Chuyên đề 13: HOÀN THIỆN KHUÔN KHỔ PHÁP LÝ VỀ XỬ LÝ VI PHẠM TRỐN THUẾ – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LUẬT HÌNH SỰ

Chuyên đề 13: HOÀN THIỆN KHUÔN KHỔ PHÁP LÝ VỀ XỬ LÝ VI PHẠM TRỐN THUẾ – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LUẬT HÌNH SỰ

 Thạc sĩ Trương Huỳnh Thắng

Vụ Pháp chế – Bộ Tài chính

Trốn thuế là hiện tượng xã hội được hình thành, vận động và phát triển cùng nền kinh tế thị trường. Để ngăn ngừa hiện tượng tiêu cực này, Nhà nước đã và đang sử dụng nhiều biện pháp khác nhau từ tuyên truyền, vận động đến xử lý nghiêm minh các vi phạm, bao gồm biện pháp xử lý nghiêm khắc nhất là truy cứu trách nhiệm hình sự.  

Bộ luật Hình sự năm 1999 được Quốc Hội khoá X, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 21/12/1999, có hiệu lực từ ngày 01/07/2000 và được sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã quy định một cách tương đối toàn diện có hệ thống các nguyên tắc, chế định chung của chính sách hình sự và hình phạt nói chung và tội trốn thuế nói riêng.

Trong phạm vi bài viết này xin được cung cấp những thông tin về việc hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự đối với vi phạm trốn thuế từ năm 1999 đến nay, trong đó có những điểm mới của tội danh trốn thuế tại Bộ Luật hình sự số 100/2015/QH13[1] (sau đây gọi tắt là Bộ Luật hình sự năm 2015).

13.1. Một số vấn đề pháp lý liên quan đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự vi phạm trốn thuế

13.1.1. Nhận diện hành vi trốn thuế

(1) Bộ luật hình sự năm 1999 có quy định :“Người nào trốn thuế với số tiền từ năm mươi triệu đồng đến dưới một trăm năm mươi triệu đồng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 153, 154, 155, 156, 157, 158, 159, 160, 164, 193, 194, 195, 196, 230, 232,233, 236 và 238 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số tiền trốn thuế hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm”[2].

Như vậy, về mặt khách quan của tội phạm, Bộ luật hình sự năm 1999 chỉ quy định “người nào trốn thuế” mà không quy định rõ các dấu hiệu để nhận diện về trốn thuế.

(2) Trong hệ thống các văn bản hướng dẫn hoặc quy định chi tiết Bộ luật hình sự không có quy định nào mô tả trực tiếp về vi phạm trốn thuế. Ngay đến Thông tư liên tịch số 10/2013/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BTC của Liên Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tài chính hướng dẫn trực tiếp tội trốn thuế[3] thì việc mô tả hành vi trốn thuế cũng được dẫn chiếu đến luật chuyên ngành là Luật Quản lý thuế.

(3) Để đáp ứng yêu cầu tìm hiểu và thi hành Bộ luật hình sự, nhiều chuyên gia khoa học pháp lý đã tổng kết, nghiên cứu, nhận diện và mô tả mặt khách quan của tội trốn thuế với những hành vi như “kê khai gian dối, làm sai lệch sổ sách kế toán…với mục đích không nộp hoặc có nộp nhưng nộp thấp hơn mức thuế đáng ra phải nộp”[4] hoặc “không đăng ký, không kê khai hàng hoá trong sản xuất kinh doanh; kê khai gian dối, lập hóa đơn chứng từ giả, làm sai lệch sổ sách kế toán…để không phải nộp thuế hoặc nộp với mức thấp hơn thực tế”[5] hoặc hành vi khai báo gian dối trong sản xuất, kinh doanh để không phải đóng thuế hoặc đóng mức thuế thấp hơn nhiều so với mức phải đóng”[6]. Những nghiên cứu này bước đầu cho thấy (i) trốn thuế không phải một hành vi mà là một số hành vi; (ii) mục đích của vi phạm là không phải nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước hoặc nộp ít hơn số tiền thuế phải nộp.

(4) Về phía pháp luật chuyên ngành, trước năm 2007, các Luật thuế của Việt Nam chưa có định nghĩa về hành vi trốn thuế. Mặc dù vậy, tại văn bản quy định chi tiết Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính[7], vi phạm trốn thuế đã được quy định trực tiếp và cụ thể. Theo đó, trốn thuế là hành vi của cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định của pháp luật về thuế làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn hoặc được miễn, giảm. Đồng thời, vi phạm trốn thuế được liệt kê với những hành vi cụ thể gồm: (1) Hành vi để ngoài sổ kế toán số liệu kế toán hoặc hạch toán kế toán không đúng quy định của chế độ kế toán làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn hoặc được miễn, giảm; (2) Hành vi sửa chữa, tẩy xoá chứng từ kế toán, sổ kế toán nhằm làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn hoặc được miễn, giảm; (3) Hành vi lập thủ tục huỷ vật tư, hàng hoá hoặc giảm số lượng, giá trị vật tư, hàng hoá không đúng thực tế làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn hoặc được miễn, giảm; (4) Hành vi bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ lập hoá đơn trên liên giao cho khách hàng lớn hơn liên lưu về số lượng, giá trị; (5) Hành vi bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ lập hoá đơn ghi giá trị thấp hơn từ 20% (hai mươi phần trăm) trở lên so với giá bán trung bình của hàng hóa, dịch vụ cùng loại trên thị trường địa phương nơi bán hàng, trừ những trường hợp bán hàng tươi sống kém chất lượng; bán hàng hoá tồn kho do chất lượng giảm, lạc hậu về hình thức, không phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng; bán hàng hoá nông sản, thực phẩm theo mùa vụ;  bán hàng hoá để khuyến mại theo quy định của pháp luật; bán hàng hoá, tài sản trong trường hợp phá sản, giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh doanh, chuyển hướng sản xuất, kinh doanh; (6) Hành vi sử dụng hoá đơn giả, hoá đơn đã hết giá trị sử dụng, hoá đơn của cá nhân, tổ chức khác để bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ nhưng không kê khai đầy đủ số thuế phải nộp; (7) Hành vi kê khai, xác định không đúng các căn cứ tính thuế theo quy định làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn hoặc được miễn, giảm; (8) Hành vi lưu thông hàng hoá, nguyên, nhiên, vật liệu không có chứng từ kèm theo để chứng minh lô hàng đã nộp thuế hoặc đã được cơ quan thuế quản lý theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 10 Nghị định 100/2004/NĐ-CP; (9) Hành vi không thực hiện việc kê khai về thuế hoặc kê khai về khấu trừ thuế theo quy định áp dụng đối với các nhà thầu, nhà thầu phụ; (10) Hành vi bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ không lập hoá đơn và không kê khai thuế đầy đủ; (11) Hành vi báo huỷ hoá đơn đã sử dụng cung ứng hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng nhằm mục đích làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn hoặc được miễn, giảm. (12) Hành vi sử dụng hoá đơn khống hoặc các chứng từ kế toán khống khác nhằm mục đích làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn hoặc được miễn, giảm; (13) Hành vi huỷ bỏ chứng từ kế toán, sổ kế toán nhằm mục đích làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn hoặc được miễn, giảm; (14) Hành vi lập hai hệ thống sổ kế toán có nội dung ghi khác nhau nhằm mục đích làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn hoặc được miễn, giảm; (15) Hành vi kinh doanh không kê khai đăng ký thuế.

(5) Đến năm 2007, với sự ra đời của Luật Quản lý thuế, lần đầu tiên hành vi trốn thuế được liệt kê, quy định cụ thể trong văn bản Luật.

Theo quy định Luật Quản lý thuế năm 2007[8], hành vi trốn thuế, gian lận thuế gồm các hành vi: (1) Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau chín mươi ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 5 Điều 32 của Luật Quản lý thuế hoặc ngày hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định tại Điều 33 của Luật Quản lý thuế; (2) Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp; (3) Không xuất hoá đơn khi bán hàng hoá, dịch vụ hoặc ghi giá trị trên hoá đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hoá, dịch vụ đã bán; (4) Sử dụng hoá đơn, chứng từ bất hợp pháp để hạch toán hàng hoá, nguyên liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm hoặc tăng số tiền thuế được khấu trừ, số tiền thuế được hoàn; (5) Sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp khác để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được hoàn; (6) Khai sai với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà không khai bổ sung hồ sơ khai thuế sau khi hàng hóa đã được thông quan trong thời gian sáu mươi ngày, kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan; (7) Cố ý không kê khai hoặc khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; (8) Cấu kết với người gửi hàng để nhập khẩu hàng hoá nhằm mục đích trốn thuế; (9) Sử dụng hàng hoá được miễn thuế không đúng với mục đích quy định mà không khai thuế.

Đến năm 2013, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế có nhận diện và điều chỉnh hành vi “Khai sai với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà không khai bổ sung hồ sơ khai thuế sau khi hàng hóa đã được thông quan trong thời gian sáu mươi ngày, kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan”[9] thành hành vi “Khai sai với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà không khai bổ sung hồ sơ khai thuế sau khi hàng hóa đã được thông quan”[10] và nhận diện, điều chỉnh hành vi “Sử dụng hàng hoá được miễn thuế không đúng với mục đích quy định mà không khai thuế”[11] thành hành vi “Sử dụng hàng hoá thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế không đúng mục đích quy định mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng với cơ quan quản lý thuế”[12]

Như vậy, theo quy định tại Luật Quản lý thuế, trốn thuế không phải là một hành vi đơn nhất, mà là một nhóm các vi vi phạm pháp luật khác nhau. Theo quá trình vận động của nền kinh tế, những hành vi vi phạm trốn thuế tiếp tục được nhận diện và hệ thống hoá tại các văn bản quy phạm pháp luật.

13.1.2. Ngưỡng chịu trách nhiệm hình sự đối với những vi phạm trốn thuế

(1) Tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, một vi phạm pháp luật có thể được xử lý bằng các chế tài hành chính theo quy định của luật xử lý vi phạm hành chính hoặc bằng các chế tài chính hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự.

Để đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, khoa học pháp lý sử dụng các “ngưỡng”. Đây chính là những tình tiết định tính hoặc định lượng của vi phạm, qua đó phân loại trong trường hợp nào hành vi vi phạm bị xử lý bằng chế tài hành chính (truy cứu trách nhiệm hành chính) hoặc trong trường hợp nào hành vi vi phạm phải bị xử lý bằng các chế tài hình sự (truy cứu trách nhiệm hình sự).

(2) Tại khoản 1 Điều 161 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “Người nào trốn thuế với số tiền từ năm mươi triệu đồng đến dưới một trăm năm mươi triệu đồng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 153, 154, 155, 156, 157, 158, 159, 160, 164, 193, 194, 195, 196, 230, 232,233, 236 và 238 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số tiền trốn thuế hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm”. Trong trường hợp này, ngưỡng chịu trách nhiệm hình sự đối với vi phạm trốn thuế là số thuế trốn và nhân thân của người vi phạm.

Theo quy định tại Điều 161, một người có thể bị truy cứu trách nhiệm trong các trường hợp sau: (1) Người đó có số thuế trốn từ 50 (năm mươi) triệu đồng trở lên; (2) Người đó có số thuế trốn chưa đến 50 (năm mươi) triệu đồng nhưng người đó đã bị xử phạt hành chính (phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền) về hành vi trốn thuế; (3) Người đó có số thuế trốn chưa đến 50 (năm mươi) triệu đồng nhưng người đó chưa được xóa án tích đối với một trong các tội: trốn thuế hoặc buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới hoặc sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm hoặc sản xuất, buôn bán hàng giả hoặc sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh hoặc sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi hoặc kinh doanh trái phép  hoặc đầu cơ hoặc làm tem giả, vé giả, tội buôn bán tem giả, vé giả hoặc sản xuất trái phép chất ma túy hoặc tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy hoặc tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy hoặc sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy hoặc chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự hoặc chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ hoặc chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí  thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ hoặc sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất phóng xạ hoặc sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc.

Đến năm 2009, ngoài dấu hiệu về nhân thân, ngưỡng trốn thuế đã tăng gấp hai lần so với Bộ luật hình sự năm 1999, từ mức 50 triệu đồng lên mức 100 triệu đồng.

Tại khoản 8 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật hình sự quy định: “Người nào trốn thuế với số tiền từ một trăm triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng hoặc dưới một trăm triệu đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 153, 154, 155, 156, 157, 158, 159, 160, 164, 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số tiền trốn thuế hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm. 

13.1.3. Chủ thể của tội phạm trốn thuế 

Theo quy định của Điều 161 Bộ luật hình sự năm 1999 và Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật hình sự, chủ thể của tội phạm trốn thuế là bất kỳ cá nhân công dân nào có độ tuổi từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực chịu trách nhiệm hình sự[13]

13.1.4. Hình phạt đối với tội trốn thuế

(1) Để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội trốn thuế, Bộ luật hình sự năm 1999 và Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật hình sự quy định các hình phạt, gồm hình phạt tiền hoặc phạt cải tạo không giam giữ hoặc cải tại giam giữ và hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Theo đó, người bị toà án kết tội trốn thuế có thể bị xử phạt trong khung hình phạt như sau:

– Phạt tiền từ một lần đến năm lần số tiền trốn thuế hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm.

– Phạt tiền từ một lần đến năm lần số tiền trốn thuế hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm nếu số tiền thuế trốn từ một trăm năm mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng hoặc tái phạm về tội này[14].

– Phạt tù từ hai năm đến bảy năm nếu số tiền thuế trốn từ năm trăm triệu đồng trở lên hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác[15].

Ngoài ra, trường hợp hình phạt tiền không phải là hình phạt chính, người phạm tội trốn thuế còn có thể bị tòa án áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền với mức từ một lần đến ba lần số tiền thuế trốn.   

13.2. Tình hình thực hiện và kết quả xử lý hình sự đối với những vi phạm trốn thuế của ngành tài chính

(1) Từ khi được ban hành đến nay, Bộ Luật hình sự tiếp tục là công cụ hữu hiệu của Nhà nước trong việc quản lý xã hội, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, góp phần quan trọng trong việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của các tổ chức và của công dân, đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần có hiệu quả trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa. Kết quả này được thể hiện như sau:

Thứ nhất, từ khi được ban hành vào năm 1999, Bộ luật hình sự đã sớm đi vào cuộc sống và phát huy vai trò, tác dụng tích cực là công cụ sắc bén, hữu hiệu trong đấu tranh phòng, chống tội phạm. Với những quy định tương đối có hệ thống, toàn diện về các nguyên tắc xử lý, chế định chung của chính sách hình sự, về tội phạm và hình phạt cũng như việc hình sự hóa khá nhiều hành vi nguy hiểm cao cho xã hội, Bộ luật hình sự một mặt đã thể hiện được tinh thần chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tội phạm, mặt khác tạo cơ sở pháp lý góp phần nâng cao hiệu quả điều tra, truy tố, xét xử tội phạm, đặc biệt là các tội xâm phạm an ninh quốc gia; xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người; tội phạm về kinh tế, ma túy và tội phạm tham nhũng… qua đó góp phần kiểm soát và kìm chế tình hình tội phạm, bảo đảm ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Thứ hai, Bộ luật hình sự đã có nhiều quy định thể hiện tinh thần nhân đạo, chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, cụ thể như quy định về khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại đã gây ra; về các trường hợp loại trừ hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; về miễn trách nhiệm hình sự, miễn giảm hình phạt… Đặc biệt, Bộ luật hình sự đã quy định chặt chẽ hơn các điều kiện áp dụng hình phạt tử hình; mở rộng diện đối tượng không áp dụng, không thi hành hình phạt tử hình và thu hẹp diện các tội danh có quy định hình phạt tử hình. Các quy định này đã góp phần bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân, nâng cao vai trò giáo dục, cảm hóa đối với  người phạm tội, đồng thời giáo dục người dân ý thức tuân thủ pháp luật, chủ động phòng ngừa tội phạm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Thứ ba, Bộ luật hình sự có những quy định phù hợp với xu hướng chung của quốc tế, tạo tiền đề quan trọng cho việc tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, nhất là các tội phạm mang tính quốc tế, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia như tội phạm về ma túy, mua bán người, rửa tiền, khủng bố, tài trợ khủng bố; các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ cao… qua đó, góp phần vào việc thực hiện có hiệu quả chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về hội nhập quốc tế.

(2) Ngay sau khi bộ luật được ban hành Bộ Tài chính đã chỉ đạo các đơn vị thuộc và trực thuộc phổ biến, quán triệt đến toàn thể cán bộ công chức trong toàn ngành biết và hiểu các nội dung cần thiết của pháp luật hình sự để nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, trách nhiệm trong công tác phòng, chống tội phạm.

Các đơn vị thuộc Bộ Tài chính như Tổng cục Hải quan, Tổng cục Thuế thường xuyên phổ biến, tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng đấu tranh phòng, chống buôn lậu; chống các loại tội phạm liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan, thuế, hoá đơn, chứng từ… Đồng thời phối hợp với các cơ quan chức năng như Công an, Quản lý thị trường, Bộ đội Biên phòng chủ động phòng, ngừa và đấu tranh với các loại tội phạm xâm phạm đến an ninh trật tự, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế…đặc biệt tại khu vực biên giới, cửa khẩu.

Trên cơ sở Bộ luật hình sự, Bộ Tài chính đã phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Thông tư liên tịch số 10/2013/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BTC hướng dẫn áp dụng một số Điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính kế toán và chứng khoán. Một số đơn vị của Bộ Tài chính đã ký Quy chế phối hợp với Bộ Công an về đấu tranh phòng chống các hành vi phạm tội trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tài chính[16]. Theo đó, giữa các cơ quan đã có sự phối hợp khá chặt chẽ và thông suốt, đảm bảo thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo đúng quy định của pháp luật để phát hiện đấu tranh, ngăn chặn kịp thời những hành vi vi phạm và tội phạm trong lĩnh vực hải quan, thuế, chứng khoán góp phần tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng để thúc đẩy các cơ sở sản xuất – kinh doanh phát triển, đóng góp ngày càng nhiều số thu vào ngân sách nhà nước.

Tổng số vụ vi phạm về trốn thuế đã được cơ quan thuế phát hiện và xử lý từ năm 2001-2012[17] (thời điểm tổng kết thi hành Bộ luật hình sự năm 1999) 24.587 vụ. Trong đó, số vụ vi phạm được phát hiện và xử lý hành chính là 23.541 vụ; Số vụ vi phạm được phát hiện và chuyển cơ quan điều tra khởi tố là 1.046 vụ; Số vụ đã được cơ quan điều tra khởi tố là 290 vụ.

(3) Ngoài ra, Bộ Tài chính đã xây dựng một đội ngũ giám định viên[18] về hải quan, thuế, kế toán, kiểm toán…nhằm hỗ trợ Cơ quan Cảnh sát điều tra, cơ quan kiểm sát và tòa án trong việc thực hiện giám định các vấn đề chuyên môn về thuế theo yêu cầu của cơ quan trưng cầu và đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

(4) Bên cạnh một số kết quả đạt được như trên, Bộ luật hình sự cũng đã bộ lộ những vướng mắc, bất cập trong quá trình triển khai thực hiện. Cụ thể như sau: 

Thứ nhất, nền kinh tế thị trường định hướng định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) của nước ta đã có những bước phát triển quan trọng, từng bước hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới và đã mang lại những lợi ích to lớn, nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết, trong đó có vấn đề đấu tranh phòng chống tội phạm. Cùng với các luật khác trong hệ thống pháp luật nước ta, Bộ luật hình sự phải thể hiện đúng vai trò là công cụ hữu hiệu để bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, Bộ luật hình sự hiện hành nhìn chung vẫn là sản phẩm mang đậm dấu ấn của thời kỳ đầu của quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, do vậy, chưa thực sự phát huy tác dụng trong việc bảo vệ và thúc đẩy các nhân tố tích cực của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN phát triển một cách lành mạnh. Một số quy định của Bộ luật tỏ ra không còn phù hợp với điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường. Mặt khác, nhiều tội phạm mới phát sinh trong quá trình vận hành nền kinh tế chưa được kịp thời bổ sung hoặc tuy đã được bổ sung, nhưng chưa đầy đủ, toàn diện, nhất là các tội phạm trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, thương mại, tài chính, ngân hàng, thuế, bảo hiểm, chứng khoán, tội phạm trong lĩnh vực môi trường,… Những hạn chế này đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của nền kinh tế cũng như hiệu quả của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và đòi hỏi cần phải tiếp tục hoàn thiện Bộ luật hình sự để góp phần bảo vệ và thúc đẩy hơn nữa sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Thứ hai, do ban hành từ năm 1999, nên Bộ luật hình sự chưa thể chế hoá được những quan điểm, chủ trương mới của Đảng về cải cách tư pháp được thể hiện trong Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Trong các nghị quyết này Đảng ta chỉ rõ cần phải “coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội. Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm. Hạn chế áp dụng hình phạt tử hình theo hướng chỉ áp dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Giảm bớt khung hình phạt tối đa quá cao trong một số loại tội phạm. Khắc phục tình trạng hình sự hóa quan hệ kinh tế, quan hệ dân sự và bỏ lọt tội phạm. Quy định là tội phạm đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới xuất hiện trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế”. Đồng thời, “xử lý nghiêm khắc hơn đối với những tội phạm là người có thẩm quyền trong thực thi pháp luật, những người lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội. Người có chức vụ càng cao mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn phạm tội thì càng phải xử lý nghiêm khắc để làm gương cho người khác”. Đây là những quan điểm mới của Đảng và Nhà nước ta về chính sách hình sự mà Bộ luật hình sự cần phải được thể chế hóa một cách đầy đủ.

Đặc biệt, sự phát triển của Hiến pháp năm 2013 về việc ghi nhận và đảm bảo thực hiện các quyền con người, quyền công dân đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới, hoàn thiện cả hệ thống pháp luật, trong đó có pháp luật hình sự với tính cách là công cụ pháp lý quan trọng và sắc bén nhất trong việc bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền cơ bản của công dân. Theo đó, một mặt, Bộ luật hình sự cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng bảo đảm xử lý nghiêm các hành vi xâm hại các quyền con người, quyền cơ bản của công dân; mặt khác cần nghiên cứu, đề xuất sửa đổi theo hướng đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội; tạo điều kiện thuận lợi để người bị kết án tái hòa nhập cộng đồng. Thực tiễn cho thấy, vẫn còn tình trạng quyền con người, quyền cơ bản của công dân, nhất là đối với các đối tượng yếu thế trong xã hội vẫn chưa được tôn trọng một cách đầy đủ, toàn diện. Nhìn chung, người dân chưa thực sự cảm thấy an toàn về môi trường sống, vẫn còn xảy ra những vụ giết người, cướp của tàn bạo gây chấn động trong dư luận và gây tâm lý hoang mang trong một bộ phận nhân dân; người dân chưa thực sự yên tâm phát huy tính sáng tạo trong hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như tích cực, chủ động tham gia phòng, chống tội phạm và các vi phạm pháp luật. Tình trạng ô nhiễm môi trường, mất vệ sinh an toàn thực phẩm, mất an toàn trong lao động, trong xây dựng, trong khi tham gia giao thông đã đến mức báo động. Đối với người bị kết án thì việc xóa án tích, nhất là đương nhiên được xóa án tích hiện nay rất phức tạp, thủ tục rườm rà chưa tạo điều kiện thuận lợi cho họ tái hòa nhập cộng đồng. Vì vậy, Bộ luật hình sự phải được tiếp tục hoàn thiện để góp phần tạo ra một khung pháp lý đủ mạnh nhằm bảo vệ một môi trường sống an lành cho người dân; bảo vệ tốt hơn các quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân; động viên khuyến khích mọi tầng lớp nhân dân yên tâm tham đấu tranh phòng, chống tội phạm, phát triển kinh tế, sáng tạo khoa học.

Thứ ba, Bộ luật hình sự hiện hành chưa cập nhật được đầy đủ, kịp thời các hành vi vi phạm có tính chất phổ biến, nguy hiểm cao cho xã hội để có biện pháp xử lý hình sự thích đáng. Điển hình có thể kể tới các hành vi lạm dụng lao động trẻ em; chiếm đoạt, mua bán trái phép mô tạng, các bộ phận cơ thể người; vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ; lợi dụng bán hàng đa cấp để chiếm đoạt tiền, tài sản; các vi phạm trong các lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, môi trường, công nghệ cao, v.v… Điều này chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Thứ tư, Bộ luật hình sự hiện hành được ban hành từ năm 1999 trong bối cảnh nước ta chưa hội nhập sâu vào thế giới, nhiều điều ước quốc tế chúng ta chưa có điều kiện gia nhập, do vậy, chưa phản ánh được những đặc điểm và yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong điều kiện hội nhập quốc tế, chưa tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, thuận lợi cho việc hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm. Ngày nay, xu thế chủ động hội nhập quốc tế đã trở thành nhu cầu nội tại của Việt Nam. Trên thực tế, nước ta đã tham gia nhiều tổ chức quốc tế, tổ chức khu vực và đã trở thành thành viên của nhiều điều ước quốc tế đa phương, trong đó có các công ước về phòng chống tội phạm, như: Công ước thống nhất về các chất ma túy năm 1961; Công ước về các chất hướng thần năm 1971; Công ước về chống buôn bán bất hợp pháp các chất ma túy và chất hướng thần năm 1988; Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và Nghị định thư về phòng, chống buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em; Công ước chống tham nhũng; Công ước chống tra tấn; các điều ước quốc tế liên quan đến chống khủng bố, tài trợ khủng bố, rửa tiền, cướp biển, bắt cóc con tin, … Bên cạnh đó, cùng với quá trình hội nhập quốc tế, nước ta cũng đang phải đối mặt với sự gia tăng của các loại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, các tội phạm do người nước ngoài thực hiện. Điều này, đòi hỏi phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự để nội luật hóa các quy định về hình sự trong các điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên nhằm thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của quốc gia thành viên và tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho việc chủ động và tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm, đặc biệt là các tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.

Ngoài ra, Bộ luật hình sự hiện hành cũng còn nhiều bất cập về mặt kỹ thuật lập pháp liên quan đến sự thống nhất giữa Phần chung và Phần các tội phạm; các dấu hiệu định tội, định khung của nhiều tội danh; các tội ghép; cách thiết kế khung hình phạt cũng như khoảng cách khung hình phạt của một số tội danh; chưa có sự nhất quán trong cách phân chia các chương tội phạm… Những bất cập này cũng ảnh hưởng lớn đến việc hướng dẫn thi hành và áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự trên thực tế.

Riêng đối với tội trốn thuế, Điều 161 Bộ luật hình sự chưa làm rõ được hành vi khách quan của tội phạm này, chưa có quy định rõ ràng để phân biệt giữa hành vi trốn thuế với hành vi gian lận thuế. Quy định này đã gây không ít khó khăn cho cơ quan tố tụng khi đấu tranh, xử lý các vi phạm trốn thuế.

13.3. Bối cảnh tình hình và yêu cầu sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 1999

(1) Xuất phát từ tình hình kinh tế xã hội còn khó khăn, mặc dù tình hình an ninh chính trị, an toàn xã hội được giữ vững, tuy nhiên tình hình tội phạm, trong đó có các tội phạm về kinh tế như buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế… vẫn còn xảy ra nhiều, với tính chất ngày càng phức tạp và quy mô ngày càng tăng. Cụ thể như sau:

Trong lĩnh vực hải quan: Trong những năm vừa qua, tình hình buôn lậu, gian lận thương mại đã có những diễn biến phức tạp. Mặt hàng nhập lậu chủ yếu là các mặt hàng cấm, hàng có thuế suất cao, hàng phải kiểm tra chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm như: Vũ khí và công cụ hỗ trợ, vật liệu nổ, pháo, văn hóa phẩm phản động, dầu nhờn xe máy, gia súc gia cầm, đồ chơi bạo lực, vải may mặc, hàng điện tử, thuốc lá điếu, rượu ngoại thẩm lậu… Mặt hàng xuất lậu chủ yếu là các mặt hàng cấm, hàng có giá trị và thuế cao như: than, quặng, động vật hoang dã quý hiếm và sản phẩm từ động vật hoang dã quý hiếm, lâm sản quý hiếm và sản phẩm, hêrôin… các mặt hàng cấm kinh doanh theo các công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết như ắc qui chì, vi mạch điện tử đã qua sử dụng, nhựa phế thải… Ngày càng xuất hiện các mặt hàng buôn lậu mới và trị giá tang vật lớn; Nhiều hàng hóa buôn lậu có giá trị cao mà từ trước tới nay chưa từng phát hiện như: xe ô tô du lịch 05 chỗ ngồi, gỗ sưa, vảy tê tê…

Các vi phạm diễn ra ngày càng tinh vi, có tổ chức và được thực hiện ở nhiều địa bàn khác nhau, nhưng chủ yếu vẫn là các đường mòn lối tắt, các cửa khẩu biển giới hoặc trên biển.

Trong lĩnh vực thuế: Trong những năm qua, tình hình vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thuế đã có những diễn biến phức tạp. Các hành vi vi phạm trong lĩnh vực thuế có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự chủ yếu là hành vi trốn thuế, hành vi in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước, hành vi vi phạm quy định về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước… Trong các vi phạm thì hành vi trốn thuế đang diễn ra ngày càng tinh vi, có tổ chức. Nguyên nhân là do Việt Nam ngày càng tham gia sâu hơn và thị trường kinh tế thế giới, theo đó xuất hiện các hình thức công ty liên danh, liên kết, các tập đoàn đa quốc gia… Các công ty, tập đoàn này liên kết với nhau thực hiện hành vi trốn thuế dưới hình thức chủ yếu là chuyển giá.

Chỉ riêng năm 2013, qua theo dõi, nắm tình hình tại các địa bàn, Bộ Tài chính đã phát hiện tại tuyến biên giới cửa khẩu đường Bộ (trọng điểm là các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, An Giang, Kiên Giang,…) có dấu hiệu nhiều đối tượng xuất khống hàng hóa; quay vòng hàng hóa, ngoại hối… để hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) nhằm chiếm đoạt tiền thuế của Nhà nước.

Các mặt hàng xuất khẩu để hoàn thuế GTGT chủ yếu là hàng nông, lâm, thủy, hải sản, vật liệu xây dựng, điện thoại di động… với các phương thức, thủ đoạn chủ yếu là:

– Lợi dụng quy định thuận lợi trong việc thành lập, giải thể doanh nghiệp. Các đối tượng tiến hành thành lập doanh nghiệp, thuê kho bãi, mua hàng hóa (tượng trưng) để tạo vỏ bọc cho hoạt động vi phạm. Kết quả điều tra cho thấy doanh nghiệp thường có địa chỉ không rõ ràng, trụ sở tạm bợ, hoặc năng lực doanh nghiệp không phù hợp với quy mô hoạt động,… Thành lập nhiều công ty cho những người thân trong gia đình đứng tên đại diện pháp luật tham gia hoàn thuế GTGT. Hoạt động một thời gian ngắn thì giải thể để trốn tránh cơ quan chức năng.

– Lợi dụng quy định cho phép doanh nghiệp tự in ấn, phát hành hóa đơn GTGT, các đối tượng đã thu gom hóa đơn ở nhiều địa bàn, nhiều doanh nghiệp khác nhau để làm chứng từ đầu vào, hợp thức hóa nguồn gốc các lô hàng xuất khẩu.

– Lợi dụng quy định của Ngân hàng cho phép người nước ngoài mở tài khoản vãng lai để thanh toán tiền hàng hóa xuất nhập khẩu bằng tiền Việt Nam đồng.

– Lợi dụng sự thông thoáng về thủ tục Hải quan, nhất là thủ tục hải quan đối với hàng xuất khẩu để khai sai chủng loại, khai khống số lượng hàng hóa để tăng giá trị hàng hóa xuất khẩu được hoàn thuế GTGT,…

Thông qua các hoạt động thanh tra, kiểm tra, các kết quả bước đầu đạt được như sau:

Kết quả kiểm tra theo chuyên đề thuế GTGT tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương của các Cục thuế địa phương từ tháng 3/2013:

+ Kiểm tra công tác quản lý thuế GTGT (chỉ kiểm tra công tác quản lý hồ sơ khai thuế tại cơ quan thuế) năm 2012: Tổng số hồ sơ khai thuế GTGT được kiểm tra là 98.135 hồ sơ, qua kiểm tra xác định số thuế GTGT khai sai là 31.697 triệu đồng, đã xử lý 20.516 triệu đồng, số còn lại đang tiếp tục xử lý; Tổng số hồ sơ hoàn thuế được kiểm tra là 3.838 hồ sơ, qua kiểm tra xác định số thuế GTGT được hoàn chưa đúng là 15.698 triệu đồng, đã xử lý 1.009 triệu đồng, số còn lại đang tiếp tục xử lý.

Kết quả thanh tra theo chuyên đề thuế GTGT tại 02 tỉnh Đắk Lắk và An Giang: Sau thanh tra đã kiến nghị xử lý truy thu, thu hồi tiền thuế 57.666 triệu đồng (Tại 02 doanh nghiệp tại An Giang) và tổng hợp hồ sơ, tài liệu của 04 doanh nghiệp này chuyển hồ sơ cho cơ quan Công an tiếp tục điều tra theo quy định. 

Kết quả thanh tra tại các tỉnh Tây Nguyên:

+ Cục Thuế Lâm Đồng đã phối hợp phòng PC46 công an tỉnh tiến hành kiểm tra, điều tra, xác minh 09 doanh nghiệp kinh doanh cà phê sử dụng hóa đơn của các tổ chức, cá nhân sử dụng hóa đơn ngoài tỉnh để kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Qua thanh tra, kiểm tra đã tham mưu xử lý truy thu thuế, phí và phạt xử phạt vi phạm hành chính, số tiền là 26.784 triệu đồng, trong đó: Tiền thuế truy thu là 25.321 triệu đồng và tiền phạt vi phạm hành chính là 1.463 triệu đồng, đồng thời qua thanh tra giảm lỗ là 1.122 triệu đồng, giảm khấu trừ tiền thuế GTGT là 1.712 triệu đồng. Đã nộp ngân sách nhà nước: 2.201 triệu đồng, còn nợ sau thanh tra là 24.583 triệu đồng. Cơ quan Công An đã điều tra khởi tố bị can điển hình 03 trường hợp liên kết mua bán lòng vòng, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp. Qua thanh tra, kiểm tra, xác minh đã phát hiện 41 tổ chức, cá nhân sử dụng  2972 hóa đơn của 109 tổ chức, cá nhân trên địa bàn 16 tỉnh, thành phố.

+ Cục Thuế Đắk Lắk đã tổ chức kiểm tra ra Quyết định thu hồi tiền thuế GTGT đã hoàn của 5 doanh nghiệp với số tiền là 26 tỷ đồng và ra thông báo yêu cầu 42 doanh nghiệp điều chỉnh giảm khấu trừ thuế GTGT đầu vào với số tiền 134 tỷ đồng; Thành lập 13 đoàn kiểm tra, xác minh hoá đơn đầu vào của các doanh nghiệp xuất khẩu mua hàng của các doanh nghiệp ngoài tỉnh để xử lý hoàn thuế tại các tỉnh: Gia Lai, Đắk Nông, Lâm Đồng, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Vũng Tàu, Kon Tum, Tp Hồ Chí Minh,… Kết quả đã dừng khấu trừ thuế 6.238 triệu đồng, số thuế đang tiếp tục xác minh 66.566. triệu đồng

Kết quả thanh tra tại các tỉnh miền Tây Nam bộ:

+ Cục Thuế An Giang đã tiến hành phân tích rủi ro đối với các doanh nghiệp có xuất khẩu sang Campuchia và xác định có 87 doanh nghiệp rủi ro cao và thành lập các đoàn thanh tra tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoàn thuế đối với các doanh nghiệp này, tập trung xác minh hoá đơn đầu vào các doanh nghiệp xin hoàn thuế. Qua kiểm tra xác định 46 doanh nghiệp (trong tổng số 87 doanh nghiệp) không phát sinh doanh thu hàng xuất khẩu (15 doanh nghiệp đã chuyển sang kinh doanh nội địa, 31 doanh nghiệp ngừng hoạt động). Cục đã thanh tra 02 doanh nghiệp, kết luận 02 doanh nghiệp đã sử dụng hóa đơn bất hợp pháp chiếm đoạt tiền hoàn thuế GTGT số tiền 23 tỷ đồng, Cục Thuế đã hoàn tất các thủ tục chuyển qua Công an để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật. Đồng thời đang phối hợp với Công an tỉnh An Giang tiếp tục điều  tra, xác minh 02 doanh nghiệp có dấu hiệu chiếm đoạt tiền hoàn thuế. Qua rà soát Cục Thuế An Giang đề nghị cơ quan Hải quan tổ chức kiểm tra thực tế hàng hóa xuất khẩu đối với 10 doanh nghiệp tại huyện An Phú chuyên xuất khẩu điện thoại di động sang Campuchia. Sau phối hợp kiểm tra đã có 09 doanh nghiệp dừng hoạt động.

+ Cục thuế Kiên Giang đã tiến hành phân tích rủi ro đối với doanh nghiệp xin hoàn thuế và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp có rủi ro cao. Qua kiểm tra xác định, trong 13 doanh nghiệp rủi ro cao thì có 5 doanh nghiệp không phát sinh doanh thu hàng xuất khẩu (trong đó 04 doanh nghiệp đã bị khởi tố). Bên cạnh đó, Cục Thuế đã tăng cường phối hợp với Công an tỉnh Tiền Giang điều tra, khởi tố 4 Công ty với số tiền thuế GTGT chiếm đoạt là gần 110 tỷ đồng.

– Việc chiếm đoạt tiền hoàn thuế GTGT tại các khu vực Tây nguyên và Tây Nam bộ thực hiện với các thủ đoạn tinh vi, phức tạp lại có yếu tố nước ngoài, vì vậy ngoài việc phối hợp với Tổng cục An ninh (C46), Bộ Tài chính đã phối hợp với Tổng cục An ninh II (A84) để khởi tố điều tra 13 doanh nghiệp có dấu hiệu chiếm đoạt tiền thuế GTGT, gồm Đồng Nai 5 doanh nghiệp, Đắc Lắk 2 doanh nghiệp và Tây nam bộ 6 doanh nghiệp.

(2) Nội dung sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 1999 cần đáp ứng những yêu cầu như sau:

Thứ nhất, thể chế hóa đầy đủ, toàn diện các chủ trương, đường lối của Đảng thể hiện trong Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011-2020, Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách Tư pháp đến năm 2020, đặc biệt là chủ trương: “Đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội. Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm. Hạn chế áp dụng hình phạt tử hình theo hướng chỉ áp dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Giảm bớt khung hình phạt tối đa quá cao trong một số loại tội phạm. Khắc phục tình trạng hình sự hoá quan hệ kinh tế, quan hệ dân sự và bỏ lọt tội phạm. Quy định là tội phạm đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới xuất hiện trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế. Xử lý nghiêm khắc hơn đối với những tội phạm là người có thẩm quyền trong thực thi pháp luật, những người lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội. Người có chức vụ càng cao mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn phạm tội thì càng phải xử lý nghiêm khắc để làm gương cho người khác”.  Đồng thời, quán triệt quan điểm cải cách thủ tục hành chính trong quá trình xây dựng dự án Bộ luật.

Thứ hai, bảo đảm phù hợp với Hiến pháp, đặc biệt là tạo ra cơ chế hữu hiệu để bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước và tổ chức, góp phần bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, bảo đảm mọi người được sống trong một môi trường an toàn, lành mạnh; đồng bộ với các luật, bộ luật đã được ban hành (như: Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Hôn nhân và Gia đình, …) cũng như các luật, dự luật đang được sửa đổi, bổ sung, ban hành mới như các luật về quyền con người, quyền công dân.

Thứ ba, kế thừa, phát triển các quy định còn phù hợp của Bộ luật hình sự hiện hành; bổ sung những quy định mới để giải quyết những vướng mắc, bất cập đang đặt ra trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Thứ tư, đổi mới nhận thức về chính sách hình sự mà trọng tâm là đổi mới quan niệm về tội phạm và hình phạt, về cơ sở của trách nhiệm hình sự, về chính sách xử lý đối với một số loại tội phạm và loại chủ thể phạm tội, đảm bảo các quy định của Bộ luật hình sự không chỉ là công cụ pháp lý để các cơ quan chức năng đấu tranh, trấn áp tội phạm mà còn là cơ sở pháp lý để bảo vệ sự phát triển lành mạnh các quan hệ kinh tế – xã hội; để mọi người dân tự bảo vệ mình, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội; khuyến khích mọi người dân chủ động tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm; tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm lập pháp hình sự của một số nước trong khu vực và trên thế giới.

Thứ năm, hoàn thiện kỹ thuật lập pháp hình sự nhằm bảo đảm tính thống nhất nội tại của Bộ luật hình sự và tính thống nhất của hệ thống pháp luật; nâng cao tính minh bạch, khả thi và tính dự báo của Bộ luật hình sự.

Đối với ngành Tài chính, việc sửa đổi bổ sung các quy định về tội phạm thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tài chính nói chung và tội trốn thuế nói riêng là một trong những giải pháp nhằm cụ thể hóa nội dung tăng cường quản lý nhà nước bằng các công cụ pháp luật, đấu tranh và xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật tại các Chiến lược phát triển của ngành tài chính đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt[19].    

13.4. Những điểm mới của tội trốn thuế tại Bộ luật hình sự năm 2015

(1) Ngày 27 tháng 11 năm 2015, sau khi thảo luận tại hai kỳ họp, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII đã thông qua Bộ luật hình sự tại kỳ họp thứ 10.

Tại Điều 200 của Bộ luật hình sự, tội trốn thuế được quy định như sau:

 “1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây trốn thuế với số tiền từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 202, 248, 249, 250, 251, 252, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật;

b) Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp;

c) Không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ hoặc ghi giá trị trên hóa đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hóa, dịch vụ đã bán;

d) Sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp để hạch toán hàng hóa, nguyên liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm hoặc tăng số tiền thuế được khấu trừ, số tiền thuế được hoàn;

đ) Sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp khác để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được hoàn;

e) Khai sai với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà không khai bổ sung hồ sơ khai thuế sau khi hàng hóa đã được thông quan;

g) Cố ý không kê khai hoặc khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

h) Cấu kết với người gửi hàng để nhập khẩu hàng hóa;

i) Sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế không đúng mục đích quy định mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng với cơ quan quản lý thuế.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Có tổ chức;

b) Số tiền trốn thuế từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Phạm tội 02 lần trở lên;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội trốn thuế với số tiền 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 1.500.000.000 đồng đến 4.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

5. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:

a) Pháp nhân thương mại thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều này, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;

b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng;

c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng hoặc bị đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;

d) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;

đ) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm kinh doanh, hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

(2) So với quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 và Luật sửa đổi một số Điều của Bộ luật hình sự năm 1999, tội trốn thuế tại Bộ luật hình sự năm 2015 có những nội dung mới chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, về mặt khách quan của tội phạm, Bộ luật hình sự năm 2015 đã liệt kê cụ thể các hành vi trốn thuế, bao gồm:

– Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật;

– Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp;

– Không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ hoặc ghi giá trị trên hóa đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hóa, dịch vụ đã bán;

– Sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp để hạch toán hàng hóa, nguyên liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm hoặc tăng số tiền thuế được khấu trừ, số tiền thuế được hoàn;

– Sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp khác để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được hoàn;

– Khai sai với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà không khai bổ sung hồ sơ khai thuế sau khi hàng hóa đã được thông quan;

– Cố ý không kê khai hoặc khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

– Cấu kết với người gửi hàng để nhập khẩu hàng hóa;

– Sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế không đúng mục đích quy định mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng với cơ quan quản lý thuế.

Thứ hai, bổ sung chủ thể của tội phạm trốn thuế là pháp nhân thương mại

Tại Bộ luật hình sự năm 1999 và Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật hình sự năm 1999, chủ thể của tội phạm trốn thuế chỉ là cá nhân từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, tại Bộ luật hình sự năm 2015, ngoài chủ thể là cá nhân, chủ thể của tội trốn thuế còn có thể là pháp nhân thương mại trong trường hợp hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại và vì lợi ích của pháp nhân thương mại, đồng thời có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại[20]

Thứ ba, điều chỉnh khung mức phạt tiền, bỏ hình phạt cải tạo không giam giữ và bổ sung hình phạt từ ở khoản 1

Theo quy định Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật hình sự năm 1999, tội trốn thuế bị xử lý với hình thức phạt tiền từ một lần đến năm lần số tiền trốn thuế hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm. Tuy nhiên, tại Bộ luật hình sự năm 2015, hình thức phạt tiền đã được điều chỉnh với mức “từ 100 triệu đồng đến 500 triệu đồng đồng” và bổ sung hình thức phạt tù giam với mức từ 03 tháng đến 02 năm.

Thứ tư, nâng mức trần số tiền trốn thuế và bổ sung các tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 2.

Tại Bộ luật hình sự năm 2015, khoản 2 Điều 200 đã quy định nâng số tiền trốn thuế từ “ba trăm triệu đồng đến dưới sáu trăm triệu đồng” lên mức “ba trăm triệu đồng đến dưới một tỷ đồng”; bổ sung mới một số tình tiết định khung tăng nặng của tội trốn thuế như: tình tiết phạm tội có tổ chức, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội, phạm tội 02 lần trở lên, tái phạm nguy hiểm.

Thứ năm, điều chỉnh mức phạt tiền và phạt tù tại khung 2

Theo quy định Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật hình sự năm 1999, trường hợp có tình tiết tăng nặng “trốn thuế với số tiền từ ba trăm triệu đồng đến dưới sáu trăm triệu đồng” hoặc “tái phạm”  về tội trốn thuế thì bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số tiền trốn thuế hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Tuy nhiên, tại Bộ luật hình sự năm 2015, với một hoặc một số tình tiết tăng nặng ở khoản 2, mức phạt tiền của tội trốn thuế đã được điều chỉnh trong khung “từ năm trăm triệu đồng đến một tỷ năm trăm triệu đồng” và mức tối tiểu của khung hình phạt tù đã được nâng lên một năm.

Thứ sáu, nâng mức tiền trốn thuế và loại bỏ tình tiết “trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác” tại khoản 3.

Tại Bộ luật hình sự năm 2015, tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 3 là “mức tiền trốn thuế” đã được điều chỉnh từ mức “sáu trăm triệu đồng trở lên” lên mức “một tỷ đồng đồng trở lên”, đồng thời loại bỏ tình tiết “trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác”.

Thứ bảy, bổ sung hình phạt tiền tại khoản 3

Tại Bộ luật hình sự năm 1999 và Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật hình sự năm 1999, khoản 3 tội trốn thuế chỉ quy định hình phạt tù với khung hình phạt từ hai năm đến bảy năm. Trong khi đó, tại Bộ luật hình sự năm 2015, ngoài hình phạt tù, khoản 3 tội trốn thuế đã bổ sung hình phạt tiền với khung mức phạt “từ một tỷ năm trăm triệu đồng đến bốn tỷ năm trăm triệu đồng”.

Thứ tám, điều chỉnh hình phạt bổ sung đối với cá nhân

Tại Bộ luật hình sự năm 1999 và Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật hình sự năm 1999, trong trường hợp không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính thì người phạm tội trốn thuế có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền với mức phạt tiền từ một lần đến ba lần số tiền trốn thuế. Tuy nhiên, tại Bộ luật hình sự năm 2015 đã điều chỉnh mức phạt bổ sung theo khung phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến một trăm triệu đồng; đồng thởi bổ sung hình thứ phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Thứ chín, bổ sung hình phạt đối với pháp nhân thương mại

Hình phạt đối với pháp nhân thương mại là một trong những quy định mới của Bộ luật hình sự năm 2015. Theo quy định của Bộ luật, pháp nhân thương mại có thể bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền hoặc bị đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm hoặc bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn; hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm kinh doanh, hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm[21].

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ luật Hình sự số 15/1999/QH10 được Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999.

2. Thông tư liên tịch số 10/2013/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BTC ngày 26 tháng 06 năm 2013.

3. Bình luận khoa học Bộ Luật hình sự năm 1999, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia năm 2008.

4. Luật hình sự Việt Nam, Quyển 2 Phần các tội phạm, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia xuất bản năm 2010.

5. Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia năm xuất bản 2013.

6. Nghị định số 100/2004/NĐ-CP ngày 25 tháng 2 năm 2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế.

7. Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006.

8. Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Quản lý thuế số 21/2012/QH13 được Quốc hội khoá XIII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2012.

9. Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật hình sự số 37/2009/QH12 được Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2009.

10. Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2011-2020 ban hành kèm theo Quyết định số 252/QĐ-TTg ngày 01 tháng 3 năm 2012.

11. Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020 ban hành kèm theo Quyết định số 448/QĐ-TTg ngày 25 tháng 3 năm 2012.

12. Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 ban hành kèm theo Quyết định số 732/QĐ-TTg ngày 17 tháng 5 năm 2012.

13. Quy chế phối hợp số 2122/QCPH-TCT-TCCS  ngày 26 tháng 8 năm 2003.

14. Quy chế phối hợp số 1527/QCPH-TCT-TCCS ngày 31 tháng 10 năm 2007.

15. Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27 tháng 11 năm 2015.

 


[1] Hiệu lực thi hành của Bộ Luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được lùi theo Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội khóa XIII về việc lùi hiệu lực thi hành của Bộ Luật hình sự số 100/2015/QH13, Bộ Luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015QH13 và bổ sung dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự số 100/2015/QH13 vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2016.

[2] Điều 161 Bộ luật Hình sự năm 1999

[3] Khoản 1 Điều 1 Thông tư liên tịch số 10/2013/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BTC ngày 26 tháng 06 năm 2013 quy định :“Người phạm tội trốn thuế là người thực hiện một trong các hành vi được qui định tại Điều 108 của Luật Quản lý thuế, đồng thời thỏa mãn các dấu hiệu được qui định tại Điều 161 của BLHS”.

[4] Trang 442, Bình luận khoa học Bộ Luật hình sự năm 1999, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia năm 2008

[5] Trang 282, Luật hình sự Việt Nam, Quyển 2 Phần các tội phạm,  Nhà xuất bản chính trị Quốc gia xuất bản năm 2010

[6] Trang 302, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia năm xuất bản 2013

[7] Nghị định số 100/2004/NĐ-CP ngày 25/2/2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế

[8] Điều 108 Luật Quản lý thuế

[9] Khoản 6 Điều 108 Luật Quản lý thuế

[10] Khoản 34 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Quản lý thuế

[11] Khoản 9 Điều 108 Luật Quản lý thuế

[12] Khoản 34 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Quản lý thuế

[13] Khoản 1 Điều 12 Bộ luật hình sự

[14] Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật hình sự nâng số tiền trốn thuế của khoản 2 là từ ba trăm triệu đồng đến dưới sáu trăm triệu đồng

[15] Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật hình sự nâng số tiền trốn thuế của khoản 3 là từ sáu trăm triệu đồng trở lên

[16] Quy chế phối hợp  số 2122/ QCPH-TCT-TCCS  ngày 26/8/2003, Quy chế phối hợp số 1527/QCPH-TCT-TCCS ngày 31/10/2007

[17] Nguồn Tổng cục thuế

[18] Tính đến ngày 15/10/2012, tổng số giám định viên tư pháp là cán bộ, công chức ngành tài chính là 215 người

[19] Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2011-2020 ban hành kèm theo Quyết định số 252/QĐ-TTg ngày 01/3/2012 ; Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020 ban hành kèm theo Quyết định số 448/QĐ-TTg ngày 25/3/2012;  Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 ban hành kèm theo Quyết định số 732/QĐ-TTg ngày 17/5/2012

[20] Khoản 1 Điều 75 Bộ luật hình sự năm 2015

[21] Khoản 5 Điều 200 Bộ luật hình sự năm 2015

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *