Chuyên đề 12 TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TUÂN THỦ PHÁP LUẬT HẢI QUAN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU

Chuyên đề 12: TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TUÂN THỦ PHÁP LUẬT HẢI QUAN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU

 Thsĩ. Nguyễn Hữu Trí (Chủ biên),

CN. Nguyễn Phương Liên, CN. Ngô Thành Hưng,

Thsĩ. Nguyễn Thy Rô, CN. Lương Thị Bích Ngọc

Viện Nghiên cứu Hải quan – Tổng Cục Hải quan

 12.1. Tổng quan về cơ chế ưu tiên

12.1.1. Khái niệm về ưu tiên

a. Một số khái niệm cơ bản

Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Theo Luật doanh nghiệp 2005, kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Như vậy, về cơ bản doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi, mặc dù thực tế một số tổ chức doanh nghiệp có các hoạt động không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhuận.

Ưu tiên theo từ điển tiếng Việt được hiểu theo nghĩa là được coi trọng hơn, hoặc được hưởng một số quyền lợi trước, hay dành được sự quan tâm của mọi người. Đặc biệt được hiểu theo nghĩa là khác với bình thường về chức năng hoặc mức độ khả năng.

Ưu tiên đặc biệt là khái niệm ghép, nó phải được coi trọng trước tiên hoặc được hưởng mọi sự quan tâm trước tiên.

b. Khái niệm về doanh nghiệp ưu tiên (quan điểm quốc tế, quan điểm của Việt Nam)

“Doanh nghiệp ưu tiên” được bắt nguồn từ khái niệm quốc tế bằng tiếng Anh là Authorized Economic Operator viết tắt là AEO có nghĩa là đối tác kinh tế được uỷ quyền. Bản Chỉ dẫn về AEO của EU đã đưa ra khái niệm về AEO: “Một Chứng nhận AEO – là việc đơn giản hoá Thủ tục Hải quan/An ninh và an toàn được cấp cho bất kỳ đối tác kinh tế nào được thiết lập trong Cộng đồng muốn hưởng các lợi ích mà chứng nhận AEO đem lại nếu đối tác kinh tế đó đáp ứng được các tiêu chí về tuân thủ pháp luật hải quan, chuẩn kế toán, thanh khoản và duy trì các chuẩn an ninh, an toàn phù hợp… Kèm theo đó, Mục I.5 của Chỉ dẫn quy định: Hải quan chỉ có thể chấp nhận các đơn xin cấp chứng nhận AEO là “Đối tác kinh tế chỉ là một chủ thể trong quá trình kinh doanh tham gia vào các hoạt động được luật pháp hải quan điều chỉnh”.

Còn khung tiêu chuẩn an toàn SAFE Framework trong Bản tóm tắt chương trình AEO của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) định nghĩa một AEO là: “Một bên tham gia vào di chuyển hàng hóa quốc tế với bất cứ chức năng nào đã được cơ quan hải quan quốc gia phê duyệt hoặc thay mặt cho cơ quan hải quan quốc gia tuân thủ các tiêu chuẩn an ninh của WCO hoặc các tiêu chuẩn an ninh chuỗi cung ứng tương đương. AEO bao gồm trong đó các nhà sản xuất, nhập khẩu, xuất khẩu, môi giới, vận chuyển, các nhà buôn, các hãng trung gian, bến cảng, sân bay, các đơn vị cảng vụ, đơn vị tích hợp, kho bãi, nhà phân phối…”.

Theo Thông tư 63/2011/TT- BTC ngày 13/5/2011,  Doanh nghiệp được áp dụng chế độ ưu tiên trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan gọi tắt là doanh nghiệp ưu tiên được hưởng chế độ ưu tiên quy định tại thông tư này ở tất cả các đơn vị hải quan trong toàn quốc, cả trong giai đoạn làm thủ tục thông quan hàng hóa và giai đoạn kiểm tra sau thông quan. Doanh nghiệp được công nhận là doanh nghiệp ưu tiên thì được hưởng chế độ ưu tiên mà các doanh nghiệp khác không được hưởng khi thực hiện xuất nhập khẩu hàng hoá của doanh nghiệp hoặc thực hiện dịch vụ xuất khẩu, nhập khẩu (trừ hàng hóa nhập khẩu của doanh nghiệp được ưu tiên trong xuất khẩu hàng hóa là thủy sản, nông sản, dầu thô có xuất xứ thuần túy Việt Nam) hay mua bán ở nội địa.

Tại Việt Nam hiện nay, có thể hiểu “doanh nghiệp ưu tiên trong lĩnh vực hải quan là doanh nghiệp tham gia hoạt động thương mại quốc tế được hưởng một số chế độ ưu tiên theo quy định của pháp luật trong quá trình làm thủ tục hải quan và thực hiện kiểm tra sau thông quan”.

Như vậy, AEO hiểu theo nghĩa tiếng Anh của từ này và bản chất của Chương trình AEO rộng hơn cụm từ “Doanh nghiệp ưu tiên”. Thực chất AEO có thể hiểu là các đối tác kinh tế (Việt Nam hiện nay tạm hiểu là doanh nghiệp nhưng cần định nghĩa rộng hơn) có hệ thống tự đánh giá và kiểm soát độ tuân thủ pháp luật được phép hành động trong mức độ nhất định theo sự ủy quyền của cơ quan Hải quan. Các quy định về AEO của quốc tế và Doanh nghiệp ưu tiên của Việt Nam có nhiều điểm chưa thực sự đồng nhất dẫn tới những cách hiểu khác nhau, nhưng về cơ bản, các doanh nghiệp này được hưởng một số ưu tiên vượt trội trong hoạt động thương mại quốc tế. Tuy nhiên, để chương trình AEO muốn được thực hiện cần tuân thủ các nguyên tắc sau:

Thứ nhất, phải được sự đồng thuận của Chính phủ và sự hỗ trợ của Lãnh đạo cấp cao nhất của Cơ quan quản lý hải quan. .

Thứ hai, chương trình phải cam kết tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế. Việc này phải được chứng minh bằng các thủ tục đơn giản, giảm sự chậm trễ và quan hệ làm việc mới đã được tăng mức độ tuân thủ các yêu cầu của hải quan. Hơn hết, việc tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế là tiền đề cho quá trình hài hoà thủ tục hải quan do đặc thù tính quốc tế hoá của chuỗi cung ứng hàng hoá quốc tế .

Thứ ba, cơ quan Hải quan phải cam kết về tính chuyên nghiệp và thống nhất. Các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu không thể thành công như mong đợi nếu không có sự thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ trách nhiệm của đội ngũ công chức hải quan.

Thứ tư, Chính phủ quyết định hướng nhập khẩu, hướng xuất khẩu hay chính sách mặt hàng. Điều này phụ thuộc vào từng quốc gia. Chính phủ không chỉ cảnh giác với trước việc đảm bảo an ninh thông qua chuỗi cung ứng nhập khẩu mà còn đảm bảo tính cạnh tranh của mình trên thị trường quốc tế bằng cách bảo vệ thị trường xuất khẩu và thương hiệu hàng hóa.

Thứ năm, tăng cường mối quan hệ đối tác hải quan doanh nghiệp. Trong quản lý hải quan hiện đại, hệ thống kiểm soát truyền thống đã nhường chỗ cho các hệ thống chọn lọc dựa trên quản lý rủi ro. Các hệ thống này đã giúp cho các yêu cầu tuân thủ các yêu cầu hải quan dễ dàng hơn. Những doanh nghiệp không tuân thủ sẽ bị phạt nặng, những doanh nghiệp tuân thủ phải được thưởng bằng việc ưu tiên trong lĩnh vực hải quan. Thông qua cách tiếp cận kiểm soát ít có tính đối kháng, ngành hải quan có thể vừa đảm bảo an ninh cho chuỗi thương mại quốc tế vừa tạo thuận lợi cho dòng thương mại hợp pháp, tăng nguồn thu cho đất nước.

12.1.2. Những ưu tiên đối với doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn ưu tiên

a. Đối tượng và lĩnh vực liên quan đến chương trình ưu tiên

Chuỗi cung ứng quốc tế là một quy trình kể từ giai đoạn sản xuất hàng hóa cho tới giai đoạn chuyển giao hàng hóa đó tới người sử dụng cuối cùng, bao gồm cả hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa. Như vậy, bản chất vận động của hàng hoá là do tác động của “con người”, hay rộng hơn là các chủ thể doanh nghiệp vận hành, kiểm soát tác động vào chuỗi cung ứng để đạt được các giá trị gia tăng hay lợi nhuận. Do đó, vai trò của doanh nghiệp là quyết định trong việc tạo ra các “rủi ro” dù là vô tình hay cố tình cho chuỗi cung ứng hàng hoá quốc tế. Chính vì vậy, để đảm bảo an ninh cho chuỗi cung ứng quốc tế này các cơ quan hải quan không nên chỉ tập trung vào các hàng hóa nhập khẩu và việc kiểm soát đối với các hàng hóa này mà còn cần phải đảm bảo an toàn cho cả chuỗi cung ứng quản lý cho được các chủ thể trong chuỗi.. Những nỗ lực trong việc đảm bảo an ninh cho chuỗi cung ứng quốc tế không chỉ nhằm mục đích bảo vệ mà còn góp phần làm cho các hoạt động luân chuyển hàng hoá trong chuỗi cung ứng diễn ra suôn sẻ hơn. Tham gia vào chuỗi cung ứng này gồm rất nhiều doanh nghiệp, từ sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, vận tải ….

Doanh nghiệp sản xuất có trách nhiệm đảm bảo một quy trình sản xuất an toàn và an ninh cho các sản phẩm của mình; đảm bảo cung cấp cho khách hàng các sản phẩm an toàn, an ninh với chất lượng tốt.

Doanh nghiệp xuất khẩu tuân thủ các thủ tục pháp lý liên quan tới việc xuất khẩu hàng hóa theo các quy định pháp luật về hải quan, bao gồm các chính sách thương mại và các loại thuế và phí xuất khẩu (nếu có) và đảm bảo cung cấp hàng hóa an toàn và an ninh.

Bên giao vận tuân thủ các thủ tục pháp lý trong vận chuyển hàng hoá theo các quy định về pháp luật hải quan; đảm bảo vận chuyển hàng hóa an toàn và an ninh, cụ thể là đảm bảo các phương tiện vận tải và hàng hóa đang được vận chuyển không bị tiếp cận và can thiệp trái phép.

Doanh nghiệp cho thuê kho bãi đảm bảo hàng hóa trong kho ngoại quan luôn được đặt dưới sự giám sát hải quan; tuân thủ các quy định bắt buộc đối với việc coi giữ hàng hóa theo thủ tục lưu kho hải quan; tuân thủ các điều kiện cụ thể được quy định theo thẩm quyền của hải quan; bảo vệ khu vực lưu giữ hàng hóa trước sự xâm phạm từ bên ngoài; và bảo vệ hàng hoá trước các hành vi tiếp cận, thay thế hoặc can thiệp trái phép.

Đại lý hải quan áp dụng những thủ tục pháp lý cần thiết theo các quy tắc hải quan, đảm bảo hàng hóa theo đúng các thủ tục hải quan.

Hãng vận tải đảm bảo vận chuyển hàng hóa an toàn và an ninh, cụ thể là đảm bảo các phương tiện vận tải và hàng hóa đang được vận chuyển không bị tiếp cận và can thiệp trái phép; Hãng có trách nhiệm cung cấp các tài liệu vận chuyển cần thiết; tuân thủ những thủ tục pháp lý cần thiết theo quy định của luật hải quan.

Các doanh nghiệp khác nhau trong chuỗi cung ứng đều dựa vào các quy trình an ninh của các đối tác kinh doanh nhằm đảm bảo an toàn cho các hàng hoá mà doanh nghiệp đang quản lý và nhằm duy trì “trạng thái an toàn”. 

Có thể nói Dây chuyền cung ứng toàn cầu thuộc sở hữu của nhiều chủ thể, trong đó là những doanh nghiệp đang hoạt động trong dây chuyền cung ứng. Để cùng thực hiện được cả hai mục tiêu tạo thuận lợi và đảm bảo an ninh của Khung tiêu chuẩn về AEO, các cơ quan hải quan cần thông qua những quy định minh bạch và rõ ràng trong lĩnh vực hoạt động hải quan, khi mà những hoạt động này có thể tiếp tục được hiện đại hoá, điều chỉnh và tăng cường vì lợi ích của cộng đồng doanh nghiệp quốc tế. Hải quan cần xem xét một cách chủ động đối với những vấn đề có thể dựa trên nguồn lực hiện có nhằm hỗ trợ doanh nghiệp được hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả nhất. Cộng đồng thương mại và vận tải quốc tế có những kinh nghiệm và kiến thức để có thể hỗ trợ cơ quan hải quan trong việc thực hiện trách nhiệm đảm bảo an ninh và tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại. Khu vực tư nhân cần tận dụng cơ hội này để thiết lập mối quan hệ đối tác với cơ quan hải quan và hỗ trợ hải quan thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến an ninh. Quan hệ giữa Hải quan – Doanh nghiệp là mối quan hệ hữu cơ phản ánh sự tương quan cân bằng giữa tạo thuận lợi và tuân thủ pháp luật luôn gắn kết và là nòng cốt của quan hệ giá trị này.

Như vậy, mối quan hệ đối tác Hải quan – Doanh nghiệp là một trong những nỗ lực nhằm thực hiện được cả hai mục tiêu an toàn, an ninh và tạo thuận lợi của dây chuyền cung ứng.

b. Những lợi ích của doanh nghiệp được ưu tiên theo khung tiêu chuẩn

Theo Khung tiêu chuẩn về an ninh và tạo thuận lợi cho thương mại toàn cầu gồm có 4 thành phần, trong đó thành phần cuối cùng là những lợi ích mà Hải quan mang lại cho doanh nghiệp đáp ứng được những tiêu chuẩn và thông lệ tối thiểu về an ninh của dây chuyền cung ứng (quy định phần 1.3 Khung tiêu chuẩn).  Về cơ bản những lợi ích đối với các doanh nghiệp AEO, gồm:

Thứ nhất, các biện pháp thúc đẩy giải phóng hàng, giảm thời gian quá cảnh và chi phí lưu kho.

Để làm tốt điều này cơ quan hải quan của quốc gia cần xây dựng và thực tốt các vấn đề sau:

– Xây dựng bộ dữ liệu giải phóng hàng đã được thu gọn nhất có thể;

– Xúc tiến quá trình xử lý và giải phóng hàng nhanh, gọn, chính xác;

– Việc kiểm tra an ninh hàng hóa phải thực hiện ở mức tối thiểu;

– Ưu tiên sử dụng các kỹ thuật trong kiểm tra, kiểm soát hải quan, đảm bảo thực hiện kiểm tra không phá mẫu khi cần thiết phải kiểm tra hàng hóa;

– Giảm một số phí và lệ phí cho các doanh nghiệp được ưu tiên;

– Đảm bảo hoạt động liên tục của cơ quan hải quan có yêu cầu rõ ràng của doanh nghiệp.

Thứ hai, cho phép doanh nghiệp ưu tiên truy cập vào thông tin có giá trị

Các doanh nghiệp được ưu tiên được phép truy cập các thông tin liên quan đến các lĩnh vực:

– Tên và các thông tin liên lạc của các doanh nghiệp ưu tiên khác khi có sự đồng ý của những doanh nghiệp ưu tiên này;

– Danh sách tất cả các nước đã thông qua Khung tiêu chuẩn của WCO;

– Danh mục các tiêu chuẩn và thông lệ về an ninh đã được công nhận.

Thứ ba, các biện pháp cụ thể liên quan đến các giai đoạn khó khăn của doanh nghiệp hoặc khi mức độ rủi ro gia tăng

Cơ quan hải quan nghiêm chỉnh thực hiện các quy định đối với các doanh nghiệp được ưu tiên nhưng đang gặp rủi ro trong các trường hợp:

– Doanh nghiệp gặp các điều kiện nguy hiểm;

– Sau khi xảy ra sự cố về việc đóng cửa hoặc tái mở cửa các cảng biển/ cửa khẩu biên giới;

– Xuẩt khẩu hàng hóa sang các nước gặp thảm họa hoặc sự cố

Thứ tư, xem xét việc tham gia vào bất cứ chương trình mới nào về xử lý hàng hóa, gồm:

– Đơn giản hóa các chương trình kiểm tra sau thông quan;

– Hợp lý hóa các chương trình tự kiểm tra của doanh nghiệp hoặc giảm bớt các cuộc kiểm tra doanh nghiệp;

– Đẩy nhanh việc xử lý các yêu cầu liên quan đến kiểm tra sau thông quan;

– Giảm bớt thiệt hại và việc xử phạt hành chính ngoại trừ những trường hợp gian lận mà Hải quan có cơ sở xác định;

– Tăng cường việc xử lý phi giấy tờ hàng hóa xuất nhập khẩu thương mại;

– Ưu tiên đáp ứng các yêu cầu liên quan đến các quyết định của cơ quan Hải quan quốc gia.

– Được thực hiện , hợp lý hóa các thủ tục thông quan từ xa

–  Có khả năng đưa ra các hành động khắc phục sự cố hoặc cung cấp thông tin trước khi thực hiện quy trình xử phạt hành chính của Hải quan ngoại trừ các trường hợp gian lận.

– Được ưu tiên không bị phạt đối với những trường hợp chậm nộp thuế mà chỉ tính tiền lãi cho khoản thuế nộp chậm.

12.1.3. Điều kiện và yêu cầu đối với Hải quan và doanh nghiệp ưu tiên trong khung tiêu chuẩn

Theo Khung tiêu chuẩn của Tổ chức hải quan thế giới cho phép đưa ra các kế hoạch an ninh linh hoạt dựa trên mô hình AEO. Các cơ quan hải quan không nên gây cản trở cho cộng đồng thương mại quốc tế bằng việc đặt ra các yêu cầu khác nhau để đảm bảo an ninh và tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế. Do vậy, cần có duy nhất một bộ các chuẩn mực hải quan quốc tế do WCO xây dựng và không trùng lắp hoặc trái ngược với các yêu cầu an ninh liên chính phủ đã được công nhận. Để được hưởng ưu tiên, doanh nghiệp cũng như Hải quan phải đáp ứng những nhu cầu nhất định dưới đây.

a. Đảm bảo tuân thủ pháp luật hải quan

Khung tiêu chuẩn của Tổ chức Hải quan thế giới quy định doanh nghiệp muốn được hưởng ưu tiên phải một thời gian nhất định không vi phạm các quy định trong luật pháp quốc gia về hải quan và các quy định khác của pháp luật gây ảnh hưởng đến việc được cấp chế độ ưu tiên. Về cơ bản phải đáp ứng các yêu cầu sau:

(i) Doanh nghiệp có quá trình tuân thủ pháp luật là doanh nghiệp chưa bị cơ quan hải quan và các cơ quan quản lý nhà  nước khác xử lý vi phạm pháp luật; hoặc, trong thời hạn nhất định (có thể là 36 tháng), không quá 03 (ba) lần bị mỗi cơ quan quản lý xử lý vi phạm hành chính (không bao gồm việc phạt chậm nộp tiền thuế) bằng hình thức phạt tiền với mức phạt mỗi lần lớn hơn mức nhất định (tùy theo quy định quốc gia), không kèm theo các hình thức phạt bổ sung (như tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm; buộc tiêu hủy, buộc đưa hàng hóa ra khỏi lãnh thổ quốc gia; buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật vi phạm); doanh nghiệp hợp tác tốt với cơ quan hải quan.

(ii) Thời gian đánh giá quá trình tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp thường là 36 (ba mươi sáu) tháng trở về trước, kể từ ngày Cơ quan hải quan nhận được văn bản của doanh nghiệp đề nghị được công nhận là doanh nghiệp ưu tiên. Quy định này được nhiều nước áp dụng, tuy nhiên theo thông lệ quốc tế, một số nước (Mỹ, Nhật) tiến hành kiểm toán hệ thống kinh doanh của các đối tác muốn gia nhập Chương trình AEO trước, trong và sau khi gia nhập. Và trong 3 năm đầu AEO phải chấp nhận kiểm toán chặt chẽ và được hỗ trợ để điều chỉnh, hoàn thiện theo tiêu chuẩn.

 Đối với doanh nghiệp có thời gian hoạt động dưới 36 tháng nhưng tối thiểu đã hoạt động 12 tháng được ưu tiên trong xuất khẩu, nhập khẩu tất cả các mặt hàng, loại hình xuất khẩu, nhập khẩu nếu đáp ứng được các quy định về điều kiện doanh nghiệp ưu tiên cũng có thể thuộc các doanh nghiệp được xem xét công nhận là doanh nghiệp ưu tiên.

(iii) Thẩm quyền xác nhận việc tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp là thủ trưởng các cơ quan quản lý liên quan đến quản lý hải quan, quản lý thuế và quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh, cụ thể là:

– Thứ nhất, Cơ quan hải quan xác nhận việc tuân thủ pháp luật hải quan (bao gồm cả việc chấp hành pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu).

– Thứ hai, các cơ quan có thẩm quyền khác xác nhận việc tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp theo đề nghị của Cơ quan hải quan, gồm:

+ Cơ quan thuế nơi doanh nghiệp đăng ký, thực hiện nghĩa vụ nộp các khoản thuế nội địa xác nhận việc tuân thủ pháp luật về thuế nội địa và hiệu quả kinh doanh.

+ Cơ quan quản lý kế hoạch và đầu tư (Ở Việt Nam là Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh, thành phố), hoặc Cơ quan quản lý khu công nghiệp, Cơ quan quản lý khu kinh tế nơi doanh nghiệp có trụ sở chính hoặc có cơ sở sản xuất xác nhận việc tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp.

+ Cơ quản lý thị trường tỉnh, thành phố nơi doanh nghiệp có trụ sở và có cơ sở sản xuất kinh doanh xác nhận việc tuân thủ pháp luật thương mại. Trường hợp doanh nghiệp có trụ sở, cơ sở sản xuất kinh doanh ở nhiều tỉnh, thành phố thì phải có xác nhận của Cơ quan quản lý thị trường tại tất cả các tỉnh, thành phố đó.

b. Điều kiện đối với việc quản lý báo cáo thương mại        

Để được công nhận là AEO, doanh nghiệp phải đảm bảo đúng hạn, chính xác và hoàn thành các báo cáo liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu. Doanh nghiệp phải lưu các chứng từ thương mại, các chứng từ này có thể được xác nhận là một thành phần cần thiết trong vấn đề an ninh của dây chuyền cung ứng. Cụ thể, doanh nghiệp phải thực hiện tốt các công việc:

Duy trì hệ thống báo cáo cho phép cơ quan hải quan tiến hành bất kỳ hoạt động kiểm toán nào đối với sự di chuyển của hàng hoá xuất khẩu và nhập khẩu;

Chuẩn bị và cho phép cơ quan hải quan được xem xét các báo cáo cần thiết theo quy định của luật pháp quốc gia;

Doanh nghiệp phải cho hải quan được phép và luôn sẵn sàng hỗ trợ việc truy cập vào các báo cáo nội bộ và hệ thống quản lý đáp ứng yêu cầu của cơ quan hải quan cấp phép.

Doanh nghiệp có trách nhiệm lưu trữ và cung cấp cho cơ quan Hải quan bất kỳ chứng nhận cấp phép hoặc giấy phép liên quan đến việc nhập khẩu và xuất khẩu hàng hoá. Trong giới hạn được quy định tại pháp luật quốc gia, lưu trữ các báo cáo thích hợp để cung cấp cho cơ quan hải quan sau đó.

Đồng thời doanh nghiệp áp dụng các biện pháp an ninh công nghệ thông tin phù hợp để bảo vệ chống lại việc truy cập của các cá nhân không có thẩm quyền.

c. Khả năng về tài chính

Khả năng tài chính tốt là yếu tố quan trọng về tiềm lực duy trì và phát triển dựa trên các biện pháp đảm bảo an ninh đối với dây chuyền cung ứng. Đồng thời nó đảm bảo việc đáp ứng các cam kết đối với các loại hình kinh doanh của doanh nghiệp. Hải quan xem xét quá trình hoạt động của doanh nghiệp xin tham gia chương trình AEO trong đó việc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính và doanh nghiệp phải chứng minh được doanh nghiệp có khả năng đáp ứng bất kỳ tiêu chuẩn bổ sung nào về khả năng thanh toán tài chính hay các vấn đề liên quan khác. Vì vậy, tùy thuộc vào loại hình kinh doanh mà doanh nghiệp phải đảm bảo mức độ kim ngạch tối thiểu mới được tham gia vào chương trình này.

d. Công tác tư vấn, hợp tác và trao đổi thông tin

Để đảm bảo có sự hợp tác cùng phát triển, cơ quan hải quan, các cơ quan chức năng khác và doanh nghiệp AEO cần thường xuyên tham vấn vì lợi ích của cả đôi bên bao gồm những vấn đề như: an ninh dây chuyền cung ứng; các biện pháp tạo thuận lợi thương mại tuân thủ các quy định về hoạt động kiểm soát. Kết quả của công tác tham vấn này góp phần vào sự phát triển và duy trì hoạt động quản lý rủi ro của hải quan.

 Vấn đề này yêu cầu các doanh nghiệp AEO thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:

(i)       Cung cấp các đầu mối liên lạc rõ ràng, thường trực tại trụ sở doanh nghiệp hoặc đầu mối phối hợp có thể cho phép liên lạc lập tức tới đầu mối tại trụ sở doanh nghiệp đối với các vấn đề thuộc phạm vi tuân thủ và thực thi của cơ quan hải quan (đăng ký hàng, vận chuyển, thông tin về nhân viên…);

(ii)     Bản thân doanh nghiệp AEO hoặc thông qua hiệp hội ngành nghề, phải tham gia vào việc trao đổi thông tin lẫn nhau với cơ quan hải quan trừ những thông tin không thể cung cấp do quy định của pháp luật, các văn bản pháp lý hoặc những tiền lệ khác.

(iii)   Thông qua các cơ chế được quy định tại chương trình AEO quốc gia, thông báo tới cán bộ hải quan thích hợp đối với những hồ sơ không phù hợp, có nghi vấn hoặc những yêu cầu bất thường đối với thông tin về chuyến hàng.

(iv)   Thông qua các cơ chế  được quy định tại chương trình AEO quốc gia, cung cấp thông tin kịp thời cho cơ quan hải quan và các cơ quan có thẩm quyền khác khi nhân viên phát hiện ra những hàng hoá phạm pháp, có nghi ngờ hoặc không chứng minh được.

Đối với cơ quan hải quan

Cơ quan hải quan  có trách nhiệm giúp đỡ, phối hợp trong việc:

(i)    Tham vấn với doanh nghiệp AEO hoặc đại lý của doanh nghiệp, thiết lập các thủ tục cần tuân thủ trong trường hợp có yêu cầu hoặc nghi ngờ có vi phạm hải quan.

(ii)    Trong trường cần thiết và theo yêu cầu của thực tế, tham gia vào các phiên tham vấn thường xuyên ở cấp quốc gia và cấp địa phương với tất cả các bên tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu để thảo luận những vấn đề mà các bên cùng quan tâm bao gồm các quy định về hải quan, thủ tục và các yêu cầu đối với nhà xưởng và an ninh hàng hoá.

(iii)   Theo yêu cầu của AEO, cung cấp các thông tin phản hồi cụ thể về việc kinh doanh của AEO nhằm nhấn mạnh các vấn đề về an ninh liên quan đến dây chuyền cung ứng quốc tế.

(iv)     Cung cấp cho doanh nghiệp AEO hoặc các đại lý của doanh nghiệp các số điện thoại, địa chỉ của các cán bộ có thể liên lạc.

e. Giáo dục, đào tạo và nâng cao nhận thức

Cơ quan hải quan và các doanh nghiệp AEO cần thiết lập cơ chế để giáo dục, đào tạo con người liên quan đến các quy định về an ninh, vấn đề tuân thủ, đồng thời cũng phải nhận thấy có sự khác biệt giữa các quy định và cách hiểu về cách thức cần tiến hành đối với các vấn đề về an ninh và tuân thủ.

Vì vậy doanh nhiệp AEO cần chú trọng cung cấp các tài liệu tham khảo, chuyên gia hướng dẫn và tổ chức các khóa đào tạo để xác định những chuyến hàng nghi vấn cho toàn bộ nhân viên tham gia vào dây chuyền cung ứng. Đồng thời cần tập trung  nâng cao nhận thức của nhân viên đối với những thủ tục mà doanh nghiệp AEO phải thực hiện để xác định và báo cáo những trường hợp nghi vấn.

Bên cạnh đó, theo yêu cầu và nếu xét thấy hợp lý, doanh nghiệp nên cho phép cơ quan hải quan làm quen với những thông tin nội bộ, hệ thống an ninh và các quy trình liên quan và hỗ trợ cơ quan hải quan trong các khoá đào tạo về quản lý doanh nghiệp AEO bằng các phương pháp đối với các hoạt động của nhà xưởng, chuyển hàng và kinh doanh.

Đối với cơ quan hải quan cần thực hiện:

– Đào tạo nhân viên hải quan về các rủi ro trong quá trình vận chuyển của dòng hàng hoá trong dây chuyền cung ứng, đồng thời phối hợp với doanh nghiệp AEO trong công tác đào tạo.

– Xây dựng tài liệu, cung cấp chuyên gia hướng dẫn việc xác định những chuyến hàng nghi vấn cho tất cả các cán bộ hải quan thực hiện công tác an ninh.

– Thông báo cho doanh nghiệp AEO về đầu mối liên lạc về thủ tục có nhiệm vụ xác định và phúc đáp đối với các trường hợp nghi vấn.

– Tổ chức các khoá đào tạo đặc biệt để hỗ trợ nhân viên duy trì sự nguyên vẹn của hàng hoá, xác định những đe doạ về an ninh và quản lý việc ra vào.

– Đồng thời, theo yêu cầu của doanh nghiệp và nếu xét thấy hợp lý, cho phép doanh nghiệp AEO làm quen với các thông tin và thủ tục hải quan nhằm hỗ trợ cơ quan hải quan trong các khóa đào tạo và nghiên cứu; hỗ trợ các sáng kiến của doanh nghiệp AEO trong việc xây dựng và thực hiện các hướng dẫn của doanh nghiệp, các chuẩn mực an ninh, thông lệ tốt nhất, đào tạo, các kế hoạch uỷ quyền, tài liệu…nhằm tăng cường nhận thức về an ninh và hỗ trợ trong việc thực hiện các biện pháp tối thiểu rủi ro về an ninh; cung cấp cho doanh nghiệp các tài liệu, chuyên gia hướng dẫn đối với việc xác định các chuyến hàng nghi vấn cho toàn bộ nhân viên liên quan của doanh nghiệp AEO như nhân viên an ninh, xử lý hàng và lập hồ sơ hàng hoá.

f. Trao đổi, truy cập và bảo mật thông tin

Để đảm bảo an ninh đối với những thông tin nhạy cảm, Cơ quan hải quan và doanh nghiệp AEO cùng nhau xây dựng và phát triển các biện pháp bảo mật thông tin chống lại việc sử dụng sai mục đích và truy cập trái phép thông tin. Cụ thể Hải quan và doanh nghiệp phải cùng nhau:

– Đảm bảo tính bảo mật của thông tin thương mại, an ninh nhạy cảm và không được cung cấp mà chỉ được sử dụng cho mục đích theo thỏa thuận ban đầu;

– Tích cực áp dụng toàn bộ và kịp thời việc trao đổi dữ liệu điện tử giữa các bên liên quan về những thông tin dùng cho việc thông quan hàng hoá phù hợp với các luật định về dữ liệu riêng của từng đối tượng;

– Tận dụng các chuẩn mực quốc tế được xây dựng liên quan đến cấu trúc dữ liệu điện tử, thời gian cung cấp và nội dụng của tin. Các yếu tố dữ liệu vì yêu cầu an ninh cần tương thích với các thông lệ và giới hạn của của doanh nghiệp AEO và không yêu cầu các thông tin khác ngoài những thông tin đảm bảo yêu cầu về an ninh quy định tại Khung tiêu chuẩn của WCO.

– Hợp tác trong việc thực hiện cam kết của doanh nghiệp AEO đối với việc nộp và sử dụng thông tin điện tử gửi trước để đánh giá rủi ro.

Đối với doanh nghiệp cần tuân thủ các quy định về việc trao đổi, truy cập thông tin, gồm:

Thứ nhất, nếu doanh nghiệp AEO là nhà nhập khẩu phải xây dựng quy trình phù hợp để đảm bảo là mọi thông tin phục vụ việc thông quan hàng hoá là hợp pháp, đầy đủ, chính xác và được bảo vệ chống lại việc cung cấp, rò rỉ hoặc phổ biến những thông tin sai. Còn nếu doanh nghiệp AEO là nhà vận chuyển phải có các quy trình phù hợp để đảm bảo những thông tin trên tờ khai hàng hoá được miêu tả chính xác các thông tin được chủ hàng hoặc đại lý cung cấp, đồng thời những thông tin này được cung cấp cho cơ quan hải quan một cách chính xác.

Thứ hai, phải ban hành bằng văn bản các quy trình về an ninh thông tin và các quy trình và/hoặc các biện pháp quản lý an ninh liên quan (như tường lửa, mật khẩu …) để bảo vệ hệ thống điện tử của doanh nghiệp khỏi việc truy cập bất hợp pháp.

Thứ ba, xây dựng các quy trình và hệ thống dự phòng tránh mất dữ liệu.

Đối với Hải quan cần:

– Tạo điều kiện cho nhân viên của doanh nghiệp AEO làm quen với những yêu cầu có liên quan của hệ thống trao đổi thông tin điện tử của cơ quan hải quan và thiết lập hệ thống báo cáo dành riêng đối với những hàng hoá và những chỉnh sửa, bổ sung hồ sơ vào phút chót .

 – Thúc đẩy Chính phủ thông qua cơ chế một cửa và các thủ tục cho phép chuyển thông tin về việc vận chuyển hàng hóa và thông tin về hàng hoá một lần tới một điểm chỉ định duy nhất của các bên tham gia vào dây chuyền cung ứng, bao gồm các doanh nghiệp AEO.

– Không yêu cầu doanh nghiệp cung cấp các chứng từ giấy và chữ ký bằng tay khi đã thực hiện việc chuyển thông tin bằng hình thức điện tử. Đối với các cơ quan hải quan chưa chấp nhận hình thức điện tử ví dụ như chứng từ điện tử, chứng từ được lập dựa trên định dạng chuẩn từ dữ liệu điện tử như UNeDOCs từ doanh nghiệp AEO thay vì chứng từ gốc bằng giấy.

–   Duy trì việc quản lý đối với dữ liệu điện tử do doanh nghiệp AEO cung cấp cho cơ quan hải quan và thiết lập các chính sách lưu trữ báo cáo và quy trình đảm bảo việc huỷ các bản sao của các dữ liệu gửi cho cơ quan hải quan một cách phù hợp, cũng như có hệ thống dự phòng tránh việc mất thông tin hoặc truy cập trái phép vào cơ sở dữ liệu để thu thập thông tin.

g. An ninh hàng hóa

Hải quan và doanh nghiệp AEO cần thiết lập các biện pháp đảm bảo tính nguyên vẹn của hàng hoá được đảm bảo và các biện pháp quản lý xâm nhập được thực hiện ở mức cao nhất, cũng như việc thiết lập các quy trình đảm bảo an ninh đối với hàng hoá. Để thực hiện tốt việc này, doanh nghiệp AEO cần:

– Xây dựng, phát triển và duy trì chính sách an ninh bằng cách tham khảo các hướng dẫn khác liên quan tới an ninh của tổ chức WCO trong đó qui định các hướng dẫn cụ thể về thủ tục cần tuân thủ để đảm bảo sự nguyên vẹn của hàng hoá.

– Phải đảm bảo doanh nghiệp, các đối tác của doanh nghiệp trong dây chuyền cung ứng có trách nhiệm liên quan đến việc niêm phong hàng hoá ban hành qui trình niêm phong đúng và đảm bảo tính nguyên vẹn của hàng hoá hoặc của chuyến hàng dưới sự giám sát của doanh nghiệp bằng văn bản thực hiện.

– Việc niêm phong hàng hóa phải đáp ứng hoặc vượt trên các chuẩn mực ISO hiện có.

– Các quy trình bằng văn bản được xây dựng và tận dụng. Trong văn bản qui định rõ việc quản lý và sử dụng niêm phong đối với hàng hoá chất lên tàu bao gồm các qui định để nhận dạng và báo cáo việc hư hại niêm phong cho cơ quan hải quan hoặc cơ quan có thẩm quyền nước ngoài phù hợp.

– Chỉ những nhân viên được chỉ định niêm phong container và đảm bảo an toàn cho việc sử dụng phù hợp và hợp pháp mới được thực hiện niêm phong.

– Xây dựng quy trình quy định việc kiểm tra cấu trúc của chuyến hàng bao gồm độ tin cậy của những biện pháp quản lý xâm nhập. Như vậy kho chứa hàng hóa cần phải lưu ý đến:

+ Tường bao

+ Phía trái

+ Phía phải

+ Sàn

+ Trần/mái

+ Các cửa ra vào phía trong/phía ngoài

+ Phía ngoài/phía dưới phương tiện

– Doanh nghiệp phải thường xuyên kiểm tra thông qua các cơ chế cụ thể được qui định trong chương trình AEO quốc gia, thủ tục an ninh và giám sát của doanh nghiệp để đảm bảo các đối tượng khó xâm nhập đối với hàng hóa hoặc những người được uỷ quyền di chuyển hoặc xử lý.

– Việc lưu kho hàng hoá và vận chuyển dưới sự giám sát của doanh nghiệp trong khu vực an ninh. Cần nhận dạng người vận chuyển, thu thập, phân phối và vận chuyển hàng hoá khi có các giấy phép kinh doanh phù hợp. Trong trường hợp không có cơ quan có thẩm quyền thực hiện công việc này, doanh nghiệp phải thực hiện lưu lại các thông tin trên.

– Doanh nghiệp cần chủ động  xây dựng các quy trình quản lý và giám sát hàng hoá trong kho chứa hàng; quy trình quản lý toàn bộ hàng hoá di rời khỏi kho chứa hàng; quy trình quản lý, đảm bảo an ninh và giám sát hàng hoá trong địa phận hải quan trong quá trình vận chuyển và bốc, dỡ từ một chuyến hàng.

h. An ninh của chuyến hàng, nhà xưởng, nhân sự, đối tác thương mại

Về an ninh chuyến hàng, cơ quan hải quan và doanh nghiệp AEO phải cùng hợp tác trong việc xây dựng những chế định quản lý hiệu quả chưa được quy định trong các văn bản pháp lý quốc gia hoặc quốc tế để đảm bảo chuyến hàng được vận chuyển an toàn và nguyên trạng. Các doanh nghiệp trong phạm vi quyền hạn và trách nhiệm của mình, đảm bảo việc vận chuyển hàng hoá sử dụng trong quá trình vận chuyển hàng hoá trong dây chuyền cung ứng được đảm bảo an ninh một cách hiệu quả. Toàn bộ các chủ thể trong quá trình vận chuyển hàng hoá được đào tạo để đảm bảo an ninh của chuyến hàng cũng như hàng hoá mỗi khi hàng hoá ở trong địa phận hải quan, có trách nhiệm báo cáo về bất cứ trường hợp thực tế hoặc có nghi vấn nào chỉ định nhân viên thuộc bộ phận an ninh của doanh nghiệp AEO cũng như cơ quan hải quan để tiếp tục điều tra cũng như lưu các báo cáo để cung cấp cho cơ quan hải quan khi cần thiết.

Những địa điểm có hàng hoá trái phép vận chuyến phải được thường xuyên kiểm tra và đảm bảo an ninh bên trong và bên ngoài đối với phương tiện. Doanh nghiệp thông báo cho cơ quan hải quan hoặc các cơ quan có thẩm quyền khác đối với những chuyến hàng có nghi vấn hoặc thực sự vi phạm an ninh chuyến hàng.

Cơ quan hải quan có trách nhiệm thông báo cho đơn vị vận chuyển về các khu vực thường dùng để giấu hàng trái phép trong quá trình vận chuyển để đảm bảo an ninh chuyến hàng.

Về nhà xưởng, Cơ quan hải quan có thể thiết lập những yêu cầu đối với việc tăng cường an ninh giành riêng cho lĩnh vực hải quan để đảm bảo an ninh cho các toà nhà cũng như giám sát và quản lý toàn bộ nhà xưởng. Ngoài quyền truy cập hợp pháp vào một số địa điểm và các thông tin có liên quan, cần tìm cách ký các thoả thuận đối tác với AEO để có quyền truy nhập vào các hệ thống theo dõi an ninh và không bị từ chối việc truy cập các thông tin cần thiết để thực hiện các hoạt động kiểm soát. Đồng thời cho phép AEO thực hiện các phương thức thực hiện sự tuân thủ để đáp ứng các yêu cầu an ninh chưa khả thi hay chưa được tương thích với một mô hình AEO.

Doanh nghiệp AEO áp dụng các biện pháp an ninh và thủ tục cần thiết đảm bảo an ninh nhà xưởng và ngăn chặn việc xâm nhập bất hợp pháp nơi bốc hàng, khu hàng hoá có thể gây ảnh hưởng đến an ninh trong khu vực thuộc phạm vi trách nhiệm của doanh nghiệp trong dây chuyền cung ứng. Dựa trên việc đánh giá rủi ro thì an ninh nhà xưởng cần lưu ý đến những yếu tố sau:

– Toà nhà phải được xây dựng bằng những nguyên liệu chống lại việc xâm nhập trái phép. Cấu trúc của toà nhà phải được đảm bảo nguyên vẹn trong quá trình kiểm tra và sửa chữa. Toàn bộ các cửa sổ và cửa ra vào, hàng rào phải được đảm bảo an ninh bằng các thiết bị khoá hoặc nhiều biện pháp kiểm soát, giám sát việc ra vào khác nhau. Bên trong và bên ngoài nhà phải được trang bị ánh sáng phù hợp như: khu vực ra, vào; khu vực xử lý hàng; kho hàng, hàng rào và bãi xe.

– Nhân viên quản lý hoặc nhân viên an ninh phải kiểm soát toàn bộ việc sử dụng các khoá và chìa khoá.

– Khi được yêu cầu và sau khi được yêu cầu, phải tạo điều kiện cho Hải quan truy nhập vào hệ thống theo dõi an ninh được sử dụng để đảm bảo an ninh nhà xưởng.

Về an ninh nhân sự, Hải quan và doanh nghiệp được ưu tiên dựa trên thẩm quyền và năng lực của mình để kiểm tra thông tin cơ bản về nhân sự trong giới hạn luật pháp cho phép. Ngoài ra, hai bên cũng phải ngăn cấm việc truy nhập bất hợp pháp vào các cơ sở, phương tiện vận tải, khu vực chất hàng và khu vực hàng hoá mà có thể ảnh hưởng đến an ninh của những khu vực này. 

Đối với doanh nghiệp khi tuyển mới nhân sự cần xác minh nhân thân người được tuyển để đảm bảo người đó trước đấy không bị buộc tội về những vấn đề liên quan đến an ninh, vi phạm hải quan hay vi phạm hình sự trong nước; thực hiện kiểm tra định kỳ thông tin cơ bản về những nhân viên làm việc trong các vị trí an ninh nhạy cảm; có thủ tục nhận diện nhân viên, và yêu cầu tất cả nhân viên đeo thẻ nhận diện của công ty giúp nhận diện duy nhất từng cá nhân và tổ chức; có thủ tục hợp lý để nhận diện, ghi chép và giải quyết những người không có thẩm quyền hoặc không được nhận diện, thủ tục bao gồm nhận diện ảnh, sổ đăng ký cho khách hoặc những người cung ứng dịch vụ tại tất cả các cửa khẩu; có thủ tục hợp lý để ngăn cấm việc những nhân viên đã bị chấm dứt hợp đồng lao động truy cập hệ thống thông tin nhận diện và cơ sở vật chất.

Đối với Hải quan cần xây dựng thủ tục nhận diện và yêu cầu tất cả các cán bộ đều phải đeo thẻ nhận diện từng cá nhân và tổ chức mà họ đại diện, khi cần thiết, đảm bảo người thực hiện kiểm soát truy nhập có thể xác minh dữ liệu nhân diện một cách độc lập; có thủ tục hợp lý để ngăn cấm việc truy cập hệ thống thông tin nhận diện và cơ sở vật chất của những cán bộ/ nhân viên đã bị chấm dứt hợp đồng lao động.

Về an ninh đối tác thương mại, Hải quan phải thiết lập các yêu cầu và cơ chế đối với AEO để tăng cường một cách tự nguyện những biện pháp an ninh của mình. Khi tham gia vào các thoả thuận hợp đồng với một đối tác thương mại, các doanh nghiệp AEO cần khuyến khích đối tác đánh giá và tăng cường an ninh chuỗi cung ứng, ở mức độ thực tế cho mô hình kinh doanh của họ, quy định bao gồm cả cách thể hiện ngôn ngữ trong các thoả thuận đối tác.

i. Đánh giá, phân tích và cải thiện tình hình

Doanh nghiệp AEO và Hải quan cần phải lập kế hoạch và thực hiện công tác theo dõi, đánh giá, phân tích những vấn đề sau:

– Đánh giá sự nhất quán với các quy định được thiết lập;

– Đảm bảo sự toàn vẹn và phù hợp với hệ thống quản lý an ninh;

– Xác định các khu vực tiềm năng để cải thiện hệ thống quản lý an ninh,  để tăng cường an ninh chuỗi cung ứng.

Như vậy, các doanh nghiệp AEO và Hải quan phải thường xuyên đánh giá rủi ro an ninh trong hoạt động của mình và thực hiện các biện pháp thích hợp để giảm thiểu những rủi ro này. Trong rà soát kết quả đánh giá phải bao gồm cả thông tin phản hồi của các bên đã được thể hiện trong kế hoạch cho thời gian tới để đảm bảo sự phù hợp của hệ thống quản lý an ninh.

12.1.4. Kinh nghiệm của một số nước thực hiện chương trình ưu tiên

a. Hoa Kỳ tận dụng mối quan hệ đối tác lâu năm với các chủ sở hữu ở cuối chuỗi cung ứng

Hải quan Hoa Kỳ có bề dày lịch sử trong quan hệ với các lãnh đạo các ngành để ngăn chặn hàng lậu qua biên giới Hoa Kỳ. Họ xác định để đảm bảo mức độ an ninh cao nhất, Hải quan cần hợp tác chặt chẽ với các chủ sở hữu ở cuối chuỗi cung ứng. Chương trình hợp tác Hải quan – Doanh nghiệp chống khủng bố (CTPAT) là chương trình được thiết kế để tăng cường an ninh cho phần lớn các lô hàng nhập khẩu vào Hoa Kỳ và dựa vào các đối tác ở cuối chuỗi cung ứng để thực hiện. Chương trình cung cấp lợi ích và khuyến khích các doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu an ninh trong chuỗi cung ứng của Hải quan Hoa Kỳ và tập trung nguồn lực, nhân lực vào các lô hàng có độ rủi ro cao. Lợi ích chính khi tham gia CTPAT mà doanh nghiệp có được gồm:

– Giảm chi phí nhập khẩu hàng hóa.

– Tăng khả năng có thể dự báo.

– Ít kiểm tra tuân thủ và an ninh, từ 4-6 lần.

– Thúc đẩy hoạt động kinh doanh.

– Doanh nghiệp được giảm xử phạt.

– Chi phí bảo hiểm và thất thoát giảm đáng kể.

Có thể thấy kế hoạch chiến lược CTPAT thông qua mối quan hệ đối tác, Hải quan Hoa Kỳ đã đào tạo và được đào tạo, nhận thức rõ hơn về các yếu điểm và điểm mạnh được cộng đồng thương mại tin tưởng. Kế hoạch này góp phần giúp Hải quan Hoa Kỳ thúc đẩy nhanh dòng dịch chuyển của hàng hóa có độ rủi ro thấp qua biên giới và cửa khẩu, duy trì thương mại toàn cầu bất chấp sự đe dọa của chủ nghĩa khủng bố.

b. New Zealand bảo vệ các thị trường xuất khẩu

New Zealand đã xây dựng và phát triển dự án An ninh xuất khẩu (SES) cho các nhà xuất khẩu từ năm 2004. Trước đó, Hải quan New Zealand quan hệ với các nhà xuất khẩu và hàng hóa xuất khẩu rất hạn chế, nhưng với những thay đổi về điều kiện an ninh sau sự kiện 11/9/2001, nước này có chủ trương thực hiện việc xuất khẩu hàng hóa có độ rủi ro thấp. Chương trình SES được xây dựng và phát triển với các doanh nghiệp và các nhóm xuất khẩu. Hải quan New Zealand đã rà soát lịch sử 7 năm xuất khẩu trong cơ sở dữ liệu và lọc ra 250 nhà xuất khẩu hàng đầu tính theo giá trị và lượng hàng hóa chiếm tới 80% giá trị mậu dịch. Hiện nay có 106 đối tác tham gia SES và các lợi ích mà doanh nghiệp được hưởng gồm:

– SES trợ giúp cán bộ hải quan xác định hàng hóa của doanh nghiệp là hàng hóa có độ rủi ro thấp;

– SES hỗ trợ các doanh nghiệp bằng cách chỉ định đầu mối liên lạc chuyên giải quyết các vấn đề hải quan và thực hiện ưu tiên hàng hóa xuất khẩu;

– SES mang lại quyền lợi cho cả Hải quan và doanh nghiệp bằng việc thông tin cho các bên quy trình hoạt động của nhau.

– SES mang lại lợi ích cho Chính phủ và nền kinh tế New Zealand bằng việc đảm bảo hàng hóa xuất khẩu từ New Zealand được công nhận là hàng hóa có độ rủi ro thấp và duy trì danh tiếng của New Zealand là nước có môi trường hoạt động thương mại an toàn.

Chương trình này được hải quan nhiều nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore, Việt Nam…nghiên cứu. Hải quan New Zealand đã ký kết thỏa thuận công nhận lẫn nhau với Hoa Kỳ và Nhật Bản.

c. Thụy Điển đơn giản hóa quy trình và cải thiện dịch vụ

Hải quan Thụy Điển đã tiến hành cải cách và hiện đại hóa toàn diện từ năm 1998. Họ đã bắt đầu thực hiện thí điểm hệ thống thông quan Stairway với mục đích gắn kết tất cả các thành phần có liên quan đến hoạt động hải quan, tạo nên mối quan hệ cộng tác chặt chẽ với Hải quan Thụy Điển, trong đó Hải quan và cộng đồng doanh nghiệp cùng nhau xác định nhu cầu của doanh nghiệp và khả năng đơn giản hóa quy trình thủ tục của Hải quan.

Stairway đã cung cấp quy trình hoạt động đơn giản và các dịch vụ được cải thiện cho các nhà điều hành để công nhận chất lượng và an ninh kinh doanh của họ. Điều này cho phép Hải quan Thụy Điển tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại hợp pháp mà vẫn tăng cường an ninh. Stairway áp dụng với cả các loại hình vận tải và các doanh nghiệp có quan hệ với hải quan như nhà nhập khẩu, nhà xuất khẩu, các đại lý với bất kỳ quy mô nào và hoạt động trên lĩnh vực nào. Stairway sử dụng một quy trình duy nhất phi giấy tờ. Các doanh nghiệp cung cấp thông tin cho Hải quan một lần và được đánh giá bởi hệ thống rủi ro. Nó xác định các nhà điều hành và lô hàng có độ rủi ro thấp để tạo điều kiện thông quan và đơn giản hóa thủ tục hải quan. Hải quan Thụy Điển tiếp tục phát triển Stairway với mục đích làm cho nó tương thích hoàn toàn với ý tưởng AEO.

d. Liên minh châu Âu kết hợp chặt chẽ các thành viên

Liên minh châu Âu là khối thương mại lớn nhất thế giới. Các thành viên là các quốc gia có nền kinh tế đã và đang phát triển với sức cạnh tranh cao. Tuy gặp nhiều khó khăn về ngôn ngữ và mức độ phát triển kinh tế nhưng tháng 01/2008 Hướng dẫn chung của EU về chương trình AEO đã có hiệu lực.

 Chương trình của EU xét cho các doanh nghiệp AEO ở 3 cấp:

(i) Đơn giản hóa thủ tục hải quan

Nội dung này được áp dụng cho các doanh nghiệp đáp ứng được các tiêu chí về tuân thủ hải quan, các tiêu chuẩn lưu trữ hồ sơ và có khả năng tài chính tốt. Các doanh nghiệp được công nhận dễ được chấp nhận hơn trong việc sử dụng các thủ đơn giản hóa của Hải quan; kiểm tra thực tế ít hơn và kiểm tra dựa trên hồ sơ; được ưu tiên nếu được chọn để kiểm soát và có thể yêu cầu về địa điểm kiểm tra nhất định.

(ii) An ninh và an toàn

Nội dung này áp dụng cho các doanh nghiệp đáp ứng được tiêu chí tuân thủ Hải quan, có tiểu chuẩn lưu trữ hồ sơ phù hợp, khả năng tài chính tốt, duy trì các tiêu chuẩn an ninh và an toàn phù hợp.

(iii) Kết hợp đơn giản hóa thủ tục hải quan và đảm bảo an ninh, an toàn

Nội dung này áp dụng cho các doanh nghiệp đáp ứng được các tiêu chí tuân thủ Hải quan, có tiêu chuẩn lưu trữ hồ sơ phù hợp, khả năng tài chính tốt, duy trì tiêu chuẩn an ninh, an toàn thích hợp và mong muốn hưởng mọi lợi ích của AEO.

e. Argentina mở chương trình AEO cho mọi doanh nghiệp

Sau vụ khủng bố 11/9/2001, kiểm soát hải quan toàn cầu được thắt chặt hơn, Hải quan Argentina bắt đầu xem xét lại cách kiểm soát bất chấp cuộc khủng hoảng kinh tế của họ. Nhận thức rõ mức độ gia tăng và phức tạp của thương mại quốc tế, Hải quan Argentina tái dựng chương trình kiểm soát với mục tiêu không chỉ đơn thuần kiểm soát và thu thuế mà có vai trò lớn hơn trong việc thúc đẩy thương mại, trao đổi và bảo vệ an ninh quốc gia.

Quá trình hiện đại hóa được thực hiện từ 2004. Nội dung hiện đại hóa được xây dựng theo các tiêu chí của Hiệp định khung  của Tổ chức Hải quan thế giới và thành lập Ban quản lý rủi ro. Ban này chịu trách nhiệm hỗ trợ cấu trúc mới của Hải quan với chuyên môn quản lý rủi ro. Ban cũng chịu trách nhiệm sử dụng các công nghệ mới để kiểm soát và an ninh thông qua chương trình AEO. Hải quan Argentina đã thiết lập Hệ thống Các nhà Điều hành đáng tin cậy (viết tắt SOC) và giao cho Ban quản lý rủi ro đánh giá doanh nghiệp, hỗ trợ hồ sơ và tuân thủ. Chương trình SOC mang lại những lợi ích cơ bản cho các bên tham gia như:

– Ưu tiên áp dụng thủ tục hải quan đơn giản;

– Chi phí thấp, tính linh hoạt ngoại thương cao;

– Bảo mật thông tin và mạng lưới hậu cần;

– Sử dụng kênh xanh;

– Có sự công nhận của Hải quan nước khác nếu trong tương lai hải quan nước này ký thỏa thuận công nhận lẫn nhau với Hải quan Argentina.

f. Một số bài học từ việc thực hiện chương trình AEO của các nước

Qua nghiên cứu cơ sở pháp lý của Tổ chức hải quan thế giới quy định những vấn đề cơ bản về chương trình AEO và kinh nghiệm của một số nước trên thế giới đã và đang bắt đầu thực hiện chương trình AEO, Hải quan Việt Nam thực hiện chương trình AEO cần lưu ý đến một số điểm sau:

Thứ nhất, cần nắm vững quy định tại Khung tiêu chuẩn của WCO và từ đó đưa các tiêu chí của Khung tiêu chuẩn vào áp dụng trong chương trình ưu tiên của Hải quan Việt Nam;

Thứ hai, việc thực hiện cần có bước đi vững chắc, bước đầu chỉ áp dụng cho số ít doanh nghiệp (đại đa số các nước trên thế giới đều bắt đầu thực hiện đối với doanh nghiệp xuất khẩu);

Thứ ba, thay đổi quan điểm quản lý, từ việc kiểm soát toàn bộ, coi doanh nghiệp là đối tượng bị kiểm soát sang phương thức quản lý có trọng điểm, phân loại doanh nghiệp, coi doanh nghiệp là đối tác trong dòng chuyển của thương mại.

Thứ tư, xây dựng tiêu chuẩn, rõ ràng, minh bạch để xét công nhận và áp dụng các chế độ ưu tiên cho doanh nghiệp.

12.2. Thực trạng thực hiện chế độ ưu tiên của Hải quan Việt Nam

12.2.1. Những thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện quản lý nhà nước về Hải quan

12.2.1.1. Bối cảnh quốc tế

Trước cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, thương mại thế giới đã bị ảnh hưởng nặng nề. Hơn bao giờ hết, những diễn biến và xu hướng của thương mại quốc tế sẽ tạo ra những ảnh hưởng có tính quyết định nhất định trong nền kinh tế thế giới. Đã có nhiều lo lắng cũng như cảnh báo về khả năng các quốc gia sẽ áp dụng tràn lan các chính sách bảo hộ để hạn chế bớt nạn thất nghiệp đang gia tăng. Theo WTO, mặc dù các nước đã áp dụng một số biện pháp hạn chế giao thương, không có nước thành viên nào áp dụng rộng rãi các biện pháp bảo hộ cũng như các biện pháp trả đũa. WTO ước lượng các biện pháp hạn chế thương mại được áp dụng từ tháng 10-2008 chỉ làm ảnh hưởng tối đa khoảng 1% khối lượng thương mại thế giới. Sự thành công trong việc chống lại sự tràn lan của các chính sách bảo hộ trong bối cảnh hiện nay cũng như sự gia tăng thương mại thế giới trong những thập niên qua tất nhiên là đã nhờ phần lớn vào sự hiện hữu của WTO. Thông qua các vòng đàm phán đã kết thúc, các nước thành viên đã đi đến nhiều cam kết ràng buộc nhằm thúc đẩy tự do hóa thương mại ngày càng mạnh mẽ hơn.

Mặt khác, sau sự kiện 11/9/2001 tại Hoa Kỳ, ngoài vấn đề an ninh kinh tế, các nước còn phải đối mặt với thế lực khủng bố. Chính vì thế nhu cầu đảm bảo an ninh chính trị, an ninh đất nước, an toàn xã hội cũng là một vấn đề lớn mà các nước phải quan tâm như việc giải quyết các vấn đề bức xúc của Hải quan. Từ 2002, Hoa Kỳ đã áp dụng một loạt các giải pháp nhằm đảm bảo an ninh như: sáng kiến an ninh container (Container Security Initiative – CSI), quy tắc 24 giờ (24 hours Ruler), và đặc biệt là chương trình hợp tác Hải quan – Doanh nghiệp chống khủng bố (Customs – Trade Parnership Against Terrorism – C-TPAT). Mục đích chính của chương trình C-TPAT là chống khủng bố, đảm bảo an ninh. Tuy nhiên mặt nào đó doanh nghiệp sẽ được tạo thuận lợi nếu đáp ứng được các điều kiện của C-TPAT.

Xuất phát từ đề xuất của Hoa Kỳ, Tổ chức Hải quan thế giới đã xây dựng Khung tiêu chuẩn về đảm bảo an ninh và tạo thuận lợi cho thương mại toàn cầu. Khung tiêu chuẩn gồm hai trụ cột chính: Quan hệ Hải quan – Hải quan và Quan hệ Hải quan  – Doanh nghiệp; và bốn hạt nhân chính: sử dụng phương tiện điện tử; các bên chia sẻ thông tin trước về hàng hoá xuất, nhập, quá cảnh; xử lý nguy cơ an ninh bằng kỹ thuật quản lý rủi ro; cơ quan hải quan dành cho doanh nghiệp những lợi ích một cách tốt nhất nếu doanh nghiệp đáp ứng được điều kiện tuân thủ và thực hiện tốt các vấn đề an ninh.

Hiện nay đã có hơn 160 quốc gia công bố và ký tham gia và áp dụng Khung tiêu chuẩn của Tổ chức Hải quan thế giới. Theo báo cáo của Tổng thư ký WCO đã có 45 nước đã áp dụng chương trình doanh nghiệp ưu tiên, trong đó tất cả các thành viên của EU, 6 nước của Châu Á – Thái Bình Dương (gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaysia, Singapore, Nhật Bản, Newzealand), 8 nước Châu Mỹ và Caribê đã áp dụng. Hoa Kỳ áp dụng chương trình CTPAT và nhiều nước đang áp dụng chương trình thí điểm trong đó có Việt Nam.

Khi áp dụng chế độ này, mỗi quốc gia có mục tiêu chính khác nhau, nhưng tựu chung lại có thể chia thành 3 nhóm mục tiêu như sau:

Nhóm thứ nhất, đặt mục tiêu chính là an ninh, an toàn lên hàng đầu, điển hình cho nhóm này là Hoa Kỳ, Canada, Newzealand, Singapore;

Nhóm thứ hai, đặt mục tiêu tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế. Trung Quốc, Đài Loan và một số nước đang phát triển thiên về xu hướng này;

Nhóm thứ ba, thực hiện hài hoà cả việc đảm bảo an toàn, an ninh và tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế. Nhóm này gồm phần lớn các nước trong EU, Hàn Quốc, Nhật Bản.

Mặc dù mục tiêu được ưu tiên có sự lựa chọn khác nhau, tuy nhiên các vấn đề cơ bản đều thống nhất ở một số vấn đề quan trọng, gồm:

–      Áp dụng chế độ quản lý riêng biệt, nhằm tạo thuận lợi hơn trong hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp đáp ứng các yêu cầu quy định được đặt ra của Hải quan;

–      Các doanh nghiệp được lựa chọn áp dụng đều là các doanh nghiệp tự nguyện, có độ tuân thủ luật pháp cao, có độ rủi ro thấp trong một thời gian nhất định.

–      Cơ quan hải quan có cơ sở để đặt niềm tin vào doanh nghiệp tiếp tục tuân thủ cao các quy định của pháp luật.

Với xu thế toàn cầu đó, xu hướng hiện nay hải quan các nước đều tập trung hướng tới các vấn đề lớn như:

–      Mở rộng mục tiêu để thu hút sự quan tâm của cộng đồng doanh nghiệp, từ lúc đầu chỉ thực hiện chính sách chống khủng bố, đến nay dần mở rộng mục tiêu chống tội phạm có tổ chức (buôn lậu ma tuý, tân dược giả, hàng giả, động thực vật hoang dã…) và ngày càng quan trọng hơn là tạo thuận lợi tối đa cho thương mại quốc tế.

–      Chương trình này ngày càng được nhiều nước áp dụng, bởi lẽ cơ quan hải quan được doanh nghiệp chia sẻ trách nhiệm đảm bảo an ninh, an toàn, tạo được sự tuân thủ lâu dài, nhờ đó cơ quan hải quan chi phí ít hơn tập trung nguồn lực cho các mục tiêu rủi ro cao và vì vậy hiệu quả hơn. Điều quan trọng là đã thúc đẩy được sự tham gia chủ động của doanh nghiệp và đưa ra các giải pháp “Win-Win” cho cả khu vực công và tư. Hiển nhiên là đã tăng cường vai trò của các cơ quan Chính phủ trong việc tiết kiệm và hiệu quả nguồn lực công. Các doanh nghiệp cũng được hưởng lợi về thời gian và chi phí. Và đặc biệt, hải quan các nước đều hướng đến việc công nhận lẫn nhau. Việc này tránh được việc kiểm tra trùng, tạo dòng chảy cho hàng hoá được nhanh hơn, giảm chi phí cho cả doanh nghiệp và hải quan.

–      Mở rộng áp dụng chế độ ưu tiên không chỉ cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu mà còn cho cả các tổ chức dịch vụ xuất nhập khẩu trong chuỗi cung ứng hàng hoá xuất nhập khẩu. Như vậy, mọi chủ thể tác động vào chuỗi cung ứng hàng hoá đều có vai trò quan trọng của mình.

12.2.1.2. Bối cảnh trong nước

Với mục tiêu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa, khu vực hóa nền kinh tế, Việt Nam cũng đang tích cực tham gia vào nền  kinh tế thế giới với những nỗ lực trong tất cả các mặt. Chủ trương của Đảng và Nhà nước là phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Kinh tế tư nhân và thương mại quốc tế là một trong những động lực của nền kinh tế.

 Đẩy mạnh thương mại quốc tế, thu hút đầu tư sẽ giúp Việt Nam giải quyết các khó khăn về vốn, tạo việc làm cho người lao động, chuyển giao công nghệ và cải tiến cơ cấu kinh tế, đưa nền kinh tế tham gia phân công lao động quốc tế một cách mạnh mẽ. Vì vậy tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong hoạt động xuất nhập khẩu là trực tiếp góp phần đảm bảo nguồn thu, đảm bảo cho đầu tư cũng giải quyết các vấn đề khó khăn về vốn…để tạo đà cho đất nước phát triển.Tuy nhiên áp dụng cơ chế ưu tiên đặc biệt tại Việt Nam cần chú ý đến các điểm sau:

Thứ nhất, tình trạng tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong hoạt động xuất nhập khẩu nói chung còn yếu, có nhiều vi phạm.

Thứ hai, cơ chế áp dụng luật pháp cứng nhắc, không có sự phân biệt đối xử, quan trọng hoá quyền và trách nhiệm quản lý nhà nước, chưa chú trọng tạo thuận lợi cho doanh nghiệp để nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp. Chính vì thế còn coi doanh nghiệp là địch, chưa đề cao ý thức coi doanh nghiệp là đối tác và tăng cường sự hợp tác Hải quan – Doanh nghiệp.

Thứ ba, các doanh nghiệp ở Việt Nam chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hoạt động kinh doanh nhiều khi theo thời vụ và không chuyên nghiệp nên mức độ hiểu biết về pháp luật cũng như năng lực tuân thủ pháp luật có nhiều hạn chế.

Thứ tư, trong bối cảnh hiện tại thì chống khủng bố, và đảm bảo an toàn, an ninh không phải là mục tiêu chính trong giai đoạn hiện nay.

12.2.1.3. Những cơ hội và thách thức đối với Hải quan Việt Nam

Từ các diễn biến và xu hướng của thương mại thế giới như đã phân tích ở trên, có thể thấy chúng ta gặp những thách thức lớn trong giao thương quốc tế sau:

Một là, Cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn, với nhiều “đối thủ”, trên bình diện rộng hơn, sâu hơn. Cạnh tranh không chỉ diễn ra ở cấp độ sản phẩm với sản phẩm, doanh nghiệp với doanh nghiệp. Cạnh tranh còn diễn ra giữa nhà nước và nhà nước trong việc hoạch định chính sách quản lý và chiến lược phát triển nhằm phát huy nội lực và thu hút đầu tư từ bên ngoài.

– Hai là, Trên thế giới sự “phân phối” lợi ích của toàn cầu hoá là không đồng đều. Những nước có nền kinh tế phát triển thấp được hưởng lợi ít hơn. Ở mỗi quốc gia, sự “phân phối” lợi ích cũng không đồng đều. Vì thế công tác quản lý cũng cần hướng tới những cách thức mới để đảm bảo sự tuân thủ.

– Ba là, Trong điều kiện tiềm lực đất nước có hạn, hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, kinh nghiệm vận hành nền kinh tế thị trường chưa nhiều thì đây là khó khăn không nhỏ, đòi hỏi chúng ta phải phấn đấu vươn lên mạnh mẽ, với lòng tự hào và trách nhiệm rất cao trước quốc gia, trước dân tộc.

– Bốn là, Hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra những vấn đề mới trong việc bảo vệ môi trường, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá và truyền thống tốt đẹp của dân tộc, chống lại lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền.

Tuy nhiên chúng ta cũng đứng trước những cơ hội lớn để vươn ra thế giới:

– Thứ nhất, Việt Nam sẽ khắc phục được tình trạng bị phân biệt đối xử trong buôn bán quốc tế. Ví dụ như đối xử tối huệ quốc (MFN) không điều kiện, thuế quan thấp cho hàng xuất khẩu của Việt Nam, thúc đẩy việc thâm nhập thị trường cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam, cải thiện cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại với các nước, sự đối xử theo hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập và củng cố cải cách kinh tế Việt Nam

– Thứ hai, đang xây dựng Luật Hải quan sửa đổi, đưa các quy định về hoạt động ưu tiên vào trong luật tạo cơ sở vững chắc cho các doanh nghiệp tuân  thủ pháp luật.

– Thứ ba, Việt Nam sẽ có lợi từ việc cải thiện hệ thống giải quyết tranh chấp khi có quan hệ với các cường quốc thương mại chính.

– Thứ tư, Việt Nam sẽ có lợi gián tiếp từ yêu cầu về việc cải cách hệ thống ngoại thương, bảo đảm tính thống nhất của các chính sách thương mại và các bộ luật của Việt Nam cho phù hợp với hệ thống thương mại quốc tế.

– Thứ năm, Việt Nam sẽ có điều kiện thu hút vốn, kinh nghiệm quản lý và công nghệ mới… của nước ngoài. Trong những năm qua, khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực sự đã trở thành một trong những động lực tăng trưởng sản xuất công nghiệp Việt Nam.

– Thứ sáu là, nâng cao khả năng cạnh tranh và tính hiệu quả trong nền kinh tế, đồng thời tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp Việt Nam. Tự do hóa thương mại sẽ tạo điều kiện cho hàng hóa của các nước thành viên dễ dàng thâm nhập vào thị trường Việt Nam. Điều này gây sức ép buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải chấp nhận mức độ cạnh tranh khốc liệt, làm cho họ trở nên năng động hơn trong việc tạo sản phẩm mới, cải tiến các dịch vụ, hạ giá thành sản phẩm…

Từ những cơ hội và thách thức trên chúng ta nhận thấy:

– Thứ nhất, Việt Nam cần phải tập trung định hướng các hoạt động xuất, nhập khẩu phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững.

– Thứ hai, trong các nỗ lực mở rộng giao thương thông qua con đường ký kết các hiệp định thương mại tự do song phương, Việt Nam cần chọn lựa những đối tác vừa có thể đưa lại lợi ích thương mại và vừa phục vụ mục tiêu chiến lược ngoại giao. Đòi hỏi đối tác xóa bỏ những rào cản đối với các mặt hàng mà mình đang có lợi thế so sánh và để đáp lại thì có thể nhượng bộ mạnh tay hơn đối với các mặt hàng đã bị hàng nhập khẩu các nước khác chiếm lĩnh.

– Thứ ba, Việt Nam cần sử dụng các biện pháp tự vệ, chống bán phá giá, và chống bán trợ giá để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các nhà sản xuất trong nước khi tình thế đòi hỏi phải như thế.

– Thứ tư, Cần xây tiến hành cải cách hành chính, xây dựng cơ chế một cửa trong hoạt động hành chính, xây dựng cơ chế một cửa quốc gia để tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế, nhân tố quan trọng trong việc xúc tiến đầu tư, lôi cuốn thương mại, tạo việc làm cho người lao động.

 12.2.2. Thực trạng thực hiện cơ chế ưu tiên đặc biệt của Hải quan Việt Nam

12.2.2.1. Về cơ sở pháp lý

Việt Nam tham gia Công ước Kyoto sửa đổi từ năm 2006 và trong đó cam kết về AEO, thực chất là chuẩn mực về doanh nghiệp ưu tiên. Hệ thống luật Hải quan cũng có những bước tiến nhất định để chuẩn bị cơ sở áp dụng tiêu chuẩn này. Tuy nhiên, cho đến Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Hải quan 2005 vẫn chưa đưa ra mô hình rõ ràng về doanh nghiệp ưu tiên và đặc biệt chưa cung cấp cho các doanh nghiệp này ưu đãi về thủ tục như quy định của Công ước Kyoto sửa đổi. Năm 2011, Văn phòng Chính phủ có thông báo Thủ tướng Chính phủ đồng ý cho Bộ Tài chính thí điểm thực hiện chương trình doanh nghiệp ưu tiên.  Thông tư 63/2011/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 13 tháng 5 năm 2011 và Thông tư 105/2011/TT-BTC ngày 12/7/2011 bổ sung một số điều Thông tư 63/2011/TT-BTC. Ngày 27/6/2013, Bộ Tài chính Ban hành Thông tư 86/2013/TT-BTC; Thông tư 133/2013/TT – BTC ngày 24/9/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều Thông tư 86/2013/TT-BTC đã quy định cụ thể để doanh nghiệp là doanh nghiệp ưu tiên, cụ thể như sau:

a. Điều kiện trở thành doanh nghiệp ưu tiên

Các loại doanh nghiệp ưu tiên có thể được phân thành ba loại:

Một là, doanh nghiệp được ưu tiên trong xuất khẩu, nhập khẩu tất cả các mặt hàng, loại hình xuất khẩu, nhập khẩu (bao gồm cả hàng hóa và dịch vụ xuất nhập khẩu mua, bán ở nội địa).

Hai là, doanh nghiệp được ưu tiên trong xuất khẩu hàng hóa là thủy sản, nông sản, dầu thô có xuất xứ thuần túy Việt Nam và nhập khẩu hàng hóa để phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu ở điểm trên.

Ba là, Doanh nghiệp được Bộ Khoa học và Công nghệ cấp giấy chứng nhận là doanh nghiệp công nghệ cao theo quy định của Luật Công nghệ cao được ưu tiên trong nhập khẩu hàng hóa phục vụ sản xuất; xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao.

Doanh nghiệp ưu tiên phải là doanh nghiệp có độ rủi ro thấp nhất, đáp ứng đủ các điều kiện sau:

a1. Điều kiện về tuân thủ pháp luật

Doanh nghiệp được coi là doanh nghiệp tuân thủ pháp luật, trong thời hạn đánh giá quá trình tuân thủ pháp luật là 24 (hai mươi bốn) tháng trở về trước, kể từ ngày Tổng cục Hải quan nhận được văn bản của doanh nghiệp đề nghị được công nhận là doanh nghiệp ưu tiên, nếu:

– Doanh nghiệp không vi phạm các pháp luật về thuế, hải quan tới mức bị xử lý về một trong những hành vi dưới đây được coi là đáp ứng điều kiện tuân thủ pháp luật:

+  Xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa thuộc danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu không đúng quy định của pháp luật;

+  Bị xử lý về hành vi trốn thuế, gian lận thuế, buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới;

+  Quá 3 (ba) lần bị các cơ quan hải quan, cơ quan thuế xử lý hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp, tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn với mức xử phạt vi phạm hành chính bằng tiền mỗi lần vượt quá thẩm quyền của Chi cục trưởng hoặc các chức danh tương đương theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

+  Bị cơ quan hải quan xử lý hành chính về hành vi không chấp hành yêu cầu của cơ quan hải quan trong kiểm tra hải quan, cung cấp thông tin, hồ sơ doanh nghiệp.

Các cơ quan có thẩm quyền xác nhận việc tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp:

– Cơ quan xác nhận việc tuân thủ pháp luật hải quan (bao gồm cả việc chấp hành pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu) là Tổng cục Hải quan.

– Các cơ quan có thẩm quyền khác xác nhận việc tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp theo đề nghị của Tổng cục Hải quan, gồm:

+ Cơ quan xác nhận việc tuân thủ pháp luật về thuế nội địa và hiệu quả kinh doanh là Chi cục thuế nơi doanh nghiệp đăng ký, thực hiện nghĩa vụ nộp các khoản thuế nội địa.

a2. Điều kiện về thanh toán

Thực hiện thanh toán các lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu theo đúng quy định của Ngân hàng Nhà nước. Thanh toán thuế qua ngân hàng hoặc kho bạc.

a3. Điều kiện về kế toán, tài chính

Doanh nghiệp áp dụng chuẩn mực kế toán được Bộ Tài chính chấp nhận. Mọi hoạt động kinh tế phải được phản ánh đầy đủ trong sổ kế toán. Báo cáo tài chính hàng năm được công ty kiểm toán đủ điều kiện chấp nhận các nội dung trọng yếu và đánh giá hoạt động kinh doanh có hiệu quả, không có khoản nợ thuế quá hạn trong 2 (hai) năm liền kề năm xem xét, cụ thể:

(i) Áp dụng chuẩn mực kế toán Việt Nam;

(ii) Có chế độ kiểm soát tài chính nội bộ;

(iii) Có hệ thống sổ, chứng từ kế toán đầy đủ, rõ ràng;

(iv) Báo cáo tài chính đầy đủ, chính xác, trung thực;

(v) Lưu trữ đầy đủ, khoa học các sổ, chứng từ kế toán và các chứng từ liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu;

(vi) Thực hiện tốt chế độ tài chính, kế toán.

(vii) Hoạt động kinh doanh có hiệu quả.

a4. Điều kiện về kim ngạch

–  Đối với doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu tất cả các mặt hàng, loại hình xuất khẩu, nhập khẩu kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu tối thiểu đạt 200 (hai trăm) triệu USD/năm.

– Đối với doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa là nông sản, thủy sản, dệt may, da giày và nhập khẩu hàng hóa là nguyên phụ liệu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu trên kim ngạch xuất khẩu tối thiểu đạt 50 (năm mươi) triệu USD/năm.

– Đối với doanh nghiệp được Bộ Khoa học và Công nghệ cấp giấy chứng nhận là doanh nghiệp công nghệ cao theo quy định của Luật Công nghệ cao được ưu tiên trong nhập khẩu hàng hóa phục vụ sản xuất; xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao, không quy định kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu.

Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu được tính là kim ngạch bình quân trong (hai) năm xem xét.

a5. Điều kiện về thực hiện thủ tục hải quan, thủ tục thuế điện tử

Tại thời điểm cơ quan hải quan xem xét đánh giá, thẩm định, doanh nghiệp để xét ưu tiên, doanh nghiệp đã thực hiện thủ tục hải quan điện tử với cơ quan hải quan, thủ tục thuế điện tử với cơ quan thuế.

Doanh nghiệp phải thực hiện trao đổi thông tin bằng hình thức dữ liệu điện tử giữa doanh nghiệp và cơ quan hải quan.

a6. Điều kiện về độ tin cậy

 Cơ quan hải quan xác định độ tin cậy về sự tuân thủ pháp luật trong tương lai của doanh nghiệp căn cứ vào các tiêu chí về bộ máy kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp, cơ chế kiểm soát tài chính, việc hợp tác của doanh nghiệp với cơ quan hải quan, cơ quan quản lý thuế;

 Đối với doanh nghiệp đáp ứng được các quy định nêu trên, nhưng cơ quan hải quan chưa có đủ cơ sở để xác định độ tin cậy về sự tuân thủ pháp luật trong tương lai của doanh nghiệp thì chưa công nhận doanh nghiệp ưu tiên.

a7. Tự nguyện đề nghị được công nhận là doanh nghiệp ưu tiên

 Doanh nghiệp có yêu cầu được áp dụng chế độ ưu tiên, tự đối chiếu với các điều kiện, có văn bản đề nghị Tổng cục Hải quan xét, công nhận là doanh nghiệp ưu tiên và cam kết tuân thủ tốt các quy định của pháp luật. Doanh nghiệp có trách nhiệm xây dựng các chương trình, kế hoạch, sắp xếp bộ máy, nhân sự, đầu tư phương tiện, thiết bị để đảm bảo đáp ứng đủ và duy trì được các điều kiện quy định đối với doanh nghiệp ưu tiên.

b. Lợi ích của doanh nghiệp ưu tiên

Các doanh nghiệp được công nhận là được hưởng ưu tiên trong các lĩnh vực cụ thể sau:

b1. Các ưu tiên trong giai đoạn thông quan

 Miễn kiểm tra hồ sơ hải quan, miễn kiểm tra thực tế hàng hóa (trừ trường hợp có dấu hiệu vi phạm rõ ràng). Doanh nghiệp chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước cơ quan hải quan về tính hợp pháp, hợp lệ, nội dung khai hải quan.

 Miễn kiểm tra thực tế hàng hóa gồm miễn kiểm tra thủ công và miễn kiểm tra bằng máy móc, thiết bị. Trường hợp phải kiểm tra thì được kiểm tra trước, kiểm tra bằng phương tiện kỹ thuật, được yêu cầu kiểm tra hàng hoá tại địa điểm do doanh nghiệp lựa chọn.

Được sử dụng bộ chứng từ bao gồm hóa đơn thương mại, giấy đóng gói hàng hóa, lệnh giao hàng và bản tự kê khai thuế đóng dấu, ký tên của đại diện doanh nghiệp để thông quan hàng hóa trong trường hợp hệ thống dữ liệu của cơ quan hải quan gặp sự cố hoặc tạm dừng hoạt động.

Trong trường hợp này, Chi cục hải quan nơi đăng ký tờ khai có hệ thống điện tử gặp sự cố, tạm dừng hoạt động có trách nhiệm thông báo cho Chi cục hải quan cửa khẩu nơi thông quan hàng hóa biết để phối hợp thực hiện.

Không phải đăng ký với cơ quan hải quan định mức tiêu hao nguyên vật liệu, không phải nộp báo cáo thanh khoản với cơ quan hải quan với điều kiện doanh nghiệp có phần mềm quản lý hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đáp ứng được yêu cầu quản lý, kiểm tra của cơ quan hải quan.

Định kỳ hàng quý doanh nghiệp phải nộp cho cơ quan hải quan báo cáo xuất – nhập – tồn nguyên vật liệu nhập khẩu trên cơ sở định mức doanh nghiệp tự xây dựng. Doanh nghiệp chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của định mức tự xây dựng.

b2. Các ưu tiên trong giai đoạn sau thông quan

Trong thời gian doanh nghiệp được áp dụng chế độ ưu tiên, cơ quan hải quan không thực hiện việc kiểm tra sau thông quan tại trụ sở doanh nghiệp (trừ trường hợp có dấu hiệu vi phạm rõ ràng và trường hợp kiểm tra để đánh giá sự tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật).

(i) Không kiểm tra sau thông quan tại trụ sở doanh nghiệp là cơ quan hải quan không ban hành quyết định, không thành lập đoàn kiểm tra tới trụ sở doanh nghiệp kiểm tra. Trong trường hợp được cơ quan hải quan thông báo những sai sót của doanh nghiệp hoặc những vấn đề cần được làm rõ thì doanh nghiệp có trách nhiệm kiểm tra lại, giải trình với cơ quan hải quan, cụ thể:

Doanh nghiệp liên quan làm rõ các vấn đề nghi vấn, bất hợp lý hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật theo yêu cầu kiểm tra sau thông quan, thanh tra thuế.

 Khi giải trình, doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong các hình thức giải trình bằng văn bản hoặc đối thoại trực tiếp với cơ quan hải quan.

Trường hợp doanh nghiệp chọn hình thức giải trình bằng văn bản thì văn bản giải trình phải có các tài liệu, chứng từ chứng minh đi kèm. Văn bản, tài liệu, chứng từ giải trình phải được gửi tới người yêu cầu giải trình trong thời hạn ghi trong văn bản yêu cầu.

Trường hợp doanh nghiệp chọn hình thức đối thoại thì nơi đối thoại có thể là trụ sở cơ quan hải quan hoặc trụ sở doanh nghiệp, tùy theo sự lựa chọn của doanh nghiệp. Nội dung đối thoại được ghi nhận bằng biên bản làm việc, kèm tài liệu. Trong trường hợp doanh nghiệp chọn đối thoại, giải trình tại trụ sở cơ quan hải quan thì doanh nghiệp đăng ký ngày, thời điểm giải trình với cơ quan hải quan.

 Kiểm tra để phục vụ cho việc công nhận, gia hạn hoặc đình chỉ chế độ ưu tiên. Phạm vi, nội dung kiểm tra tùy theo yêu cầu quản lý theo dõi của cơ quan hải quan.

Các ưu tiên này phù hợp với các quy định tại điều 32 Luật Hải quan, điều 77, điều 78 Luật Quản lý Thuế.

b3. Khai Hải quan một lần

 Việc khai tờ khai một lần và thời hạn thanh khoản tờ khai một lần được thực hiện:

– Người khai hải quan thường xuyên xuất khẩu, nhập khẩu đối với mặt hàng nhất định, trong một thời gian nhất định của cùng một hợp đồng mua bán hàng hoá, qua cùng cửa khẩu được đăng ký tờ khai và nộp hồ sơ hải quan một lần để làm thủ tục hải quan xuất khẩu, nhập khẩu mặt hàng đó nhiều lần trong khoảng thời gian giao hàng quy định trong hợp đồng mua bán hàng hoá;

– Thời hạn thanh khoản tờ khai hải quan đăng ký một lần chậm nhất là 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày xuất khẩu, nhập khẩu lô hàng cuối cùng hoặc kết thúc hợp đồng.

 Doanh nghiệp ưu tiên được khai hải quan một lần dưới hai hình thức:

– Đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới, qua cửa khẩu thì thực hiện khai hải quan trước, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa sau;

– Đối với hàng hóa nhập khẩu tại chỗ; nguyên liệu linh kiện phụ tùng phục vụ sản xuất của doanh nghiệp mua từ kho ngoại quan được thực hiện nhập khẩu hàng hóa trước (có sự giám sát của cơ quan hải quan, giám sát bằng biên bản giao nhận hàng hoá giữa doanh nghiệp và chủ kho ngoại quan), khai hải quan sau.

b4. Ưu tiên các thủ tục về thuế

Được ưu tiên áp dụng chế độ tự thanh khoản, hoàn thuế trước, kiểm tra sau.

Doanh nghiệp tự tính toán số lượng hàng hóa thực tế đưa vào sản xuất, hàng hóa còn tồn, tự tính số thuế phải nộp bổ sung hoặc số thuế không phải nộp. Doanh nghiệp chịu trách nhiệm trước pháp luật và cơ quan hải quan về nội dung thanh khoản. Căn cứ trên kết quả tự thanh khoản của doanh nghiệp, cơ quan hải quan ra quyết định thanh khoản, hoàn thuế, không thu thuế.

Doanh nghiệp không phải nộp tiền chậm nộp, không bị xử lý vi phạm hành chính về hải quan, về thuế đối với các trường hợp bị ấn định thuế do mã số hàng hóa đã được cơ quan hải quan thống nhất, thẩm định trước đó không đúng và doanh nghiệp vẫn được coi là tuân thủ pháp luật.

c. Quản lý doanh nghiệp ưu tiên

c1. Trách nhiệm của Hải quan

 Cục Kiểm tra sau thông quan là đơn vị chuyên trách giúp Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về hải quan sau đây:

– Tham mưu xây dựng và hoàn chỉnh chế độ ưu tiên đối với doanh nghiệp ưu tiên ;

–  Chủ trì thẩm định, tổ chức lấy ý kiến các đơn vị, cơ quan liên quan;

–  Thực hiện chế độ khảo sát định kỳ hàng năm để đánh giá việc duy trì các điều kiện của doanh nghiệp ưu tiên;

– Là đầu mối tham mưu xử lý các vấn đề phát sinh; tham mưu hợp tác quốc tế về doanh nghiệp ưu tiên;

– Có trách nhiệm phân công, thông báo tới doanh nghiệp ưu tiên danh sách  công chức hải quan chuyên quản quản lý doanh nghiệp ưu tiên; Thường xuyên theo dõi, thu thập, phân tích tình hình hoạt động, số liệu hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp để giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực tuân thủ pháp luật, phát hiện sớm các sai sót để kịp thời khắc phục. Trường hợp phát hiện doanh nghiệp có sai sót hoặc phát hiện vấn đề cần được làm rõ thì thông báo cho doanh nghiệp biết để tự kiểm tra lại:

+ Nếu doanh nghiệp công nhận phát hiện của cơ quan hải quan là đúng thì yêu cầu doanh nghiệp tự khắc phục (như khai bổ sung; bổ sung chứng từ; nộp thuế bổ sung);

+ Nếu doanh nghiệp chưa thống nhất với thông báo của cơ quan hải quan thì doanh nghiệp có văn bản (kèm chứng từ, tài liệu chứng minh) giải trình.

–  Sẵn sàng đáp ứng, giải thích các yêu cầu của doanh nghiệp về chính sách, pháp luật hải quan, pháp luật thuế;

– Đào tạo kiến thức về doanh nghiệp ưu tiên cho Cục Hải quan tỉnh, thành phố và đầu mối của các doanh nghiệp được công nhận là doanh nghiệp ưu tiên.

 Tại Cục Hải quan tỉnh, thành phố, tùy số lượng doanh nghiệp ưu tiên trên địa bàn để phân công một nhóm công chức thực hiện những nhiệm vụ sau đây:

 – Hướng dẫn doanh nghiệp lập hồ sơ đề nghị công nhận doanh nghiệp ưu tiên;

–  Tổ chức kiểm tra thực tế các điều kiện của doanh nghiệp theo yêu cầu của Tổng cục Hải quan (Cục Kiểm tra sau thông quan);

– Lập báo cáo đánh giá về doanh nghiệp;

– Thường xuyên theo dõi hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp duy trì các điều kiện và kịp thời phát hiện, khắc phục các sai sót. Định kỳ báo cáo kết quả theo dõi doanh nghiệp về Tổng cục Hải quan;

– Phối hợp với doanh nghiệp xử lý các vấn đề phát sinh trong phạm vi địa bàn do Cục Hải quan tỉnh, thành phố quản lý.

c2. Trách nhiệm của doanh nghiệp ưu tiên

Khi được công nhận là doanh nghiệp ưu tiên, các doanh nghiệp phải có trách nhiệm với Hải quan và với chính doanh nghiệp, cụ thể như sau:

– Tuân thủ tốt pháp luật;

– Thành lập một bộ phận hoặc chỉ định người chuyên trách về thực hiện chế độ ưu tiên. Bộ phận này có nhiệm vụ: là đầu mối trao đổi, cung cấp thông tin, phối hợp với bộ phận chuyên trách doanh nghiệp ưu tiên của cơ quan hải quan; thực hiện chế độ báo cáo; điều phối mọi hoạt động của doanh nghiệp theo chế độ ưu tiên.

– Xây dựng và thực hiện chế độ thường xuyên tự kiểm tra và báo cáo kết quả hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu với Tổng cục Hải quan. Định kỳ cung cấp tình hình, số liệu về hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu cho cơ quan hải quan:

+  Định kỳ hàng quý, doanh nghiệp cung cấp cho Tổng cục Hải quan tình hình, số liệu hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của quý trước theo mẫu 09a/DNUT, 09b/DNUT ban hành kèm theo Thông tư 86/2013/TT-BTC;

+ Cách thức cung cấp: Qua mạng vi tính được kết nối giữa Tổng cục Hải quan và doanh nghiệp.

–  Xây dựng, thông báo bằng văn bản cho cơ quan hải quan thông tin về bộ phận/ Người đảm nhiệm vai trò đầu mối liên lạc chuyên trách của doanh nghiệp.

–  Chịu trách nhiệm thực hiện chế độ trao đổi thông tin thường xuyên với cơ quan hải quan. Sẵn sàng phối hợp, làm rõ các nghi vấn theo yêu cầu của cơ quan hải quan hoặc công chức hải quan chuyên trách quản lý doanh nghiệp.

– Thường xuyên thực hiện việc tự kiểm tra, phát hiện, khắc phục sai sót. Trường hợp phát sinh mặt hàng xuất khẩu, nhập khẩu mới chưa được hai bên thống nhất mã số thì doanh nghiệp đề xuất mã số mặt hàng, thông báo cho Cục Hải quan tỉnh, thành phố nơi doanh nghiệp có trụ sở chính xem xét, thống nhất.

– Hợp tác tốt với cơ quan hải quan khi cơ quan hải quan kiểm tra. Khi được cơ quan hải quan thông báo những sai sót hoặc những vấn đề chưa rõ trong hồ sơ hải quan, doanh nghiệp có trách nhiệm kiểm tra lại, trả lời, giải trình đầy đủ, kịp thời những vấn đề cơ quan hải quan thông báo.

– Trong trường hợp cơ quan hải quan thực hiện kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp đề nghị cơ quan hải quan đến làm việc về những vấn đề chưa rõ, doanh nghiệp có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi, hợp tác đầy đủ với đoàn kiểm tra; những vấn đề có ý kiến khác nhau thì cùng tìm phương án giải quyết phù hợp quy định của pháp luật.

– Trước khi thực hiện chế độ ưu tiên, doanh nghiệp ưu tiên có trách nhiệm thông báo cho Tổng cục Hải quan, Chi cục hải quan nơi làm thủ tục cho hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp về đại lý làm thủ tục hải quan cho hàng hóa xuất nhập khẩu của doanh nghiệp và cam kết về sự tuân thủ pháp luật của đại lý. Trường hợp thay đổi đại lý làm thủ tục hải quan thì cần phải thông báo cho cơ quan hải quan nói trên biết. Doanh nghiệp ưu tiên phải thường xuyên kiểm tra việc tuân thủ pháp luật của đại lý làm thủ tục hải quan để phát hiện sai sót (nếu có) và thông báo ngay cho cơ quan hải quan.

12.2.2.2. Các hoạt động công nhận doanh nghiệp ưu tiên

a. Thẩm quyền công nhận, gia hạn, tạm đình chỉ, đình chỉ áp dụng chế độ ưu tiên

– Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan có thẩm quyền quyết định việc công nhận, gia hạn, tạm đình chỉ, đình chỉ áp dụng chế độ ưu tiên.

– Cục Kiểm tra sau thông quan chủ trì, giúp Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan trong việc thẩm định điều kiện, công nhận, gia hạn, tạm đình chỉ, đình chỉ và quản lý doanh nghiệp ưu tiên.

– Các đơn vị thuộc Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan tỉnh, thành phố có trách nhiệm phối hợp, cung cấp thông tin, nhận xét, đánh giá về quá trình chấp hành pháp luật, tình hình hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp.

b. Hồ sơ đề nghị công nhận doanh nghiệp ưu tiên

– Tổng cục Hải quan (Cục Kiểm tra sau thông quan) là đơn vị tiếp nhận hồ sơ đề nghị công nhận doanh nghiệp ưu tiên.

– Hồ sơ gồm đề nghị công nhận doanh nghiệp ưu tiên gồm:

+ Văn bản đề nghị: 01 bản chính (theo mẫu 01/DNUT ban hành kèm theo Thông tư 86/2013/TT-BTC) trong đó doanh nghiệp tự xác định, đề nghị loại doanh nghiệp ưu tiên;

+ Báo cáo tình hình, thống kê số liệu xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp trong 02 năm gần nhất: 01 bản chính;

Thời gian thống kê là trọn năm, từ ngày 01/01 đến 31/12 của năm. Đối với năm đang thực hiện: nếu mới thực hiện được từ 6 tháng trở xuống thì lấy số liệu của 2 năm trở về trước; nếu đã thực hiện trên 6 tháng thì lấy số liệu các tháng đã thực hiện và dự tính số liệu cả năm (theo mẫu 02 /DNUT ban hành kèm theo Thông tư 86/2013/TT-BTC).

+ Báo cáo chấp hành pháp luật 02 năm gần nhất (nếu bị xử lý vi phạm thì nêu rõ số lần, hành vi, hình thức xử phạt, mức xử phạt, cấp xử phạt, tình hình chấp hành quyết định xử phạt) (bản chính);

+ Báo cáo tài chính đã được kiểm toán 02 năm gần nhất: Nộp 01 bản sao có xác nhận của doanh nghiệp;

 + Bản kết luận kiểm toán và thanh tra (nếu có) gần nhất (không quá 01 năm): Nộp 01 bản sao có xác nhận của doanh nghiệp, xuất trình bản chính;

+ Bản tự phân tích, đánh giá hoạt động kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp;

+ Bản tự đánh giá về hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp; quy trình tác nghiệp nội bộ, trong đó mô tả đầy đủ quy trình tác nghiệp nghiệp vụ của tất cả các bộ phận liên quan trong chuỗi cung ứng (như bộ phận liên quan tới thủ tục xuất nhập khẩu: logistic, kế toán, mua hàng, bán hàng, quản lý chất lượng sản phẩm);

+ Các giấy tờ khác mà doanh nghiệp thấy cần thiết cung cấp cho cơ quan hải quan, hỗ trợ cơ quan hải quan trong quá trình thẩm định (như các giấy chứng nhận khen thưởng, chứng nhận quốc tế và quốc gia, các tiêu chuẩn quản lý áp dụng…).

c. Thẩm định điều kiện doanh nghiệp ưu tiên

(i) Đối tượng thẩm định: Là doanh nghiệp và các chi nhánh, công ty con hạch toán phụ thuộc.

(ii) Hình thức thẩm định bao gồm thẩm định hồ sơ và thẩm định thực tế

–  Thẩm định hồ sơ được thực hiện:

+ Trên cơ sở hồ sơ doanh nghiệp cung cấp, tra cứu cơ sở dữ liệu và các nguồn thông tin khác về quá trình chấp hành pháp luật hải quan và kim ngạch xuất nhập khẩu của doanh nghiệp.

+ Ý kiến đánh giá, nhận xét của các cơ quan liên quan bao gồm:

 Cơ quan đánh giá việc tuân thủ pháp luật hải quan (bao gồm cả việc chấp hành pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu) là Cục Hải quan tỉnh, thành phố nơi doanh nghiệp có trụ sở chính, nơi doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu và các đơn vị trực thuộc Tổng cục Hải quan.

 Cơ quan thẩm định mã số hàng hoá xuất nhập khẩu là Cục Hải quan tỉnh, thành phố nơi doanh nghiệp có trụ sở chính. Mã số các mặt hàng doanh nghiệp đã xuất khẩu, nhập khẩu (trừ mặt hàng nhập khẩu theo loại hình không thuộc diện chịu thuế như nhập chế xuất, xuất chế xuất) đã được doanh nghiệp và Cục Hải quan tỉnh, thành phố thẩm định, thống nhất là căn cứ đưa vào Bản ghi nhớ để doanh nghiệp sử dụng khai hải quan khi làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu trên phạm vi toàn quốc.

 Cơ quan xác nhận việc tuân thủ pháp luật về thuế nội địa và thực hiện thủ tục thuế điện tử là cơ quan thuế nơi doanh nghiệp đăng ký, thực hiện nghĩa vụ nộp các khoản thuế nội địa.

 Các cơ quan đánh giá sự tuân thủ pháp luật theo đúng chức năng, thẩm quyền của mình. Trong thời gian 10 (mười) ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Tổng cục Hải quan, các cơ quan có trách nhiệm trả lời bằng văn bản.

Trường hợp hồ sơ không đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định như trên thì Tổng cục Hải quan có văn bản trả lời doanh nghiệp.

– Thẩm định thực tế: Việc thẩm định thực tế do Cục Kiểm tra sau thông quan trực tiếp thực hiện hoặc phối hợp với Cục Hải quan tỉnh, thành phố nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính thực hiện.

Việc thẩm định thực tế thực hiện sau khi kết quả thẩm định hồ sơ doanh nghiệp đáp ứng điều kiện quy định hoặc tiến hành đồng thời với quá trình thẩm định hồ sơ, nội dung gồm:

+ Đánh giá sự tuân thủ pháp luật hải quan, pháp luật thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp;

+ Đánh giá khả năng kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp;

+ Kiểm tra hạ tầng kỹ thuật ứng dụng công nghệ thông tin của doanh nghiệp để đáp ứng yêu cầu kết nối, trao đổi dữ liệu điện tử giữa doanh nghiệp và cơ quan hải quan, cơ quan thuế.

(iii) Xử lý kết quả thẩm định:

Căn cứ kết quả thẩm định; ý kiến đánh giá của các đơn vị, cơ quan trong, ngoài ngành; các kết luận kiểm toán và thanh tra (nếu có); các thông tin khác thu thập được; đối chiếu với các điều kiện doanh nghiệp ưu tiên quy định, Cục Kiểm tra sau thông quan lập báo cáo đánh giá, trình Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan xem xét, quyết định.

Thời gian xem xét công nhận doanh nghiệp ưu tiên không quá 45 (bốn mươi lăm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ. Đối với các trường hợp phức tạp, doanh nghiệp lớn thì có thể gia hạn một lần nhưng không quá 30 (ba mươi) ngày làm việc. Trường hợp doanh nghiệp được đánh giá là không đáp ứng điều kiện doanh nghiệp ưu tiên thì Tổng cục Hải quan có văn bản thông báo cho doanh nghiệp biết.

d. Lập bản ghi nhớ

–  Trường hợp doanh nghiệp được đánh giá là đáp ứng các điều kiện doanh nghiệp ưu tiên, được Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan chấp thuận thì Cục Kiểm tra sau thông quan và doanh nghiệp tiến hành lập bản ghi nhớ (mẫu 03/DNUT Thông tư 86/2013/TT-BTC) trình Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan ký bản ghi nhớ (MOU).

– Bản ghi nhớ ngoài các nội dung khác tùy theo đặc điểm, tình hình hoạt động của từng doanh nghiệp, phải bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

+ Tên, địa chỉ, điện thoại, fax, e-mail của doanh nghiệp;

+ Loại doanh nghiệp ưu tiên;

+ Trách nhiệm của doanh nghiệp;

+ Trách nhiệm của Tổng cục Hải quan;

+ Thống nhất về xác định mã số các mặt hàng doanh nghiệp đã xuất khẩu, nhập khẩu (trừ mặt hàng nhập khẩu theo loại hình không thuộc diện chịu thuế như nhập chế xuất, xuất chế xuất).

e. Quyết định công nhận doanh nghiệp ưu tiên

 Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan là Người ký quyết định công nhận doanh nghiệp ưu tiên;

 Thời hạn ban hành quyết định công nhận doanh nghiệp ưu tiên không quá 15 (mười lăm) ngày làm việc, kể từ ngày hoàn thành việc thẩm định.

f. Đánh giá lại, gia hạn

– Thời hạn doanh nghiệp được hưởng chế độ ưu tiên lần đầu là 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan ký Quyết định áp dụng chế độ ưu tiên đối với doanh nghiệp. Sau thời hạn này, Tổng cục Hải quan thực hiện đánh giá lại, nếu doanh nghiệp vẫn đáp ứng các điều kiện quy định thì được gia hạn áp dụng chế độ ưu tiên.

 Trước 60 (sáu mươi) ngày tính đến ngày hết hiệu lực của Quyết định công nhận doanh nghiệp ưu tiên, Tổng cục Hải quan có trách nhiệm thông báo để doanh nghiệp có đơn đề nghị gia hạn chế độ ưu tiên.

– Thủ tục đánh giá lại để gia hạn công nhận doanh nghiệp ưu tiên:

+ Thẩm định hồ sơ như quy định trên;

+ Thẩm định thực tế được thực hiện theo nguyên tắc quản lý rủi ro.

Thời gian xem xét, đánh giá lại không quá 30 (ba mươi) ngày làm việc. Trường hợp đến ngày hết hiệu lực của Quyết định công nhận doanh nghiệp ưu tiên mà thủ tục đánh giá lại, công nhận lại chưa hoàn thành thì doanh nghiệp vẫn được áp dụng đầy đủ mọi chế độ ưu tiên.

– Nếu kết quả đánh giá lại doanh nghiệp vẫn đáp ứng điều kiện quy định thì Tổng cục Hải quan căn cứ vào mức độ tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp, ban hành quyết định gia hạn áp dụng chế độ ưu tiên đối với doanh nghiệp trong thời hạn từ 36 (ba mươi sáu) đến 60 (sáu mươi) tháng tiếp theo theo mẫu 05/DNUT ban hành kèm theo Thông tư 86/2013/TT-BTC):

+ Áp dụng 60 (sáu mươi) tháng đối với các doanh nghiệp không có vi phạm bị xử lý hoặc có 01 (một) vi phạm trong mỗi lĩnh vực thuế, hải quan và bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền không vượt quá thẩm quyền của Chi cục trưởng;

+ Áp dụng 36 (ba mươi sáu) tháng đối với các doanh nghiệp ưu tiên có nhiều hơn 01 vi phạm trong mỗi lĩnh vực thuế, hải quan và bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền mỗi lần không vượt quá thẩm quyền của Chi cục trưởng, nhưng vẫn đáp ứng được điều kiện tuân thủ pháp luật theo quy định về doanh nghiệp ưu tiên.

g. Tạm đình chỉ áp dụng chế độ ưu tiên

 Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan xem xét ra quyết định tạm đình chỉ chế độ ưu tiên khi xác định doanh nghiệp có một trong các vi phạm sau đây:

– Doanh nghiệp vi phạm một trong các quy định về điều kiện tuân thủ pháp luật nêu trên.

– Doanh nghiệp không đáp ứng quy định về độ tin cậy.

 Thời gian tạm đình chỉ từ 60 (sáu mươi) đến 180 (một trăm tám mươi) ngày. Trong trường hợp có lý do chính đáng (do nguyên nhân khách quan), hết thời hạn trên mà doanh nghiệp vẫn chưa khắc phục xong sai sót thì được gia hạn thời hạn tạm đình chỉ một lần nhưng không quá 60 (sáu mươi) ngày.

Trên cơ sở báo cáo đánh giá vi phạm của Cục hải quan tỉnh, thành phố liên quan, báo cáo làm rõ của doanh nghiệp (nêu rõ biện pháp cải tiến, cách thức thực hiện các khuyến nghị của cơ quan hải quan), nếu doanh nghiệp vẫn đáp ứng đầy đủ các điều kiện doanh nghiệp ưu tiên hoặc sau khi các cơ quan chức năng liên quan đánh giá hành vi vi phạm của doanh nghiệp vẫn đáp ứng điều kiện tuân thủ pháp luật theo quy định về điều kiện tuân thủ pháp luật, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan xem xét quyết định huỷ Quyết định tạm đình chỉ.

 Các đơn vị thuộc và trực thuộc Tổng cục Hải quan nếu phát hiện doanh nghiệp có vi phạm thì báo cáo Tổng cục Hải quan (Cục Kiểm tra sau thông quan) để xem xét, quyết định tạm đình chỉ áp dụng chế độ ưu tiên.

h. Đình chỉ áp dụng chế độ ưu tiên

 Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan xem xét ra quyết định đình chỉ chế độ ưu tiên trong các trường hợp sau đây:

 – Doanh nghiệp không còn đáp ứng các điều kiện về doanh nghiệp ưu tiên theo quy định;

– Doanh nghiệp không khắc phục được các sai sót, vi phạm đã được cơ quan hải quan thông báo; hết thời hạn tạm đình chỉ áp dụng chế độ ưu tiên mà doanh nghiệp không khắc phục được sai sót, khiếm khuyết.

– Doanh nghiệp xin rút khỏi chế độ ưu tiên; hoặc hết thời hạn công nhận mà doanh nghiệp không đề nghị công nhận doanh nghiệp ưu tiên.

 Trường hợp doanh nghiệp đã bị đình chỉ chế độ ưu tiên, trong 02 năm tiếp theo không được Tổng cục Hải quan tiếp nhận hồ sơ đề nghị xét công nhận.

12.2.2.3. Về thực hiện công nhận các doanh nghiệp ưu tiên trong thời gian từ 2011 đến tháng 12/2013

a. Đánh giá của Hải quan

Với chương trình AEO được thực hiện sau hai năm qua, phần nào đáp ứng được mong muốn của cả cơ quan nhà nước và doanh nghiệp. Cụ thể là:

Đối với Chính Phủ và cơ quan Hải quan đã đạt được một số kết quả sau:

Cải thiện nguồn thu từ thuế

Với cơ chế thuận lợi của chương trình AEO, doanh nghiệp sẽ giảm được chi phí, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, nhờ đó mà phát triển kinh doanh, kinh doanh có hiệu quả, kéo theo sự phát triển của các doanh nghiệp liên quan; cơ chế AEO cũng sẽ tăng cường sự tuân thủ pháp luật (nhất là về thuế) của doanh nghiệp. Kinh doanh phát triển, tuân thủ tốt hơn sẽ tạo thêm nguồn thu, hạn chế thất thu, góp phần cải thiện nguồn thu từ thuế cho ngân sách, số thuế thu được từ các doanh nghiệp này đã cao hơn so với năm trước. Ví dụ Công ty Brather Việt Nam ,Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của công ty năm 2011 đã tăng 1.64 lần so với năm 2010 và kim ngạch xuất nhập khẩu  năm 2012 tăng 1.18 lần so với năm 2011. Năm 2012 kim ngạch xuất nhập khẩu của Brather Việt Nam đạt 851,344,824.38 USD.

Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

 Thủ tục thuận lợi, chi phí thấp sẽ góp phần tạo môi trường đầu tư hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Các doanh nghiệp được công nhận là doanh nghiệp ưu tiên đều có xu hướng mở rộng sản xuất. Có thể lấy một số ví dụ sau:

– Brather Viet Nam, nhận được sự cho phép của các cơ quan quản lý ngày 01/04/2012 đã chính thức mua lại toàn bộ tài sản của công ty trách nhiệm hữu hạn Sansei Việtnam cùng nằm trong Khu công nghiệp Phúc Điền. Doanh nghiệp đã tiến hành đầu tư mua mới cũng như sửa chữa máy móc, trang thiết bị để đưa nhà máy vào sản xuất và hiện được gọi là nhà máy số 5 với chức năng chuyên sản xuất các linh kiện bằng nhựa phục vụ cho việc lắp ráp máy in, máy fax cũng nhưng linh phụ kiện của mặt hàng này.

–      Canon Vietnam không ngừng phát triển, doanh thu của công ty tăng từ 20 triệu USD năm 2002 lên 1,85 tỉ USD năm 2012. Trung bình hằng năm, công ty Canon đã đóng góp khoảng 2% vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước Việt Nam và luôn luôn giữ vững danh hiệu “Doanh nghiệp xuất khẩu uy tín” do Bộ Công Thương trao tặng.

 Quản lý có hiệu quả hơn các hoạt động xuất nhập khẩu qua biên giới

 Khi triển khai đầy đủ chương trình thì hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp ưu tiên trở nên an toàn hơn, tin cậy hơn đối với an ninh biên giới, an ninh quốc gia. Mặc dù số lượng doanh nghiệp ưu tiên ít, nhưng kim ngạch và số lượng hàng hoá xuất nhập khẩu của nhóm doanh nghiệp này rất lớn. Như vậy chúng ta có thể chú trọng phân bổ nguồn lực để kiểm soát hoạt động xuất nhập hàng hoá của các doanh nghiệp bình thường góp phần đảm bảo hiệu quả trong quản lý nhà nước về hải quan nói riêng, an ninh biên giới nói chung.

Doanh nghiệp đã được các lợi ích cơ bản sau:

– Giảm chi phí do giảm đáng kể thời gian thông quan hàng hoá xuất nhập khẩu;

– Để được công nhận là AEO thì doanh nghiệp cải thiện được hoạt động nội bộ công ty;

– Khi được công nhận là doanh nghiệp AEO, doanh nghiệp sẽ củng cố được uy tín và danh tiếng trên thương trường.

Các ưu đãi cho doanh nghiệp ưu tiên đã được triển khai theo quy định, gồm:  Miễn kiểm tra hồ sơ, hàng hoá 100%; được hoàn thuế trước, kiểm tra hồ sơ sau; được ưu tiên giải quyết nhanh các vướng mắc, đề nghị; Không thực hiện kiểm tra sau thông quan tại trụ sở doanh nghiệp trong thời hạn theo quy định v.v.

Mặc dù vậy với những nguyên nhân chủ quan và khách quan có một số chi cục hải quan vẫn chưa triển khai tốt cơ chế ưu tiên cho doanh nghiệp AEO.

b. Đánh giá của Doanh nghiệp

Theo dõi các báo cáo và tìm hiểu các doanh nghiệp đã được công nhận là doanh nghiệp ưu tiên thì lợi ích thu được là rõ rệt. Các doanh nghiệp đánh giá chương trình doanh nghiệp ưu tiên là thiết thực, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển kinh doanh, được thể hiện trên các mặt sau:

Thứ nhất, giảm thời gian thông quan hàng hoá từ khoảng 2 giờ xuống còn khoảng 10 phút. Tuy nhiên, khoảng thời gian 10 phút như trên thực chất được tính từ khi cơ quan hải quan cấp số tờ khai đến khi lô hàng được thông quan, chưa bao gồm thời gian từ lúc doanh nghiệp truyền số liệu và có số tiếp nhận tờ khai (thực chất thì khoảng thời gian này vẫn chưa giảm so với bình thường).

Thứ hai, các doanh nghiệp giảm lượng kinh phí đáng kể để chi phí phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu, cụ thể:

 Công ty Canon tiết kiệm được 213 USD/ tháng cho hoạt động xuất nhập khẩu, tương đương 2556 USD/ năm;

Công ty Sumidenso giảm 1.850 USD/ tháng, tương đương 22.200 USD/ năm (Chi phí này được tính dựa trên giảm chi phí kiểm hoá ngoài giờ 50 USD/ 1 container hoặc 1 lô hàng)…

Thứ ba, các lợi ích khác mà các doanh nghiệp ưu tiên, cũng như các đối tác của doanh nghiệp ưu tiên nhận được, cụ thể như:

– Công ty Canon Inc Headquarter tại Nhật Bản được miễn kiểm 100% các lô hàng nhập khẩu từ Canon Việt Nam;

– Hoạt động xuất nhập khẩu được thuận tiện, đảm bảo cung cấp vật tư nhập khẩu kịp thời và đúng kế hoạch: Công ty Lọc hoá dầu Bình Sơn đáp ứng được nhu cầu cấp bách, chính xác của quá trình bảo dưỡng nhà máy.

– Chương trình doanh nghiệp ưu tiên tạo điều kiện cho công ty mở rộng quy mô hoạt động bởi vì công ty tạo được uy tín cho các cơ quan và đối tác liên quan khác về hiệu quả hoạt động kinh doanh và chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật, tỷ lệ giao hàng kịp thời cho khách hàng tăng từ 80% lên đến 95% (Công ty Brother);

– Công tác tuyển dụng nhân sự cung cấp cho công ty được thuận lợi hơn vì hoạt động của công ty mang lại quyền lợi đảm bảo cho nhân viên, tạo uy tín với đối tác và các nhà cung cấp (Công ty Sumidenso);

– Việc được công nhận là doanh nghiệp ưu tiên đã tạo uy tín lớn đối với các tổ chức tín dụng, các ngân hàng thương mại;

– Tổng công ty lương thực miền nam và Công ty cổ phần tập đoàn thuỷ sản Minh Phú từ khi được công nhận là doanh nghiệp ưu tiên đã giúp cho tạo được danh tiếng và uy tín với các đối tác trong và ngoài nước.

 Mặc dù các doanh nghiệp bước đầu có được các lợi ích như trên, nhưng một số doanh nghiệp vẫn chưa hiểu, nắm bắt được chương trình doanh nghiệp ưu tiên, chưa quán triệt đến từng cán bộ, nhân viên trong công ty. 100% lãnh đạo cũng như đầu mối liên hệ của các doanh nghiệp ưu tiên chưa được Tổng cục Hải quan đào tạo về các quy định tuân thủ pháp luật, do vậy, tính tuân thủ trong thực tế hoạt động xuất nhập khẩu vẫn chưa được cải thiện rõ rệt. Các sai phạm về thủ tục hải quan vẫn còn xảy ra, dẫn đến ảnh hưởng đến thời gian thông quan cũng như làm phát sinh thêm chi phí. Các khuyến nghị của cơ quan hải quan vẫn chưa được triển khai hoặc triển khai chậm.

Hầu hết các doanh nghiệp đều chỉ định đầu mối liên lạc với cơ quan hải quan chỉ là cấp nhân viên hoặc cấp phòng, làm việc theo cơ chế kiêm nhiệm, do vậy khả năng điều phối chung trong nội bộ công ty còn rất hạn chế không đảm đương được trách nhiệm điều phối của mình.

c. Đánh giá của các cơ quan liên quan

Việc tạo thông thoáng cho hoạt động thương mại quốc tế của các doanh nghiệp ưu tiên làm cho một số cơ quan kiểm soát bị động. Chẳng hạn như: Các cơ quan Quản lý thị trường và Sở kế hoạch đầu tư do đặc thù về chức năng, cách thức hoạt động, không theo sát được tình hình hoạt động của doanh nghiệp ưu tiên.

Cơ quan thuế nội địa là đơn vị quản lý địa bàn, thường xuyên làm việc nên có khả năng nắm sát thực tế hoạt động của doanh nghiệp và việc thu thuế được tốt hơn. Việc phối hợp giữa cơ quan hải quan và cơ quan thuế trong quản lý doanh nghiệp ưu tiên rất hiệu quả. Tuy nhiên, thông tư 63 không đề cập cơ chế trao đổi thông tin thường xuyên, phối hợp hoạt động nhằm quản lý doanh nghiệp tốt hơn.

12.2.3. Những bất cập và nguyên nhân hạn chế

12.2.3.1. Về căn cứ pháp lý

Căn cứ pháp lý chỉ ở mức độ Thông tư. Khi xây dựng Thông tư, do thời gian gấp nên các quy định tại thông tư này tồn tại nhiều khác biệt, không đồng bộ so với các quy định tại hệ thống pháp luật hải quan, pháp luật thuế hiện hành. Do vậy trong thực tế nhiều quy định không triển khai được. Cụ thể:

(i) Điều 8 của Thông tư 63 – Điều kiện về chế độ kế toán minh bạch

Cách sử dụng khái niệm như Thông tư 63/2011/TT-BTC về điều kiện chế độ kế toán minh bạch là không chính xác, không phù hợp với Luật Kế toán – Luật quản lý chuyên ngành.

Theo khuyến cáo của WCO tại FOs, một trong những điều kiện để trở thành doanh nghiệp AEO là doanh nghiệp phải chứng minh tính bền vững của cơ sở kinh doanh, chứng minh các hệ thống đảm bảo chất lượng hiện có. Tiêu chuẩn này được cụ thể thành nguyên tắc doanh nghiệp phải đảm bảo có hệ thống tài chính trong sáng, minh bạch, có khả năng thanh toán theo các chuẩn mực kế toán được công nhận theo hệ thống chuẩn quốc gia và quốc tế.

(ii) Quy định về điều kiện kim ngạch của doanh nghiệp xuất khẩu

 Thông tư 63/2011/TT-BTC và Thông tư 105/2011/TT-BTC có quy định mức kim ngạch tối thiểu đối với doanh nghiệp ưu tiên xuất khẩu thuần tuý rất lớn (70 triệu USD/Năm). Điều này là một thiệt thòi cho những doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam, nhất là khi Việt Nam tiến tới ký Bản ghi nhớ về công nhận lẫn nhau (MRA) với hải quan các nước khác. Kinh nghiệm thế giới (Nhật bản, Hàn quốc, Trung quốc) cho thấy người ta không quan tâm nhiều tới tiêu chí kim ngạch mà quan tâm tới vấn đề an ninh an toàn hàng hoá.

(iii) Về thời gian, quy trình xét, thẩm định điều kiện DNUT

Tại khoản 5 Điều 12 – Thông tư 63 quy định thời gian thẩm định không quá 45 ngày kể từ ngày Tổng cục Hải quan nhận được hồ sơ đề nghị của doanh nghiệp. Thực tế thời gian thẩm định đối với 14 doanh nghiệp vừa qua cho thấy thời gian 45 ngày là hoàn toàn không đảm bảo chất lượng công việc.

(iv) Cách thức thẩm định của cơ quan hải quan

Điểm 2.1 Điều 12 – Thẩm định điều kiện doanh nghiệp ưu tiên có nêu hình thức thẩm định là: Kiểm tra sau thông quan tại doanh nghiệp hoặc nghiên cứu kết luận của kiểm toán hoặc thanh tra gần nhất, nếu đã đủ để đánh giá việc tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp thì sử dụng kết luận đó thay cho việc kiểm tra sau thông quan tại doanh nghiệp.

Trong Quy chế về kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân ban hành kèm theo Nghị định số 07/CP của Chính phủ ngày 29/1/1994 có nêu: “Kiểm toán độc lập là việc kiểm tra và xác nhận của kiểm toán viên chuyên nghiệp thuộc các tổ chức kiểm toán độc lập về tính đúng đắn, hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo quyết toán của các doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức đoàn thể, tổ chức xã hội (gọi tắt là các đơn vị kế toán) khi có yêu cầu của đơn vị này. Mục đích của kiểm toán là xác nhận mức độ tin cậy của thông tin trình bày trong báo cáo tài chính và các hồ sơ về tài chính kế toán. Do đó các báo cáo kiểm toán là các báo cáo của kiểm toán viên về độ tin cậy của thông tin trình bày trong báo cáo tài chính và các hồ sơ về tài chính kế toán. Việc sử dụng kết luận của cơ quan kiểm toán thay cho việc kiểm tra sau thông quan tại doanh nghiệp hoàn toàn không có cơ sở pháp lý, không tương thích do mục đích của việc kiểm toán khác với mục đích của việc kiểm tra sau thông quan tại doanh nghiệp.

(v) Về việc thẩm định mã số các mặt hàng doanh nghiệp đã xuất khẩu, nhập khẩu

Điểm 4 Điều 12 Thông tư 63/2011/TT-BTC quy định: Mã số hàng hoá đã được hai bên thống nhất là căn cứ để doanh nghiệp khai báo hải quan khi làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu. Nếu sau này phát hiện mã số đã thống nhất không đúng thì Tổng cục Hải quan báo cáo Bộ Tài chính điều chỉnh để áp dụng cho các lô hàng sau phù hợp với mã số HS. Quy định như vậy là không khả thi bởi Hội đồng thẩm định doanh nghiệp ưu tiên không có khả năng thẩm định mã số HS.

(vi) Về quản lý doanh nghiệp ưu tiên

Thông tư 86/2013/TT-BTC quy định rõ đầu mối quản lý doanh nghiệp AEO là Cục Kiểm tra sau thông quan;

Điểm 2 Điều 23 quy định trách nhiệm của doanh nghiệp AEO định kỳ hàng quý báo cáo qua Email tình hình xuất nhập khẩu; sẵn sàng làm rõ những vấn đề liên quan đến hàng hoá xuất nhập khẩu khi có yêu cầu của cơ quan hải quan.

Quy định như vậy là chưa cụ thể, rõ ràng, chưa phân cấp được trách nhiệm của cơ quan hải quan quản lý địa bàn của doanh nghiệp.

(vii) Về đầu mối liên lạc phía doanh nghiệp AEO

Thông tư 86/2013/TT-BTC và Thông tư 133/2013/TT-BTC chưa có điều khoản quy định cụ thể đầu mối liên lạc phía doanh nghiệp mà chỉ có ở biểu mẫu của Bản ghi nhớ.

(viii) Chưa phân loại DN AEO theo cấp độ khác nhau

Việc xếp đồng hạng các doanh nghiệp AEO đã triệt tiêu động lực tự hoàn thiện, tự cải tiến của doanh nghiệp, mặt khác tạo nên sự bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp này.

(ix) Thông tư 86/2013/TT-BTC và Thông tư 133/2013/TT-BTC chưa đề cập tới yêu cầu về an ninh an toàn hàng hoá

Trong tình hình kinh tế, chính trị, xã hội hiện nay, Chương trình AEO của Việt Nam mới chỉ đề cập tới vấn đề tạo thuận lợi cho việc thông quan nhanh chóng hàng hoá xuất nhập khẩu mà chưa đề cập tới vấn đề an ninh an toàn hàng hoá.

12.2.3.2. Về tổ chức thực hiện

Về hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin chưa đáp ứng được yêu cầu (kết nối giữa DNUT và hải quan, đường truyền, nhận dạng DNUT để xử lý tự động…).

Nhiều trường hợp hệ thống dữ liệu của cơ quan hải quan gặp sự cố hoặc tạm dừng hoạt động, thì việc thông quan của các doanh nghiệp gặp khó khăn.

Công tác tuyên truyền về phát triển doanh nghiệp ưu tiên chưa thực sự đi vào các doanh nghiệp, những lợi ích mà chế độ ưu tiên mang lại cho doanh nghiệp chưa đủ để thu hút sự quan tâm của doanh nghiệp.

Việc xây dựng tổ chức bộ máy triển khai, quản lý doanh nghiệp ưu tiên  cũng chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế hiện nay. Đây là công việc lâu dài, quan trọng cần có bộ phận chuyên trách, không thể thực hiện tạm thời như hiện nay.

12.3. Bộ tiêu chí quản lý doanh nghiệp ưu tiên AEO

12.3.1. Yêu cầu, các nguyên tắc xây dựng và yêu cầu đối với hải quan Việt Nam khi triển khai chương trình doanh nghiệp ưu tiên (AEO)

12.3.1.1. Yêu cầu về xây dựng chương trình AEO

Việt Nam là thành viên của WTO và WCO, vì vậy là điều tất yếu Việt Nam phải thực hiện chương trình AEO theo khuyến nghị của WCO nhằm thực hiện các cam kết quốc tế và thực hiện hiện đại hoá Hải quan.

Ngày 25/3/2011 Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định số 448/QĐ-TTg về việc phê duyệt chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020.

 Trên cơ sở mục tiêu tổng quát trong chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020 là “Xây dựng Hải quan Việt Nam hiện đại, có cơ chế, chính sách đầy đủ, minh bạch, thủ tục hải quan đơn giản, hài hoà đạt chuẩn mực quốc tế, trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin, xử lý dữ liệu tập trung và áp dụng rộng rãi phương thức quản lý rủi ro, đạt trình độ tương đương với các nước tiên tiến trong khu vực Đông Nam Á. Xây dựng lực lượng Hải quan đạt trình độ chuyên nghiệp, chuyên sâu có trang thiết bị, kỹ thuật hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả góp phần tạo thuận lợi cho các hoạt động thương mại hợp pháp, phát triển du lịch, thu hút đầu tư nước ngoài, đảm bảo an ninh quốc gia, an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và nghĩa vụ hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.

Do đó, triển khai thực hiện chương trình AEO là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm cải cách, hiện đại hoá hải quan theo các mục tiêu đã được phê duyệt.

12.3.1.2. Các nguyên tắc xây dựng và yêu cầu đối với hải quan Việt Nam khi triển khai chương trình doanh nghiệp ưu tiên (AEO)

Khi triển khai chương trình AEO, cơ quan Hải quan cần tuân thủ một số nguyên tắc và các yêu cầu trong đó bao gồm việc tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế, được chỉ dẫn bằng các thông lệ tốt nhất do các tổ chức quốc tế thực hiện, xác định các ưu tiên về xuất nhập khẩu, tình hình quan hệ đối tác Hải quan và doanh nghiệp, mức độ liêm chính của cơ quan Hải quan cụ thể như sau:

Thứ nhất, có sự hỗ trợ từ cấp cao nhất của cơ quan Hải quan.

Thứ hai, cam kết tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế.

Thứ ba, Cam kết về tính chuyên nghiệp và hợp nhất.

Thứ tư, Quyết định của cơ quan Hải quan về chương trình AEO tập trung vào xuất khẩu hoặc nhập khẩu tuỳ thuộc vào từng quốc gia. Như đối với Việt Nam hiện nay đang tập trung vào các doanh nghiệp xuất khẩu vì cơ quan Hải quan có niềm tin và độ rủi ro khi xác lập chương trình AEO hướng vào xuất khẩu thấp.

Thứ năm, Tăng cường mối quan hệ đối tác Hải quan và doanh nghiệp.

12.3.1.3. Khung tiêu chuẩn quốc tế của WTO về doanh nghiệp ưu tiên

 Hiệp định SAFE quy định sáu tiêu chuẩn chung cho các chương trình AEO bao gồm

– Tiêu chuẩn 1- quan hệ đối tác: Các AEO tham gia chuỗi cung ứng thương mại quốc tế sẽ phải thực hiện quy trình tự đánh giá dựa trên các tiêu chuẩn và các thông lệ tốt nhất về an ninh đã được xác định trước để đảm bảo các chính sách và quy trình nội bộ mà doanh nghiệp có thể hạn chế được tình trạng tổn hại của các lô hàng và container cho đến khi chúng được cơ quan quản lý Hải quan kiểm tra xong tại điểm đến.

– Tiêu chuẩn – An ninh: Các AEO kết hợp các thông lệ an ninh tốt nhất được xác định cho từng chương trình vào các thực tiễn kinh doanh của họ.

– Tiêu chuẩn – Công nhận: Cơ quan quản lý Hải quan cùng với đại diện của cộng đồng thương mại sẽ thiết kế các quy trình thẩm định hoạc các thủ tục công nhận chất lượng để ưu đãi các doanh nghiệp AEO.

– Tiêu chuẩn 4- Công nghệ: Tất cả các bên duy trì tính nguyên vẹn của hàng hoá và container bằng cách sử dụng công nghệ hiện đại.

– Tiêu chuẩn 5 – Trao đổi thông tin: Cơ quan quản lý hải quan cần thường xuyên cập nhật tiêu chuẩn an ninh và thông lệ tốt nhất về an ninh chuỗi cung ứng được xác định trong chương trình AEO.

– Tiêu chuẩn 6- thuận lợi hoá: Cơ quan quản lý Hải quan sẽ phối hợp với các AEO để tối ưu  hoá an ninh và tạo điều kiện thuận lợi cho chuỗi cung ứng thương mại quốc tế xuất phát từ hoặc di chuyển qua lãnh thổ hải quan của mình.

12.3.2. Bộ tiêu chí công nhận và quản lý doanh nghiệp ưu tiên

Như đã trình bày ở trên, khái niệm về AEO của WCO bao gồm các nhà sản xuất, nhập khẩu, xuất khẩu, môi giới, vận chuyển, gom hàng, cảng biển, sân bay, khai thác nhà ga, nhân viên điều hành chung, nhà kho và nhà phân phối. Do đó, việc giới hạn một số loại doanh nghiệp được tham gia chương trình AEO như theo quy định tại Thông tư 63/2010/TT-BTC đã hạn chế khả năng của các doanh nghiệp tuân thủ tốt nhưng không đáp ứng yêu cầu về ngành hàng kinh doanh và kim ngạch xuất nhập khẩu.

Vì vậy, cần xây dựng bộ tiêu chí làm cơ sở xác định các doanh nghiệp ưu tiên (không giới hạn doanh nghiệp tham gia).

12.3.2.1. Tiêu chí chung về công ty

Tại chỉ tiêu này cơ quan Hải quan cần xem xét các khía cạnh sau đây:

– Thứ nhất là chủ sở hữu của doanh nghiệp (việc này xem xét đến số thành viên tham gia góp vốn của doanh nghiệp là đối tượng nào, có thành viên nào trong số các thành viên góp vốn đã từng tham gia vào các doanh nghiệp khác, hoạt động kinh tế khác). Có thành viên nào đã từng tham gia vào doanh nghiệp khác và đã bị phá sản.

– Thứ hai là số vốn điều lệ của công ty và loại hình của công ty: Việc xem xét này để đánh giá trách nhiệm của các thành viên góp vốn đối với các khoản nợ phát sinh của công ty.

– Thứ ba: Đánh giá lĩnh vực hoạt động của công ty như ngành nghề kinh doanh, ngành hàng chủ lực, đối tác thương mại và các hoạt động liên quan đến Hải quan để xác định lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp có thuộc lĩnh vực được xem xét và công nhận ưu tiên không.

– Thứ tư: Đánh giá thời gian tham gia vào thị trường (thời điểm thành lập công ty, thời điểm gia nhập ngành hàng và có hoạt động thương mại).

– Thứ năm: Sơ đồ tổ chức và bộ máy hoạt động của công ty. Xem xét về bộ phận liên quan hải quan: thuê đại lý hải quan hay tự doanh nghiệp thực hiện các hoạt động giao dịch trực tiếp với cơ quan Hải quan. Người chịu trách nhiệm trực tiếp khi giao dịch với hải quan.

12.3.2.2. Tiêu chí về sự tuân thủ pháp luật

Để tham gia chương trình AEO, danh nghiệp phải thể hiện quá trình tuân thủ trong một khoảng thời gian nhất định. Một vấn đề quan trọng mà cơ quan Hải quan phải xác định và làm rõ được đó là liệu cơ quan Hải quan có đủ dữ liệu đáng tin cậy để quyết định về quá trình tuân thủ của doanh nghiệp trong quá khứ hay không.

Một số nước xem xét trong thời gian 12 tháng kể từ khi doanh nghiệp nộp đơn đề nghị tham gia. Tuy nhiên, đối với Việt Nam thời gian này phải được thực hiện trong vòng 24 tháng.

Doanh nghiệp có quá trình tuân thủ pháp luật đáp ứng các điều kiện sau:

Thứ nhất, doanh nghiệp chưa bị cơ quan hải quan và các cơ quan quản lý nhà nước khác xử lý vi phạm pháp luật; hoặc, trong thời hạn 2 năm, không quá 03 (ba) lần bị mỗi cơ quan nói trên xử lý vi phạm hành chính (không bao gồm việc phạt chậm nộp tiền thuế) bằng hình thức phạt tiền với mức phạt mỗi lần trên 20 triệu đồng, không kèm theo các hình thức phạt bổ sung (như tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm; buộc tiêu hủy, buộc đưa hàng hóa ra khỏi Việt Nam; buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật vi phạm).

Thứ hai, doanh nghiệp hợp tác tốt với cơ quan hải quan, cụ thể:

(i)   Số lần tư vấn với Hải quan trên tổng số lần xuất nhập khẩu;

(ii)  Hiệu quả của việc tư vấn. Mức độ, số lần sai phạm sau tư vấn;

(iii) Thời gian đào tạo từ cơ quan hải quan;

(iv)  Số cán bộ, bộ phận chuyên trách tìm hiểu về luật pháp hải quan;

(v)  Cộng tác, hỗ trợ hải quan trong điều tra, ngăn chặn buôn lậu

Thứ ba, cơ quan hải quan có sự tin tưởng vào sự chấp hành pháp luật của doanh nghiệp và có thể kiểm soát được sự tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp.

12.3.2.3. Tiêu chí về hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp

Xem xét hệ thống kế toán của doanh nghiệp là một trong những tiêu chí quan trọng khi xét đơn tham gia doanh nghiệp AEO. Tiêu chí về hệ thống kế toán được xem xét trên các mặt sau đây:

a. Chế độ quản lý hồ sơ, sổ sách kế toán

 Doanh nghiệp xin tham gia chương trình AEO có trách nhiệm chứng minh rằng đơn vị có hệ thống quản lý và lưu trữ hồ sơ giấy tờ đáp ứng các yêu cầu sau:

– Đáp ứng thời kỳ lưu trữ và bảo quản theo quy định của Luật kế toán và các văn bản hướng dẫn;

– Đưa ra được các biện pháp an ninh để bảo vệ sổ sách, hồ sơ tránh bị mất cắp cũng như bị truy cập trái phép.

– Chế độ lưu trữ, bảo quản cũng như trách nhiệm cá nhân, tập thể trong việc lưu trữ bảo quản phải được quy định trong văn bản nội bộ của công ty.

b. Hệ thống sổ sách, chứng từ kế toán

 Để có thể xem xét và đánh giá được hệ thống kế toán của doanh nghiệp, cơ quan Hải quan phải yêu cầu doanh nghiệp cung cấp các thông tin liên quan:

 Thứ nhất, là mức độ vi tính hoá trong quá trình hạch toán sổ sách kế toán như doanh nghiệp thực hiện hạch toán kế toán thông bằng phương pháp thủ công hay thông qua máy tính. Đối với các doanh nghiệp đề nghị cấp phép, yêu cầu tối thiểu là đơn vị phải thực hiện hệ thống qua máy vi tính trong đó các quá trình theo dõi về mua hàng, kiểm kê, xuất nhập kho, xuất bán phải được thực hiện duy nhất trên một phần mềm hoặc các phần mềm được tích hợp với nhau để đảm bảo số liệu giữa các sổ này không được sai lệch.

Thứ hai, khi xem xét hệ thống sổ sách kế toán cần lưu ý đến sự phù hợp giữa các tài khoản gốc, các sổ kế toán và biên bản kiểm kê thực tế, các báo cáo thuế và các báo cáo nội bộ của đơn vị để xem xét về độ tin cậy của các hệ thống sổ sách kế toán của đơn vị.

Thứ ba, xem xét sự phân công công việc trong bộ phận kế toán để đánh giá quá trình kiểm soát nội bộ trong bộ phận này.

Thứ tư, đối với các doanh nghiệp xem xét công nhận AEO yêu cầu bắt buộc cần thiết phải có các báo cáo kiểm toán toàn diện về hoạt động của doanh nghiệp được cung cấp bởi các công ty kiểm toán độc lập được công nhận.

c. Hệ thống kiểm soát nội bộ

Hệ thống kiểm soát nội bộ thực chất là các hoạt động, biện pháp, kế hoạch, quan điểm, nội quy chính sách và nỗ lực của mọi thành viên trong tổ chức để đảm bảo cho tổ chức đó hoạt động hiệu quả và đạt được mục tiêu đặt ra một cách hợp lý.  Do vậy, khi xem xét doanh nghiệp đề nghị được trở thành doanh nghiệp AEO cơ quan Hải quan cần quan tâm đến hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp. Cơ quan Hải quan cần phải xem xét và đánh giá đối với hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp để củng cố thêm niềm tin và sự tin tưởng của cơ quan Hải quan trong quá trình thẩm định và công nhận doanh nghiệp ưu tiên.

Một doanh  nghiệp có hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động hiệu quả, nó phải có đủ năm thành phần và từng thành phần phải hoạt động hiệu quả, cụ thể là:

* Môi trường kiểm soát

Đây là môi trường mà trong đó toàn bộ hoạt động kiểm soát nội bộ được triển khai. Môi trường này chỉ tốt nếu các nội dung sau được đảm bảo:

Doanh nghiệp đã ban hành dưới dạng văn bản các quy tắc, chuẩn mực phòng ngừa ban lãnh đạo và các nhân viên lâm vào tình thế xung đột quyền lợi với doanh nghiệp, kể cả việc ban hành các quy định xử phạt thích hợp khi các quy tắc chuẩn mực này bị vi phạm.

Doanh nghiệp đã phổ biến rộng rãi các quy tắc, chuẩn mực nêu trên, đã yêu cầu tất cả nhân viên ký bản cam kết tuân thủ những quy tắc, chuẩn mực được thiết lập.

Tư cách đạo đức, hành vi ứng xử và hiệu quả công việc của lãnh đạo là tấm gương sáng đế nhân viên noi theo.

Doanh nghiệp có sơ đồ tổ chức hợp lý đảm bảo công tác quản lý (lập kế hoạch, tổ chức, quản lý nhân sự, lãnh đạo và kiểm soát) được triển khai chính xác, kịp thời, hiệu quả.

Doanh nghiệp có bộ phận kiểm toán nội bộ hoạt động theo các chuẩn mực của kiểm toán Nhà nước và kiểm toán quốc tế. Bộ phận kiểm toán nội bộ phải có khả năng hoạt động hữu hiệu do được trực tiếp báo cáo độc lập, cởi mở với cơ quan kiểm toán cấp trên hoặc với các lãnh đạo cao cấp của tổ chức.

Doanh nghiệp có các văn bản quy định chung cũng như hướng dẫn cụ thể trong hoạt động quản lý tổng thể và trong các hoạt động chuyển ngân.

Doanh nghiệp có hệ thống văn bản thống nhất quy định chi tiết việc tuyển dụng. đào tạo, đánh giá nhân viên, đề bạt, trả lương, phụ cấp để khuyến khích mọi người làm việc liêm chính, hiệu quả.

Doanh nghiệp đã sử dụng “Bản mô tả công việc” quy định rõ yêu cầu kiến thức và chất lượng nhân sự cho từng vị trí trong tổ chức.

Doanh nghiệp không đặt ra những chuẩn mực tiêu chí thiếu thực tế hoặc những danh sách ưu tiên, ưu đãi, lương, thưởng… bất hợp lý tạo cơ hội cho các hành vi vô kỷ luật, gian dối, bất lương.

Doanh nghiệp đã áp dụng những quy tắc, công cụ kiểm toán phù hợp với những chuẩn mực thông dụng đã được chấp nhận cho loại hình hoạt động SXKD của mình đảm bảo kết quả kiểm toán không bị méo mó, sai lệch do sử dụng các chuẩn mực, công cụ kiểm toán không phù hợp.

Doanh nghiệp thường xuyên luân chuyển nhân sự trong các khu vực vị trí nhạy cảm. Quan tâm, nhắc nhở, bảo vệ quyền lợi của những người làm việc trong các khu vực vị trí độc hại, nặng nhọc theo đúng quy định.

* Đánh giá rủi ro

Việc đánh giá rủi ro được coi là có chất lượng nếu:

Ban lãnh đạo đã quan tâm và khuyến khích nhân viên quan tâm phát hiện, đánh giá và phân tích định lượng tác hại của các rủi ro hiện hữu và tiềm ẩn.

Doanh nghiệp đã đề ra các biện pháp, kế hoạch, quy trình hành động cụ thể nhằm giảm thiểu tác hại rủi ro đến một giới hạn chấp nhận nào đó hoặc doanh nghiệp đã có biện pháp để toàn thể nhân viên nhận thức rõ ràng về tác hại của rủi ro cũng như giới hạn rủi ro tối thiểu mà tổ chức có thể chấp nhận được.

Doanh nghiệp đã đề ra mục tiêu tổng thể cũng như chi tiết để mọi nhân viên có thể lấy đó làm cơ sở tham chiếu khi triển khai công việc.

* Hoạt động kiểm soát

Chất lượng hoạt động kiểm soát được coi là tốt nếu các nội dung sau được đảm bảo:

Doanh nghiệp đã đề ra các định mức xác định về tài chính và các chỉ số căn bản đánh giá hiệu quả hoạt động như những chỉ số quản lý khi lập kế hoạch và kiểm soát để điều chỉnh hoạt động sản xuất phù hợp với mục tiêu đề ra.

Doanh nghiệp đã tổng hợp và thông báo kết quả sản xuất đều đặn và đối chiếu các kết quả thu được với các định mức, chỉ số định trước để điều chỉnh, bổ sung kịp thời.

Quyền hạn, trách nhiệm và nghĩa vụ trong ba lĩnh vực: Cấp phép và phê duyệt các vấn đề tài chính, Kế toán và Thủ kho được phân định độc lập rõ ràng.

Doanh nghiệp đã ban hành văn bản quy định rõ ràng những ai có quyền và/ hoặc được uỷ quyên phê duyệt toàn bộ hay một loại vấn đề tài chính nào đó.

Doanh nghiệp đã lưu giữ các chứng cứ dưới dạng văn bản tạo điều kiện phân định rõ ràng phần thực hiện công việc với phần giám sát tại bất kỳ thời điểm nào, kể cả việc xác định những cá nhân có tránh nhiệm về các sai phạm xảy ra.

Doanh nghiệp đã giám sát, bảo vệ và bảo dưỡng tài sản, vật tư trang thiết bị khỏi bị mất mát, hao hụt, hỏng hóc hoặc bị sử dụng không đúng mục đích.

Doanh nghiệp đã cấm hoặc có biện pháp ngăn ngừa các lãnh đạo cao cấp của mình sử dụng kinh phí và tài sản của doanh nghiệp vào các mục đích riêng.

* Hệ thống thông tin và truyền thông

Chất lượng hệ thống là tốt khi các nội dung sau được đảm bảo:

Doanh nghiệp thường xuyên cập nhật các thông tin quan trọng cho ban lãnh đạo và những người có thẩm quyền.

Hệ thống truyền thông của doanh nghiệp đảm bảo cho nhân viên ở mọi cấp độ đều có thể hiểu và nắm rõ các nội quy, chuẩn mực của tổ chức, đảm bảo thông tin được cung cấp kịp thời, chính xác đến các cấp có thẩm quyền theo quy định.

Doanh nghiệp đã thiết lập các kênh thông tin nóng (một ủy ban hay một cá nhân nào đó có trách nhiệm tiếp nhận thông tin tố giác, hoặc lắp đặt hộp thư góp ý) cho phép nhân viên báo cáo về các hành vi, sự kiện bất thường có khả năng gây thiệt hại cho doanh nghiệp.

Doanh nghiệp đã lắp đặt hệ thống bảo vệ số liệu phòng ngừa sự truy cập, tiếp cận của những người không có thẩm quyền.

Doanh nghiệp đã xây dựng các chương trình, kế hoạch phòng chống thiên tai, hiểm họa và/ hoặc kế hoạch ứng cứu sự cố mất thông tin số liệu.

* Hệ thống giám sát và thẩm định

Đây là quá trình theo dõi và đánh giá chất lượng kiếm soát nội bộ để đảm bảo việc này được triển khai, điều chỉnh và cải thiện liên tục Hệ thống này hoạt động tốt nếu:

Doanh nghiệp có hệ thống báo cáo cho phép phát hiện các sai lệch so với chỉ tiêu, kế hoạch đã định. Khi phát hiện sai lệch, doanh nghiệp đã triển khai các biện pháp điều chỉnh thích hợp.

Việc kiểm toán nội bộ được thực hiện bởi người có trình độ chuyên môn thích hợp và người này có quyền báo cáo trực tiếp cho cấp phụ trách cao hơn và cho ban lãnh đạo.

Những khiếm khuyết của hệ thống kiểm soát nội bộ được phát hiện bởi kiểm toán nội bộ hoặc kiểm toán độc lập được báo cáo trực tiếp và kịp thời với cấp phụ trách cao hơn, kể cả ban lãnh đạo để điều chỉnh đúng lúc.

Doanh nghiệp đã yêu cầu các cấp quản lý trung gian báo cáo ngay với lãnh đạo về mọi trường hợp gian lận, nghi ngờ gian lận, về các vi phạm nội quy, quy định của doanh nghiệp cũng như quy định của luật pháp hiện hành có khả năng làm giảm uy tín doanh nghiệp và gây thiệt hại về kinh tế.

d. Bảo vệ hệ thống máy tính và tài liệu của công ty

Doanh nghiệp cần phải có các công cụ đảm bảo an ninh công nghệ thông tin thích hợp như tường lửa, phần mềm chống vi rút để bảo vệ hệ thống máy tính khỏi sự xâm nhập trái phép và để bảo vệ tài liệu của công ty

12.3.2.4. Tiêu chí về khả năng tài chính của doanh nghiệp

Doanh nghiệp xin tham gia chương trình AEO phải bảo đảm chứng minh thoả đáng rằng doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chuẩn khả năng tài chính hợp lý.

Cơ quan Hải quan nên xem xét các nội dung sau để đánh giá về khả năng tài chính của doanh nghiệp:

* Xem xét các chỉ tiêu thể hiện khả năng tài chính của doanh nghiệp trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp 02 năm gần nhất.

Bên cạnh việc huy động và sử dụng vốn, khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính và mức độ độc lập về mặt tài chính cũng cho thấy khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp.Vì vậy cần tính ra và so sánh chỉ tiêu:

+ Tỷ suất tài trợ:

 Tỷ suất tài trợ

 =

Nguồn vốn chủ sở hữu

 Tổng số nguồn vốn

 Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp bởi vì hầu hết tài sản mà doanh nghiệp hiện có đều được đầu tư bằng số vốn của mình.

+ Tỷ suất thanh toán hiện hành:

 Tỷ suất thanh toán hiện hành

 =

Tổng tài sản lưu động

 Tổng nợ ngắn hạn

 Tỷ số này cho ta thấy khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn (phải thanh toán trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh) của doanh nghiệp là cao hay thấp

+ Tỷ suất thanh toán vốn lưu động

 Tỷ suất thanh toán vốn lưu động

 

=

Tổng số vốn bằng tiền

 Tổng số tài sản lưu động

 Tỷ số này phản ánh khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản lưu động thực tế cho thấy nếu chỉ tiêu này được tính ra mà lớn hơn 0,5 hoặc nhỏ hơn 0,1 đều không tốt nó gây ứ đọng vốn hoặc thiếu tiền để thanh toán.

+ Tỷ suất thanh toán tức thời

 Tỷ suất thanh toán tức thời

 

=

Tổng số vốn tiền

 Tổng số nợ ngắn hạn

 Tỷ suất này trong thực tế cho thấy nếu lớn hơn 0,5 thì tình hình thanh toán của doanh nghiệp tương đối khả quan còn nếu nhỏ hơn 0,5 thì doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong công việc thanh toán công nợ và do đó có thể phải bán gấp hàng hoá, sản phẩm để trả nợ vì không có tiền để thanh toán.

+ Hệ số thanh toán tổng quát:

Hệ số thanh toán tổng quát = Tổng tài sản/Nợ ngắn hạn và dài hạn

Trong đó:

– Tổng tài sản bao gồm  toàn bộ TSCĐ và tài sản lưu động, đầu tư tài chính ngắn hạn và dài hạn phục vụ hoạt động SXKD;

– Nợ ngắn hạn là toàn bộ các khoản nợ có thời gian đáo hạn dưới 1 năm

– Nợ dài hạn là toàn bộ các khoản nợ có thời gian đáo hạn trên 1 năm.

Hệ số này cho biết mối quan hệ giữa tổng tài sản mà doanh nghiệp đang quản lý, sử dụng với tổng nợ phải trả, nó phản ánh một đồng vay nợ có mấy đồng bảo đảm. Khi giá trị này nhỏ hơn 1 nghĩa là tổng tài sản nhỏ hơn tổng nợ như vậy toàn bộ số tài sản hiện có của công ty không đủ để thanh toán các khoản nợ. Điều này chứng tỏ doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, gặp khó khăn trong tài chính và có nguy cơ phá sản.

* Xem xét về hạn mức tín dụng mà các ngân hàng thương mại cấp cho doanh nghiệp

Đánh giá nội dung này giúp cơ quan hải quan xác định tương đối được mức độ bảo lãnh của các ngân hàng đối với các khoản nợ thuế của doanh nghiệp trong tương lai.

* Xem xét thời gian nộp thuế của doanh nghiệp với thời hạn yêu cầu nộp thuế của cơ quan thuế/hải quan: Nội dung này để xác định doanh nghiệp có phải là đơn vị chây ỳ với các khoản thuế phải nộp cho cơ quan nhà nước nhằm xác định được khả năng thanh toán đúng hạn đối với các khoản thuế phát sinh của doanh nghiệp trong tương lai.

12.3.2.5. Tiêu chí về an toàn và an ninh

a. Các văn bản quy định chung về an toàn, an ninh của công ty

Về an ninh chuyến hàng, cơ quan hải quan và doanh nghiệp AEO phải cùng hợp tác trong việc xây dựng những chế định quản lý hiệu quả chưa được quy định trong các văn bản pháp lý quốc gia hoặc quốc tế để đảm bảo chuyến hàng được vận chuyển an toàn và nguyên trạng.  Cụ thể doanh nghiệp tiến hành thực hiện các việc sau:

– Có bao nhiêu quy định bằng văn bản đối với thủ tục đảm bảo việc tiếp cận an toàn và bảo mật;

– Có bao nhiêu quy định bằng văn bản về các biện pháp an toàn và bảo mật;

– Những yêu cầu cụ thể về an toàn và bảo mật đối với hàng hóa doanh nghiệp đang xuất nhập khẩu;

– Nhân sự chịu trách nhiệm về các biện pháp an toàn và bảo mật;

– Tiêu chí đánh giá rủi ro đối với công việc kinh doanh;

– Các yêu cầu an ninh đối với doanh nghiệp mà Công ty bảo hiểm đặt ra;

– Các yêu cầu an ninh đối với doanh nghiệp khách hàng của công ty đặt ra;

– Những thủ tục về chính sách tuyển dụng có tính đến những yêu cầu về an ninh và đào tạo cho nhân viên về các yêu cầu an toàn an ninh, tuyển nhân viên tạm thời;

– Có các  yêu cầu về an ninh được đưa vào những thỏa thuận hợp đồng với những nhà cung cấp bên ngoài, ví dụ như nhân viên bảo vệ, nhân viên dọn vệ sinh, nhân viên bảo dưỡng…

b. Các quy định về luồng vận chuyển hàng hoá

 Toàn bộ các chủ thể trong quá trình vận chuyển hàng hoá được đào tạo để đảm bảo an ninh của chuyến hàng cũng như hàng hoá mỗi khi hàng hoá ở trong địa phận hải quan, có trách nhiệm báo cáo về bất cứ trường hợp thực tế hoặc có nghi vấn nào chỉ định nhân viên thuộc bộ phận an ninh của doanh nghiệp AEO cũng như cơ quan hải quan để tiếp tục điều tra cũng như lưu các báo cáo để cung cấp cho cơ quan hải quan khi cần thiết.

 Cụ thể Công ty cần xác định các yếu tố sau:

– Có các quy định về an toàn an ninh trong dây chuyền sản xuất;

– Có các thiết bị chứa hàng chuyên dụng và thực hiện kiểm tra đánh giá chất lượng của thiết bị;

– Các quy định về an toàn an ninh đối với hàng hoá xuất nhập khẩu;

– Các quy định về xử lý khi hàng hoá nhập khẩu vi phạm thoả thuận về an toàn, an ninh;

– Các quy định về thủ tục tiếp nhận hàng hoá có khả năng mất an toàn, an ninh cao.

c. Các quy định về nhà xưởng

 Cơ quan hải quan có thể thiết lập những yêu cầu đối với việc tăng cường an ninh dành riêng cho lĩnh vực hải quan để đảm bảo an ninh cho các toà nhà cũng như giám sát và quản lý toàn bộ nhà xưởng. Ngoài quyền truy cập hợp pháp vào một số địa điểm và các thông tin có liên quan, cần tìm cách ký các thoả thuận đối tác với AEO để có quyền truy nhập vào các hệ thống theo dõi an ninh và không bị từ chối việc truy cập các thông tin cần thiết để thực hiện các hoạt động kiểm soát. Đồng thời cho phép AEO thực hiện các phương thức thực hiện sự tuân thủ để đáp ứng các yêu cầu an ninh chưa khả thi hay chưa được tương thích với một mô hình AEO.

 Dựa trên việc đánh giá rủi ro thì an ninh nhà xưởng cần quy đinh những vấn đề liên quan đến những yếu tố sau:

          – Toà nhà phải được xây dựng bằng những nguyên liệu chống lại việc xâm nhập trái phép.

– Nhân viên quản lý hoặc nhân viên an ninh phải kiểm soát toàn bộ việc sử dụng các khoá và chìa khoá.

– Khi được yêu cầu và sau khi được yêu cầu, phải tạo điều kiện cho Hải quan truy nhập vào hệ thống theo dõi an ninh được sử dụng để đảm bảo an ninh nhà xưởng.

d. Các quy định về an ninh nhân sự

 Hải quan và doanh nghiệp được ưu tiên dựa trên thẩm quyền và năng lực của mình để kiểm tra thông tin cơ bản về nhân sự trong giới hạn luật pháp cho phép. Ngoài ra, hai bên cũng phải ngăn cấm việc truy nhập bất hợp pháp vào các cơ sở, phương tiện vận tải, khu vực chất hàng và khu vực hàng hoá mà có thể ảnh hưởng đến an ninh của những khu vực này. 

Đối với doanh nghiệp khi tuyển mới nhân sự cần xác minh nhân thân người được tuyển để đảm bảo người đó trước đấy không bị buộc tội về những vấn đề liên quan đến an ninh, vi phạm hải quan hay vi phạm hình sự trong nước; thực hiện kiểm tra định kỳ thông tin cơ bản về những nhân viên làm việc trong các vị trí an ninh nhạy cảm; có thủ tục nhận diện nhân viên

12.3.2.6. Tự đánh giá của doanh nghiệp

Tự đánh giá là việc doanh nghiệp trả lời các câu hỏi trong bảng hỏi do cơ quan Hải quan yêu cầu khi nộp đơn xin tham gia chương trình AEO để khẳng định doanh nghiệp đáp ứng đầy đủ các điều kiện để trở thành AEO. Vì vậy, việc soạn thảo nội dung bảng hỏi của cơ quan Hải quan rất quan trọng vì việc thiết kế các nội dung như thế nào nhằm giúp cơ quan Hải quan thu thập được nhiều thông tin nhất và thuận lợi cho việc xác minh thông tin.

Đối với nội dung này, Nhóm nghiên cứu đề xuất nội dung bảng hỏi như sau:

18

Công ty có gửi danh mục hàng hóa thường xuyên XNK tới cơ quan hải quan nhằm mục đích thống nhất áp mã HS cho hàng hóa không?

 

 

 

19

Trường hợp có sự thay đổi về nội dung liên quan đến thủ tục hải quan hoặc liên quan đến hàng hóa, có cơ chế báo cáo cho hải quan hay không

 

 

 

Quản lý hàng hóa XNK thuộc diện quản lý của cơ quan hải quan sau khi thông quan

20

Đối với hàng hóa thuộc đối tượng quản lý đang di chuyển, có đầy đủ qui trình và cơ chế để nắm được phương thức vận chuyện, tình trạng hàng hóa hay không

 

 

 

21

Có sơ đồ kho, qui trình và cơ chế để quản lý, theo dõi tình trạng nhập xuất hàng vào kho đang chứa hàng hóa thuộc diện quản lý, theo dõi của cơ  quan hải quan

 

 

 

22

Tại địa điểm kho để hàng hóa của công ty có thực hiện các biện pháp dưới đây ở mức độ cần thiết cho việc quản lý hàng hóa hay không?

– Quản lý, xác nhận việc ra vào của con người, xe cộ hoặc xuất, nhập hàng hóa nhằm bảo quản lý phù hợp (phòng chống mất mát, mất trộm v.v.)

– Có ghi chép về việc xác nhận nội dung nêu tại phần ở trên và lưu giữ các ghi chép này trong thời gian nhất định không

– Có đầy đủ tường rào, hàng rào, vách ngăn, đèn chiếu sáng và bố trí nhân viên bảo vệ (gồm cả camera) và bảo vệ đi tuần định kỳ

– Có biện pháp Phân biệt giữa hàng hóa thuộc đối tượng quản lý với hàng hóa khác

– Các biện pháp cần thiết như báo cáo cho phòng quản lý tổng hợp, phòng nghiệp vụ trong trường hợp có bất thường đối với hàng hóa đang được bảo quản không

 

 

 

23

Trường hợp ủy thác cho doanh nghiệp liên quan như doanh nghiệp vận chuyển, doanh nghiệp kinh doanh kho bãi quản lý hàng hóa thuộc đối tượng quản lý thì công ty có cơ chế quản lý hàng hóa đó không

 

 

 

 

24

Công ty có quy trình quản lý, theo dõi việc thanh khoản hàng hóa nhập khẩu không

 

 

 

25

Công ty có quy trình xây dựng định mức khấu hao trong sản xuất không

 

 

 

26

Cơ sở để công ty xây dựng danh mục miễn thuế hàng hóa nhập khẩu là gì

 

 

 

27

Có cơ chế quản lý, thanh lý hàng hóa nhập khẩu được miễn thuế hay không

 

 

 

28

Có cơ chế xử lý phế liệu

 

 

 

29

Có cơ sở vật chất kỹ thuật đảm bảo khai điện tử hay không

 

 

 

30

Công ty có cơ chế nhanh chóng báo cáo cho hải quan khi xảy ra sự cố hoặc hành vi trái pháp luật không

 

 

 

Chế độ báo cáo

31

Có người (hoặc bộ phận) chịu trách nhiệm báo cáo với hải quan chuyên trách AEO không

 

 

 

32

Có đầy đủ qui trình và cơ chế liên lạc ngay với hải quan chuyên trách AEO trong các trường hợp nêu dưới đây không:

– Trường hợp phải báo cáo theo qui định thông tư 63/2011/TT-BTC

– Trường hợp xảy ra sự cố liên quan đến hàng hóa thuộc đối tượng quản lý

– Trường hợp cần truyền đạt ngay cho phòng ban phụ trách các nội dung mà hải quan liên lạc hoặc muốn hỏi

 

 

 

33

Trường hợp cần phải thẩm tra hoặc kiểm tra sau thông quan thì có đầy đủ qui trình và cơ chế để chuẩn bị để xuất trình các giấy tờ liên quan  và đáp ứng việc kiểm tra một cách thích hợp hay không?

 

 

 

Lưu trữ hồ sơ

34

Có thực hiện các biện pháp nêu dưới đây về lập và lưu trữ sổ sách giấy tờ không:

– Bộ phận và người chịu trách nhiệm ghi sổ sách giấy tờ và làm rõ nơi lưu trữ

– Có đầy đủ qui trình và cơ chế để ghi chép và lưu trữ phù hợp sổ sách giấy tờ

– Có đầy đủ qui trình và cơ chế để xử lý nhanh chóng các yêu cầu của hải quan về việc cho xem sổ sách giấy tờ

 

 

 

35

Trường hợp việc lập và lưu trữ sổ sách giấy tờ thực hiện trên điện tử thì có thực hiện các biện pháp dưới đây một cách thích hợp không:

– Có đầy đủ giấy tờ ghi khái quát và giải thích thao tác của hệ thống xử lý điện tử về lập và lưu trữ sổ sách giấy tờ (dưới đây gọi là hệ thống)

– Có cơ chế quản lý như xác định rõ người phụ trách và người chịu trách nhiệm về quản lý hệ thống và chỉnh sửa chương trình

– Trường hợp hải quan có yêu cầu thì có thể xuất trình ngay nội dung được ghi trên hệ thống trong tình trạng có thể xem, đọc được

 

 

 

 Hệ thống kế toán

36

Công ty có hệ thống kế toán và thực hiện việc báo cáo tài chính theo những nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi không?

 

 

 

36.1

Công ty có tiến hành lưu giữ chứng từ kế toán và các báo cáo kế toán một cách đầy đủ không?

 

 

 

36.2

Giả sử hệ thống kế toán của công ty có định dạng điện tử thì nó có cho phép các kiểm toán viên kiểm tra trên hệ thống và kết xuất dữ liệu từ hệ thống không?

 

 

 

36.3

Công ty có thực hiện quản lý việc mua hàng và hàng tồn kho theo hệ thống không?

 

 

 

36.4

Nếu câu 35.3 được trả lời là có thì công ty có lưu giữ các chứng từ và báo cáo hàng tồn kho cho từng loại hàng hoá không?

 

 

 

36.5

Công ty có phân chia một cách rõ ràng chứng từ mua hàng từ nước ngoài với mua hàng trong nước không?

 

 

 

36.6

Công ty có thiết lập đầy đủ các loại sổ sách kế toán theo yêu cầu không?

 

 

 

36.7

Công ty có ban hành quy trình luân chuyển chứng từ giữa các bộ phận không?

 

 

 

37

Công ty có thuê các công ty kiểm toán độc lập để kiểm toán báo cáo tài chính hàng năm không? Và có gửi cho các cơ quan có liên quan không?

 

 

 

38

Công ty có sử dụng hệ thống kế toán máy không?

 

 

 

39

Nếu câu 37 được trả lời là có thì hệ thống kế toán máy của công ty có được kiểm soát và phân quyền không?

 

 

 

40

Công ty có sử dụng phương án dự phòng và khắc phục khi xảy ra sự cố đối với hệ thống kế toán máy

 

 

 

Hệ thống kiểm soát nội bộ

 

 

 

41

Công ty có triển khai hệ thống kiểm soát nội bộ không?

 

 

 

42

Nếu câu 40 trả lời là có, thì DN có xây dựng quy trình kiểm tra, kiểm soát nội bộ không?

 

 

 

43

Công ty có thực hiện việc bảo mật và sử dụng các biện pháp an ninh mạng nhằm chống lại việc truy cập dữ liệu trái phép từ bên ngoài?

 

 

 

Tình hình tài chính, thuế

 

 

 

44

Trong vòng 3 năm gần đây, Công ty có rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, phá sản hay vụ kiện tụng về thanh toán không?

 

 

 

45

Công ty có khoản nợ thuế do hải quan quản lý và thu không?

 

 

 

46

Công ty có nợ các khoản thuế do cơ quan thuế nội địa quản lý và thu không?

 

 

 

47

Trong vòng 3 năm trở lại đây, công ty có bị phạt hành chính chậm nộp thuế không?

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

————————

Tiếng Việt 

1. Bộ Tài chính (2012), Thông tư 196/2012/TT-BTC hướng dẫn về thủ tục hải quan điện tử, HÀ Nội.

 2. Bộ Tài chính (2011), Thông tư 63/2011/TT-BTC ngày 13/5/2011, quy định về việc áp dụng thí điểm chế độ ưu tiên trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp đủ điều kiện, Hà Nội.

3. Bộ Tài chính (2011), Thông tư 105/2011/TT-BTC sửa đổi bổ sung một số điều Thông tư 63/2011/TT-BTC quy định về việc áp dụng thí điểm chế độ ưu tiên trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp đủ điều hiện, Hà Nội.

4. Bộ Tài chính (2013), Thông tư số 86/2013/TT-BTC ngày 27/6/2013 quy định về chế độ ơu tiên trong quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp đủ điều kiện, Hà Nội.

5. Bộ Tài chính (2010), Thông tư Số 194/2010/TT-BTC ngày 06/12/2010, Hướng dẫn về Thủ tục Hải quan, kiểm tra giám sát Hải quan, thuế xuất khẩu, nhập khẩu và quản lý thuế đối với hành hoá xuất nhập khẩu, Hà Nội. Chính phủ (2007), Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý Thuế, Hà Nội.

6. Chính phủ (2010), Nghị định số 106/2010/NĐ-CP ngày 28/10/2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 8/9/2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế Thu nhập cá nhân, Hà Nội.

7. Chính phủ (2010), Nghị định síi 87/2010/NĐ-CP ngày 13/8/2010 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế Xuất khẩu, thuế Nhập khẩu, Hà Nội.

8. Chính phủ (2012), Nghị định 87/2012/NĐ-CP Quy định về thủ tục hải quan điện tử.

9. Chính phủ (2005), Nghị định síi 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 Quy định chi tiết một số điều của Luật Hải quan về Thủ tục Hải quan, kiểm tra, giám sát Hải quan, Hà Nội.

10. Quốc hội Khoá 10 (2001), Luật Hải quan số 29/2001/QH10 ngày 29/6/2001, Hà Nội.

11. Quốc hội Khoá 11 (2005), Luật Hải quan Sửa đổi, Bổ sung số 42/2005/QH11 ngày 14/6/2005, Hà Nội.

          Tiếng Anh.

1. Asia Trade Alert (2011), AEO Global Recognition – Trend in Global Trade Security and Facilication, and the China Link (Asia Trade Alert May 26, 2011).

2. China Customs (2008): Measures of the General Administration of Customs of the People’s Republic of China on Classified Management of Enterprises.

3. European Union (2007), the AEO Guidelines.

4. European Union (2009), Explanatory notes for AEO-Self Assessment Questionnaire.

5. European Committee (2005), Regulation (EC) No 648/2005 of the European Parliament and of the Council of 13 Aprial 2005 amending Council Regulation (EEC) No 2913/92 establishing the Community Customs Code.

6. European Union (2011), the Instruction Manuel on AEO.

7. Japan (2007), AEO (Authorized Economic Operator) Challenges of Japan Customs.

8. Fapan (2008), Customs Act: Provisions Concerning AEO.

9. Japan (2008) Order foe Enforcement of the Customs Act (Cabinet Order) Provisions Concerning AEO.

10. Japan (2008), Ordinamce for Enforcement of the Customs Act (Ordinance of the Ministry of Finance) Provision concerning AEO.

11. Korea Customs (2010), Korea Customs Service Legislation October 2010.

12. Korea Customs (2011), Introduction of AEO

 13. Korea Customs (2012), Keynote Speech by Kunio Mikuriya, Secrectary General of the World Customs Organization (WWCO Global AEO Conference Seoul, 17 April 2012).

14. Malaysia Customs (2009), Information Guideline on Authorized Economic Operator.

15. Sweden Customs: Guidelines for certification Authorized Economic Operator (http://www.tullverkt).

16. The National Board of Trade of Sweden (2010), Muatual recognition of AEO programmers: Supply chain security and trade facilitation (Progress report fall 2010).

 17. Singapore Customs (2011) Background Information for Public Consultation 2011 on Advance Export Declaration (AED): “Supply chain security in Singapore”; and “singapore customs Implementtation of the Korea – Singapore Mutual Recognition”.

18. Singapore Customs (2009), Keynote Address By Mr S Iswaran, Senior Minister Of State For Trade & Industry And Rducation, At The Opening Of The Secure Trade In The Apec Region Conference (Apec Star Vii Con ference), Thursday, 30 July 2009, 0900 Hrs, Grand Waterfront Corpthorne Hotel, Singapore.

19. Singapore Customs (2009), Keynote Address by Mr Lim Hwee Hua, Minister, Prime Minister’s Office, Second Minister for Finance and Transport, at the APEC Customs Business Dialogue 2009, I August 2009, Grand Copthorne Waterfront Hotel.

20. Taiwan Customs (2009), Regulations Governing Customs Clearance Procedures for Import/Export Goods of the Authoriezed Economic Operators – Amended date 2009, 12.25.

21. Taiwan Customs (2004), Enforcement Rules for Import and Expor Cargo Consolidated Cleanrance Regulations December 30, 2004 Enacted under Ordinance No. Tai-Tsai-Kuan-09305506570.

22. World Customs Organization (2011), SAFE Framework of Standards June 2011.

23. www.china-airlines.com: China Airline Receives “Authorized Economic Operatior” Certification. 

 

 

 

STT

 

 

 

Hạng mục thẩm định

 

Tự đánh giá và nội dung thực hiện (tình trạng thực hiện)

 

Thẩm định của cơ quan Hải quan


 

 


Không

Cơ chế hoạt động

1

Công ty có lập các ISO cho các lĩnh vực hoạt động của mình không (Nhận thức của lãnh đạo công ty về tuân thủ pháp luật)

 

 

 

2

Công ty có các công ty chi nhánh không, các chi nhánh có hoạt động XNK trực tiếp không, nếu có thì quản lý hoạt động này thế nào

 

 

 


3

Công ty có quy định rõ về quyền hạn, trách nhiệm của từng vị trí công việc trong các phòng ban không

Có bố trí số lượng nhân viên tương ứng với phù hợp với khối lượng công việc không?

 

 

 

4

Công ty có cơ chế trao đổi thông tin giữa các bộ phận, phòng ban hay không

 

 

 

5

Có bộ phận nào theo dõi tổng hợp, tham mưu xử lý các hoạt động chung của công ty hay không

 

 

 



6

Có thực hiện các biện pháp nêu dưới đây về giáo dục và đào tạo công việc về xuất khẩu, nhập khẩu không?

– Lập kế hoạch giáo dục và đào tạo

– Làm rõ phòng ban hoặc bộ phận và người chịu trách nhiệm phụ trách đào tạo

– Xác định đầy đủ nội dung và thời gian đào tạo

 

 

 

7

Có đầy đủ qui trình và cơ chế về xử phạt trong trường hợp nhân viên v.v có hành vi vi phạm quy định của công ty hay không

 

 

 

Quản lý nghiệp vụ XNK

8

Bộ phận nghiệp vụ XNK có bố trí nhân viên có kiến thức và kinh nghiệm phù hợp với công việc được giao hay không

 

 

 

9

Có qui trình nghiệp vụ XNK không

 

 

 

10

Có cán bộ chuyên trách làm thủ tục XNK không

 

 

 

11

Có qui trình và cơ chế tự kiểm tra xem hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu:

– Có phù hợp với qui định của Luật Hải quan và các qui định pháp luật khác không

– Có cần cải tiến để hiệu quả hơn không

 

 

 

12

Có cơ chế  kiểm soát, phê duyệt hoạt động XNK không

 

 

 

Công tác chuẩn bị xuất nhập khẩu hàng hóa

13

Có bộ phận nào khác lưu trữ tập trung cơ sở dữ liệu hàng hóa XNK  không

 

 

 

14

Có đầy đủ qui trình hoặc cơ chế xác định tên, mã số hàng hóa XNK trong trường hợp dưới đây không:

– Cơ quan quản lý NN có hướng dẫn mới về áp mã hàng hóa

– Chuẩn hóa mã HS trong trường hợp phát sinh mới hàng hóa XNK. 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thủ tục hải quan về hàng hóa

15

Có đầy đủ qui trình và cơ chế để:

– Kiểm tra sự chính xác của các thông tin kê khai trên tờ khai hải quan

– Nộp các giấy tờ liên quan trong trường cần kiểm tra của cơ quan Hải quan

 

 

 

16

Trường hợp nhờ đại lý khai thuê hải quan thì có qui trình hoặc cơ chế quản lý, kiểm soát việc thực hiện hoạt động ủy thác không

 

 

 

17

Có đầy đủ qui trình và cơ chế để để thực hiện nghĩa vụ về thuế đối với  cơ quan hải quan không

 

 

 


Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *