giới;

Một số quy định tại các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc là thành viên đã được nội luật hóa tại Luật hải quan, đặc biệt là các chuẩn mực của Công ước Quốc tế sửa đổi về Đơn giản hóa và Hài hòa hóa về Thủ tục Hải quan.

Luật Hải quan đã bước đầu tạo điều kiện thuận lợi để triển khai Hiệp định cơ chế một cửa ASEAN 2005; Khung tiêu chuẩn đảm bảo an ninh thương mại toàn cầu (FOS) của Tổ chức Hải quan thế giới; Công ước về hỗ trợ hành chính lẫn nhau về vấn đề hải quan (Công ước Johanesburg); Công ước vận tải đường bộ quốc tế (Công ước TIR). Thực hiện các cam kết trong ASEAN về thủ tục hải quan, như: hành lang xanh; Tờ khai chung ASEAN; Danh mục biểu thuế chung ASEAN,… Triển khai thực hiện các nội dung liên quan của Hiệp định giữa Chính phủ các nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, Vương quốc Thái Lan, Myanmar, Campuchia, Trung Quốc và Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về tạo điều kiện thuận lợi cho vận tải hàng hoá và người qua lại biên giới trong khuôn khổ Hợp tác Tiểu vùng sông Mê-Kông mở rộng (Hiệp định GMS); tăng cường liêm chính cho cán bộ, công chức Hải quan theo Tuyên bố Arusha về liêm chính hải quan của Tổ chức Hải quan thế giới.

Nội dung của Luật Hải quan và các văn bản hướng dẫn thi hành đã nội luật hóa các quy định về việc phân loại hàng hóa xuất nhập khẩu theo danh mục hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa, Công ước quốc tế về hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa được Việt Nam tham gia và có hiệu lực từ ngày 01/01/2000, quy định về việc áp dụng trị giá GATT trong việc xác định trị giá tính thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, quy định về việc áp dụng các biện pháp kiểm soát chống vi phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa xuất nhập khẩu và đặc biệt hơn cả trong lĩnh vực điều chỉnh các quan hệ pháp luật mới phát sinh. Luật Hải quan và các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định về nguyên tắc, điều kiện, thủ tục tạm dừng thủ tục hải quan đối với hàng hóa có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, phù hợp với Hiệp định Trips và lộ trình thực thi Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ.

Hai là, góp phần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa quản lý hải quan

Luật đã góp phần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính về hải quan và hiện đại hóa hoạt động quản lý hải quan, chuyển một bước từ phương thức quản lý thủ công sang phương thức quản lý hiện đại dựa trên ứng dụng công nghệ thông tin và thủ tục hải quan điện tử.

Các thủ tục hành chính về hải quan đã được quy định rõ ràng, minh bạch, đơn giản, thông thoáng hơn; tạo điều kiện thuận lợi để hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất, nhập cảnh được thông quan với thời gian và chi phí giảm đi đáng kể, góp phần nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Nhiều khâu trung gian không cần thiết đã được loại bỏ; thời gian tiến hành thủ tục hải quan được rút ngắn; các giấy tờ người khai hải quan phải nộp, phải xuất trình được giảm bớt.

– Đơn giản, giảm thiểu chứng từ thuộc hồ sơ hải quan.

Từ khi Luật Hải quan năm 2001 ra đời, cùng với quá trình thực hiện công cuộc cải cách hành chính, nhiều khâu trung gian trong quá trình làm thủ tục hải quan không cần thiết đã được loại bỏ; rút ngắn thời gian làm thủ tục hải quan, đặc biệt, hồ sơ hải quan được đơn giản hoá, giảm bớt giấy tờ không cần thiết, như: hợp đồng đối với hàng xuất khẩu; chứng nhận xuất xứ hàng hóa đối với nhóm hàng được hưởng thuế suất ưu đãi; giấy thông báo thuế. Chứng từ thuộc Hồ sơ hải quan được giảm thiểu tối đa, đơn giản hoá các hình thức trình, nộp chứng từ; nhiều chứng từ trước đây phải nộp, trình bản chính, nay được trình hoặc nộp bản sao hoặc bản phô tô; bỏ tờ khai đối với hành khách xuất, nhập cảnh. Doanh nghiệp chỉ phải nộp, xuất trình số chứng từ tối thiểu cho cơ quan hải quan, như: lô hàng bình thường thì xuất khẩu phải nộp 3 loại giấy tờ, nhập khẩu phải nộp 4 loại giấy tờ. Lô hàng thuộc diện miễn kiểm tra, chỉ cần khai trên tờ khai hải quan, các chứng từ khác liên quan lưu tại doanh nghiệp. Đối với lô hàng phải qua kiểm tra hồ sơ, doanh nghiệp chỉ phải nộp các chứng từ (có thể dưới dạng chứng từ điện tử được chuyển hóa từ chứng từ giấy) khi có yêu cầu của cơ quan hải quan. Năm 2003, số lượng chứng từ trong hồ sơ hải quan: đối với lô hàng xuất khẩu trung bình là 08 loại giấy tờ và nhập khẩu là 14 loại. Đến năm 2010, lô hàng xuất khẩu còn 03 loại, lô hàng nhập khẩu còn 05 loại giấy tờ (tùy theo trường hợp không yêu cầu nộp hợp đồng).

– Đơn giản hóa, giảm bớt các khâu, các bước trong thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan, giảm thiểu, rút ngắn tối đa thời gian thông quan

Ngành Hải quan đã tiến hành nhiều biện pháp để cải tiến thủ tục hải quan, quy trình nghiệp vụ, sắp xếp lại bộ máy và dây chuyền thông quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; từng bước áp dụng các khuyến nghị, thông lệ hải quan quốc tế.

Cải cách, đơn giản hóa thủ tục hải quan, bỏ bớt khâu trung gian: hàng hoá thuộc luồng đỏ còn 4 bước, luồng vàng còn 3 bước và luồng xanh chỉ còn 2 bước. Kiểm tra hải quan được thực hiện theo phương châm: giảm tiền kiểm, tăng hậu kiểm. Tiêu chí xác định hình thức kiểm tra thực tế hàng hóa trên cơ sở quá trình chấp hành pháp luật của người khai hải quan và các tiêu chí liên quan đến mặt hàng. Kiểm tra thực tế hàng hoá có trọng điểm, mở rộng diện miễn kiểm tra hoặc kiểm tra xác suất; bãi bỏ việc kiểm tra tràn lan. Tỉ lệ phần trăm các lô hàng chịu sự kiểm tra thực tế đã giảm xuống gần tiêu chí theo kế hoạch đặt ra. Cụ thể, tỷ lệ kiểm tra thực tế hàng hoá trước năm 2000 là 100%, đến 2013 còn khoảng 10,2%, giảm 89,8%. Những cải cách về thủ tục đã góp phần rút ngắn thời gian thông quan, giảm chi phí cho doanh nghiệp, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

Thời gian thông quan đã được cải thiện hơn rất nhiều so với giai đoạn trước khi ban hành Luật Hải quan. Quá trình tổ chức thực hiện thủ tục hải quan được quán triệt theo mục tiêu: “tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp; đơn giản hóa, công khai hóa và từng bước hiện đại hóa các khâu trong thủ tục hải quan”; chống tiêu cực, phiền hà, ách tắc; giảm các chi phí không cần thiết, nhưng vẫn bảo đảm quản lý hải quan chặt chẽ, đúng pháp luật, nên thời gian thông quan (từ khi tiếp nhận hồ sơ đến khi thông quan) được rút ngắn. Chẳng hạn, năm 2010, thời gian xử lý tổng thể quản lý hải quan tại cảng biển, từ khi hàng đến đến khi giải phóng hàng là 7,78 ngày (bằng 186 giờ 48 phút), giảm 7% so với năm 2004 (bằng 8,41 ngày); thời gian xử lý từ khi đăng ký tờ khai đến khi giải phóng hàng tại cảng biển là 14 giờ 16 phút (giảm được 75%) so với 56 giờ 55 phút (năm 2004); thời gian xử lý phân luồng các tờ khai so với năm 2004 giảm đáng kể: luồng xanh giảm 86%, luồng vàng giảm 82% và luồng đỏ giảm 67%. Có thể thấy, đây là một bước tiến vượt bậc trong quản lý hải quan hiện đại, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế, trong khi lưu lượng hàng xuất khẩu, nhập khẩu ngày càng tăng.

– Minh bạch hóa, công khai hóa các quyền, nghĩa vụ của người khai hải quan, công chức hải quan khi thực hiện thủ tục hải quan

So với trước đây, quyền lợi của doanh nghiệp, người khai hải quan khi thực hiện thủ tục hải quan được thể hiện rõ tại Luật Hải quan, như: “Được cơ quan hải quan cung cấp thông tin liên quan đến việc khai hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và hướng dẫn làm thủ tục hải quan”, được “xem trước hàng hoá, lấy mẫu hàng hoá dưới sự giám sát của công chức hải quan trước khi khai hải quan”, “Khiếu nại, tố cáo việc làm trái pháp luật của cơ quan hải quan, công chức hải quan”, “Yêu cầu bồi thường thiệt hại phát sinh do cơ quan hải quan, công chức hải quan gây ra theo qui định của pháp luật” đã góp phần quan trọng trong việc dân chủ hoá một bước hoạt động kinh tế, xã hội liên quan đến lĩnh vực hải quan. Tương ứng với các quyền của người khai hải quan, Luật đã cá thể hoá trách nhiệm của công chức hải quan trong thi hành công vụ, như: “Nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, qui trình nghiệp vụ hải quan và chịu trách nhiệm về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình”, “Lấy mẫu hàng hoá với sự có mặt của người khai hải quan” (Điều 23 Luật hải quan ).

– Tích cực triển khai, áp dụng phương pháp quản lý rủi ro

Ngay từ năm 2005, cơ chế phân tích, đánh giá rủi ro, tiêu chí phân luồng được ngành Hải quan thiết lập, triển khai tại 3 cấp: Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan địa phương và Chi cục Hải quan. Bộ tiêu chí để đánh giá rủi ro ban đầu (năm 2006) gồm 75 tiêu chí. Đến năm 2008, Bộ Tài chính quy định chuẩn hóa các tiêu chí thành 04 loại: tiêu chí quy định; tiêu chí phân tích; tiêu chí tính điểm và tiêu chí lựa chọn ngẫu nhiên; Tổng cục Hải quan đã chi tiết hóa thành bộ tiêu chí quản lý rủi ro thành 85 nhóm. Đến nay, toàn Ngành đã xây dựng, cập nhật và đưa vào áp dụng tổng số 9095 tiêu chí quản lý rủi ro để thực hiện phân luồng tờ khai hải quan phù hợp với từng cấp, đơn vị. Tiêu chí quản lý rủi ro lạc hậu được loại bỏ, tiêu chí mới được xây dựng, cập nhật thường xuyên. Đến 31/12/2013, toàn Ngành đang áp dụng 6.781 tiêu chí phân tích, 438 tiêu chí quy định để kiểm soát phân luồng tờ khai; cập nhật, kiểm soát trên hệ thống quản lý rủi ro được: 26.181 lượt hồ sơ doanh nghiệp. Từ đó, giúp công chức hải quan quản lý, theo dõi các đối tượng có rủi ro về vi phạm pháp luật hải quan, thiết lập tiêu chí để phân luồng kiểm tra trong thông quan và chuyển giao kiểm tra sau thông quan.

Thống kê cho thấy, tháng 01/2006: 16% doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật hải quan; tháng 6/2006: 29% doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật hải quan; tháng 12/2006: 39% doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật hải quan. (iii) giảm tỷ lệ kiểm tra hàng hoá; giảm áp lực về khối lượng công việc cho cơ quan hải quan trong điều kiện lưu lượng hàng hoá xuất nhập khẩu ngày càng gia tăng. Tỷ lệ kiểm tra hàng hoá, năm 2005: miễn kiểm tra 40,2%; kiểm tra thực tế 59,8%; đến tháng 31/12/2013, tỷ lệ phân luồng xanh 60,3%; tỷ lệ phân luồng vàng 29,5%; tỷ lệ phân luồng đỏ 10,3%. Tỷ lệ doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật hải quan: 79.461/98.6489 chiếm tỷ lệ 80,5%.

– Về  thực hiện thủ tục hải quan điện tử

Ngành Hải quan đã chủ động triển khai, khuyến khích áp dụng thủ tục hải quan điện tử, cụ thể: Trên cơ sở nội dung của Luật Hải quan, ngày 20/6/2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 149/2005/QĐ-TTg thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử. Việc thí điểm thực hiện thủ tục hải quan điện tử theo Quyết định này gần 04 năm (2005-2009) tại 02 Chi cục Hải quan điện tử thuộc Cục Hải quan TP.Hải Phòng và TP. Hồ Chí Minh, mặc dù bước đầu đã đạt được những thành công nhất định, tuy nhiên vẫn khó mở rộng và sức lan tỏa còn hạn chế. Vì vậy, năm 2009, tại Quyết định số 103/2009/QĐ-TTg sửa đổi bổ sung Quyết định số 149/2005/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ đã chủ trương chuyển mô hình thí điểm Chi cục Hải quan điện tử (chỉ thực hiện thủ tục hải quan điện tử) sang mô hình Chi cục Hải quan áp dụng đồng thời cả 2 phương thức thủ tục hải quan điện tử và thủ công mở rộng tại 20 Cục Hải quan tỉnh, thành phố. Đến 24/12/2013, số doanh nghiệp đăng ký tham gia thủ tục hải quan điện tử đạt 49,7 nghìn doanh nghiệp chiếm 96% tổng số doanh nghiệp thực hiện thủ tục hải quan; số tờ khai thực hiện thủ tục hải quan điện tử đến 24/12/2013 đạt 5.4 triệu tờ khai chiếm tỷ lệ 93,2% so với tổng số tờ khai toàn quốc. Kim ngạch xuất nhập khẩu thực hiện bằng thủ tục hải quan điện tử đạt 246,15 tỷ đô la Mỹ chiếm tỷ lệ 96% so với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu toàn quốc.

Đến nay, thủ tục hải quan điện tử được triển khai tại tất cả 34/34 (100%) Cục Hải quan tỉnh, thành phố. Số Chi cục đã thực hiện hải quan điện tử là 148/170 Chi cục. Hiện đã có 23/34 Cục Hải quan đã triển khai tại 100% Chi cục trực thuộc. Thời gian thông quan lô hàng xuất, nhập khẩu trung bình: luồng xanh từ 3-15 phút; luồng vàng từ 10-60 phút; luồng đỏ phụ thuộc thời gian kiểm tra thực tế hàng hóa.

Ba là, Luật Hải quan đã tạo cơ sở pháp lý để nâng cao hiệu quả phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới

Phòng chống buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới là một trong các nhiệm vụ trọng tâm của Ngành hải quan, được quy định tại điều 11 Luật Hải quan và cụ thể hóa tại Chương IV từ Điều 63 đến Điều 67 theo đó, trách nhiệm, thẩm quyền, nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới trong phạm vi địa bàn hoạt động hải quan của cơ quan Hải quan được quy định đầy đủ hơn. Trong địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan Hải quan chủ trì phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới. Ngoài địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan Hải quan phối hợp với các lực lượng chức năng phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới. Nhiều giải pháp đồng bộ phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới trong và ngoài địa bàn hoạt động hải quan đã được thực hiện có kết quả. Công tác phối hợp giữa cơ quan Hải quan với các lực lượng chức năng được tăng cường theo hướng tích cực. Số vụ vi phạm phát hiện, bắt giữ và xử lý của ngành Hải quan tăng qua các năm: năm 2010 – 11.150 vụ, thu nộp ngân sách 68.100 triệu đồng; năm 2011 – 18.666 vụ, thu nộp ngân sách 158.338 triệu đồng; năm 2012 – 23.268 vụ, thu nộp ngân sách 240.087 triệu đồng; từ ngày 16/12/2013 đến 15/12/2013 toàn ngành đã phát hiện, bắt giữ được 22.012 vụ việc vi phạm (trong đó có 677 vụ việc liên quan đến ma túy), trị giá hàng hoá vi phạm ước tính trên 565 tỷ 426 triệu đồng. Số đã xử lý, thu nộp ngân sách đạt 148 tỷ 827 triệu đồng; Cơ quan Hải quan ra quyết định khởi tố 30 vụ, chuyển cơ quan khác khởi tố 45 vụ. Từ năm 2010 đến 15/12/2013, ngành Hải quan đã khởi tố 60 vụ, chuyển cơ quan khác để khởi tố 243 vụ vi phạm.

Bốn là, Luật Hải quan đã tạo cơ sở pháp lý để thu đúng, thu đủ các sắc thuế liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và các khoản thu khác

Luật Hải quan đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để ngành Hải quan tăng cường hoạt động kiểm tra sau thông quan, thực thi nhiệm vụ thu đúng, thu đủ các sắc thuế liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và thu khác vào ngân sách quốc gia.

– Tăng cường hoạt động kiểm tra sau thông quan

Trên cơ sở quy định tại Điều 32 Luật Hải quan và được triển khai kể từ ngày 01/01/2002, hoạt động kiểm tra sau thông quan đã đạt được một số kết quả nhất định, góp phần quan trọng vào việc hoàn thành nhiệm vụ quản lý nhà nước về hải quan. Bước đầu, hoạt động kiểm tra sau thông quan đã dần đi vào nề nếp, làm chuyển biến thay đổi về nhận thức của công chức trong toàn ngành Hải quan, cũng như đối tượng, cơ quan, tổ chức có liên quan về phương thức quản lý hải quan tiên tiến và kiểm tra hải quan hiện đại.

Công tác kiểm tra sau thông quan được tiến hành theo nguyên tắc quản lý rủi ro, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào các hồ sơ thuộc diện ưu tiên, ưu đãi, miễn kiểm tra. Từ năm 2002 đến 25/12/2013, đã tiến hành 11.674 cuộc kiểm tra sau thông quan. Đã ra quyết định truy thu từ kiểm tra sau thông quan 4.812,65 tỷ đồng;  

Việc áp dụng cơ chế kiểm tra sau thông quan đã chỉ ra rằng: trách nhiệm công vụ của công chức làm thủ tục hải quan bao hàm cả ở trong và sau khi hàng hoá đã được thông quan. Từ đó, góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm pháp lý, tinh thần kỷ luật, tuân thủ các quy trình thông quan của đội ngũ công chức làm các thủ tục trong giai đoạn thông quan hàng hoá. Qua hoạt động kiểm tra sau thông quan, kết hợp với tuyên truyền, hướng dẫn đã giúp cho doanh nghiệp nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, đó là: (i) sau khi được kiểm tra sau thông quan các doanh nghiệp đã nhận thức được rằng: giảm thiểu kiểm tra trong thông quan không có nghĩa là cơ quan hải quan buông lỏng quản lý, có thể lợi dụng để vi phạm pháp luật, mà tiếp tục chịu sự kiểm tra sau thông quan, tạo ra ý thức chấp hành pháp luật tốt hơn. (ii) Kiểm tra sau thông quan đã chỉ ra nhiều sai sót về thực hiện pháp luật, chính sách hải quan mà doanh nghiệp chưa biết, chưa nắm vững, từ đó giúp họ củng cố, tìm hiểu rõ các quy định để không tiếp tục vi phạm, tránh được vi phạm do lỗi vô ý; (iii) Nhiều vi phạm được phát hiện, xử lý đúng pháp luật đã cảnh tỉnh, nhắc nhở doanh nghiệp, răn đe, ngăn ngừa các vi phạm do lỗi cố ý.

– Thực thi nhiệm vụ tổ chức thu thuế và các khoản thu  khác

Luật đã quy định quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các chủ thể tham gia quản lý, thu, nộp thuế trong hoạt động xuất nhập khẩu. Cơ chế người khai hải quan tự khai, tự tính, tự nộp thuế, tự chịu trách nhiệm về nội dung kê khai thuế; ân hạn thuế gắn với yêu cầu chấp hành tốt pháp luật được áp dụng. Qua đó thu về thuế từ hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu được bảo đảm, ngành Hải quan cơ bản hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch thu ngân sách nhà nước giao hàng năm (năm 2006 số thu đạt 61.013 tỷ đồng, năm 2007 số thu đạt 84.965 tỷ đồng, năm 2008 số thu đạt 125.517 tỷ đồng, đến 31/12/2013 số thu đã là 221.421 tỷ đồng, tăng hơn 3,6 lần so với năm 2006).

Năm là, tạo cơ sở pháp lý để tổ chức, xây dựng bộ máy ngành hải quan và đội ngũ công chức hải quan hoạt động hiệu quả, chuyên nghiệp

Luật Hải quan đã dành 01 Điều quy định về hệ thống tổ chức bộ máy hải quan (Điều 13) và 01 Điều quy định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Hải quan và 01 Điều quy định về công chức hải quan. Theo đó, tổ chức bộ máy hải quan có 03 cấp, hoạt động của lực lượng hải quan theo nguyên tắc tập trung, thống nhất, có thực quyền, cá thể hóa quyền và nghĩa vụ của công chức hải quan khi thực hiện thủ tục hải quan, phù hợp với tính chất đặc thù của hoạt động hải quan; tạo cơ sở xây dựng đội ngũ công chức hải quan trong sạch, vững mạnh, tinh thông nghiệp vụ, tính kỷ luật, hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Thực tiễn tổng kết cho thấy, trong giai đoạn hiện nay, hệ thống tổ chức Hải quan gồm các như trên cấp đã đáp ứng yêu cầu quản lý đặc thù của ngành Hải quan. Mặt khác, chức năng, nhiệm vụ của Hải quan không chỉ duy nhất có nhiệm vụ thu thuế hàng hóa xuất, nhập khẩu, mà còn là “người gác cửa” an ninh kinh tế, an ninh quốc gia; góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc cải cách hành chính nước ta, nhất là cải cách bộ máy hành chính, với chủ trương giảm bớt đầu mối trực thuộc Chính phủ, bớt cấp trung gian, tinh giản bộ máy đang được tiến hành.

b. Hạn chế, bất cập của Luật Hải quan trong quá trình thực hiện và trước yêu cầu hội nhập

Qua hơn 10 năm thực hiện, cùng với những ưu điểm, tiến bộ và kết quả đạt được như đã phân tích ở trên, Luật Hải quan cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện và trước yêu cầu thực tiễn và hội nhập kinh tế quốc tế. Đáng chú ý trong số đó là:

– Hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi phải tiếp tục bổ sung cơ sở pháp lý, phải tăng cường hợp tác hải quan và hội nhập hải quan quốc tế. Thời gian qua, Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định, điều ước quốc tế song phương, đa phương; trong đó, có nhiều nội dung chưa được quy định trong Luật hải quan hiện hành nhưng Việt Nam đã có trách nhiệm thực hiện theo các cam kết đã ký như: hoạt động kiểm tra hàng hóa xuất nhập khẩu tại địa điểm kiểm tra chung với các nước láng giềng, kiểm tra hàng hóa từ nước xuất khẩu; cử cán bộ hải quan ra nước ngoài thu thập thông tin, thực hiện các hoạt động nghiệp vụ hải quan và tiếp nhận công chức hải quan nước ngoài đến Việt Nam thực hiện các hoạt động tương ứng. Mặt khác, đối chiếu với các chuẩn mực hải quan quốc tế, Luật Hải quan đã có những điểm chưa được nội luật hoặc nội luật chưa đầy đủ từ khái niệm đến các quy định quản lý hải quan mới theo công ước Kyoto, Hiệp định GMS, Khung tiêu chuẩn về An ninh và Tạo thuận lợi thương mại toàn cầu của Tổ chức Hải quan thế giới cũng như các chế định để thực hiện cơ chế một cửa quốc gia, một cửa ASEAN…

– Luật chưa tạo điều kiện pháp lý đầy đủ cho việc hiện đại hóa hải quan mà trước hết là triển khai rộng rãi, phổ biến thủ tục hải quan điện tử; chưa quy định thủ tục hải quan đối với các loại hình hàng hóa nhập khẩu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu, hàng hóa gia công, hàng hóa xuất nhập khẩu của doanh nghiệp chế xuất, khu chế xuất, khu kinh tế cửa khẩu trong khi thực tế các loại hình này phát triển mạnh và được Luật Thương mại, các Luật Thuế quy định.

– Các quy định về thủ tục hải quan, hoạt động kiểm tra giám sát hải quan từ hồ sơ đến quy trình khai hải quan, việc áp dụng chế độ quản lý hải quan đối với các loại hình hàng hóa xuất nhập khẩu; các quy định về địa điểm làm thủ tục hải quan, kiểm tra thực tế hàng hóa, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu và thông quan đối với hàng hóa, phương tiện vận tải xuất nhập cảnh trong Luật hiện hành chủ yếu theo phương thức thủ công truyền thống đã bộc lộ những bất hợp lý cản trở việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quy trình nghiệp vụ và tiến trình hiện đại hóa hải quan.

– Luật chưa xác định rõ ràng về trách nhiệm của cơ quan hải quan, của các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan trong việc kiểm tra chất lượng, tiêu chuẩn đối với hàng hóa xuất nhập khẩu của cơ quan chuyên ngành tại cửa khẩu để bảo đảm thông quan hàng hóa nhanh, đồng thời đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước; chưa quy định về cơ chế một cửa quốc gia tiến tới một cửa ASEAN trong việc thực hiện thủ tục liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hóa tại các cửa khẩu; chưa quy định cụ thể về tiêu chuẩn trong việc quy hoạch các khu vực cảng, cửa khẩu nhằm bảo đảm các điều kiện để trang bị máy móc thiết bị phục vụ hoạt động quản lý nhà nước tại cảng, cửa khẩu trong đó có công tác hải quan. Luật cũng chưa có quy định về quyền hạn và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trực tiếp tham gia trong việc quản lý, lưu giữ hàng hóa xuất nhập khẩu như doanh nghiệp kinh doanh cảng, kho, bãi, doanh nghiệp vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu.

– Các quy định về phạm vi, biện pháp, trách nhiệm của cơ quan hải quan, của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong công tác phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới trong Luật Hải quan hiện hành chưa đầy đủ so với thực tế tổ chức triển khai thực hiện, một số quy định hiện đang được thực hiện tại các văn bản dưới Luật dẫn đến những hạn chế trong hiệu quả hoạt động của công tác này.

– Trong quá trình thực hiện quản lý thu thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, các quy định liên quan đến chính sách quản lý thu theo các Luật thuế và Luật Quản lý thuế đã thay đổi chưa được quy định đồng bộ trong Luật Hải quan dẫn đến những hạn chế trong công tác tổ chức thu thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu.

14.1.2. Sự cần thiết ban hành Luật Hải quan (sửa đổi)

Việc sửa đổi Luật Hải quan xuất phát từ các lý do sau:

Một là, xuất phát từ yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng mà thực tế phát triển kinh tế đối ngoại trước mắt cũng như lâu dài đặt ra.

Hội nhập kinh tế quốc tế, hội nhập quốc tế đã trở thành tất yếu trong quá trình phát triển của đất nước. Luật Hải quan hiện hành cần được sửa đổi để nội luật hóa đầy đủ hơn các điều ước quốc tế về hải quan mà Việt Nam là thành viên như Công ước quốc tế về Hài hòa và đơn giản hóa thủ tục hải quan (Công ước Kyoto), Hiệp định GMS, Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN, Hiệp định về việc thực hiện cơ chế một cửa ASEAN, Hiệp định hợp tác hải quan ASEAN và góp phần cơ sở pháp lý để tham gia đàm phán các Hiệp định: Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc, Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Hiệp hội mậu dịch tự do Châu Âu (EFTA), Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Hải quan, Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP)… Trong các điều ước quốc tế này có nhiều nội dung Việt Nam đã cam kết, dự kiến cam kết nhưng chưa được nội luật hóa trong Luật, một số quy định hiện đang triển khai ở văn bản dưới Luật. Vì vậy, chưa tạo cơ sở pháp lý cao để triển khai thực hiện. Ví dụ: cơ chế xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan; doanh nghiệp ưu tiên; thông báo thông tin trước khi phương tiện vận tải đến cảng; giải phóng hàng, kiểm tra chung giữa các nước láng giềng,….

Hai là, việc sửa đổi Luật Hải quan tạo hành lang pháp lý cho hiện đại hóa hoạt động hải quan, áp dụng rộng rãi phổ biến hải quan điện tử, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Luật Hải quan hiện hành, mặc dù đã được sửa đổi bổ sung năm 2005 tạo tiền đề áp dụng hải quan điện tử song chưa đảm bảo được cơ sở pháp lý cho việc chuyển hẳn sang áp dụng rộng rãi phổ biến. Trước sự phát triển nhanh của nền kinh tế, hội nhập quốc tế, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam 2005 – 2010 tăng bình quân 25%/năm; năm 2011 tăng 29,7% so với năm 2010; năm 2013 đã đạt được 264 tỷ USD; số lượng tờ khai hải quan 2013 đạt 5,92 triệu. Trên cơ sở Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011-2020, định hướng đến năm 2030, dự kiến đến năm 2020 kim ngạch xuất nhập khẩu đạt trên 400 tỷ USD; số lượng tờ khai hải quan đạt trên 10 triệu tờ khai, đòi hỏi việc thông quan hàng hóa của ngành Hải quan phải có những thay đổi cơ bản để đáp ứng, trong khi đó về cơ bản các nội dung trong Luật Hải quan hiện hành vẫn quy định thực hiện theo phương thức thủ công truyền thống từ việc quy định hồ sơ hải quan, khai hải quan đến thông quan. Vì vậy, việc ban hành Luật Hải quan (sửa đổi) hướng tới mục tiêu tạo khung pháp lý để áp dụng phổ biến hải quan điện tử phục vụ có hiệu quả sự phát triển của hoạt động kinh tế đối ngoại trong chiến lược kinh tế xã hội giai đoạn mới.

Ba là, từ yêu cầu của cải cách hành chính, cải cách thủ tục hải quan hướng tới một hoạt động hải quan công khai, minh bạch, hiệu quả hơn, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để nâng cao hiệu quả, hiệu lực công tác bảo vệ lợi ích chủ quyền quốc gia, phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại.

 Thời gian qua, cải cách hành chính mà trước hết là cải cách thủ tục hành chính trong các hoạt động quản lý nhà nước trong đó có cải cách thủ tục hải quan đã được thực hiện và thu được kết quả tích cực. Cải cách thủ tục hải quan những năm qua đã mang lại hiệu ứng tích cực cho nền kinh tế, góp phần giảm thời gian và chi phí thủ tục, tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp đồng thời góp phần thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Các kết quả ấy cần được phải được củng cố, phát triển bằng pháp luật. Luật Hải quan sửa đổi nhằm hướng tới mục tiêu quan trọng này.

Bốn là, để tạo môi trường pháp luật thống nhất và đồng bộ áp dụng trong nền kinh tế và khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật Hải quan hiện hành

Từ ngày Luật Hải quan ban hành đến nay, có nhiều Luật khác liên quan đã được bổ sung, sửa đổi, đòi hỏi Luật Hải quan phải sửa đổi để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất giữa các Luật, như: Luật Thương mại, Luật Quản lý thuế, Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa, Luật An toàn thực phẩm, Luật Biển Việt Nam, Pháp lệnh Ngoại hối,…; đồng thời phải sửa đổi, bổ sung những quy định trong Luật Hải quan để khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình thực hiện hơn 10 năm qua.

14.1.3. Quan điểm chỉ đạo và mục tiêu xây dựng dự thảo Luật Hải quan sửa đổi

a. Quan điểm chỉ đạo

Quan điểm xuyên suốt trong quá trình xây dựng Luật Hải quan (sửa đổi) là đổi mới toàn diện hoạt động hải quan thông qua tạo điều kiện áp dụng quản lý hải quan hiện đại phù hợp với thông lệ quốc tế, góp phần bảo vệ lợi ích chủ quyền và an ninh quốc gia; góp phần thu hút đầu tư nước ngoài và nâng cao sức cạnh tranh trong nước và quốc tế của các doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. 

b. Mục tiêu xây dựng dự án Luật

Một là, tạo nền tảng pháp luật thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020 được thông qua tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam; Chiến lược phát triển tài chính, chiến lược phát triển hải quan đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; đồng thời khắc phục các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện Luật Hải quan; tháo gỡ bất cập, chồng chéo trong hệ thống pháp luật hải quan và bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các pháp luật liên quan; bảo đảm tính khả thi, minh bạch và thuận lợi cho tổ chức thực hiện.

Hai là, sửa đổi, bổ sung những quy định nhằm góp phần phục vụ chiến lược hội nhập quốc tế, hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước đã đề ra; phù hợp với các cam kết quốc tế Việt Nam mới tham gia nhất là từ khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) ngày 11.1.2007 và chuẩn bị cơ sở pháp luật để phục vụ hội nhập sâu, rộng hơn trong giai đoạn tới.

Ba là, đổi mới các nội dung và các điều luật theo hướng gia tăng các quy định nhằm cải cách thủ tục hành chính; cải cách thủ tục hải quan theo hướng đơn giản, rõ ràng, công khai, thuận tiện, thống nhất, đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế, thực hiện hải quan điện tử, một cửa quốc gia tạo thuận lợi thương mại, phục vụ phát triển kinh tế xã hội.

Bốn là, nâng cao năng lực và hiệu quả của hoạt động hải quan trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo vệ an ninh kinh tế; nâng cao hiệu lực và hiệu quả trong phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới, gian lận thương mại; tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước và các tổ chức, cá nhân có liên quan với cơ quan hải quan trong việc thực hiện pháp luật hải quan.

14.1.4. Một số nội dung cơ bản sửa đổi, bổ sung Luật Hải quan

a. Nhóm vấn đề về cải cách thủ tục hải quan, hiện đại hoá quản lý hải quan, nội luật hoá các cam kết quốc tế đáp ứng yêu cầu hội nhập và tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu.

Trong nhóm vấn đề này, dự thảo Luật tập trung sửa đổi, bổ sung một số nội dung chủ yếu sau:

Một là, thay đổi căn bản phương thức thực hiện thủ tục hải quan từ phương thức truyền thống, bán điện tử sang phương thức điện tử,

Luật Hải quan hiện hành cơ bản được xây dựng trên cơ sở thực hiện thủ tục hải quan theo phương thức truyền thống (thủ công) từ khâu tiếp nhận tờ khai, kiểm tra, giám sát đến thông quan hàng hóa. Luật Hải quan có sửa đổi, bổ sung năm 2005 đã bước đầu tạo tiền đề để áp dụng hải quan điện tử, song khi triển khai rộng rãi phát sinh một số bất cập về pháp lý.

 Để khắc phục bất cập nêu trên, Luật Hải quan sửa đổi cần có quy định về khai hải quan theo hướng “Khai hải quan được thực hiện theo phương thức điện tử,…”; việc khai trong tờ khai giấy chỉ áp dụng đối với một số trường hợp cụ thể do Chính phủ quy định; theo đó, việc kiểm tra hồ sơ hải quan được cơ bản thực hiện thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan hoặc đối với một số trường hợp cụ thể được thực hiện trực tiếp bởi công chức hải quan.

Các quy định về địa điểm làm thủ tục hải quan, hồ sơ hải quan, thời hạn nộp hồ sơ hải quan, đăng ký tờ khai hải quan cũng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thủ tục hải quan điện tử, phù hợp với Công ước Kyoto.

Nhằm bảo đảm tính minh bạch và triển khai hiệu quả các ứng dụng công nghệ thông tin để hiện đại hoá chế độ quản lý hải quan, phù hợp với thủ tục hải quan điện tử và cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan. Luật Hải quan sửa đổi cũng cần có quy định về thủ tục hải quan theo hướng: các loại hình có chung bản chất sẽ cơ bản áp dụng chung thủ tục; đồng thời, bổ sung quy định về thủ tục hải quan đối với một số loại hình hàng hóa nhập nguyên liệu, vật tư để gia công hoặc sản xuất hàng hoá xuất khẩu; hàng hoá xuất nhập khẩu của khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất; một số loại hình tạm xuất khẩu, tạm nhập khẩu…. Các loại hình này chưa được quy định trong luật hiện hành nhưng thực tế đã được Luật Thương mại và các Luật thuế quy định.

Hai là, tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính về hải quan

– Về hồ sơ hải quan

Theo quy định tại Điều 22 Luật Hải quan, hồ sơ hải quan gồm 5 loại: tờ khai; hóa đơn thương mại; hợp đồng mua bán; giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu (nếu có) và các chứng từ khác theo quy định của pháp luật (Điều 22). Tại Điều 7 Nghị định số 154/2005/NĐ-CP quy định về thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra giám sát hải quan quy định hồ sơ đối với hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu tương tự như quy định tại Luật Hải quan; nhưng bỏ hoá đơn thương mại đối với hàng hóa xuất khẩu, bổ sung bản kê chi tiết đối với hàng hóa không đồng nhất, nhiều chủng loại và bổ sung vận tải đơn đối với hàng nhập khẩu. Quy định về hồ sơ hải quan được hướng dẫn chi tiết tại Thông tư 194/2010/TT-BTC: đối với hàng hóa xuất khẩu, hợp đồng chỉ nộp, xuất trình khi hàng hóa xuất khẩu có thuế; đối với hàng hóa nhập khẩu, quy định chi tiết các giấy tờ phải nộp nếu thuộc danh mục hàng hóa phải kiểm tra chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, kiểm dịch động vật; hàng hóa thuộc diện được miễn thuế….

Có thể nhận thấy các quy định về hồ sơ hải quan quy định tại các cấp độ văn bản Luật, Nghị định, Thông tư chưa có sự thống nhất và minh bạch. Một số loại chứng từ theo quy định của Luật Hải quan bắt buộc phải có trong hồ sơ khai hải quan, nhưng trong thực tế quản lý, cơ quan Hải quan chỉ cần sử dụng để xử lý trong một số trường hợp, ví dụ như hợp đồng, bản kê chi tiết. Như vậy, thành phần hồ sơ nhiều nhưng trong những trường hợp nhất định thì một số chứng từ không thật sự cần thiết, làm phát sinh thêm thời gian và chi phí chuẩn bị các chứng từ của các doanh nghiệp.

– Về việc nộp hồ sơ hải quan

Điểm a khoản 1 Điều 16 Luật Hải quan quy định người khai hải quan phải nộp các chứng từ đi kèm Tờ khai hải quan khi làm thủ tục hải quan. Nếu thực hiện thủ tục hải quan điện tử và phân luồng tự động trên hệ thống thông quan thì sẽ phải gửi kèm hồ sơ dưới dạng file đính kèm, như vậy dung lượng sẽ rất lớn, làm chậm tốc độ xử lý của hệ thống. Mặt khác, việc xử lý phân luồng tự động chủ yếu dựa trên thông tin tờ khai vì hệ thống không tự động xử lý theo thông tin trên các chứng từ gửi kèm. Các tiêu chí trên Tờ khai sẽ được chi tiết hơn bảo đảm cung cấp thông tin phục vụ việc phân luồng hàng hoá chính xác. Trong khi thông quan tự động, cơ quan hải quan chỉ kiểm tra chứng từ khi hệ thống phân luồng vàng và đỏ, còn luồng xanh thì không kiểm tra chứng từ. Như vậy, việc yêu cầu nộp ngay các chứng từ đi kèm tờ khai đối với hàng hoá được phân luồng xanh là không cần thiết, không thực sự tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.

– Đối chiếu với các quy định tại các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (Công ước Quốc tế sửa đổi về Đơn giản hóa và Hài hòa hóa về Thủ tục Hải quan – Công ước Kyoto sửa đổi; Hiệp định Hải quan ASEAN), tham khảo các quy định tại các Hiệp định đang đàm phán (Hiệp định Tạo thuận lợi thương mại của WTO, Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam và Khối EFTA: Na-Uy, Thụy Sĩ, Ai-xơ-len và Lich-ten – xtanh) cho thấy quy định về chứng từ nêu trên chưa đảm bảo phù hợp. Các điều ước quốc tế nêu trên đều quy định theo hướng: khi làm thủ tục hải quan người khai hải quan phải nộp Tờ khai hải quan và các chứng từ hỗ trợ tờ khai. Để xác minh tờ khai hàng hoá Hải quan chỉ yêu cầu những chứng từ nào cần thiết cho việc kiểm tra thương vụ và bảo đảm việc thi hành pháp luật hải quan.

Để khắc phục bất cập nêu trên, Luật Hải quan sửa đổi cần quy định rõ thời hạn công chức hải quan kiểm tra hồ sơ chậm nhất 2 giờ làm việc; giảm thời gian kiểm tra thực tế hàng hoá xuống 8 giờ làm việc kể từ thời điểm người khai hải quan xuất trình hàng hoá cho cơ quan hải quan (trên cơ sở áp dụng quy định về sử dụng máy soi hàng hóa trong container); trường hợp cần thiết phải gia hạn thì thời gian gia hạn tối đa không quá 2 ngày làm việc. Đồng thời để giảm bớt giấy tờ phải nộp không cần thiết cho cá nhân, tổ chức khi làm thủ tục hải quan, sửa đổi, bổ sung quy định về hồ sơ hải quan theo hướng đơn giản hóa, chỉ có tờ khai hải quan là chứng từ bắt buộc phải có khi làm thủ tục hải quan, đối với các chứng từ khác thuộc hồ sơ hải quan như: hóa đơn thương mại; chứng từ vận tải; hợp đồng mua bán hàng hóa; giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu hoặc kết quả kiểm tra chuyên ngành phải nộp hoặc xuất trình theo quy định của pháp luật liên quan (Luật Thương mại, Luật An toàn thực phẩm, Pháp lệnh Bảo vệ và kiểm dịch thực vật, Pháp lệnh Thú y…)…, dự thảo Luật giao Bộ Tài chính quy định cụ thể trường hợp phải nộp, xuất trình các chứng từ này phù hợp với quy định của pháp luật liên quan.

Ba là, áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro trong kiểm tra, giám sát hải quan; có chế độ ưu tiên, tạo thuận lợi về thủ tục hải quan cho doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện.

– Về quản lý rủi ro

Luật Hải quan chưa đề cập đến thuật ngữ “quản lý rủi ro” nhưng Khoản 1a Điều 15 Luật Hải quan đã quy định nội hàm của thuật ngữ này. Tuy nhiên, tại các Điều 28, 29, 30 Luật Hải quan quy định cụ thể các trường hợp kiểm tra hải quan, miễn kiểm tra hải quan làm cho việc lựa chọn đối tượng kiểm tra trở nên cứng nhắc, không phù hợp với nguyên tắc quản lý rủi ro.

Quản lý rủi ro được xem là một công cụ hữu hiệu cho quản lý hải quan hiện đại, giúp cho cơ quan hải quan của các nước có thể phân bổ nguồn lực một cách hợp lý mà vẫn đảm bảo quản lý hải quan và không gây khó khăn cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu. Trong điều kiện thông quan tự động, quản lý rủi ro là cơ sở quan trọng để bảo đảm việc kiểm tra, giám sát của cơ quan hải quan được thực hiện hiệu quả, phù hợp với thông lệ hải quan quốc tế. Công ước Kyoto sửa đổi tại các Chuẩn mực từ 6.3 đến 6.5 quy định cụ thể về áp dụng quản lý rủi ro.

Phương pháp này đều được hải quan các nước tiến tiến áp dụng nguyên trong quản lý hải quan hiện đại. Nguyên tắc này cũng đã được Việt Nam cam kết thực hiện trong Công ước quốc tế về hài hòa hóa và đơn giản hóa thủ tục hải quan (Công ước KYOTO); Hiệp định hải quan ASEAN đồng thời đây cũng là một nội dung đã được đưa vào một số Hiệp định mà Việt Nam đang tham gia đàm phán: Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP); Hiệp định tạo thuận lợi thương mại của WTO; Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Hải quan (Nga Belarus, Kazakhastan),….

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế cũng đã bổ sung quy định về quản lý rủi ro, tuy nhiên, do phạm vi điều chỉnh của Luật Quản lý thuế và Luật Hải quan không hoàn toàn giống nhau. Do đó, Luật Hải quan cần bổ sung nội dung này đảm bảo tương thích với Luật Quản lý thuế và để đảm bảo áp dụng quản lý rủi ro một cách đầy đủ, có hiệu quả, phù hợp với các Chuẩn mực nêu trên của Công ước Kyoto sửa đổi, theo đó cần có quy định sau:

+ Kiểm tra, giám sát hải quan được thực hiện trên cơ sở áp dụng quản lý rủi ro nhằm đảm bảo hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước về hải quan và tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.

+ Xác định phạm vi áp dụng quản lý rủi ro trong kiểm tra, giám sát, hỗ trợ các hoạt động phòng, chống buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.

+ Việc áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan bao gồm: Thu thập, xử lý thông tin hải quan; xây dựng tiêu chí và tổ chức đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người khai hải quan, đánh giá, phân loại mức độ rủi ro về vi phạm pháp luật hải quan; quy định và tổ chức thực hiện các biện pháp quản lý hải quan phù hợp.

+ Cơ quan Hải quan quản lý, ứng dụng hệ thống thông tin nghiệp vụ để tự động tích hợp, xử lý dữ liệu phục vụ việc áp dụng quản lý rủi ro trong các hoạt động nghiệp vụ hải quan.

– Về chế độ ưu tiên

Luật Hải quan hiện hành tuy có đề cập đến việc miễn kiểm tra đối với doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật về hải quan song chưa tiêu chuẩn hóa điều kiện chế độ ưu tiên đối với các doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện. Hiện nay, việc áp dụng chế độ ưu tiên đang được thực hiện theo quy định tại Thông tư 86/2013/TT-BTC ngày 27/6/2013 của Bộ Tài chính quy định về việc áp dụng chế độ ưu tiên trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp đủ điều kiện.

Để khuyến khích và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp có kim ngạch xuất nhập khẩu lớn, chấp hành tốt pháp luật hải quan, pháp luật thuế, quản trị doanh nghiệp tốt; đồng thời để tạo tiền đề thực hiện việc công nhận chế độ ưu tiên giữa các quốc gia như Hải quan các nước (ví dụ: Hải quan Hàn Quốc thực hiện công nhận lẫn nhau với 5 quốc gia; Mỹ thực hiện công nhận lẫn nhau với 7 quốc gia; Nhật Bản thực hiện công nhận lẫn nhau với 6 quốc gia,…), cần bổ sung vào Luật theo hướng quy định rõ chế độ ưu tiên về hải quan đối với doanh nghiệp, điều kiện áp dụng, quyền, trách nhiệm của cơ quan hải quan, của doanh nghiệp được áp dụng chế độ ưu tiên bảo đảm phù hợp với các Chuẩn mực của Công ước Kyoto, Khung tiêu chuẩn về An ninh và Tạo thuận lợi thương mại toàn cầu của Tổ chức Hải quan thế giới, khuyến nghị của WCO về việc xây dựng chương trình về Doanh nghiệp ưu tiên (AEO).

Bốn là, bổ sung các quy định tạo cơ sở pháp luật để cơ quan hải quan thực hiện cơ chế xác định trước cho doanh nghiệp về mã số, xuất xứ, trị giá hải quan

Hiện nay, Luật Quản lý thuế đã bổ sung nội dung về quy định xác định trước. Tuy nhiên, việc xác định trước về mã số, xuất xứ không chỉ để xác định trước về thuế mà còn để có cơ sở áp dụng chính sách quản lý mặt hàng, áp dụng các yêu cầu quản lý của cơ quan hải quan, nội dung này không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Quản lý thuế.

Công ước Kyoto (Việt Nam đã tham gia) cũng như các cam kết quốc tế trong khuôn khổ WTO, ASEAN đều khuyến nghị cơ quan Hải quan cho  phép doanh nghiệp được áp dụng cơ chế phân loại trước về mã số, xác định trị giá tính thuế, xuất xứ hàng hoá trước khi làm thủ tục cho hàng hoá xuất nhập khẩu. Đây là chuẩn mực quốc tế về tạo thuận lợi thương mại, giúp doanh nghiệp chủ động tính toán trước hiệu quả kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ; giúp cơ quan hải quan tăng hiệu quả quản lý khi thực hiện thủ tục thông quan cho hàng hoá xuất nhập khẩu; hạn chế các trường hợp tranh chấp giữa doanh nghiệp và cơ quan hải quan về việc áp mã, xác định giá tính thuế, xuất xứ hàng hoá khi làm thủ tục thông quan. Đây là một trong các nội dung cam kết của Hiệp định TPP mà Việt nam đang tham gia đàm phán.

Do đó, cần bổ sung vào Luật Hải quan quy định về khái niệm xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan đối với hàng hoá; bổ sung các nội dung về quyền, nghĩa vụ của người khai hải quan liên quan đến xác định trước trong lĩnh vực hải quan; quy định về thủ tục xác định trước, như:

– Trước khi làm thủ tục hải quan, người khai hải quan cung cấp các thông tin, chứng từ liên quan hoặc mẫu hàng dự kiến sẽ xuất khẩu, nhập khẩu cho cơ quan hải quan và đề nghị cơ quan hải quan xác định trước mã số, xác nhận trước xuất xứ, xác định trước trị giá hải quan đối với hàng hóa dự kiến xuất khẩu, nhập khẩu.  

– Cơ quan hải quan căn cứ vào các quy định của pháp luật về phân loại hàng hóa, xuất xứ, trị giá hải quan và các thông tin, chứng từ liên quan hoặc mẫu hàng hóa do người khai hải quan cung cấp để xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan và có văn bản thông báo cho người khai hải quan biết kết quả xác định trước. Trường hợp không đủ cơ sở hoặc thông tin để xác định theo yêu cầu của người khai hải quan, cơ quan hải quan thông báo cho người khai hải quan hoặc đề nghị bổ sung thêm thông tin, tài liệu.

–  Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày có văn bản thông báo kết quả xác định trước, nếu người khai hải quan không đồng ý với kết quả xác định trước thì có quyền yêu cầu cơ quan hải quan xem xét lại kết quả xác định trước.

– Văn bản thông báo kết quả xác định trước có giá trị pháp lý để cơ quan hải quan làm thủ tục hải quan khi hàng hóa thực xuất khẩu, nhập khẩu phù hợp với thông tin, chứng từ liên quan hoặc mẫu hàng hóa mà người khai hải quan đã cung cấp.

Năm là, tạo cơ sở pháp lý để thực hiện thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo cơ chế một cửa quốc gia

Bổ sung khái niệm “cơ chế một cửa quốc gia”, đồng thời, bổ sung quy định thực hiện thủ tục hành chính điện tử để thực hiện cơ chế một cửa quốc gia.

Ngoài ra, nhằm tăng cường cơ chế phối hợp giữa các Bộ, Ngành trong việc trao đổi thông tin liên quan đến kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu bảo đảm thống nhất với các Luật liên quan và phù hợp với cơ chế một cửa quốc gia, cần quy định rõ trong Luật: đối với trường hợp hàng hóa theo quy định của pháp luật phải kiểm tra chuyên ngành về chất lượng, y tế, văn hoá, kiểm dịch động vật, thực vật, an toàn thực phẩm thì cơ quan hải quan căn cứ kết quả kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật để làm thủ tục hải quan.

 b. Nhóm vấn đề về nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý hải quan; tăng cường công tác bảo vệ an ninh quốc gia và an ninh kinh tế nhằm phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới, gian lận thương mại

Đối với nhóm vấn đề này, một mặt kế thừa các quy định của Luật hiện hành, mặt khác tiếp tục hoàn thiện các quy định liên quan đến một số nội dung sau:

Một là, về địa bàn hoạt động hải quan

Điều 6 Luật Hải quan hiện hành quy định: Địa bàn hoạt động hải quan bao gồm các khu vực cửa khẩu đường bộ, ga đường sắt liên vận quốc tế, cảng biển quốc tế, cảng sông quốc tế, cảng hàng không dân dụng quốc tế, các địa điểm làm thủ tục hải quan ngoài cửa khẩu, khu chế xuất, kho ngoại quan, kho bảo thuế, khu vực ưu đãi hải quan, bưu điện quốc tế, các địa điểm kiểm tra hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu trong lãnh thổ và trên vùng biển thực hiện quyền chủ quyền của Việt Nam, trụ sở doanh nghiệp khi tiến hành kiểm tra sau thông quan và các địa bàn hoạt động hải quan khác theo quy định của pháp luật.

Quy định nêu trên đã chỉ rõ các địa điểm theo địa chỉ ranh giới xác định; đồng thời xác định rõ trách nhiệm của cơ quan hải quan trong phạm vi địa bàn. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện đã phát sinh vấn đề vướng mắc, đó là:

+ Trên thực tế hiện nay, do đặc thù điều kiện kinh tế – xã hội của một số địa phương, ở những thời điểm nhất định, cơ quan có thẩm quyền cho phép một số mặt hàng được xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu phụ hoặc lối mở. Tại những nơi này không có hoạt động xuất nhập khẩu thường xuyên, không có hoạt động của cơ quan hải quan, tuy nhiên khi có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá tại đây, cơ quan hải quan phải bố trí lực lượng để làm thủ tục cho hàng hoá xuất nhập khẩu theo quy định. Những nơi này chưa được quy định là địa bàn hoạt động hải quan.

+ Theo quy định của Pháp lệnh thú y, Luật An toàn thực phẩm, Pháp lệnh Bảo vệ và kiểm dịch thực vật thì hàng hóa nhập khẩu có thể được đưa về các khu vực cách ly, khu vực lưu giữ hàng hóa để chờ kiểm dịch, kiểm tra trước khi cơ quan hải quan thông quan; các khu vực này chưa được coi là địa bàn hoạt động hải quan. Ngoài ra, còn có một số địa điểm lưu giữ hàng hóa xuất nhập khẩu đang chịu sự giám sát hải quan như địa điểm thu gom hàng lẻ (CFS), địa điểm tập kết hàng hóa xuất khẩu,…các địa điểm này chưa được coi là địa bàn hoạt động hải quan.

Để khắc phục, cần sửa đổi bổ sung quy định tại Luật Hải quan theo hướng bảo đảm tính linh hoạt trong tổ chức thực hiện, ngoài những địa điểm đã được xác định như Luật hiện hành, địa bàn hoạt động hải quan bao gồm: địa điểm khác khi có đủ điều kiện về hạ tầng, về lực lượng quản lý nhà nước và được phép xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh hàng hóa, phương tiện vận tải theo quy định của Chính phủ; khu vực đang lưu giữ hàng hóa đang chịu sự giám sát hải quan.

Hai là, giám sát hải quan

Theo quy định tại Điều 4 Luật Hải quan, giám sát hải quan là biện pháp nghiệp vụ của cơ quan hải quan nhằm đảm bảo nguyên trạng hàng hóa, phương tiện vận tải thuộc đối tượng quản lý của hải quan. Việc đặt ra mục đích bảo đảm sự nguyên trạng của hàng hóa, phương tiện vận tải đang thuộc đối tượng quản lý hải quan (Khoản 9 Điều 4) là chưa hoàn toàn phù hợp với yêu cầu quản lý hải quan hiện đại (một số trường hợp như nguyên liệu sản xuất của doanh nghiệp chế xuất, phương tiện vận tải nước ngoài di chuyển trong lãnh thổ Việt Nam không thể đáp ứng yêu cầu nguyên trạng ….)

Luật hiện hành chỉ quy định 2 phương thức giám sát là niêm phong hoặc bằng phương tiện kỹ thuật và giám sát trực tiếp, chưa quy định áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro trong giám sát hải quan, chưa quy định phương thức giám sát thông qua hệ thống sổ sách của doanh nghiệp. Với các phương thức giám sát này, cơ quan hải quan khó có thể giám sát liên tục, đầy đủ khối lượng lớn hàng hoá xuất nhập khẩu lưu giữ và ra, vào các khu vực cảng, cửa khẩu (ví dụ: cảng Cát Lái trung bình có khoảng 2000 cont xuất/ngày); các loại hình hàng hóa tham gia vào quá trình sản xuất hoặc phương tiện vận tải trong quá trình di chuyển từ địa điểm này đến địa điểm khác.

 Luật hiện hành cũng mới chỉ quy định việc giám sát hải quan đối với hàng hoá trong quá trình làm thủ tục hải quan, chưa đề cập đến việc giám sát hải quan sau khi hàng hoá đã làm xong thủ tục nhập khẩu nhưng vẫn chịu sự quản lý hải quan để bảo đảm thực hiện đúng mục đích (loại hình) nhập khẩu, thực hiện quy định về chính sách thuế, chính sách quản lý mặt hàng…

Các doanh nghiệp có liên quan như: doanh nghiệp kinh doanh cảng, kho, bãi, doanh nghiệp xếp dỡ… tuy tham gia vào quá trình vận chuyển, lưu giữ, giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu đang chịu sự giám sát hải quan nhưng Luật chưa quy định trách nhiệm của họ trong việc giám sát đối với loại hàng hóa này.

Tham khảo quy định của Luật Hải quan Nhật Bản cho thấy:

– Hải quan Nhật Bản không cử người đến tận nơi giám sát. Luật Hải quan Nhật Bản quy định: những người kinh doanh khu bảo thuế phải có trách nhiệm ghi chép vào sổ sách. Hệ thống NACCS không thể kiểm tra chi tiết số lượng hàng hoá xuất – nhập – tồn của kho bảo thuế mà cơ quan hải quan chỉ thực hiện kiểm tra 1,2 năm/lần bằng cách xuống doanh nghiệp để kiểm tra việc ghi chép sổ sách. Người kinh doanh kho bảo thuế sẽ thay Hải quan kiểm tra nên khi được cấp phép thành lập kho thì Hải quan cũng phải xem xét họ có đủ điều kiện kinh doanh hay không. Nếu chủ kinh doanh kho bảo thuế vi phạm thì nặng nhất là thu hồi giấy phép, nhẹ hơn là trong 1 khoảng thời gian không được nhận hàng hoá kinh doanh vào kho (Luật Hải quan Nhật Bản).

Để khắc phục những vấn đề nêu trên, cần sửa đổi khái niệm về giám sát hải quan tại Điều 4; quy định cụ thể hơn về giám sát hải quan với nội dung sửa đổi, bổ sung như sau:

– Giám sát hải quan là biện pháp nghiệp vụ của cơ quan hải quan  nhằm theo dõi để bảo đảm sự nguyên trạng của hàng hoá hoặc bảo đảm sự tuân thủ các quy định của pháp luật trong việc bảo quản, lưu giữ, xếp dỡ, vận chuyển, sử dụng hàng hoá; bảo đảm phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh theo quy định của Luật này.

– Phương thức giám sát: ngoài các phương thức giám sát như Luật hiện hành; dự thảo bổ sung phương pháp kiểm tra hồ sơ hải quan, sổ sách, chứng từ liên quan đến hàng hóa, phương tiện vận tải vào, ra các khu vực lưu giữ hàng hóa của thương nhân kinh doanh kho bãi, cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu.

– Thời gian giám sát

+  Hàng hoá nhập khẩu chịu sự giám sát hải quan từ khi hàng hóa tới địa bàn hoạt động hải quan đến khi được thông quan hoặc giải phóng hàng và đưa ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan.

+ Hàng hoá xuất khẩu miễn kiểm tra thực tế chịu sự giám sát hải quan từ khi thông quan đến khi ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan. Trường hợp phải kiểm tra thực tế, hàng hóa xuất khẩu chịu sự giám sát hải quan từ khi bắt đầu kiểm tra thực tế đến khi ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan.

+ Hàng hóa quá cảnh chịu sự giám sát hải quan từ khi tới địa bàn hoạt động hải quan đến khi ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan.

– Bổ sung quy định: Trách nhiệm của cơ quan hải quan; trách nhiệm của người khai hải quan, người chỉ huy hoặc người điều khiển phương tiện vận tải trong giám sát hải quan; trách nhiệm của doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi, cảng trong giám sát hải quan.

Ba là, về tăng cường hoạt động kiểm tra sau thông quan

Được triển khai kể từ ngày 01/01/2002, hoạt động kiểm tra sau thông quan đã đạt được một số kết quả nhất định, góp phần quan trọng vào việc hoàn thành nhiệm vụ quản lý nhà nước về hải quan. Bước đầu, hoạt động kiểm tra sau thông quan đã dần đi vào nề nếp, làm chuyển biến thay đổi về nhận thức của công chức trong toàn ngành Hải quan, cũng như đối tượng, cơ quan, tổ chức có liên quan về phương thức quản lý hải quan tiên tiến và kiểm tra hải quan hiện đại.

Kiểm tra sau thông quan được quy định tại Điều 32 Luật Hải quan, một số điều của Luật Quản lý Thuế, các quy định này đã tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động trong thời gian qua, tuy nhiên đến nay đã bộc lộ một số vướng mắc, bất cập: Luật Hải quan hiện hành quy định chung trong thời hạn 5 năm kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan thì Cục trưởng Cục hải quan tỉnh, thành phố, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan được ra quyết định kiểm tra sau thông quan, Luật chưa quy định rõ về địa điểm tiến hành kiểm tra sau thông quan. Theo quy định tại Luật Quản lý thuế thì kiểm tra sau thông quan được thực hiện tại trụ sở cơ quan quản lý thuế và trụ sở người nộp thuế, chỉ ban hành quyết định kiểm tra thuế khi kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế. Do đó, dẫn đến việc áp dụng các quy định này không thống nhất giữa cơ quan Hải quan và các cơ quan bảo vệ pháp luật khác.

Mặt khác, đối với các doanh nghiệp lớn, các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn toàn quốc, việc tiến hành kiểm tra sau thông quan cần do cấp Tổng cục tiến hành mới bao quát được toàn bộ hoạt động của các doanh nghiệp này. Theo xu thế phát triển của nền kinh tế, số lượng các doanh nghiệp này cũng ngày càng nhiều hơn. Do đó, cần phân cấp hơn nữa về thẩm quyền ra quyết định kiểm tra sau thông quan để tăng cường hiệu quả của hoạt động này. Một số quy định cơ bản về hoạt động kiểm tra sau thông quan như việc áp dụng quản lý rủi ro, việc kết nối giữa khâu trong thông quan và sau thông quan cũng chưa được Luật Hải quan quy định nên ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả của công tác kiểm tra sau thông quan.

Bên cạnh đó, sửa đổi, bổ sung quy định về kiểm tra sau thông quan theo hướng thay đổi cách thức quản lý hải quan: thông quan chủ yếu trên cơ sở người khai hải quan tự khai và tự chịu trách nhiệm trong việc khai báo của mình, việc thông quan chủ yếu thực hiện bằng phương thức điện tử, đáp ứng yêu cầu thông quan nhanh chóng. Do vậy, để bảo đảm là biện pháp nghiệp vụ hữu hiệu cho khâu thông quan, hoạt động kiểm tra sau thông quan cần được tăng cường, theo đó cần quy định:

– Về địa điểm kiểm tra sau thông quan: được thực hiện tại trụ sở cơ quan hải quan và trụ sở của người khai hải quan.

– Về thời hạn kiểm tra sau thông quan là 05 năm kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan.

– Về các trường hợp kiểm tra sau thông quan bao gồm:

+ Kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật hải quan và các quy định khác của pháp luật liên quan đến quản lý xuất khẩu, nhập khẩu.

+ Kiểm tra hồ sơ hải quan chưa được kiểm tra trực tiếp trong quá trình làm thủ tục hải quan;

+ Kiểm tra đánh giá việc tuân thủ pháp luật hải quan của người khai hải quan.

– Về kiểm tra sau thông quan tại trụ sở cơ quan hải quan: quy định nội dung kiểm tra, cách thức xử lý kết quả kiểm tra bảo đảm phù hợp với quy định của Luật Quản lý thuế. Trường hợp người khai hải quan không đồng ý với kết luận kiểm tra mà có dấu hiệu vi phạm pháp luật hải quan, các quy định khác của pháp luật liên quan đến quản lý xuất khẩu, nhập khẩu thì cơ quan hải quan thực hiện kiểm tra sau thông quan tại trụ sở của người khai hải quan để kết luận.

– Về kiểm tra sau thông quan tại trụ sở người khai hải quan: quy định rõ thẩm quyền quyền định kiểm tra là Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, Cục trưởng Cục Hải quan, Cục trưởng Cục Kiểm tra sau thông quan, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm tra sau thông quan; thời hạn kiểm tra; quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ của cơ quan hải quan, trưởng đoàn kiểm tra; quyền, nghĩa vụ của người khai hải quan, chủ hàng; xử lý kết luận kiểm tra.

Bốn là, về tăng cường hoạt động của cơ quan hải quan trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới

Luật Hải quan hiện hành chưa quy định cho phép cơ quan hải quan thực hiện việc truy đuổi, bắt giữ hàng hoá buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới di chuyển từ trong địa bàn hoạt động hải quan ra ngoài địa bàn nên khi đối tượng chạy ra ngoài địa bàn cơ quan hải quan phải phối hợp với cơ quan chức năng, nhiều trường hợp dẫn đến mất cơ hội đấu tranh chống buôn lậu, vận chuyển trái hàng hóa trái phép qua biên giới. Ngoài ra, Luật Hải quan hiện hành chưa quy định rõ ràng, đầy đủ, cụ thể quyền và nghĩa vụ của cơ quan hải quan, của các tổ chức, cá nhân có liên quan trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.

Đáp ứng yêu cầu tăng cường hoạt động phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới của cơ quan hải quan, cần bổ sung vào Luật  quy định trong trường hợp có căn cứ xác định hàng hoá, phương tiện vận tải là hàng hóa, phương tiện vận tải buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới đang di chuyển từ địa bàn hoạt động hải quan ra ngoài địa bàn hoạt động hải quan thì lực lượng kiểm soát hải quan tiếp tục truy đuổi để áp dụng các biện pháp ngăn chặn và xử lý, đồng thời thông báo cho các cơ quan chức năng trên địa bàn biết để phối hợp ngăn chặn, xử lý. Điều 92 dự thảo quy định rõ việc áp dụng các biện pháp tuần tra, kiểm soát, điều tra, xác minh để cơ quan hải quan có cơ sở thực hiện.

Ngoài ra, để phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 14, Điều 47, 48 Luật Biển Việt Nam quy định về việc nhà nước thực hiện kiểm soát trong vùng tiếp giáp lãnh hải nhằm ngăn ngừa và trừng trị hành vi vi phạm pháp luật về hải quan, thuế, y tế, xuất nhập cảnh xảy ra trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam, trách nhiệm của lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển; bổ sung quy định: “Tại vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, cơ quan hải quan thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, phối hợp thực hiện tuần tra, kiểm soát nhằm ngăn ngừa hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới; thực hiện các biện pháp ngăn chặn và xử lý vi phạm theo thẩm quyền trong vùng nội thủy, lãnh hải phù hợp với quy định của Luật Biển Việt Nam”;

Năm là, bổ sung trách nhiệm của cơ quan hải quan trong hoạt động hợp tác quốc tế về hải quan

Tại Khoản 1 Điều 5a Luật Hải quan hiện hành quy định “cơ quan hải quan có trách nhiệm thực hiện quyền, nghĩa vụ và lợi ích của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Tổ chức Hải quan thế giới”. Tuy nhiên, hiện nay hợp tác quốc tế ngày càng sâu, rộng, Việt Nam đã tham gia nhiều tổ chức quốc tế như ASEAN, APEC, ASEM, GMS, WTO, WCO… cũng như các nước và các vùng lãnh thổ. Trong khuôn khổ các tổ chức này có nhiều hoạt động hợp tác về hải quan nên cần có cơ sở pháp lý để thực hiện. Bên cạnh đó, trong khuôn khổ các cam kết quốc tế song phương và đa phương, Việt Nam có nhiệm vụ cử cán bộ ra nước ngoài và có nghĩa vụ tiếp nhận cán bộ nước ngoài vào Việt Nam để thực hiện các nhiệm vụ như điều tra, xác minh thông tin, thực hiện kiểm tra hải quan chung.

Do đó, Luật Hải quan sửa đổi cần bổ sung quy định về hợp tác quốc tế như sau:

– Bổ sung việc cơ quan hải quan có trách nhiệm thực hiện quyền, nghĩa vụ và lợi ích của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại các tổ chức quốc tế có liên quan về hải quan, tại các nước và vùng lãnh thổ;

– Quy định cử công chức hải quan ra nước ngoài và tiếp nhận công chức hải quan nước ngoài vào Việt Nam thực hiện hoạt động nghiệp vụ hải quan theo quy định của pháp luật và các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc là thành viên.

Những bổ sung trên sẽ hỗ trợ có hiệu quả việc hợp tác, trao đổi thông tin và hỗ trợ hành chính giữa các cơ quan hải quan trong các điều ước quốc tế về hải quan (khoản c điều 2 Công ước thành lập Hội đồng Hợp tác hải quan; điều 16 Công ước Hỗ trợ hành chính lẫn nhau về các vấn đề hải quan – Công ước Johanesburg,…), các thoả thuận quốc tế song phương và đa phương mà Việt Nam là thành viên và phù hợp với tình hình thực tế Hải quan Việt Nam đã tiếp nhận và làm việc với nhiều đoàn hải quan các nước vào điều tra, xác minh thông tin về chống bán phá giá, gian lận chuyển tải, thực thi quyền sở hữu trí tuệ, chấp hành các hiệp định biên giới, chống buôn lậu trên biển, kiểm soát xuất khẩu, thực thi các nghị quyết chống khủng bố của Liên Hợp quốc… Đặc biệt từ năm 2006, hàng ngày cán bộ hải quan hai nước Việt Nam và Lào đã sang lãnh thổ của nhau để thực hiện kiểm tra chung theo qui định tại Hiệp định GMS. 

c. Nhóm vấn đề về sửa đổi, bổ sung những quy định trong Luật hiện hành để bảo đảm tính thống nhất, khả thi của pháp luật hải quan, phù hợp với văn bản pháp luật có liên quan và thực tế hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu

Trong nhóm vấn đề này tập trung rà soát sửa đổi bổ sung các nội dung chủ yếu sau:

Một là, về khai bổ sung nội dung đã khai trên tờ khai hải quan sau khi hàng hóa đã thông quan

Điều 22 Luật Hải quan quy định người khai hải quan được bổ sung, sửa chữa tờ khai trước thời điểm kiểm tra thực tế hàng hóa, thời điểm quyết định miễn kiểm tra thực tế hàng hóa, chưa có quy định về khai bổ sung sau thông quan. Khoản 2 Điều 34 Luật Quản lý thuế chỉ đề cập đến việc khai bổ sung về thuế sau khi hàng hoá đã được thông quan. Thực tế phát sinh một số trường hợp người khai hải quan có yêu cầu khai bổ sung sau khi hàng hoá đã thông quan nhưng không ảnh hưởng đến thuế, do Luật Hải quan không quy định nên không có cơ sở pháp lý để cơ quan hải quan xem xét, giải quyết. Mặt khác, quy định được bổ sung, sửa chữa tờ khai trước thời điểm kiểm tra thực tế hàng hóa dẫn đến cách hiểu khác nhau: được bổ sung, sửa chữa tờ khai trước thời điểm thực hiện kiểm tra thực tế hàng hóa hoặc được bổ sung, sửa chữa tờ khai trước thời điểm quyết định kiểm tra thực tế hàng hóa.

– Đối chiếu với các quy định tại các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên cho thấy quy định tại Luật Hải quan về khai hải quan chưa thực sự phù hợp. Cụ thể:

+ Công ước Kyoto sửa đổi (chuẩn mực 3.20 đến 3.31 Phụ lục Tổng quát) quy định cho phép người khai hải quan sửa đổi, bổ sung tờ khai đã nộp với điều kiện khi nhận được yêu cầu đó, cơ quan Hải quan chưa bắt đầu kiểm tra tờ khai hoặc kiểm tra thực tế hàng hóa; hoặc sau khi việc kiểm tra Tờ khai hàng hóa đã bắt đầu, nếu những lý do do người khai hải quan đưa ra được cơ quan Hải quan chấp nhận là hợp lý.

+ Hiệp định Hải quan ASEAN: Cơ quan hải quan của Nước Thành viên có thể cho phép cho bất kỳ người nào có hàng hóa đặt dưới một thủ tục hải quan, sử dụng một tờ khai hàng hóa đơn giản mà có thể bỏ qua một chi tiết cụ thể và chứng từ đi kèm yêu cầu đối với tờ khai hàng hóa, tùy thuộc vào các điều kiện và yêu cầu theo quy định của cơ quan hải quan. Đối với trường hợp tờ khai hàng hóa đơn giản, nếu cơ quan hải quan của Nước Thành viên liên quan có yêu cầu, người khai sẽ phải bổ sung sau đó các chi tiết trên tờ khai và các chứng từ đi kèm cần thiết để hoàn thành việc khai báo hàng hóa đối với thủ tục hải quan liên quan (Điều 14).

Do đó, cần bổ sung vào Luật hải quan sửa đổi quy định khai bổ sung sau khi hàng hóa đã thông quan để bảo đảm phù hợp với thông lệ quốc tế và thống nhất với Luật Quản lý thuế; phù hợp với các khuyến nghị tại Công ước Kyoto và Luật Hải quan một số nước như Cộng đồng Châu Âu, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản.

Hai là, về phân loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

Việc phân loại hàng hóa được quy định tại Điều 72 Luật hiện hành thuộc Chương “tổ chức thu thuế và các khoản thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu”. Tuy nhiên, việc phân loại hàng hóa không chỉ nhằm mục đích thu thuế mà còn nhằm đảm bảo thống nhất phân loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu cho các mục đích khác như: xác định xuất xứ và đàm phán thương mại giữa các quốc gia, quản lý hàng hoá cần kiểm soát chuyên ngành…Một trong các cơ sở để phân loại hàng hóa là Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, Danh mục này do Bộ Tài chính ban hành.   

Mặt khác, Việt Nam đã phê chuẩn tham gia Công ước quốc tế về hệ thống hài hoà, mô tả và mã hoá hàng hoá (Công ước HS) từ năm 1998. Đây là hệ thống toàn cầu về phân loại hàng hoá.

Do đó, cần sửa đổi, bổ sung quy định về phân loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu để xác định mã số hàng hóa làm cơ sở tính thuế và thực hiện chính sách quản lý hàng hóa; đồng thời để bảo đảm tính thống nhất trong việc xây dựng mã số hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phù hợp với quy định của Công ước quốc tế về hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa mà Việt Nam là thành viên (công ước HS), quy định xác định rõ trách nhiệm của Bộ Tài chính ban hành Danh mục mã số hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thống nhất trong toàn quốc phù hợp với điều ước quốc tế mà Việt Nam đã là thành viên.

Ba là, quy định rõ quyền, nghĩa vụ của các bên liên quan trong lĩnh vực hải quan

 Luật Hải quan hiện hành chưa quy định đầy đủ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan trong quản lý hải quan dẫn đến nhiều bất cập khi triển khai thực hiện, khó khăn cho cơ quan hải quan trong việc yêu cầu cung cấp thông tin liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu, xác định trách nhiệm khi xảy ra thất thoát hàng hóa. Để bảo đảm quản lý về hải quan, ngoài trách nhiệm của cơ quan hải quan, công chức hải quan và người khai hải quan hoặc chủ hàng còn có sự tham gia các doanh nghiệp có liên quan như: doanh nghiệp kinh doanh vận tải, kinh doanh cảng, kho bãi, doanh nghiệp xếp dỡ… Luật chưa có quy định trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong việc bố trí diện tích để thiết lập địa điểm làm thủ tục hải quan, khu vực xếp hàng hoá, khu vực kiểm tra thực tế hàng hóa khi quy hoạch, xây dựng cảng, cửa khẩu…; vì thế nhiều cảng, cửa khẩu, khu phi thuế quan khi được thành lập không có mặt bằng để bố trí địa điểm làm thủ tục hải quan, hàng hoá được xếp đặt không khoa học, không phân biệt khu vực chứa hàng hoá xuất khẩu, hàng hóa nhập khẩu với khu vực chứa hàng hoá nội địa nên khó khăn cho công tác giám sát hải quan. Ngoài ra, Luật hiện hành cũng chưa quy định trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành trong việc xây dựng các thủ tục hành chính điện tử để thực hiện cấp phép hoặc thông báo kết quả kiểm tra nhà nước chuyên ngành theo cơ chế một cửa quốc gia.

Để khắc phục bất cập nêu trên, bổ sung quy định rõ quyền, nghĩa vụ của người khai hải quan, chủ hàng trong việc làm thủ tục hải quan, thực hiện chế độ kiểm tra, giám sát hải quan; trách nhiệm của người vận chuyển, doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi, cảng trong giám sát hải quan; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân, cơ quan có thẩm quyền khi quy hoạch, thiết kế xây dựng cảng, cửa khẩu, các khu phi thuế quan…; quyền và nghĩa vụ của các tổ chức và cá nhân liên quan trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.

d. Nhóm vấn đề liên quan đến kiện toàn hệ thống tổ chức hải quan

Điều 13, Luật hiện hành quy định hệ thống tổ chức bộ máy của ngành Hải quan gồm 3 cấp: Tổng cục Hải quan; Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Chi cục Hải quan cửa khẩu, Đội Kiểm soát hải quan và đơn vị tương đương. 

Mô  hình tổ chức, bộ máy hiện hành bộc lộ một số hạn chế, khó khăn, cụ thể:

Tổ chức, bộ máy chưa gắn với yêu cầu, khối lượng công việc. Hiện tại có  21/34 Cục Hải quan gắn với địa bàn 1 tỉnh, thành phố; trong số này có nhiều Cục Hải quan (17 Cục) địa bàn không lớn địa bàn không lớn, khối lượng công việc ít. Ngược lại có Cục Hải quan địa bàn liên tỉnh (Hà Nội, Hải Phòng,..), hoặc cũng có Cục Hải quan mặc dù chỉ gắn với địa bàn một tỉnh (thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Quảng Ninh) nhưng khối lượng công việc lớn, quản lý đa dạng các loại hình, nhiều đối tượng, nhiều loại cửa khẩu nhưng tổ chức, bộ máy hiện nay được cơ cấu cùng là cấp Cục.

 Phạm vi quản lý bị chia tách theo từng địa bàn tỉnh, thành phố nên việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc, hệ thống công nghệ thông tin bị phân tán, dàn trải; việc xử lý, chia sẻ dữ liệu thông tin cũng gặp nhiều khó khăn; việc bố trí nguồn nhân lực bị phân tán, nên hạn chế về năng lực và hiệu quả hoạt động trong một số lĩnh vực nghiệp vụ chuyên sâu đòi hỏi sự tập trung chỉ đạo thống nhất, kịp thời như chống buôn lậu, chống ma túy, kiểm tra sau thông quan…; việc tổ chức cấp Cục hải quan gắn với địa giới hành chính tỉnh chưa phù hợp với quy mô hoạt động, yêu cầu công việc, đặc điểm từng địa bàn, điều kiện kinh tế xã hội, yêu cầu quản lý của hải quan trong những giai đoạn phát triển khác nhau.

Do vậy, sửa đổi quy định về tổ chức bộ máy hải quan theo hướng quy định có tính nguyên tắc chung về hệ thống tổ chức hải quan, theo đó hệ thống tổ chức của hải quan Việt Nam gồm có:

– Tổng cục Hải quan;

– Cục Hải quan;

– Chi cục Hải quan và Đội kiểm soát hải quan và đơn vị tương đương.

Hệ thống tổ chức của Hải quan vẫn được xây dựng theo nguyên tắc quản lý ngành và theo lãnh thổ nhưng căn cứ vào yêu cầu công việc; quy mô, tính chất hoạt động xuất nhập khẩu; đặc thù địa bàn, điều kiện kinh tế xã hội. Trên cơ sở đó, Chính phủ quy định việc thành lập, tổ chức lại Cục Hải quan căn cứ vào yêu cầu, khối lượng công việc, quy mô, tính chất hoạt động xuất nhập khẩu, đặc thù địa bàn, điều kiện kinh tế xã hội.

14.2. Kiến nghị sửa đổi các văn bản pháp luật có liên quan

14.2.1. Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Hải quan

Trên cơ sở nội dung Luật Hải quan (sửa đổi) sẽ được Quốc hội thông qua, có hiệu lực thi hành từ 01/01/2015; hoàn thiện các văn bản hướng dẫn triển khai Luật để đảm bảo có hiệu lực cùng với Luật Hải quan. Theo đó, cần hoàn thiện các văn bản sau:

a. Các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ

– Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan;

+Nghị định này ban hành nhằm hướng dẫn thực hiện thống nhất các quy định tại Luật Hải quan (sửa đổi)  về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan khi Luật này được Quốc hội thông qua về các nghiệp vụ liên quan trực tiếp đến lĩnh vực hải quan và đáp ứng được yêu cầu, nội dung cải cách thủ tục hành chính theo hướng thủ tục đơn giản, rõ ràng, minh bạch.

Việc xây dựng các Nghị định thay thế Nghị định của Chính phủ sẽ tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện thống nhất các quy định của Luật Hải quan (sửa đổi) và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan trực tiếp đến lĩnh vực hải quan, đồng thời tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trong việc thực hiện các quy định về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan, góp phần bảo đảm các yêu cầu quản lý Nhà nước về hải quan và đáp ứng được yêu cầu, nội dung cải cách thủ tục hành chính theo hướng thủ tục đơn giản, rõ ràng, minh bạch.

– Nghị định về phạm vi địa bàn hoạt động hải quan;

Trên cơ sở nội dung sửa đổi, bổ sung Luật Hải quan và thực tiễn quá trình thực hiện cần xây dựng Nghị định thay thế Nghị định 102/2002/NĐ-CP ngày 23/12/2002 của Chính phủ quy định về phạm vi địa bàn hoạt động hải quan.

– Nghị định quy định về việc xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

Nghị định này được ban hành để hướng dẫn thực hiện thống nhất các quy định tại Luật Hải quan (sửa đổi) khi Luật này được Quốc hội thông qua và các nghiệp vụ liên quan đến trị giá hải quan.

– Nghị định quy định về việc phân loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

Nghị định 06/2003/NĐ-CP ngày 22/01/2003 của Chính phủ quy định về việc phân loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Nghị định này được ban hành năm 2003 và đã có quá trình triển khai thực hiện. Việc ban hành Nghị định thay thế Nghị định 06 để hướng dẫn thực hiện các quy định về phân loại hàng hóa xuất nhập khẩu tại Luật Hải quan (sửa đổi) khi Luật này được Quốc hội thông qua và các nghiệp vụ liên quan về phân loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, việc thay thế Nghị định 06/2003/NĐ-CP là cần thiết, đồng thời khắc phục những tồn tại của Nghị định 06 sau gần 10 năm triển khai thực hiện, đảm bảo hiệu lực, tạo hành lang pháp lý minh bạch trong công tác phân loại hàng hóa đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. 

– Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Hải quan trực thuộc Bộ Tài chính;

Trên cơ sở mô hình tổ chức bộ máy được sửa đổi tại Luật Hải quan sửa đổi, cần xây dựng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ để cụ thể hóa các quy định của Luật Hải quan (sửa đổi), tạo cơ sở pháp lý cho cho việc xây dựng, xác định nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Hải quan đáp ứng yêu cầu quản lý Nhà nước mà Chính phủ, Bộ Tài chính giao phó, đồng thời đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính.

b. Các văn bản pháp luật thuộc thẩm quyền của Bộ Tài chính ban hành

Trên cơ sở nội dung quy định của Luật Hải quan sửa đổi, Nghị định hướng dẫn Luật Hải quan, quá trình rà soát cho thấy cần hoàn thiện các Thông tư quy định chi tiết cụ thể:

– Thông tư quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra; giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

– Thông tư về việc hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa của người nước ngoài mua tại Việt Nam mang theo khi xuất cảnh qua cửa khẩu;

– Thông tư hướng dẫn việc phân loại, áp dụng mức thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

– Thông tư về việc ban hành tờ khai trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu và hướng dẫn khai báo;

– Thông tư về việc xác định trị giá hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu;

– Thông tư hướng dẫn kế toán nghiệp vụ thuế và thu khác đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu;

– Thông tư hướng dẫn thí điểm thu nộp, hoàn trả thuế qua tài khoản chuyên thu của cơ quan hải quan tại ngân hàng thương mại;

– Thông tư liên tịch giữa Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Y tế, Bộ Tài nguyên và môi trường về việc thí điểm thực hiện Cơ chế hải quan một cửa quốc gia;

– Thông tư quy định thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

– Thông tư hướng dẫn thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với một số loại hàng hóa kinh doanh tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu và gửi kho ngoại quan;

– Thông tư về thủ tục hải quan và quản lý xe ô tô, xe gắn máy của đối tượng được phép nhập khẩu, tạm nhập khẩu theo chế độ phi mậu dịch.

14.2.2. Các văn bản liên quan đến lĩnh vực hải quan

Trên cơ sở nội dung sửa đổi, bổ sung Luật Hải quan, cần rà soát để kiến nghị với các Bộ, Ngành có liên quan về việc sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật có liên quan đến lĩnh vực hải quan, bảo đảm phù hợp với Luật Hải quan (sửa đổi), nâng cao hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về hải quan, như:

– Bộ Luật hàng hải, Luật hàng không dân dụng để bảo đảm có sự thống nhất, đồng bộ các quy định về thông báo khi hàng hóa đến cảng, bến, bãi và các biện pháp giải quyết, xử lý hàng hóa tồn đọng tại cảng biển, cảng hàng không quốc tế.

– Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa, Luật An toàn thực phẩm, Pháp lệnh thú y, Pháp lệnh bảo vệ và kiểm dịch thực vật theo hướng quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan kiểm tra chuyên ngành trong việc giám sát hàng hóa đưa về kho bảo quản chờ kết quả kiểm tra chuyên ngành hoặc đưa hàng về các địa điểm để kiểm tra chuyên ngành.

– Bộ Luật tố tụng hình sự theo hướng bổ sung thẩm quyền khởi tố của cơ quan hải quan đối với các tội danh: vận chuyển trái phép vũ khí, ma túy qua biên giới, trốn thuế, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

– Pháp lệnh tổ chức điều tra hình theo hướng quy định tiêu chuẩn của các cán bộ Hải quan được tiến hành một số hoạt động điều tra theo Bộ luật tố tụng hình sự.

– Luật xử lý vi phạm hành chính theo hướng bổ sung thẩm quyền cho cơ quan hải quan được phép tạm giữ người theo thủ tục hành chính để kịp thời ngăn chặn hành vi vi phạm./.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *