Chuyên đề 12: NHỮNG NỘI DUNG MỚI CƠ BẢN CỦA LUẬT HẢI QUAN NĂM 2014

MỤC LỤC

Chuyên đề 12: NHỮNG NỘI DUNG MỚI CƠ BẢN CỦA LUẬT HẢI QUAN NĂM 2014

 Cử nhân: Trần Thị Thúy Hòa

Vụ Pháp chế – Tổng cục Hải quan

 Ngày 23/6/2014, Quốc hội Khóa XIII kỳ họp thứ 7 đã thông qua Luật hải quan số 54/2014/QH13. Luật này đã được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 12/2014/L-CTN ngày 30/6/2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015.

Luật hải quan có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015, tạo cơ sở pháp lý để đẩy mạnh thực hiện cải cách thủ tục hải quan, hiện đại hóa quản lý hải quan đặc biệt là hệ thống thủ tục hải quan điện tử, nội luật hóa các cam kết quốc tế đáp ứng yêu cầu hội nhập và tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu.

Trong phạm vi chuyên đề này, xin được trình bày bố cục và các nội dung mới cơ bản của Luật hải quan năm 2014.

12.1. Bố cục của Luật Hải quan

Luật hải quan năm 2014 được bố cục thành 8 Chương gồm 104 Điều.Cụ thể:

– Chương I: Những quy định chung; có 11 Điều (từ Điều 1 đến Điều 11).

– Chương II: Nhiệm vụ, tổ chức của hải quan; có 4 Điều (từ Điều 12 đến Điều 15).

– Chương III: Thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát hải quan; có 67 Điều, chia làm 9 mục (từ Điều 16 đến Điều 82).

+ Mục 1. Quy định chung

+ Mục 2. Chế độ ưu tiên đối với doanh nghiệp

+ Mục 3. Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa, tài sản di chuyển

+ Mục 4. Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu để gia công, sản xuất hàng hóa xuất khẩu

+ Mục 5. Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa tại kho ngoại quan, kho bảo thuế, địa điểm thu gom hàng lẻ

+ Mục 6. Thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa vận chuyển chịu sự giám sát hải quan

+ Mục 7. Thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với phương tiện vận tải

+ Mục 8. Kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu có yêu cầu bảo vệ sở hữu trí tuệ

+ Mục 9. Kiểm tra sau thông quan

– Chương IV: Tổ chức thu thuế và các khoản thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; có 4 Điều (từ Điều 83 đến Điều 86).

– Chương V: Phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới; có 6 Điều (từ Điều 87 đến Điều 92).

– Chương VI: Thông tin hải quan và thống kê hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; có 6 Điều (từ Điều 93 đến Điều 98).

– Chương VII: Quản lý nhà nước về hải quan; có 2 Điều (từ Điều 99 đến Điều 100).

– Chương VIII: Điều khoản thi hành có 4 Điều (từ Điều 101 đến Điều 104).

12.2. Những nội dung cơ bản của Luật Hải quan

12.2.1. Những quy định chung (Chương I)

Chương này gồm 11 điều, cơ bản kế thừa quy định của Luật hải quan năm 2001, 2005, sửa đổi một số điểu, bổ sung điều quy định về hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực hải quan. Nội dung của chương này quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, chính sách về hải quan, nguyên tắc áp dụng điều ước quốc tế, tập quán và thông lệ quốc tế liên quan đến hải quan, hoạt động hợp tác quốc tế về hải quan, địa bàn hoạt động của hải quan, hiện đại hóa quản lý hải quan, phối hợp thực hiện pháp luật về hải quan, giám sát thi hành pháp luật về hải quan, các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực hải quan. Luật hải quan năm 2014 đã tập trung sửa đổi, bổ sung một số nội dung của chương này, cụ thể như sau:

12.2.1.1. Đối tượng áp dụng (Điều 3)

Điều 3 Luật hải quan năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hải quan 2005 (sau đây gọi là Luật hải quan năm 2001, 2005) chỉ quy định đối tượng áp dụng Luật Hải quan là các tổ chức, cá nhân trực tiếp thực hiện việc xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa; xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải.

Để bảo đảm bao quát các đối tượng chịu sự điều chỉnh của Luật Hải quan và tăng cường hiệu quả của quản lý hải quan tại khoản 2 Điều 3 Luật hải quan năm 2014 đã bổ sung đối tượng áp dụng của Luật Hải quan là: Tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hoá, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, phương tiện vận tải.

12.2.1.2. Giải thích từ ngữ (Điều 4)

Để bảo đảm tính khái quát, thống nhất trong cách hiểu và sử dụng, Điều 4 Luật hải quan năm 2014 đã sửa đổi các thuật ngữ: hàng hóa; người khai hải quan; giám sát hải quan; kiểm tra hải quan; thông quan; chuyển cửa khẩu; kho bảo thuế; chuyển tải và bổ sung các thuật ngữ: phân loại hàng hóa; xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan; rủi ro; quản lý rủi ro; hồ sơ hải quan; trị giá hải quan; địa điểm thu gom hàng lẻ; cơ chế một cửa quốc gia, thông tin hải quan.

12.2.1.3. Hoạt động hợp tác quốc tế về hải quan (Điều 6)

Tại Khoản 1 Điều 5a Luật Hải quan năm 2001, 2005 quy định “cơ quan hải quan có trách nhiệm thực hiện quyền, nghĩa vụ và lợi ích của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Tổ chức Hải quan thế giới”. Tuy nhiên, hiện nay hợp tác quốc tế ngày càng sâu, rộng, Việt Nam đã tham gia nhiều tổ chức quốc tế như ASEAN, APEC, ASEM, GMS, WTO, WCO… cũng như các nước và các vùng lãnh thổ. Trong khuôn khổ các tổ chức này có nhiều hoạt động hợp tác về hải quan nên cần có cơ sở pháp lý để thực hiện. Bên cạnh đó, trong khuôn khổ các cam kết quốc tế song phương và đa phương, Việt Nam có nhiệm vụ cử cán bộ ra nước ngoài và có nghĩa vụ tiếp nhận cán bộ nước ngoài vào Việt Nam để thực hiện các nhiệm vụ như điều tra, xác minh thông tin, thực hiện kiểm tra hải quan chung.

Do đó, tại Điều 6 Luật hải quan năm 2014 đã quy định theo hướng khái quát các hoạt động hợp tác quốc tế về hải quan mà hải quan Việt Nam có trách nhiệm thực hiện theo quy định của pháp luật. Theo đó, bổ sung các quy định cơ quan hải quan có trách nhiệm:

– Thực hiện quyền, nghĩa vụ và lợi ích của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại các tổ chức quốc tế có liên quan về hải quan, tại các nước và vùng lãnh thổ;

– Cử công chức hải quan Việt Nam ra nước ngoài và tiếp nhận công chức hải quan nước ngoài vào Việt Nam để thực hiện các hoạt động nghiệp vụ hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc thỏa thuận quốc tế đã ký kết.

Những bổ sung trên sẽ hỗ trợ có hiệu quả việc hợp tác, trao đổi thông tin và hỗ trợ hành chính giữa các cơ quan hải quan trong các điều ước quốc tế về hải quan (khoản c điều 2 Công ước thành lập Hội đồng Hợp tác hải quan; điều 16 Công ước Hỗ trợ hành chính lẫn nhau về các vấn đề hải quan – Công ước Johanesburg,…), các thoả thuận quốc tế song phương và đa phương mà Việt Nam là thành viên và phù hợp với tình hình thực tế Hải quan Việt Nam đã tiếp nhận và làm việc với nhiều đoàn hải quan các nước vào điều tra, xác minh thông tin về chống bán phá giá, gian lận chuyển tải, thực thi quyền sở hữu trí tuệ, chấp hành các hiệp định biên giới, chống buôn lậu trên biển, kiểm soát xuất khẩu, thực thi các nghị quyết chống khủng bố của Liên Hợp quốc… Đặc biệt từ năm 2006, hàng ngày cán bộ hải quan hai nước Việ Nam và Lào đã sang lãnh thổ của nhau để thực hiện kiểm tra chung theo qui định tại Hiệp định GMS.

12.2.1.4. Về địa bàn hoạt động hải quan (Điều 7)

Điều 6 Luật Hải quan năm 2001, 2005 quy định: Địa bàn hoạt động hải quan bao gồm các khu vực cửa khẩu đường bộ, ga đường sắt liên vận quốc tế, cảng biển quốc tế, cảng sông quốc tế, cảng hàng không dân dụng quốc tế, các địa điểm làm thủ tục hải quan ngoài cửa khẩu, khu chế xuất, kho ngoại quan, kho bảo thuế, khu vực ưu đãi hải quan, bưu điện quốc tế, các địa điểm kiểm tra hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu trong lãnh thổ và trên vùng biển thực hiện quyền chủ quyền của Việt Nam, trụ sở doanh nghiệp khi tiến hành kiểm tra sau thông quan và các địa bàn hoạt động hải quan khác theo quy định của pháp luật.

Quy định nêu trên đã chỉ rõ các địa điểm theo địa chỉ ranh giới xác định; đồng thời xác định rõ trách nhiệm của cơ quan hải quan trong phạm vi địa bàn. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện đã phát sinh vấn đề vướng mắc như: một số địa điểm có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu (cửa khẩu phụ, lối mở) hoặc hàng hóa được đưa về để kiểm tra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm…, nhưng chưa được coi là địa bàn hoạt động hải quan.

Để khắc phục một số bất cập trong quá trình thực hiện, tại Điều 7 Luật hải quan năm 2014 bổ sung quy định đầy đủ về địa bàn hoạt động hải quan, theo đó, đã quy định ngoài những địa điểm đã được xác định như Luật hải quan 2001, 2005, bổ sung thêm các địa điểm: Khu vực, địa điểm khác đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, được phép xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; khu vực đang lưu giữ hàng hóa đang chịu sự giám sát hải quan là địa bàn hoạt động hải quan. Đồng thời, chuẩn hóa lại tên gọi của cảng biển, cảng thủy nội địa cho phù hợp với pháp luật có liên quan (Luật hàng hải, Luật Giao thông đường thủy).

12.2.1.5. Về hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực hải quan (Điều 10)

Để bảo đảm công tác quản lý hải quan, tạo cơ sở cho việc định ra các hành vi và hình thức xử phạt vi phạm, Luật hải quan năm 2014 đã bổ sung một điều quy định hành vi bị nghiêm cấm đối với công chức hải quan và các hành vi bị nghiêm cấm đối với người khai hải quan, tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải. Cụ thể:

1. Đối với công chức hải quan:

a) Gây phiền hà, khó khăn trong việc làm thủ tục hải quan;

b) Bao che, thông đồng để buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, gian lận thương mại, gian lận thuế;

c) Nhận hối lộ, chiếm dụng, biển thủ hàng hoá tạm giữ hoặc thực hiện hành vi khác nhằm mục đích vụ lợi;

d) Hành vi khác vi phạm pháp luật về hải quan.

2. Đối với người khai hải quan, tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải:

a) Thực hiện hành vi gian dối trong việc làm thủ tục hải quan;

b) Buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới;

c) Gian lận thương mại, gian lận thuế;

d) Đưa hối lộ hoặc thực hiện hành vi khác nhằm mưu lợi bất chính;

đ) Cản trở công chức hải quan thi hành công vụ;

e) Truy cập trái phép, làm sai lệch, phá hủy hệ thống thông tin hải quan;

g) Hành vi khác vi phạm pháp luật về hải quan.”

12.2.2. Nhiệm vụ, tổ chức của hải quan (Chương II)

Chương này gồm 4 điều từ Điều 12 đến 15, cơ bản giữ nguyên như quy định của Luật hải quan năm 2001, 2005, trong đó sửa Điều 13, Điều 14 Luật hải quan năm 2001, 2005 về hệ thống tổ chức của Hải quan và công chức hải quan. Cụ thể như sau:

12.2.2.1. Về hệ thống tổ chức của Hải quan (Điều 14)

Theo Luật Hải quan năm 2001, 2005, hệ thống tổ chức bộ máy của ngành Hải quan gồm 3 cấp: Tổng cục Hải quan; Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Chi cục Hải quan cửa khẩu, Đội Kiểm soát hải quan và đơn vị tương đương.

Trong điều kiện hội nhập quốc tế và quá trình hiện đại hóa hoạt động hải quan hiện nay, việc tổ chức cơ quan hải quan phải đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về hải quan và sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, đồng thời bảo đảm hệ thống tổ chức hải quan chặt chẽ, tinh gọn, hiệu quả trong điều kiện ứng dụng khoa học – kỹ thuật trong công tác quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, người và phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh. Đây cũng là xu hướng tổ chức của hải quan các nước trên thế giới hiện nay. Vì vậy, trên cơ sở kế thừa quy định về tổ chức bộ máy tại Luật hải quan năm 2001, 2005, Luật hải quan năm 2014 bổ sung quy định có tính chất nguyên tắc trong việc thành lập Cục hải quan để trên cơ sở đó Chính phủ quy định các tiêu chí thành lập Cục hải quan “Chính phủ căn cứ vào khối lượng công việc, quy mô, tính chất hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, đặc thù, điều kiện kinh tế – xã hội của từng địa bàn để quy định tiêu chí thành lập Cục Hải quan; quy định cụ thể tổ chức, nhiệm vụ, hoạt động của Hải quan các cấp”.

12.2.2.2 Về công chức hải quan (Điều 15)

Luật hải quan năm 2014 đã sửa đổi quy định về công chức hải quan bảo đảm phù hợp Luật cán bộ, công chức: Công chức hải quan là người có đủ điều kiện được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan hải quan; được đào tạo, bồi dưỡng và quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.

12.2.3. Thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát hải quan (Chương III)

Chương này gồm 9 mục, 67 Điều, được xây dựng trên cơ sở những nội dung quy định tại Chương III Luật hải quan năm 2001, 2005 còn phù hợp, bổ sung một số nội dung mới và bố cục lại trên cơ sở chuẩn hoá chế độ quản lý hải quan đối với hàng hoá. Nội dung sửa đổi, bổ sung cơ bản như sau:

12.2.3.1. Quy định chung

Mục này có 26 điều gồm các nội dung quy định chung về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan. Trong đó tập trung sửa đổi, bổ sung các nội dung sau:

Áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý hải quan (Điều 16, Điều 17)

Phương pháp quản lý rủi ro được thực hiện trên cơ sở thu thập, phân tích thông tin nghiệp vụ hải quan, đánh giá rủi ro để xác định, lựa chọn đối tượng kiểm tra hải quan.

Ngay từ năm 2005, cơ chế phân tích, đánh giá rủi ro, tiêu chí phân luồng được ngành Hải quan thiết lập, triển khai tại 3 cấp: Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan địa phương và Chi cục Hải quan. Thông qua việc áp dụng hệ thống quản lý rủi ro đã:

(i) Đánh giá, phân loại rủi ro (phân luồng) đối với từng lô hàng, hỗ trợ đắc lực cho Chi cục Hải quan quyết định hình thức, mức độ kiểm tra hàng hoá; giảm thiểu thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian thông quan, giảm chi phí phát sinh trong quá trình làm thủ tục hải quan.

(ii) Cải thiện, từng bước minh bạch môi trường thương mại trên cơ sở nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của doanh nghiệp.

(iii) Giảm tỷ lệ kiểm tra hàng hoá; giảm áp lực về khối lượng công việc cho cơ quan hải quan trong điều kiện lưu lượng hàng hoá xuất nhập khẩu ngày càng gia tăng.

Tuy nhiên, cơ sở pháp lý để thực hiện phương pháp này chưa được đề cập trong Luật hải quan. Luật hải quan năm 2001, 2005 chưa đề cập đến thuật ngữ “quản lý rủi ro”, tại các Điều 28, 29, 30 quy định cụ thể các trường hợp kiểm tra hải quan, miễn kiểm tra hải quan, do đó việc lựa chọn đối tượng kiểm tra trở nên cứng nhắc, không phù hợp với nguyên tắc quản lý rủi ro.

Quản lý rủi ro được xem là một công cụ hữu hiệu cho quản lý hải quan hiện đại, giúp cho cơ quan hải quan của các nước có thể phân bổ nguồn lực một cách hợp lý mà vẫn đảm bảo quản lý hải quan và không gây khó khăn cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu. Trong điều kiện thông quan tự động, quản lý rủi ro là cơ sở quan trọng để bảo đảm việc kiểm tra, giám sát của cơ quan hải quan được thực hiện hiệu quả, phù hợp với thông lệ hải quan quốc tế. Công ước Kyoto sửa đổi tại các Chuẩn mực từ 6.3 đến 6.5 quy định cụ thể về áp dụng quản lý rủi ro.

Do đó, để đảm bảo cơ sở pháp lý áp dụng quản lý rủi ro một cách đầy đủ, có hiệu quả, phù hợp với các Chuẩn mực của Công ước Kyoto sửa đổi, tại Điều 16 và Điều 17 Luật hải quan năm 2014 đã quy định cụ thể về quản lý rủi ro như sau:

– Kiểm tra, giám sát hải quan được thực hiện trên cơ sở áp dụng quản lý rủi ro nhằm đảm bảo hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước về hải quan và tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.

– Phạm vi áp dụng quản lý rủi ro: quyết định việc kiểm tra, giám sát, hỗ trợ các hoạt động phòng, chống buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.

– Quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan bao gồm việc thu thập, xử lý thông tin hải quan; xây dựng tiêu chí và tổ chức đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người khai hải quan, phân loại mức độ rủi ro; tổ chức thực hiện các biện pháp quản lý hải quan phù hợp.

– Cơ quan Hải quan quản lý, ứng dụng hệ thống thông tin nghiệp vụ để tự động tích hợp, xử lý dữ liệu phục vụ việc áp dụng quản lý rủi ro trong các hoạt động nghiệp vụ hải quan.

Các quy định này sẽ tạo điều kiện để cơ quan hải quan tập trung nguồn lực, phương tiện để kiểm tra, giám sát đối với những địa bàn, doanh nghiệp, những hàng hóa rủi ro cao, giảm lực lượng ở những nơi có rủi ro thấp, phòng chống tình trạng gian lận; góp phần đảm bảo quản lý nhà nước về hải quan, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trên cơ sở phương thức quản lý hải quan hiện đại.

Đại lý làm thủ tục hải quan (Điều 20).

Điều 21 Luật hải quan 2001, 2005 chưa quy định điều kiện của đại lý làm thủ tục hải quan và nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan, chưa quy định rõ quyền và nghĩa vụ của đại lý làm thủ tục hải quan như người khai hải quan, vì vậy dẫn đến khó khăn khi xác định trách nhiệm của đại lý làm thủ tục hải quan và nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan.

Việc thay đổi phương thức khai hải quan chủ yếu theo phương thức điện tử, đặt ra yêu cầu có cơ sở pháp lý tạo điều kiện hỗ trợ đại lý phát triển theo hướng chuyên nghiệp. Do đó, tại điều 20 Luật hải quan năm 2014 đã sửa đổi, bổ sung quy định về đại lý làm thủ tục hải quan hướng tới việc chuyên nghiệp hóa hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan, trong đó quy định rõ: các điều kiện của đại lý làm thủ tục hải quan và nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan; quyền và nghĩa vụ của đại lý làm thủ tục hải quan và nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan. Cụ thể:

1. Điều kiện là đại lý làm thủ tục hải quan:

a) Có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp có ngành, nghề kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hoá hoặc đại lý làm thủ tục hải quan;

b) Có nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan;

c) Có hạ tầng công nghệ thông tin đáp ứng điều kiện để thực hiện khai hải quan điện tử và các điều kiện khác theo quy định.

2. Nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan là công dân Việt Nam đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

a) Có trình độ cao đẳng kinh tế, luật, kỹ thuật trở lên;

b) Có chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan;

c) Được cơ quan hải quan cấp mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan.

3. Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan quyết định việc công nhận, tạm dừng, chấm dứt hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan; cấp chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan; cấp và thu hồi mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan.

4. Đại lý làm thủ tục hải quan và nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan thực hiện quyền và nghĩa vụ của người khai hải quan quy định tại Điều 18 của Luật này.

Địa điểm làm thủ tục hải quan (Điều 22)

Điều 17 Luật Hải quan năm 2001, 2005 chỉ quy định địa điểm làm thủ tục hải quan là trụ sở Chi cục Hải quan cửa khẩu, trụ sở Chi cục Hải quan ngoài cửa khẩu. Quy định nêu trên chưa bao quát hết nội hàm của địa điểm làm thủ tục hải quan. Trên thực tế địa điểm làm thủ tục hải quan không chỉ là trụ sở chi cục mà phạm vi rộng hơn, bao gồm: nơi tiếp nhận, đăng ký hồ sơ, kiểm tra hồ sơ hải quan; địa điểm kiểm tra thực tế hàng hóa bao gồm: địa điểm kiểm tra tập trung tại khu vực cửa khẩu hoặc ngoài cửa khẩu; địa điểm kiểm tra tại cơ sở sản xuất, chân công trình, nơi tổ chức hội chợ triển lãm; địa điểm kiểm tra tại các khu vực kho ngoại quan, kho bảo thuế, địa điểm thu gom hàng lẻ (CFS)…

Luật Hải quan 2001, 2005 chưa quy định việc cơ quan hải quan tiến hành hoạt động kiểm tra tại địa điểm kiểm tra ở nước ngoài. Theo quy định Hiệp định GMS, các nước có chung biên giới cùng tiến hành kiểm tra tại địa điểm kiểm tra chung ở nước nhập khẩu. Trên thực tế, hàng ngày cán bộ hải quan Việt Nam và cán bộ Hải quan Lào đã sang lãnh thổ của nhau để thực hiện kiểm tra chung (việc này được triển khai thực hiện từ năm 2006).

Tham khảo quy định tại Công ước Kyoto cho thấy:

Công ước Kyoto quy định: Cơ quan hải quan cho phép nộp tờ khai hàng hóa tại bất cứ đơn vị Hải quan nào đã được chỉ định. Ngoài ra tại chuẩn mực 3.5 còn quy định về việc hợp tác với Hải quan của nước láng giềng để xây dựng đơn vị Hải quan liền kề nhằm tạo thuận lợi cho việc phối hợp kiểm tra.

Ngoài ra, Luật Hải quan năm 2001, 2005 chưa có quy định trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong việc bố trí địa điểm làm thủ tục hải quan, khu vực xếp hàng hoá, khu vực kiểm tra thực tế hàng hóa khi quy hoạch, xây dựng cảng, cửa khẩu… Vì thế nhiều cảng, cửa khẩu, khu phi thuế quan khi được thành lập không có mặt bằng để bố trí địa điểm làm thủ tục hải quan, hàng hoá được xếp đặt không khoa học, không phân biệt khu vực chứa hàng hoá xuất nhập khẩu với khu vực chứa hàng hoá nội địa nên khó khăn cho công tác giám sát hải quan.

Để phù hợp với việc triển khai thủ tục hải quan điện tử , theo đó tiếp nhận và xử lý tờ khai có thể tiến hành theo cơ chế một cửa quốc gia, theo mô hình xử lý tập trung tại cấp Cục, Tổng cục, không nhất thiết phải thực hiện ở Chi cục, tại Điều 22 Luật hải quan năm 2014 sửa đổi quy định về địa điểm làm thủ tục hải quan theo hướng quy định rõ địa điểm theo từng bước, từng khâu của thủ tục hải quan: địa điểm tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ hải quan; địa điểm kiểm tra thực tế hàng hóa. Đồng thời, Luật cũng quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc bố trí địa điểm làm thủ tục hải quan và nơi lưu giữ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đáp ứng yêu cầu kiểm tra, giám sát hải quan. Cụ thể:

“1. Địa điểm làm thủ tục hải quan là nơi cơ quan hải quan tiếp nhận, đăng ký và kiểm tra hồ sơ hải quan, kiểm tra thực tế hàng hóa, phương tiện vận tải.

2. Địa điểm tiếp nhận, đăng ký và kiểm tra hồ sơ hải quan là trụ sở Cục Hải quan, trụ sở Chi cục Hải quan.

3. Địa điểm kiểm tra thực tế hàng hóa bao gồm:

a) Địa điểm kiểm tra tại khu vực cửa khẩu đường bộ, ga đường sắt liên vận quốc tế, cảng hàng không dân dụng quốc tế; bưu điện quốc tế; cảng biển, cảng thủy nội địa có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; cảng xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa được thành lập trong nội địa;

b) Trụ sở Chi cục Hải quan;

c) Địa điểm kiểm tra tập trung theo quyết định của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan;

d) Địa điểm kiểm tra tại cơ sở sản xuất, công trình; nơi tổ chức hội chợ, triển lãm;

đ) Địa điểm kiểm tra tại khu vực kho ngoại quan, kho bảo thuế, địa điểm thu gom hàng lẻ;

e) Địa điểm kiểm tra chung giữa Hải quan Việt Nam với Hải quan nước láng giềng tại khu vực cửa khẩu đường bộ;

g) Địa điểm khác do Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan quyết định trong trường hợp cần thiết.

4. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khi quy hoạch, thiết kế xây dựng cửa khẩu đường bộ, ga đường sắt liên vận quốc tế, cảng hàng không dân dụng quốc tế; cảng biển, cảng thủy nội địa có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; cảng xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa được thành lập trong nội địa; khu kinh tế, khu công nghiệp, khu phi thuế quan và các địa điểm khác có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh có trách nhiệm bố trí địa điểm làm thủ tục hải quan và nơi lưu giữ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đáp ứng yêu cầu kiểm tra, giám sát hải quan theo quy định của Luật này.”

Thời hạn cơ quan hải quan làm thủ tục hải quan (Điều 23)

Điều 19 Luật Hải quan quy định về thời hạn công chức hải quan làm thủ tục hải quan nhưng chưa quy định cụ thể thời hạn công chức hải quan kiểm tra hồ sơ hải quan nên dễ dẫn đến tùy tiện trong việc kiểm tra hồ sơ hải quan, gây khó khăn cho người khai hải quan. Luật hải quan năm 2001, 2005 chưa quy định về việc làm thủ tục hải quan ngoài giờ, ngày lễ, ngày nghỉ.

Để bảo đảm tính minh bạch đồng thời giảm thời gian thực hiện thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, tại Điều 23 của Luật hải quan năm 2014 đã quy định rõ công chức hải quan kiểm tra hồ sơ chậm nhất 2 giờ làm việc kể từ thời điểm cơ quan hải quan tiếp nhận đầy đủ hồ sơ hải quan; thời gian kiểm tra thực tế hàng hoá là 8 giờ làm việc kể từ thời điểm người khai hải quan xuất trình đầy đủ hàng hoá cho cơ quan hải quan (theo luật hải quan năm 2001, 2005 là 02 ngày làm việc); trường hợp cần thiết phải gia hạn thì thời gian gia hạn tối đa không quá 2 ngày. Khoản 4 Điều 23 Luật hải quan năm 2014 cũng quy định rõ: Cơ quan hải quan thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa vào ngày lễ, ngày nghỉ và ngoài giờ làm việc để bảo đảm kịp thời việc xếp dỡ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, việc xuất cảnh, nhập cảnh của hành khách, phương tiện vận tải hoặc trên cơ sở đề nghị của người khai hải quan và phù hợp với điều kiện thực tế của địa bàn hoạt động hải quan.

Hồ sơ hải quan (Điều 24), thời hạn nộp hồ sơ hải quan (Điều 25)

(i) Hồ sơ hải quan

Hồ sơ hải quan quy định tại các cấp độ văn bản: Luật Hải quan năm 2001, 2005; Nghị định số 154/2005/NĐ-CP quy định về thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra giám sát hải quan quy định hồ sơ đối với hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu tương tự như quy định tại Luật Hải quan và Thông tư của Bộ Tài chính. Tuy nhiên các quy định này chưa bảo đảm sự thống nhất và minh bạch. Một số loại chứng từ theo quy định của Luật Hải quan bắt buộc phải có trong hồ sơ khai hải quan, nhưng trong thực tế quản lý, cơ quan Hải quan chỉ cần sử dụng để xử lý trong một số trường hợp, ví dụ như hợp đồng, bản kê chi tiết. Như vậy, thành phần hồ sơ nhiều nhưng trong những trường hợp nhất định thì một số chứng từ không thật sự cần thiết, làm phát sinh thêm thời gian và chi phí chuẩn bị các chứng từ của các doanh nghiệp.

Để khắc phục bất cập nêu trên, tạo điều kiện để đơn giản hóa các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan, Luật hải quan năm 2014 quy định chung thống nhất về hồ sơ hải quan theo đó: chỉ có tờ khai hải quan là chứng từ bắt buộc phải có khi làm thủ tục hải quan; đối với các chứng từ khác thuộc hồ sơ hải quan, Luật giao Bộ Tài chính quy định cụ thể trường phải nộp hoặc xuất trình phù hợp với quy định của pháp luật liên quan (điều 24).

Đối với trường hợp áp dụng cơ chế một cửa quốc gia, khoản 3 Điều 24 Luật hải quan quy định cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành gửi giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu, văn bản thông báo kết quả kiểm tra, miễn kiểm tra chuyên ngành dưới dạng điện tử thông qua hệ thống thông tin tích hợp. Như vậy, người khai hải quan không phải nộp chứng từ này.

(ii) Thời hạn nộp hồ sơ hải quan

Điểm a Khoản 1 Điều 16 Luật Hải quan 2001, 2005 quy định người khai hải quan phải nộp các chứng từ đi kèm tờ khai hải quan khi làm thủ tục hải quan. Quy định này không phù hợp với việc thực hiện khai và nộp hồ sơ bằng phương thức điện tử do các chứng từ đi kèm tờ khai hải quan có dung lượng lớn, làm chậm tốc độ xử lý của hệ thống. Hệ thống cũng chỉ xử lý được các thông tin trên tờ khai, chưa thể xử lý được các thông tin trên chứng từ thuộc hồ sơ hải quan. Như vậy, việc nộp các chứng từ đi kèm tờ khai chỉ cần thiết đối với trường hợp kiểm tra chi tiết hồ sơ để xác định tính chính xác của việc khai hải quan.

Xác định thủ tục hải quan được thực hiện chủ yếu bằng phương thức điện tử, bắt đầu từ việc khai hải quan, tạo cơ sở pháp lý ứng dụng công nghệ thông tin ở mức cao trong quản lý hải quan, tạo thuận lợi hơn nữa cho hoạt động xuất nhập khẩu đồng thời phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ hải quan quốc tế, Luật hải quan năm 2014 không quy định người khai hải quan phải nộp các chứng từ đi kèm tờ khai ngay khi đăng ký tờ khai hải quan điện tử mà chỉ quy định việc nộp các chứng từ này khi cơ quan hải quan tiến hành kiểm tra hồ sơ hải quan. Cụ thể:

“1. Thời hạn nộp tờ khai hải quan được quy định như sau:

a) Đối với hàng hóa xuất khẩu, nộp sau khi đã tập kết hàng hóa tại địa điểm người khai hải quan thông báo và chậm nhất là 04 giờ trước khi phương tiện vận tải xuất cảnh; đối với hàng hóa xuất khẩu gửi bằng dịch vụ chuyển phát nhanh thì chậm nhất là 02 giờ trước khi phương tiện vận tải xuất cảnh;

b) Đối với hàng hoá nhập khẩu, nộp trước ngày hàng hoá đến cửa khẩu hoặc trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hàng hoá đến cửa khẩu;

c) Thời hạn nộp tờ khai hải quan đối với phương tiện vận tải thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 69 của Luật này.

2. Tờ khai hải quan có giá trị làm thủ tục hải quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày đăng ký.

3. Thời hạn nộp chứng từ có liên quan thuộc hồ sơ hải quan được quy định như sau:

a) Trường hợp khai hải quan điện tử, khi cơ quan hải quan tiến hành kiểm tra hồ sơ hải quan, kiểm tra thực tế hàng hóa, người khai hải quan nộp các chứng từ giấy thuộc hồ sơ hải quan, trừ những chứng từ đã có trong hệ thống thông tin một cửa quốc gia;

b) Trường hợp khai tờ khai hải quan giấy, người khai hải quan phải nộp hoặc xuất trình chứng từ có liên quan khi đăng ký tờ khai hải quan.”

Quy định như trên đã tạo điều kiện cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa hồ sơ đối với trường hợp không thuộc diện kiểm tra thực tế hàng hóa, tạo thuận lợi hơn cho hoạt động xuất nhập khẩu.

Phân loại hàng hóa (Điều 26)

Việc phân loại hàng hóa được quy định tại Điều 72 Luật hải quan năm 2001, 2005 thuộc Chương “tổ chức thu thuế và các khoản thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu”. Tuy nhiên, việc phân loại hàng hóa không chỉ nhằm mục đích thu thuế mà còn nhằm đảm bảo thống nhất phân loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu cho các mục đích khác như: xác định xuất xứ và đàm phán thương mại giữa các quốc gia, quản lý hàng hoá cần kiểm soát chuyên ngành…Một trong các cơ sở để phân loại hàng hóa là Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, Danh mục này do Bộ Tài chính ban hành cần được quy định tại Luật để bảo đảm tính pháp lý khi thực hiện

Luật hải quan năm 2014 đã bổ sung khái niệm phân loại hàng hoá tại Điều 4 và sửa đổi quy định về phân loại hàng hóa tại Điều 26 quy định cụ thể về phân loại hàng hóa và phạm vi áp dụng phân loại hàng hóa, theo đó:

– Phân loại hàng hoá để xác định mã số hàng hóa làm cơ sở tính thuế và thực hiện chính sách quản lý hàng hóa.

– Khi phân loại hàng hóa phải căn cứ hồ sơ hải quan, tài liệu kỹ thuật và các thông tin khác có liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu để xác định tên gọi, mã số của hàng hóa theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam.

Để bảo đảm tính thống nhất giữa Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam với các danh mục quản lý, điều hành hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, khoản 3 khoản 4 Điều 26 đã quy định rõ:

– Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam thống nhất trong toàn quốc.

– Trên cơ sở Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu, Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Danh mục hàng hóa thuộc đối tượng kiểm tra chuyên ngành do Chính phủ quy định, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành mã số hàng hóa thống nhất với mã số thuộc Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam.

Quy định nêu trên sẽ khắc phục được tình trạng danh mục hàng hóa thuộc diện cấm xuất nhập khẩu hoặc quản lý chuyên ngành do các Bộ, Ngành ban hành không kèm theo mã số hàng hóa, chậm công bố mã số hàng hóa hoặc có mã số hàng hóa không thống nhất với mã số hàng hóa tại Danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam gây khó khăn cho cơ quan hải quan và doanh nghiệp khi thực hiện.

Xác định xuất xứ hàng hóa (Điều 27)

Hiện nay, việc chứng nhận xuất xứ hàng hóa do cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu, nước sản xuất thực hiện thông qua việc cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) để xuất trình cho cơ quan hải quan nước nhập khẩu để kiểm tra.

Trong khuôn khổ các quy định tại các Hiệp định như: Hiệp định thương mại tự do ASEAN, Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU ( EVFTA) và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Khối thương mại tự do châu Âu (EFTA), có quy định cơ chế cho phép nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất được tự chứng nhận xuất xứ, tuy nhiên cơ chế này chưa được nội luật trong văn bản quy phạm pháp luật để triển khai thực hiện.

Mặt khác, trong tất cả các Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam tham gia đều có điều khoản cho phép cơ quan hải quan ra nước ngoài điều tra, xác minh xuất xứ hàng hóa. Luật Hải quan năm 2001, 2005 chưa có quy định về việc cơ quan hải quan tiến hành điều tra, xác minh xuất xứ tại nước xuất khẩu, nước sản xuất.

Để nội luật hóa các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, tạo cơ sở pháp lý cho việc cơ quan hải quan chấp nhận việc tự chứng nhận xuất xứ của người xuất khẩu, người sản xuất và cử cán bộ hải quan điều tra, xác minh xuất xứ hàng hóa tại nước xuất khẩu, nước sản xuất, việc sử dụng kết quả xác minh, điều tra để áp dụng ưu đãi thuế quan, chính sách quản lý đối với hàng hóa nhập khẩu đồng thời nâng cao năng lực của cơ quan hải quan trong việc xác định xuất xứ hàng hóa,Luật hải quan năm 2014 đã bổ sung 01 Điều (Điều 27 Luật) quy định:

– Đối với hàng hóa xuất khẩu: Trường hợp có nghi ngờ về xuất xứ, cơ quan hải quan yêu cầu người khai hải quan cung cấp chứng từ, tài liệu liên quan đến xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, tiến hành kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa tại cơ sở sản xuất hàng hóa xuất khẩu. Trong khi chờ kết quả kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa, hàng hóa xuất khẩu được thông quan theo quy định.

– Đối với hàng hóa nhập khẩu: Cơ quan hải quan kiểm tra, xác định xuất xứ trên cơ sở nội dung khai của người khai hải quan, chứng từ chứng nhận xuất xứ, chứng từ thuộc hồ sơ hải quan và kết quả kiểm tra thực tế hàng hoá. Chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa nhập khẩu do cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu phát hành hoặc do người sản xuất, người xuất khẩu hoặc người nhập khẩu tự chứng nhận theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

+ Trường hợp có nghi ngờ về xuất xứ hàng hóa nhập khẩu, cơ quan hải quan tiến hành kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa tại nước sản xuất hàng hóa theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Kết quả kiểm tra, xác minh xuất xứ có giá trị pháp lý để xác định xuất xứ hàng hóa nhập khẩu.

+ Trong khi chờ kết quả kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa, hàng hóa nhập khẩu được thông quan theo quy định nhưng không được hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt. Số thuế chính thức phải nộp căn cứ vào kết quả kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa.

Các quy định nêu trên không chỉ là căn cứ để xác định các ưu đãi về thuế mà còn là cơ sở để cơ quan hải quan thực hiện các quy định pháp luật về quản lý đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; áp dụng thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp, quy định về việc xác định hàng hóa có được nhập khẩu hay không.

Xác định mã số, xuất xứ, trị giá hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu trước khi làm thủ tục hải quan (Điều 28)

Hiện nay, Luật Quản lý thuế đã bổ sung nội dung về quy định xác định trước. Tuy nhiên, việc xác định trước về mã số, xuất xứ không chỉ để xác định trước về thuế mà còn để có cơ sở áp dụng chính sách quản lý mặt hàng, áp dụng các yêu cầu quản lý của cơ quan hải quan, nhưng nội dung này không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Quản lý thuế.

Công ước Kyoto (Việt Nam đã tham gia) cũng như các cam kết quốc tế trong khuôn khổ WTO, ASEAN đều khuyến nghị cơ quan Hải quan cho phép doanh nghiệp được áp dụng cơ chế phân loại trước về mã số, xác định trị giá tính thuế, xuất xứ hàng hoá trước khi làm thủ tục cho hàng hoá xuất nhập khẩu.

Để giúp doanh nghiệp chủ động xác định trước về chính sách xuất nhập khẩu, nghĩa vụ thuế đối với hàng hóa dự kiến xuất khẩu, nhập khẩu, tính toán trước hiệu quả kinh doanh, Điều 28 Luật hải quan đã bổ sung cơ chế cơ quan hải quan thực hiện xác định trước cho doanh nghiệp về mã số, xuất xứ, trị giá hải quan. Cụ thể:

– Quy định về khái niệm xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan đối với hàng hoá (điều 4);

– Quy định các nội dung về quyền, nghĩa vụ của người khai hải quan liên quan đến xác định trước trong lĩnh vực hải quan vào (điều 18);

 – Quy định về thủ tục xác định trước (Điều 28). Theo đó, trường hợp người khai hải quan đề nghị cơ quan hải quan xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan đối với hàng hóa dự kiến xuất khẩu, nhập khẩu, người khai hải quan cung cấp thông tin, chứng từ liên quan, mẫu hàng hóa dự kiến xuất khẩu, nhập khẩu hoặc tài liệu kỹ thuật liên quan cho cơ quan hải quan để cơ quan hải quan xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan. Kết quả xác định trước được cơ quan hải quan thông báo bằng văn bản, có giá trị pháp lý để cơ quan hải quan làm thủ tục hải quan khi hàng hóa thực xuất khẩu, nhập khẩu phù hợp với thông tin, chứng từ liên quan, mẫu hàng hóa mà người khai hải quan đã cung cấp.

Luật hải quan năm 2014 cũng quy định việc giải quyết đối với trường hợp người khai hải quan không đồng ý với kết quả xác định trước.

Quy định nêu trên giúp doanh nghiệp chủ động tính toán trước hiệu quả kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ; giúp cơ quan hải quan tăng hiệu quả quản lý khi thực hiện thủ tục thông quan cho hàng hoá xuất nhập khẩu; hạn chế các trường hợp tranh chấp giữa doanh nghiệp và cơ quan hải quan về việc áp mã, xác định giá tính thuế, xuất xứ hàng hoá khi làm thủ tục thông quan.

Khai hải quan (Điều 29)

a) Phương thức khai

Việc triển khai ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong thủ tục hải quan và quản lý hải quan, đồng thời nội dung sửa đổi Luật Hải quan hướng tới việc thực hiện thủ tục hải quan chủ yếu bằng phương thức điện tử đồng thời với việc triển khai ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong thủ tục hải quan và quản lý hải quan, do đó, tại khoản 2 Điều 29 Luật hải quan năm 2014 đã quy định thay đổi căn bản phương thức thực hiện thủ tục hải quan từ phương thức truyền thống, bán điện tử sang phương thức điện tử, theo đó: việc khai hải quan được thực hiện theo phương thức điện tử, việc khai trên tờ khai giấy chỉ áp dụng đối với một số trường hợp cụ thể do Chính phủ quy định.

Thực hiện thủ tục hải quan điện tử góp phần giảm bớt thời gian và chi phí làm thủ tục hải quan cho cả người khai hải quan và cơ quan hải quan, tạo thuận lợi cho việc thông quan hàng hóa nhanh chóng.

b) Về khai bổ sung

Điều 22 Luật Hải quan quy định người khai hải quan được bổ sung, sửa chữa tờ khai trước thời điểm kiểm tra thực tế hàng hóa, thời điểm quyết định miễn kiểm tra thực tế hàng hóa, chưa có quy định về khai bổ sung sau thông quan. Khoản 2 Điều 34 Luật Quản lý thuế chỉ đề cập đến việc khai bổ sung về thuế sau khi hàng hoá đã được thông quan. Tuy nhiên, thực tế phát sinh một số trường hợp người khai hải quan có yêu cầu khai bổ sung sau khi hàng hoá đã thông quan nhưng không ảnh hưởng đến thuế, do Luật Hải quan không quy định nên không có cơ sở pháp lý để cơ quan hải quan xem xét, giải quyết. Mặt khác, quy định được bổ sung, sửa chữa tờ khai trước thời điểm kiểm tra thực tế hàng hóa dẫn đến cách hiểu khác nhau: được bổ sung, sửa chữa tờ khai trước thời điểm thực hiện kiểm tra thực tế hàng hóa hoặc được bổ sung, sửa chữa tờ khai trước thời điểm quyết định kiểm tra thực tế hàng hóa.

– Đối chiếu với các quy định tại các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên cho thấy quy định tại Luật Hải quan về khai hải quan chưa thực sự phù hợp. Cụ thể:

+ Công ước Kyoto sửa đổi (chuẩn mực 3.20 đến 3.31 Phụ lục Tổng quát) quy định cho phép người khai hải quan sửa đổi, bổ sung tờ khai đã nộp với điều kiện khi nhận được yêu cầu đó, cơ quan Hải quan chưa bắt đầu kiểm tra tờ khai hoặc kiểm tra thực tế hàng hóa; hoặc sau khi việc kiểm tra Tờ khai hàng hóa đã bắt đầu, nếu những lý do do người khai hải quan đưa ra được cơ quan Hải quan chấp nhận là hợp lý.

+ Hiệp định Hải quan ASEAN: Cơ quan hải quan của Nước Thành viên có thể cho phép cho bất kỳ người nào có hàng hóa đặt dưới một thủ tục hải quan, sử dụng một tờ khai hàng hóa đơn giản mà có thể bỏ qua một chi tiết cụ thể và chứng từ đi kèm yêu cầu đối với tờ khai hàng hóa, tùy thuộc vào các điều kiện và yêu cầu theo quy định của cơ quan hải quan. Đối với trường hợp tờ khai hàng hóa đơn giản, nếu cơ quan hải quan của Nước Thành viên liên quan có yêu cầu, người khai sẽ phải bổ sung sau đó các chi tiết trên tờ khai và các chứng từ đi kèm cần thiết để hoàn thành việc khai báo hàng hóa đối với thủ tục hải quan liên quan (Điều 14).

Do đó, tại Điều 29 Luật hải quan năm 2014 quy định về khai bổ sung để bảo đảm bao quát các trường hợp phát sinh trong thực tế. Cụ thể:

– Đối với hàng hóa đang làm thủ tục hải quan: trước thời điểm cơ quan hải quan thông báo việc kiểm tra trực tiếp hồ sơ hải quan;

– Đối với hàng hóa đã được thông quan: trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày thông quan và trước thời điểm cơ quan hải quan quyết định kiểm tra sau thông quan, thanh tra, trừ trường hợp nội dung khai bổ sung liên quan đến giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu; kiểm tra chuyên ngành về chất lượng hàng hóa, y tế, văn hóa, kiểm dịch động vật, thực vật, an toàn thực phẩm;

– Quá thời hạn nêu trên, người khai hải quan được thực hiện khai bổ sung nhưng bị xử lý theo quy định của pháp luật về thuế, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Đồng thời, tại khoản 3 Điều 101 Luật hải quannăm 2014 quy định sửa đổi quy định về khai bổ sung tại khoản 2 Điều 34 Luật Quản lý thuế theo hướng việc khai bổ sung hồ sơ khai thuế thực hiện theo quy định của Luật Hải quan.

Đăng ký tờ khai hải quan (Điều 30)

Điều 28 Luật Hải quan 2001, 2005 chỉ quy định về việc kiểm tra hồ sơ trước khi đăng ký tờ khai hải quan mà chưa quy định rõ địa điểm, thời điểm đăng ký tờ khai hải quan; trong khi thời điểm đăng ký tờ khai là căn cứ để xác định chính sách thuế, chính sách quản lý hàng hoá xuất nhập khẩu theo quy định của pháp luật thuế, pháp luật về quản lý hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu. Bên cạnh đó, việc không quy định rõ địa điểm được đăng ký tờ khai dẫn đến tình trạng hàng về một cửa khẩu nhưng thủ tục hải quan lại được thực hiện ở một cửa khẩu khác, khó khăn trong công tác quản lý hải quan, chưa gắn kết được việc làm thủ tục hải quan với việc kiểm tra, giám sát đặc biệt là đối với loại hình nhập sản xuất xuất khẩu, gia công, chế xuất.

Để bảo đảm tính minh bạch, tại Điều 30 Luật hải quan năm 2014 đã quy định:

– Địa điểm đăng ký tờ khai hải quan: Địa điểm làm thủ tục hải quan tại cửa khẩu nơi hàng đến; địa điểm làm thủ tục hải quan nơi hàng hoá được chuyển cửa khẩu đến; địa điểm làm thủ tục hải quan nơi lưu giữ hàng hóa.

– Phương thức đăng ký tờ khai hải quan: Tờ khai điện tử được đăng ký theo phương thức điện tử, tờ khai giấy được đăng ký trực tiếp tại cơ quan hải quan

– Tờ khai hải quan được đăng ký sau khi cơ quan hải quan chấp nhận việc khai của người khai hải quan. Thời điểm đăng ký được ghi trên tờ khai hải quan.

Trong trường hợp không chấp nhận đăng ký tờ khai hải quan cơ quan hải quan thông báo lý do bằng văn bản giấy hoặc qua phương thức điện tử cho người khai hải quan biết.

Kiểm tra hải quan trong quá trình làm thủ tục hải quan (Điều 31 đến 34)

Để đảm bảo quản lý nhà nước về hải quan đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, phù hợp với thủ tục hải quan điện tử; tại các Điều từ 31 đến 34 Luật hải quan năm 2014 đã quy định về kiểm tra hải quan như sau:

– Căn cứ kết quả phân tích, đánh giá rủi ro và các thông tin có liên quan đến hàng hoá, thủ trưởng cơ quan hải quan nơi xử lý hồ sơ hải quan quyết định kiểm tra hồ sơ hải quan, kiểm tra thực tế hàng hóa (Điều 31);

– Quy định nội dung kiểm tra hồ sơ, việc thực hiện kiểm tra thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan hoặc trực tiếp bởi công chức hải quan (Điều 32);

– Về kiểm tra thực tế hàng hóa:

+ Quy định các trường hợp được miễn kiểm tra thực tế, các trường hợp kiểm tra thực tế hàng hóa phù hợp với nguyên tắc quản lý rủi ro (Điều 33).

+ Bổ sung quy định việc kiểm tra thực tế hàng hóa khi vắng mặt người khai hải quan thông qua các hình thức: kiểm tra không xâm nhập qua máy soi, kiểm tra thông qua thiết bị kỹ thuật, biện pháp nghiệp vụ khác để tạo cơ sở pháp lý giúp cơ quan hải quan chủ động phát hiện vi phạm đưa ra biện pháp xử lý kịp thời (Điều 34).

Trách nhiệm kiểm tra hàng hóa, phương tiện vận tải trong địa bàn hoạt động hải quan (Điều 35)

Đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu chưa được thông quan, ngoài việc chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan còn chịu sự kiểm tra theo quy định của các luật khác có liên quan như: kiểm dịch (Pháp lệnh thú y, Pháp lệnh bảo vệ và kiểm dịch thực phẩm), kiểm tra an toàn thực phẩm (Luật An toàn thực phẩm), kiểm tra chất lượng (Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa). Tuy nhiên, việc phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong việc kiểm tra, thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại cửa khẩu chưa được chặt chẽ. Trách nhiệm của cơ quan hải quan và các cơ quan chức năng về kiểm tra chuyên ngành: kiểm dịch thực vật, kiểm dịch động vật, kiểm tra an toàn thực phẩm, kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá,… chưa được quy định cụ thể nên các hoạt động này trên thực tế còn thiếu thống nhất và đồng bộ.

Để bảo đảm yêu cầu giám sát trong khi chờ kết quả kiểm tra chuyên ngành; đồng thời phân định rõ trách nhiệm của cơ quan hải quan và các cơ quan kiểm tra chuyên ngành trong việc giám sát hàng hóa trong quá trình kiểm tra, thông báo kết quả kiểm tra, làm thủ tục thông quan hàng hóa, Điều 35 Luật hải quan năm 2014 quy định rõ:

– Trường hợp phải kiểm tra chuyên ngành về chất lượng, y tế, văn hoá, kiểm dịch động vật, thực vật, an toàn thực phẩm thì cơ quan hải quan căn cứ kết quả kiểm tra của cơ quan kiểm tra chuyên ngành để quyết định việc thông quan.

– Hàng hóa thuộc đối tượng kiểm tra chuyên ngành phải được lưu giữ tại cửa khẩu cho đến khi được thông quan. Trường hợp đưa về địa điểm khác để tiến hành việc kiểm tra chuyên ngành hoặc chủ hàng hóa có yêu cầu đưa hàng hóa về bảo quản, thì địa điểm lưu giữ phải đáp ứng điều kiện về giám sát hải quan và hàng hóa đó chịu sự giám sát của cơ quan hải quan cho đến khi được thông quan.

– Chủ hàng hóa chịu trách nhiệm bảo quản, lưu giữ hàng hóa tại địa điểm kiểm tra chuyên ngành hoặc địa điểm lưu giữ của chủ hàng hóa cho đến khi cơ quan hải quan quyết định thông quan.

– Cơ quan kiểm tra chuyên ngành có trách nhiệm thông báo kết quả kiểm tra cho cơ quan hải quan trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày có kết quả kiểm tra.

Giải phóng hàng hóa, Thông quan (Điều 36, 37)

– Luật hải quan năm 2001, 2005 cũng bộc lộ những bất cập như: cho phép đưa hàng về bảo quản khi chưa xác định mặt hàng đó có được phép nhập khẩu hay không dẫn đến rủi ro doanh nghiệp tự ý tiêu thụ hàng hóa không đủ điều kiện nhập khẩu; chưa quy định rõ việc thông quan hay không đối với trường hợp hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải kiểm tra, phân tích, giám định để xác định có được phép xuất khẩu, nhập khẩu hay không.

Trên cơ sở tham khảo quy định tại Công ước Kyoyo và Luật Hải quan một số nước như Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản, xác định giải phóng hàng hóa là một bước trong chuỗi thủ tục hải quan (Điều 21), Luật hải quan năm 2014 đã bổ sung 01 Điều (Điều 36) quy định về giải phóng hàng hóa, đồng thời sửa đổi, bổ sung khái niệm thông quan (Điều 4) và quy định về thông quan tại Điều 37. Cụ thể như sau:

(i) Giải phóng hàng hóa là việc cơ quan hải quan cho phép xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá khi đã đủ các điều kiện: Hàng hóa đủ điều kiện để được xuất khẩu, nhập khẩu nhưng chưa xác định số thuế chính thức phải nộp; người khai hải quan đã nộp thuế hoặc được tổ chức tín dụng bảo lãnh số thuế trên cơ sở tự kê khai, tính thuế của người khai hải quan.

(ii) Thông quan: áp dụng đối với hàng hoá đã hoàn thành thủ tục hải quan.

Điều 37 Luật hải quan năm 2014 cũng quy định cụ thể việc thông quan đối với một số trường hợp đặc thù như như chưa nộp thuế, bị xử phạt vi phạm hành chính…Luật cũng quy định:

– Đối với hàng hóa phải kiểm tra, phân tích, giám định để xác định có được phép xuất khẩu, nhập khẩu hay không, cơ quan hải quan chỉ thực hiện thông quan hàng hóa sau khi xác định hàng hoá được phép xuất khẩu, nhập khẩu trên cơ sở kết luận kiểm tra, phân tích, giám định theo quy định của pháp luật hoặc thông báo miễn kiểm tra theo quy định của pháp luật.

Giám sát hải quan (từ điều 38-điều 41)

Luật Hải quan năm 2001, 2005 chỉ quy định 2 phương thức giám sát là niêm phong hoặc bằng phương tiện kỹ thuật và giám sát trực tiếp, chưa quy định áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro trong giám sát hải quan, chưa quy định phương thức giám sát thông qua hệ thống sổ sách của doanh nghiệp. Với các phương thức giám sát này, cơ quan hải quan khó có thể giám sát liên tục, đầy đủ khối lượng lớn hàng hoá xuất nhập khẩu lưu giữ và ra, vào các khu vực cảng, cửa khẩu (ví dụ: cảng Cát Lái trung bình có khoảng trên 2000 cont xuất/ngày); các loại hình hàng hóa tham gia vào quá trình sản xuất hoặc phương tiện vận tải trong quá trình di chuyển từ địa điểm này đến địa điểm khác.

Các doanh nghiệp có liên quan như: doanh nghiệp kinh doanh cảng, kho, bãi, doanh nghiệp xếp dỡ… tuy tham gia vào quá trình vận chuyển, lưu giữ, giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu đang chịu sự giám sát hải quan nhưng Luật chưa quy định trách nhiệm của họ trong việc giám sát đối với loại hàng hóa này.

Tham khảo quy định của Luật Hải quan Nhật Bản cho thấy:

– Hải quan Nhật Bản không cử người đến tận nơi giám sát. Luật Hải quan Nhật Bản quy định: những người kinh doanh khu bảo thuế phải có trách nhiệm ghi chép vào sổ sách. Hệ thống NACCS không thể kiểm tra chi tiết số lượng hàng hoá xuất – nhập – tồn của kho bảo thuế mà cơ quan hải quan chỉ thực hiện kiểm tra 1,2 năm/lần bằng cách xuống doanh nghiệp để kiểm tra việc ghi chép sổ sách. Người kinh doanh kho bảo thuế sẽ thay Hải quan kiểm tra nên khi được cấp phép thành lập kho thì Hải quan cũng phải xem xét họ có đủ điều kiện kinh doanh hay không. Nếu chủ kinh doanh kho bảo thuế vi phạm thì nặng nhất là thu hồi giấy phép, nhẹ hơn là trong 1 khoảng thời gian không được nhận hàng hoá kinh doanh vào kho (Luật Hải quan Nhật Bản).

Để khắc phục những bất cập của Luật hải quan năm 2001, 2005, tham khảo kinh nghiệm quốc tế, Luật hải quan năm 2014 sửa đổi khái niệm về giám sát hải quan tại Điều 4; và từ Điều 38 đến Điều 41 quy định cụ thể hơn về giám sát hải quan với nội dung sửa đổi, bổ sung về: phương thức giám sát, thời gian giám sát, trách nhiệm của cơ quan hải quan trong hoạt động giám sát, trách nhiệm của người khai hải quan, người chỉ huy hoặc người điều khiển phương tiện vận tải, doanh nghiệp kinh doanh kho, băi, cảng trong hoạt động giám sát hải quan. Theo đó:

+ Giám sát hải quan được thực hiện bằng các phương thức: Niêm phong hải quan; Giám sát trực tiếp do công chức hải quan thực hiện; Sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật.

+ Thời gian giám sát hải quan:

++ Hàng hoá nhập khẩu chịu sự giám sát hải quan từ khi tới địa bàn hoạt động hải quan đến khi được thông quan, giải phóng hàng hóa và đưa ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan;

++ Hàng hoá xuất khẩu miễn kiểm tra thực tế hàng hóa chịu sự giám sát hải quan từ khi thông quan đến khi ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan. Trường hợp phải kiểm tra thực tế, hàng hóa xuất khẩu chịu sự giám sát hải quan từ khi bắt đầu kiểm tra thực tế hàng hóa đến khi ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan;

++ Hàng hóa quá cảnh chịu sự giám sát hải quan từ khi tới cửa khẩu nhập đầu tiên đến khi ra khỏi cửa khẩu xuất cuối cùng;

12.2.3.2. Chế độ ưu tiên đối với doanh nghiệp (mục 2)

Hiện nay, quy định về chế độ ưu tiên đối với doanh nghiệp được quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế, theo đó quy định về các tiêu chí để được áp dụng biện pháp ưu tiên đối với người nộp thuế. Tuy nhiên, trong lĩnh vực hải quan, ngoài thủ tục thuế còn có các thủ tục khác cần có cơ chế ưu tiên để khuyến khích doanh nghiệp thực hiện tốt quy định về quản lý hải quan. Tính đến 20/12/2014, tổng số doanh nghiệp được công nhận chế độ ưu tiên là 24 doanh nghiệp.

Chuẩn mực chuyển tiếp 3.32 Công ước Kyoto, Khung tiêu chuẩn về An ninh và Tạo thuận lợi thương mại toàn cầu của Tổ chức Hải quan thế giới, khuyến nghị việc xây dựng chương trình về Doanh nghiệp ưu tiên (AEO). Theo đó, các chủ thể kinh tế đáp ứng các tiêu chí quy định sẽ được hưởng những ưu đãi nhất định về thủ tục. Trên cơ sở Thông tư của Bộ Tài chính, Việt Nam đã thực hiện áp dụng chế độ ưu tiên từ năm 2011 và được các doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật đánh giá cao.            

Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có quá trình tuân thủ pháp luật tốt, doanh nghiệp có kim ngạch xuất nhập khẩu lớn, chế độ quản trị tốt được áp dụng thủ tục hải quan thuận lợi; Luật hải quan năm 2014 đã bổ sung 01 mục gồm 04 điều (42, 43, 44, 45) quy định về chế độ ưu tiên đối với doanh nghiệp. Theo đó, các chế độ ưu tiên quy định tại Điều 43 gồm:

– Miễn kiểm tra chứng từ liên quan thuộc hồ sơ hải quan, miễn kiểm tra thực tế hàng hóa trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan, trừ trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc kiểm tra ngẫu nhiên để đánh giá sự tuân thủ pháp luật.

– Được làm thủ tục hải quan bằng tờ khai hải quan chưa hoàn chỉnh hoặc chứng từ thay thế tờ khai hải quan.

– Được ưu tiên khi thực hiện thủ tục về thuế đối với hàng hóa theo quy định của pháp luật về thuế.

Luật hải quan năm 2014 cũng quy định cụ thể điều kiện áp dụng chế độ ưu tiên (Điều 42), việc áp dụng chế độ ưu tiên đối với các doanh nghiệp thuộc các quốc gia có ký thỏa thuận với Việt Nam công nhận lẫn nhau về doanh nghiệp ưu tiên; quyền, trách nhiệm của cơ quan hải quan (Điều 44), của doanh nghiệp được áp dụng chế độ ưu tiên (Điều 45).

12.2.3.3. Về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với các loại hình hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (mục 3 đến mục 7)

Luật Hải quan năm 2001, 2005 quy định nguyên tắc quản lý hải quan đối với 13 loại hình hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, chuyển khẩu, quá cảnh(từ Điều 33 đến Điều 49), trong đó chỉ quy định chung về thủ tục hải quan mà chưa quy định thủ tục hải quan, chế độ quản lý hải quan của các loại hình hàng hoá có tính đặc thù, một số loại hình như quản lý hải quan đối với hàng gia công, nhập sản xuất xuất khẩu, chế xuất, một số loại hình tạm xuất khẩu, tạm nhập khẩu….. chưa được quy định trong Luật.

Nhiều loại hình được quy định nhưng đến nay đã bộc lộ hạn chế:

+ Chưa phân biệt rõ ràng về quản lý hải quan đối với từng loại hàng hóa cụ thể.

+ Không có quy định rõ ràng về việc vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu chưa được cơ quan hải quan cấp phép nhập khẩu hoặc đã được cấp phép xuất khẩu nhưng chưa xuất khẩu.

+ Không có cơ chế quản lý hàng hoá tại “cửa khẩu” và “các địa điểm ngoài cửa khẩu”.

+ Đối với kho bảo thuế: Hàng hoá khi đưa vào, đưa ra khỏi kho đều phải lập tờ khai nhập, xuất kho; trách nhiệm quản lý, giám sát thuộc cơ quan hải quan trong khi cơ quan hải quan không có đủ nguồn lực để thực hiện việc này.

+ Đối với các doanh nghiệp chế xuất, gia công và sản xuất xuất khẩu: không có cơ chế cho phép cơ quan hải quan từ chối chấp nhận thực hiện không thu thuế, miễn thuế, ân hạn thuế. Cơ quan hải quan chỉ được kiểm tra, đánh giá đối với doanh nghiệp gia công ở một mức độ hạn chế khi các doanh nghiệp đăng ký nhập khẩu, xuất khẩu lần đầu. Còn đối với các doanh nghiệp khác thì chưa có cơ chế kiểm tra; trong khi cơ quan hải quan phải quản lý, theo dõi chi tiết hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu của các doanh nghiệp loại này từ giai đoạn nhập khẩu cho đến khi xuất khẩu và hoàn thành việc thanh khoản.

– Đối chiếu với quy định của Công ước KYOTO sửa đổi và tham khảo Luật Hải quan Nhật bản, Luật Hải quan Malaysia (chi tiết tại phụ lục đính kèm) cho thấy:      

+ Công ước Kyoto sửa đổi Phụ lục chuyên đề quy định các chế độ quản lý đối với một số loại 8 hình cụ thể: Phụ lục A: Hàng hóa nhập vào lãnh thổ hải quan; Phụ lục B: Thông quan cho hàng tiêu dùng nội địa; Phụ lục C: Xuất khẩu; Phụ lục D: Kho ngoại quan và Khu vực tự do thuế quan; Phụ lục E: Quá Cảnh; Phụ lục F: Gia công; Phụ lục G: Các chế độ tạm nhập; Phụ lục J: Các thủ tục đặc biệt (đối với hành khách, hàng bưu điện, vận tải thương mại, cung ứng tiêu dùng và hàng được miễn, giảm).

+ Luật Hải quan Nhật Bản chỉ quy định hai chế độ quản lý là xuất nhập khẩu và chế độ bảo thuế. Theo đó, “Hệ thống bảo thuế” bao gồm: (i) khu ngoại quan chỉ định; (ii) kho bảo thuế; (iii) nhà máy bảo thuế; (iv) khu triển lãm bảo thuế; và (v) khu bảo thuế tổng hợp. Theo quy định của pháp luật Nhật Bản thì tất cả hàng hóa nước ngoài, ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt được phép, đều phải lưu giữ tại hệ thống bảo thuế nêu trên và thủ tục hải quan sẽ được làm tại các nơi này.

+Luật Hải quan Malaysia (từ mục 78 đến mục 87A) phân biệt giữa hàng hóa phải nộp thuế và hàng hóa không phải nộp thuế. Theo đó, quy định việc khai báo hải quan đối với các loại hàng hóa này theo các loại hình vận chuyển: đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường biển.

Các quy định này đều theo hướng gom các thủ tục có chung bản chất để quy định chung về thủ tục.

Nhằm bảo đảm tính minh bạch và tạo điều kiện để ứng dụng công nghệ thông tin để hiện đại hoá chế độ quản lý hải quan, tại các mục 3, 4, 5, 6, 7 Chương III Luật hải quan năm 2014 quy định về thủ tục hải quan đối với các loại hình hàng hóa, theo đó: các loại hình xuất nhập khẩu có chung bản chất sẽ cơ bản áp dụng chung thủ tục hải quan, đồng thời bổ sung quy định về thủ tục hải quan đối với một số loại hình hàng hóa chưa được quy định trong Luật Hải quan năm 2001, 2005nhưng thực tế đã được Luật Thương mại và các Luật thuế quy định như: nhập nguyên liệu, vật tư để gia công hoặc sản xuất hàng hoá xuất khẩu; một số loại hình tạm xuất khẩu, tạm nhập khẩu,…Cụ thể:

Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa, tài sản di chuyển (mục 3)

Mục này gồm 13 Điều (từ Điều 46 đến Điều 58) được xây dựng trên cơ sở kế thừa quy định của Luật Hải quan năm 2001, 2005đã thực hiện ổn định, có bổ sung một số loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được thực hiện ổn định tại văn bản dưới Luật, như:

(i) Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hoá kinh doanh tạm nhập- tái xuất (Điều 46); Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hoá bán tại cửa hàng miễn thuế (Điều 47); Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hoá tạm nhập khẩu, tạm xuất khẩu (Điều 48); Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa phục vụ yêu cầu khẩn cấp, hàng hóa chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh (Điều 50);Kiểm tra, giám sát hải quan đối với ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt nam tiền mặt, công cụ chuyển nhượng, vàng, kim khí quý, đá quý của người xuất cảnh, nhập cảnh xuất khẩu, nhập khẩu (Điều 55).

(ii) Về kiểm tra, giám sát hải quan, xử lý hàng hoá tồn đọng (Điều 58)

Điều 45 Luật Hải quan năm 2001, 2005 quy định thời gian xử lý đối với hàng hóa mà chủ hàng tuyên bố công khai từ bỏ, hàng hóa bị nhầm lẫn thất lạc. Luật cũng quy định cơ chế xử lý hàng hóa nhập khẩu quá 90 ngày kể từ ngày hàng hóa đến cửa khẩu dỡ hàng mà chưa có người đến nhận, nhưng quy định này chỉ phù hợp với cảng biển và chưa quy định rõ cơ chế xử lý, trách nhiệm của cơ quan có liên quan trong việc xử lý loại hàng hóa này cũng như chưa có quy định việc xử lý đối với các loại hàng hóa tồn đọng tại một số khu vực thuộc địa bàn kiểm tra, giám sát của cơ quan hải quan, như: cảng hàng không, cửa khẩu đường bộ, đường sắt, bưu chính,… việc xử lý đối với hàng hóa này được thực hiện bằng Thông tư của Bộ Tài chính và một số Bộ, Ngành liên quan.

Để khắc phục, Luật hải quan năm 2014 quy định cụ thể các loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu tồn đọng được lưu giữ tại các khu vực kho, bãi thuộc địa bàn hoạt động hải quan, bao gồm:

+ Hàng hóa mà chủ hàng hoá tuyên bố từ bỏ hoặc thực hiện hành vi chứng tỏ việc từ bỏ;

+ Hàng hóa nhập khẩu quá 90 ngày, kể từ ngày đến cửa khẩu nhưng không có người đến nhận;

+ Hàng hóa do doanh nghiệp kinh doanh cảng, kho, bãi thu gom trong quá trình xếp dỡ hàng hóa;

+ Hàng hóa nhập khẩu ngoài vận đơn, bản khai hàng hóa nhưng không có người đến nhận.

Luật cũng quy định cụ thể cách thức xử lý hàng hóa tồn động, thời gian xử lý, trách nhiệm của cơ quan hải quan, tổ chức có liên quan trong việc xử lý hàng hóa tồn đọng. Theo đó

“a) Đối với hàng hóa tồn đọng, cơ quan hải quan xử lý theo quy định của pháp luật. Trường hợp bán hàng hóa tồn đọng thì tiền bán hàng được nộp vào ngân sách nhà nước sau khi trừ các khoản chi phí bán hàng và chi phí lưu cảng, kho, bãi tại doanh nghiệp kinh doanh cảng, kho, bãi;

b) Đối với hàng hóa gây ô nhiễm môi trường, chủ phương tiện vận tải, người điều khiển phương tiện vận tải hoặc người được chủ phương tiện vận tải ủy quyền có trách nhiệm vận chuyển hàng hóa đó ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Trường hợp không xác định được chủ phương tiện vận tải, người điều khiển phương tiện vận tải hoặc người được chủ phương tiện vận tải ủy quyền, cơ quan hải quan chủ trì, phối hợp với doanh nghiệp kinh doanh cảng, kho, bãi, chính quyền địa phương và cơ quan liên quan thực hiện tiêu huỷ.”

Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu để gia công, sản xuất hàng hóa xuất khẩu (Mục 4)

Tại Mục 4 Luật hải quan năm 2014 quy định về kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu để gia công, sản xuất hàng xuất khẩu bao gồm nguyên liệu, nhiên liệu, vật tư nhập khẩu để gia công, sản xuất hàng hóa xuất khẩu; đồng thời quy định rõ đây là đối tượng chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan từ khi nhập khẩu, trong quá trình sản xuất ra sản phẩm cho đến khi sản phẩm được xuất khẩu hoặc thay đổi mục đích sử dụng. Theo đó, việc quản lý, theo dõi hàng hóa không thực hiện trên cơ sở thanh khoản từng tờ khai như hiện nay mà thực hiện trên cơ sở lượng hàng hóa nhập – xuất – tồn. Cơ quan hải quan có trách nhiệm kiểm tra cơ sở gia công, sản xuất; năng lực gia công, sản xuất; việc sử dụng nguyên liệu, vật tư nhập khẩu; việc quyết toán, quản lý, sử dụng nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để sản xuất, gia công hàng hóa xuất khẩu (Điều 59); doanh nghiệp có trách nhiệm thực hiện chế độ quản lý, kế toán, thống kê, lưu giữ chứng từ, sổ sách, số liệu hàng hóa đưa vào, đưa ra cơ sở gia công, sản xuất; thực hiện báo cáo quyết toán việc quản lý, sử dụng nguyên liệu, vật tư nhập khẩu, hàng hóa xuất khẩu; xuất trình sổ sách, chứng từ, hàng hóa khi cơ quan hải quan kiểm tra (Điều 60).

Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hoá tại kho ngoại quan, kho bảo thuế, địa điểm thu gom hàng lẻ (Mục 5)

Các Điều 46 – 49 Luật hải quan năm 2001, 2005 quy định các nội dung liên quan đến kho ngoại quan, kho bảo thuế nhưng chưa quy định cụ thể về điều kiện thành lập và thủ tục hải quan đối với hàng hóa ra, vào kho.

Ngoài ra, thực tế phát sinh nhu cầu cần có các địa điểm để người vận chuyển bàn giao những lô hàng đóng chung container hoặc thu gom hàng lẻ xuất khẩu để đóng chung container, thực tế thực hiện theo quy định tại văn bản dưới Luật.

Để minh bạch về thủ tục và tháo gỡ những vướng mắc nêu trên, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ để thực hiện,Luật hải quan năm 2014 đã bổ sung khái niệm địa điểm thu gom hàng lẻ vào điều 4 và tại Mục 5 sửa đổi, bổ sung những nội dung quy định cụ thể về: hàng hoá được gửi trong kho ngoại quan, địa điểm thu gom hàng lẻ; thời hạn lưu giữ hàng hoá trong kho bảo thuế, địa điểm thu gom hàng lẻ; điều kiện thành lập kho ngoại quan, kho bảo thuế, địa điểm thu gom hàng lẻ; trách nhiệm của chủ kho, chủ hàng hoá và thương nhân kinh doanh địa điểm thu gom hàng lẻ.

Thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra giám sát hải quan đối với hàng hoá vận chuyển chịu sự giám sát hải quan (Mục 6)

Các Điều 40 – 42 Luật Hải quan năm 2001, 2005 quy định các chế độ kiểm tra, giám sát riêng biệt đối với hàng hóa quá cảnh, chuyển cửa khẩu. Luật cũng không quy định rõ ràng thủ tục hải quan khi thực hiện vận chuyển loại hàng hóa này mà hiện được quy định ở văn bản dưới Luật.

Về bản chất các trường hợp nêu trên đều là vận chuyển hàng hóa đang chịu sự giám sát hải quan nên thủ tục hải quan và chế độ giám sát đối với các loại hàng hoá này là giống nhau. Do đó, tại mục 6 Chương III Luật hải quan năm 2014 quy định thủ tục hải quan, kiểm tra giám sát hải quan đối với hàng hoá vận chuyển chịu sự giám sát hải quan. Cụ thể:

– Hàng hoá vận chuyển chịu sự giám sát hải quan bao gồm: hàng hoá quá cảnh và hàng hoá chuyển cửa khẩu.

– Về Thủ tục hải quan:

+ Khi vận chuyển hàng hóa đang chịu sự giám sát hải quan, người khai hải quan phải khai tờ khai vận chuyển hàng hóa. Nộp hoặc xuất trình hồ sơ hải quan.

+ Cơ quan hải quan tiếp nhận tờ khai vận chuyển hàng hóa, kiểm tra chứng từ và hàng hóa do người khai hải quan xuất trình để quyết định cho phép vận chuyển hàng hóa chịu sự giám sát hải quan.

+ Trong thời gian vận chuyển hàng hóa đang chịu sự giám sát hải quan, nếu người khai hải quan thực hiện việc trung chuyển, chuyển tải, lưu kho, chia tách lô hàng, thay đổi phương thức vận tải hoặc các công việc khác thì phải thông báo và được sự đồng ý của cơ quan hải quan trước khi thực hiện. Cơ quan hải quan có trách nhiệm trả lời trong thời hạn 02 giờ kể từ khi nhận được thông báo.

+ Tuyến đường vận chuyển hàng hóa chuyển cửa khẩu, quá cảnh do người khai hải quan đăng ký và được cơ quan hải quan chấp nhận.

Thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với phương tiện vận tải (Mục 7)

Các quy định tại Luật hải quan năm 2001, 2005 về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với phương tiện vận tảiđều mang tính nguyên tắc chung đối với các loại phương tiện, chưa có sự tách bạch giữa các loại phương tiện (phương tiện vì mục đích thương mại và phương tiện không nhằm mục đích thương mại) để từ đó quy định cụ thể về thủ tục hải quan, hồ sơ hải quan, kiểm tra giám sát hải quan đối với từng loại phương tiện cho phù hợp; chưa quy định về việc khai báo thông tin về hàng hóa xuất nhập khẩu, hành khách xuất nhập cảnh trước khi phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh.

Trên thực tế, cơ quan hải quan cũng như các cơ quan có liên quan tại cảng, sân bay như cảng vụ, biên phòng, công an cửa khẩu rất cần có thông tin về hàng hóa, hành khách trước khi phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh để có phương án làm thủ tục cho phù hợp, vừa tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập cảnh; vừa bảo đảm chủ quyền và an ninh quốc gia. Vì vậy, hiện nay việc tiếp nhận khai báo và thông quan điện tử đối với tàu biển, trong đó có quy định về việc cung cấp trước bản khai hàng hóa và các chứng từ có liên quan đang được thực hiện thí điểm theo Quyết định số 19/2011/QĐ-TTg ngày 23/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ.

Đối chiếu quy định tại Công ước Kyoto, Hiệp định tạo thuận lợi thương mại của WTO và tham khảo Luật Hải quan các nước (chi tiết tại phụ lục đính kèm) nhận thấy:

– Công ước Kyoto sửa đổi quy định mang tính tách biệt thủ tục hải quan đối với phương tiện vận tải tuỳ theo mục đích sử dụng. Trong đó, tại Phụ lục chuyên đề J Chương III quy định cụ thể về thủ tục hải quan đối với phương tiện vận tải sử dụng vì mục đích thương mại.

– Luật Hải quan Hàn quốc cũng quy định tách bạch phương tiện ngoại thương (thương mại) và phương tiện không bốc dỡ hàng hóa theo đó, đối với phương tiện không bốc dỡ hàng hóa được áp dụng thủ tục hải quan đơn giản.

– Nội dung về xử lý trước khi hàng đến đã được Hiệp định tạo thuận lợi thương mại của WTO (đang đàm phán) đưa vào để yêu cầu các nước cam kết thực hiện.

Vì vậy, mục này trên cơ sở kế thừa quy định của Luật hải quan năm 2001, 2005, đồng thời để đảm bảo tính đầy đủ, minh bạch phù hợp với thông lệ quốc tế, đã quy định cụ thể như sau:

(a) Về thông báo thông tin phương tiện vận tải (Điều 66)

Bổ sung 1 điều (Điều 66) về thông báo thông tin phương tiện vận tải, trong đó quy định: Chủ phương tiện vận tải, người điều khiển phương tiện vận tải, người được chủ phương tiện vận tải ủy quyền hoặc người phát hành chứng từ vận chuyển phải thông báo thông tin trực tiếp cho cơ quan hải quan hoặc qua hệ thống thông tin một cửa quốc gia về hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và hành khách xuất cảnh, nhập cảnh trên phương tiện vận tải trước khi nhập cảnh, xuất cảnh.

(b) Về thủ tục hải quan đối với phương tiện vận tải (Từ điều 67 đến 72)

Nội dung này, cơ bản kế thừa quy định của Luật hải quan năm 2001, 2005 và sửa đổi theo hướng:

– Phân định rõ thủ tục hải quan đối với: Phương tiện vận tải thương mại và phương tiện vận tải nước ngoài không nhằm mục đích thương mại (Ví dụ: ô tô cá nhân, du thuyền, …)

– Quy định chi tiết thời hạn khai hải quan đối với phương tiện vận tải đường bộ, đường biển, đường sắt, đường sông, đường hàng không khi xuất cảnh, nhập cảnh để minh bạch về thủ tục.

12.2.3.4. Tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (Mục 9)

Mục này gồm 04 Điều quy định về nguyên tắc kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan; Thủ tục đề nghị kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan;Tiếp nhận, xử lý đơn đề nghị kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan; Thủ tục tạm dừng làm thủ tục hải quan, theo đó:

– Quy định cụ thể về hồ sơ đề nghị kiểm tra, giám sát; thời hạn áp dụng biện pháp kiểm tra giám sát;

– Thủ tục tạm dừng làm thủ tục hải quan, thời hạn tạm dừng làm thủ tục hải quan.

12.2.3.5. Kiểm tra sau thông quan (Từ điều 78 đến điều 84 Mục 10)

Việc Kiểm tra sau thông quan được quy định tại Điều 32 Luật Hải quan 2001, 2005. Các quy định này đã tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động trong thời gian qua, tuy nhiên đến nay đã bộc lộ một số vướng mắc, bất cập: quy định chung trong thời hạn 5 năm kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan thì Cục trưởng Cục hải quan tỉnh, thành phố, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan được ra quyết định kiểm tra sau thông quan, Luật chưa quy định rõ về địa điểm tiến hành kiểm tra sau thông quan.

Đối chiếu với quy định tại Luật Quản lý thuế cho thấy: theo quy định tại Luật Quản lý thuế thì kiểm tra sau thông quan được thực hiện tại trụ sở cơ quan quản lý thuế và trụ sở người nộp thuế, chỉ ban hành quyết định kiểm tra thuế khi kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế.

Quy định về kiểm tra sau thông quan giữa Luật Hải quan và Luật Quản lý thuế thiếu thống nhất dẫn đã cách hiểu và vận dụng khác nhau giữa cơ quan hải quan và doanh nghiệp, phát sinh nhiều tranh chấp không đáng có. Luật Hải quan và Luật Quản lý thuế đều không quy định cụ thể trách nhiệm của công chức hải quan ở khâu thông quan đối với các sai sót phát hiện ở khâu sau thông quan. Quy định này dễ dẫn đến tâm lý coi nhẹ khi kiểm tra tại khâu thông quan vì cho rằng hàng hoá còn được kiểm tra sau thông quan tới 05 năm tiếp theo.

Thực tế với số lượng doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng gia tăng, các phải trường hợp phải kiểm tra sau thông quan rất lớn. Mặt khác, đối với các doanh nghiệp lớn, các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn toàn quốc, việc tiến hành kiểm tra sau thông quan cần do cấp Tổng cục tiến hành mới bao quát được toàn bộ hoạt động của các doanh nghiệp này. Theo xu thế phát triển của nền kinh tế, số lượng các doanh nghiệp này cũng ngày càng nhiều hơn. Do đó, cần phân cấp hơn nữa về thẩm quyền ra quyết định kiểm tra sau thông quan để tăng cường hiệu quả của hoạt động này.

Một số quy định cơ bản về hoạt động kiểm tra sau thông quan như việc áp dụng quản lý rủi ro, việc kết nối giữa khâu trong thông quan và sau thông quan cũng chưa được Luật Hải quan quy định nên ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả của công tác kiểm tra sau thông quan.

Đối chiếu với Công ước KYOTO và Luật Hải quan các nước (Châu Âu, Niu Di Lân, Nhật Bản,…) đều quy định rõ về kiểm tra sau thông quan, quy định cụ thể nguyên tắc quản lý rủi ro trong kiểm tra sau thông quan và mục đích kiểm tra.

Để bảo đảm tăng cường hoạt động kiểm tra sau thông quan, tại các Điều từ 77 đến Điều 82 của Luật hải quan năm 2014 đã quy định rõ về kiểm tra sau thông quan, tập trung vào một số nội dung sau:

– Các trường hợp kiểm tra sau thông quan: Kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật hải quan và pháp luật liên quan đến xuất khẩu, nhập khẩu; Kiểm tra trên cơ sở áp dụng quản lý rủi ro đối với các trường hợp khác; Kiểm tra việc tuân thủ pháp luật của người khai hải quan (Điều 78).

– Địa điểm kiểm tra: Tại trụ sở cơ quan hải quan, trụ sở người khai hải quan (khoản 2 Điều 77).

– Thời hạn kiểm tra: 05 năm, kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan (khoản 3 Điều 77).

– Thẩm quyền ra quyết định kiểm tra: Cục trưởng Cục Hải quan, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan ban hành quyết định kiểm tra sau thông quan tại trụ sở cơ quan hải quan (khoản 1 Điều 79). Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, Cục trưởng Cục Kiểm tra sau thông quan, Cục trưởng Cục Hải quan ban hành quyết định kiểm tra sau thông quan tại trụ sở người khai hải quan (khoản 1 Điều 80).

Luật hải quan năm 2014 cũng quy định cụ thể thủ tục, trình tự kiểm tra, thời gian kiểm tra, việc xử lý kết quả kiểm tra; quyền, trách nhiệm của cơ quan hải quan, của trưởng đoàn kiểm tra; quyền, nghĩa vụ của người khai hải quan trong kiểm tra sau thông quan.

Đồng thời, để bảo đảm quy định thống nhất về kiểm tra sau thông quan, tại Điều 101 của Luật đã quy định bãi bỏ một số nội dung về kiểm tra sau thông quan tại Luật Quản lý thuế.

12.2.4. Tổ chức thu thuế và các khoản thu khác đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu (Chương IV)

Trong quá trình thực hiện quản lý thu thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, các quy định liên quan đến chính sách quản lý thu theo các Luật thuế và Luật Quản lý thuế đã thay đổi chưa được quy định đồng bộ trong Luật Hải quan dẫn đến những hạn chế trong công tác tổ chức thu thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu.Tuy nhiên, nội dung quy định tại 2 luật không hoàn toàn thống nhất với nhau như: ấn định thuế, truy thu thuế, khai bổ sung… dẫn đến khó khăn cho quá trình thực hiện.

Tổ chức thu thuế và các khoản thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là một trong các nhiệm vụ của hải quan Việt Nam. Hiện nay, ngành Hải quan thực hiện thu các loại thuế: thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu.

Trên cơ sở kế thừa các quy định tại Chương V Luật Hải quan năm 2001, 2005, Luật hải quan năm 2014 có sửa 4 điều với những nội dung sau cho phù hợp với pháp luật liên quan. Cụ thể:

a) Thay cụm từ “truy thu thuế” tại Điều 69 Luật hải quan năm 2001, 2005 bằng “ấn định thuế” cho phù hợp với Luật Quản lý thuế;

b) Bỏ quy định tại khoản 2 Điều 68 Luật hải quan năm 2001, 2005 về việc thông báo nhầm lẫn trong khai hải quan cho cơ quan hải quan vì việc này thuộc nội dung khai bổ sung đã được quy định tại Điều 29 của Luật.

c) Quy định rõ việc xác định mức thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu: căn cứ vào mã số hàng hoá và chính sách thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu có hiệu lực tại thời điểm tính thuế (Điều 85)

d) Về trị giá hải quan

Xác định trị giá của hàng nhập khẩu theo mục đích Hải quan có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ nguồn thu ngân sách, khuyến khích phát triển sản xuất nội địa cũng như duy trì và phát triển quan hệ thương mại, ngoại giao quốc tế. Trị giá tính thuế góp phần hình thành đúng giá cả hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Với một cơ chế tính thuế nhất định, xác định đúng trị giá tính thuế sẽ góp phần bình ổn giá cả thị trường hàng hóa xuất nhập khẩu. Trị giá tính thuế là yếu tố cơ bản cấu thành hệ thống thuế quan của một quốc gia, là căn cứ để xác định các loại thuế nhập khẩu, tiêu thụ đặc biệt, giá trị gia tăng, chênh lệch giá hàng nhập khẩu. Bởi vậy xét về mặt tài chính, trị giá tính thuế hàng nhập khẩu là cơ sở để tập trung nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, phát triển sản xuất trong nước đều có chính sách khuyến khích xuất khẩu, vì vậy thuế đối với hàng hóa xuất khẩu thường có mức thuế suất là 0%. Nguồn thu thuế quan chủ yếu từ hàng hóa nhập khẩu. Xác định đúng về trị giá tính thuế sẽ góp phần chống thất thu cho ngân sách Nhà nước, bảo hộ sản xuất trong nước phát triển, tạo sự minh bạch, bình đẳng trong cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường, kích thích phát triển giao lưu thương mại quốc tế.

Xác định đúng về trị giá còn góp phần xác định đúng về kim ngạch nhập khẩu, làm căn cứ số liệu để Chính phủ điều hành và quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của mỗi quốc gia.

Vấn đề này hiện nay đang được quy định tại Điều 71 Luật Hải quan và Điều 9 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Theo đó, Điều 71 Luật Hải quan chỉ quy định mục đích sử dụng của trị giá hải quan và dẫn chiếu việc xác định trị giá hải quan thực hiện theo Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Điều 9 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu quy định cụ thể cách xác định giá tính thuế và tỷ giá tính thuế đối với hàng xuất khẩu, nhập khẩu.

Trong quá trình thực hiện cho thấy: việc xác định giá tính thuế “theo hợp đồng” như quy định tại Điều 9 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu không phù hợp với thực tế v́: Trên thực tế trị giá theo hợp đồng trong một số trường hợp không bao gồm đầy đủ các chi phí phát sinh liên quan đến lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu trong khi đó các chi phí này là bộ phận cấu thành trị giá tính thuế. Ngoài ra, đối với một số trường hợp, có một số chi phí mặc dù nằm trong giá hợp đồng nhưng lại được loại trừ ra khỏi trị giá hợp đồng khi xác định trị giá tính thuế…..Mặt khác, quy định như trên không phù hợp trong trường hợp hồ sơ hải quan cũng không có hợp đồng.

Điều 9 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu quy định “Tỷ giá tính thuế là tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền Việt Nam với đồng tiền nước ngoài do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm tính thuế”. Quy định này chưa phù hợp để thực hiện thủ tục hải quan điện tử, theo đó hệ thống xử lý dữ liệu điện tử tiếp nhận, kiểm tra, đăng ký tờ khai hải quan điện tử 24 giờ trong ngày và 7 ngày trong tuần (24/7) bao gồm cả các ngày chủ nhật và các ngày nghỉ lễ, tết, các ngày này Ngân hàng Nhà nước không công bố tỷ giá. Do đó, không có tỷ giá để làm cơ sở tính thuế.

Đối chiếu với quy định của Hiệp định trị giá GATT/WTO, tham khảo Luật Hải quan Indonesia thì các quy định về trị giá hải quan chưa đảm bảo phù hợp.

Theo điều 15 Hiệp định trị giá GATT/WTO: “Trị giá hải quan của hàng nhập khẩu là trị giá hàng hóa phục vụ cho đánh thuế theo trị giá hàng đối với hàng nhập khẩu”.

Tham khảo Luật hải quan Indonesia (Điều 15) quy định trị giá hải quan là trị giá giao dịch của hàng nhập khẩu hoặc trị giá giao dịch của hàng hoá cùng loại, hàng hoá tương tự…

Để phản ánh đúng bản chất của trị giá hải quan phù hợp với Hiệp định trị giá GATT, tạo thuận lợi cho người nộp thuế xác định chính xác trị giá tính thuế hàng hoá xuất nhập khẩu, đồng thời đảm bảo cơ sở pháp lý trong việc xác định tỷ giá tính thuế, Luật bổ sung khái niệm “trị giá hải quan”; tại Điều 86 Luật quy định cụ thể nội dung xác định trị giá hải quan theo hướng xác định rõ trị giá hải quan được sử dụng làm cơ sở cho việc tính thuế và thống kê đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, bỏ việc xác định trị giá giá hải quan “theo hợp đồng”.

12.2.5. Phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới (Chương V)

Phòng chống buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới là một trong những nhiệm vụ quan trọng của hải quan.

Thực tế thực hiện các năm qua cho thấy, ngành Hải quan đã triển khai đầy đủ, kịp thời đến tất cả các đơn vị Hải quan các cấp: Luật Hải quan, các văn bản quy định hướng dẫn thi hành của Chính phủ, Bộ Tài chính, Ban 127-TW, Ban 389-TW; các biện pháp để phòng, chống buôn lậu, kiềm chế lạm phát, bình ổn giá, kiềm chế nhập siêu, tăng cường công tác phòng, chống buôn lậu trong các dịp tết nguyên đán; chống xuất lậu xăng dầu, than, khoáng sản; chống nhập lậu gia súc gia cầm, pháo nổ, thuốc lá,…

Tính đến ngày 15/12/2014, Tổng cục Hải quan đã phát hiện, bắt giữ được 18.448 vụ, trị giá hàng hóa vi phạm ước tính 400tỷ 976 triệu đồng (giảm 29,08% so svowis cùng kỳ năm 2013). Thu nộp ngân sách 134 tỷ 567 triệu đồng, khởi tố 25 vụ, chuyển cơ quan khác khởi tố 59 vụ.

Thực trạng vi phạm pháp luật hải quan, thông qua số liệu trên cho thấy tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, làm hàng giả đã và đang gây thiệt hại nghiêm trọng cho nền kinh tế nước ta, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế nước ta. Bên cạnh đó, tình trạng chống người thi hành công vụ trong khi thực hiện chống buôn lậu gia tăng nghiêm trọng, đến mức báo động đỏ trên khắp địa bàn hoạt động hải quan.

Sự thay đổi trong quản lý về thủ tục sẽ có tác động đến hầu hết các hoạt động nghiệp vụ hải quan thuộc chức năng nhiệm vụ của hải quan (kiểm tra, giám sát, điều tra chống buôn lậu, quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu…), theo đó, đòi hỏi quy định trong Luật phải có sự điều chỉnh cho phù hợp, nâng cao năng lực của hoạt động kiểm tra, kiểm soát, chống buôn lậu, gian lận thương mại để bảo đảm mục tiêu đặt ra: đơn giản hoá thủ tục nhưng quản lý hải quan được chặt chẽ.

Chương này gồm 5 điều: sửa đổi 04 điều, bổ sung 01 điều, tập trung vào các vấn đề sau:

12.2.5.1. Phạm vi phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới (Điều 88)

– Luật Hải quan năm 2001, 2005 quy định: trong phạm vi địa bàn hoạt động hải quan cơ quan hải quan chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát, kiểm soát đối với hàng hóa, phương tiện vận tải. Ngoài địa bàn hoạt động hải quan cơ quan Hải quan phải phối hợp với các lực lượng chức năng khi tiến hành bắt giữ hàng hóa buôn lậu.

Luật Hải quan năm 2001, 2005 chưa quy định cho phép cơ quan hải quan thực hiện việc truy đuổi, bắt giữ hàng hoá buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới di chuyển từ trong địa bàn hoạt động hải quan ra ngoài địa bàn nên khi đối tượng chạy ra ngoài địa bàn cơ quan hải quan phải phối hợp với cơ quan chức năng, nhiều trường hợp dẫn đến mất cơ hội đấu tranh chống buôn lậu, vận chuyển trái hàng hóa trái phép qua biên giới.

Hiện nay đối với các loại hình hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu đa dạng, như: kinh doanh tạm nhập, tái xuất, chuyển cửa khẩu, quá cảnh hàng hóa…, doanh nghiêp vận chuyển hàng hóa đến cửa khẩu xuất hoặc địa điểm làm thủ tục hải quan theo tuyến đường đã đăng ký với cơ quan. Trong quá trình vận chuyển này, hàng hóa vẫn đang chịu sự giám sát hải quan, cơ quan hải quan thực hiện giám sát hải quan gián tiếp bằng các biện pháp nghiệp vụ như niêm phong, kẹp chì, giám sát sự di chuyển bằng định vị vệ tinh. Tuy nhiên, Luật chưa quy định quá trình theo khi phát hiện vi phạm cơ quan hải quan có thẩm quyền xử lý hay không.

Ngày 21/6/2012 Quốc hội đã thông qua Luật Biển Việt Nam, theo đó tại khoản 2 Điều 14 Luật này quy định: “Nhà nước thực hiện kiểm soát trong vùng tiếp giáp lãnh hải nhằm ngăn ngừa và trừng trị hành vi vi phạm pháp luật về hải quan, thuế, y tế, xuất nhập cảnh xảy ra trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam”. Tại khoản 1 Điều 47 Luật này cũng quy định: “Lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển bao gồm: các lực lượng có thẩm quyền thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, các lực lượng tuần tra, kiểm soát chuyên ngành khác”. Luật Biển quy định cho phép thực hiện kiểm soát nhằm ngăn ngừa và trừng trị hành vi vi phạm pháp luật về hải quan nhưng chưa quy định cụ thể lực lượng kiểm soát chuyên ngành nào thực hiện nhiệm vụ này do đó chưa tạo cơ sở pháp lý đầy đủ bảo đảm sự chủ động của lực lượng kiểm soát hải quan trong hoạt động kiểm soát góp phần bảo đảm an ninh quốc gia trên biển.

Để khắc phục trường hợp đối tượng chạy ra ngoài địa bàn hoạt động hải quan mà các cơ quan khác chưa kịp thời phối hợp nên không ngăn chặn được vi phạm, đồng thời để tăng cường hoạt động phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa trên biển, tại Điều 88 Luật Hải quan năm 2014 đã bổ sung các quy định sau:

+ Cơ quan hải quan tiếp tục truy đuổi khi có căn cứ xác định hàng hoá buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới, phương tiện vận tải chở hàng hóa buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới đang di chuyển từ địa bàn hoạt động hải quan ra ngoài địa bàn hoạt động hải quan;

+ Đối với hàng hóa chịu sự giám sát hải quan đang vận chuyển trên các tuyến đường, cơ quan hải quan có trách nhiệm giám sát bằng các biện pháp nghiệp vụ hải quan; khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật thì cơ quan hải quan chủ trì, phối hợp với các cơ quan nhà nước hữu quan kiểm tra, xử lý theo quy định của pháp luật;

+ Cơ quan hải quan thực hiện, phối hợp thực hiện tuần tra, kiểm soát tại vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, nhằm ngăn ngừa hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới.

12.2.5.2. Về thẩm quyền của cơ quan hải quan trong việc áp dụng các biện pháp phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới (Điều 89)

Điều 65 Luật hải quan năm 2001, 2005 đã quy định trách nhiệm của cơ quan Hải quan trong việc phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, nhưng chưa quy định đầy đủ, cụ thể và rõ ràng rõ thẩm quyền, các biện pháp nghiệp vụ cơ quan Hải quan được áp dụng để thực hiện nhiệm vụ trên.

Một số biện pháp phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới được quy định tại các văn bản dưới luật (Quyết định 65/2004/QĐ-TTg) nên hiệu quả hoạt động chưa cao.

Để khắc phục, Luật hải quan năm 2014 không sử dụng thuật ngữ “nghiệp vụ trinh sát” như Luật hải quan năm 2001, 2005 mà sử dụng thống nhất thuật ngữ “biện pháp nghiệp vụ kiểm soát hải quan”. Theo đó, cơ quan hải quan có trách nhiệm thực hiện kiểm soát hải quan đối với hàng hoá, phương tiện vận tải để phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới trong địa bàn hoạt động hải quan. Tại khoản 6 Điều 88 giao Chính phủ quy định chi tiết biện pháp nghiệp vụ kiểm soát hải quan.

– Luật hải quan năm 2014 cũng quy định cụ thể cơ quan hải quan có quyền sử dụng: cờ hiệu, đèn hiệu, pháo hiệu, còi, loa; sử dụng vũ khí và công cụ hỗ trợ theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (khoản 5 Điều 89).

12.2.5.3. Về thẩm quyền của cơ quan hải quan, công chức hải quan trong việc xử lý hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới (Điều 90)

– Điều 90 Luật hải quan năm 2014 quy định cơ quan hải quan có thẩm quyền dừng phương tiện vận tải, tạm giữ người, áp giải người vi phạm trong trường hợp có căn cứ cho rằng có hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới. Các quy định này nhằm bảo đảm phù hợp với đặc thù của hoạt động chống buôn lậu, phạm vi địa bàn ở vùng cửa khẩu giáp biên giới, sân bay, trên biển; nếu không được dừng phương tiện vận tải; tạm giữ ngay người có hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới thì các đối tượng sẽ nhanh chóng tẩu thoát sang bên kia biên giới hoặc lên máy bay, phương tiện vận tải khác để xuất cảnh.

Để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, tại Điều 102 Luật hải quan năm 2014 sửa đổi, khoản 1 Điều 122 Luật xử lý vi phạm hành chính theo hướng bổ sung trường hợp tạm giữ người theo thủ tục hành chính khi có căn cứ cho rằng có hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.

– Khoản 1 Điều 90 Luật hải quan năm 2014 cũng quy định rõ thẩm quyền áp dụng các biện pháp nêu trên là Chi cục trưởng Chi cục Hải quan, Đội trưởng Đội Kiểm soát thuộc Cục Hải quan, Đội trưởng Đội Kiểm soát chống buôn lậu và Hải đội trưởng Hải đội Kiểm soát trên biển thuộc Cục Điều tra chống buôn lậu.

12.2.5.4. Quyền và nghĩa vụ của các tổ chức và cá nhân liên quan (Điều 91)

Trong quá trình điều tra, xác minh làm rõ hành vi vi phạm, cơ quan Hải quan (cũng như các cơ quan chức năng khác) cần phải thu thập chứng cứ, lấy lời khai người có hành vi vi phạm, nghi can, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, Luật hải quan năm 2001, 2005 không quy định nghĩa vụ của những người này nên thực tế họ thường không chấp hành yêu cầu của cơ quan Hải quan, làm hạn chế hiệu quả hoạt động phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới của cơ quan hải quan.

Các quy định về phạm vi, biện pháp, trách nhiệm của cơ quan hải quan, của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong công tác phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới trong Luật Hải quan năm 2001, 2005 chưa đầy đủ so với thực tế tổ chức triển khai thực hiện, một số quy định hiện đang được thực hiện tại các văn bản dưới Luật dẫn đến những hạn chế trong hiệu quả hoạt động của công tác này.

Qua nghiên cứu Luật Hải quan một số nước cho thấy Luật Hải quan các nước: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, New Zeland, Malaixia thì đều có nội dung quy định về thẩm quyền của cơ quan hải quan trong việc tuần tra, kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu một cách đồng bộ và toàn diện như: quy định địa bàn hoạt động rất mở; quy định cụ thể các biện pháp nghiệp vụ kiểm soát hải quan và thẩm quyền áp dụng các biện pháp này.

Do đó, Luật hải quan năm 2014 đã bổ sung 01 điều (Điều 91) để quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân có liên quan trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới.

12.2.5.5. Trang bị và sử dụng thiết bị kỹ thuật (Điều 92)

Để đảm bảo tính minh bạch của pháp luật cũng như để nâng cao hiệu quả hoạt động của Hải quan trong việc thực hiện nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, tại Điều 92 của Luật hải quan năm 2014 quy định cụ thể hơn các thiết bị mà cơ quan hải quan được sử dụng như: thiết bị quan sát, soi chiếu, công nghệ sinh hoá, thiết bị cơ khí, điện, điện tử và các phương tiện khác.

12.2.6. Thông tin hải quan và thống kê hải quan (Chương VI)

– Thông tin hải quan được hiểu là tập hợp những thông tin về hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; về tổ chức, cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hoá, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải; về các thông tin khác liên quan đến hoạt động hải quan. Thông tin hải quan là cơ sở để đánh giá mức độ chấp hành pháp luật của người khai hải quan, mức độ rủi ro về vi phạm pháp luật hải quan phục vụ cho hoạt động thông quan, kiểm tra sau thông quan và phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật có liên quan đến hải quan.

Nói cách khác hệ thông thông tin hải quan là hệ cơ sở dữ liệu về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh cho phép đánh giá, phân loại đối với từng lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh để xác định mức độ kiểm tra, kiểm soát phù hợp.

Thông tin hải quan được thu thập, xử lý từ các nguồn: hồ sơ, tài liệu do Tổng cục Hải quan lưu giữ; hoạt động tiến hành thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan, phân tích, phân loại hàng hoá; kết quả hoạt động của các lực lượng kiểm soát hải quan; tố giác vi phạm pháp luật về hải quan của cơ quan, tổ chức, cá nhân; các cơ quan, đơn vị, tổ chức có liên quan đến hoạt động hải quan cung cấp; thông tin trên phương tiện thông tin đại chúng trong nước và nước ngoài, thông tin do trao đổi với Hải quan các nước, WCO…

– Thống kê hàng hóa xuất nhập khẩu, là hoạt động của cơ quan Hải quan tổ chức thực hiện thống kê số liệu về xuất, nhập khẩu hàng hóa thông qua việc thực hiện thủ tục khai báo hải quan trên các tờ khai hải quan.

Điều 11 Luật Hải quan năm 2001, 2005 quy định một trong các nhiệm vụ của hải quan là “Thống kê hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu” nhưng không quy định cụ thể nội dung nhiệm vụ này.

Ngoài ra, chế định về thống kê hàng hóa xuất nhập khẩu hiện được quy định tại Nghị định 154/2005/NĐ-CP gồm các quy định về:

– Trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan Hải quan trong thống kê hàng hóa xuất nhập khẩu;

– Trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan Hải quan trong việc cung cấp, trao đổi, báo cáo số liệu thống kê hải quan cho các cơ quan nhà nước và các tổ chức, cá nhân khi có yêu cầu;

– Việc thu thập, bảo mật số liệu thống kê hàng hóa xuất nhập khẩu.

Các thông tin, số liệu thống kê hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu của ngành Hải quan trong những năm qua và hiện nay đã góp phần quan trọng để xây dựng các chính sách về thuế quan, bình ổn giá một số mặt hàng theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, phục vụ hoạch định, quản lý điều hành và đánh giá tác động các chính sách thương mại, các thông tin phục vụ hoạt động quản lý cạnh tranh.

Để bảo đảm cơ sở pháp lý, Luật hải quan năm 2014 đã bổ sung 1 chương gồm 6 điều, bố cục thành 2 mục nhằm làm rõ giá trị pháp lý của thông tin hải quan và nhiệm vụ thống kê hải quan.

12.2.6.1. Mục 1. Thông tin hải quan (từ điều 93 đến điều 96)

Để bảo đảm cơ sở pháp lý trong việc thu thập thông tin hải quan ở trong nước và nước ngoài, mục đích sử dụng thông tin hải quan, trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan hải quan trong việc thu thập, cung cấp thông tin hải quan, bảo vệ bí mật thông tin hải quan, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc cung cấp thông tin cho cơ quan hải quan, tại các điều 93 – 96 Luật hải quan năm 2014 đã quy định các nội dung này.

12.2.6.2. Mục 2. Thống kê hải quan (điều 97 và điều 98)

Nhằm xác định rõ trách nhiệm của cơ quan hải quan trong việc thực hiện nhiệm vụ thống kê đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, Luật hải quan năm 2014 đã bổ sung nội dung này vào mục 2 Chương VI để quy định về: Hoạt động thống kê hàng hoá xuất khẩu nhập khẩu và báo cáo thống kê hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.

12.2.7. Quản lý nhà nước về hải quan

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 5 Luật Ban hành văn bản quyphạm pháp luật thì không quy định chương riêng về thanh tra, khiếu nại, tố cáo, khen thưởng và xử lý vi phạm trong văn bản quy phạm pháp luật nếu không có nội dung mới.

Để phù hợp với quy định nêu trên của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật hải quan năm 2014 đã bỏ các điều quy định về quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện; trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo; thời hạn, thủ tục, thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo vì đã được quy định cụ thể tại các văn bản pháp luật chuyên ngành về khiếu nại, tố cáo, thi đua khen thưởng và xử lý vi phạm hành chính.

12.2.8. Điều khoản thi hành

Chương này gồm có 04 điều trong đó có 02 điều quy định sửa đổi, bổ sung quy định của Luật quản lý thuế và Luật xử lý vi phạm, 02 điều quy định về hiệu lực thi hành và quy định chi tiết Luật.

Luật hải quan năm 2014 đã sửa đổi bổ sung cơ bản Luật hải quan năm 2001, 2005, tạo cơ sở pháp lý caođểđổi mới toàn diện hoạt động hải quan thông qua tạo điều kiện áp dụng quản lý hải quan hiện đại phù hợp với thông lệ quốc tế, góp phần bảo vệ lợi ích chủ quyền và an ninh quốc gia; tháo gỡ bất cập, chồng chéo trong hệ thống pháp luật hải quan và bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các pháp luật liên quan; góp phần thu hút đầu tư nước ngoài và nâng cao sức cạnh tranh trong nước và quốc tế của các doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; chuẩn bị cơ sở pháp luật để phục vụ hội nhập sâu, rộng hơn trong giai đoạn tới.

 TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Luật hải quan năm 2014;
  2. Báo cáo Tổng kết công tác năm 2014 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2015 của Tổng cục Hải quan;
  3. Công ước KYOTO về đơn giản hóa, hài hòa hóa thủ tục hải quan;
  4. Hiệp định thương mại tự do ASEAN; Hiệp định hải quan ASEAN; Hiệp định trị giá GATT
  5. Luật hải quan các nước: Trung Quốc, Nhật Bản; Malaysia; Hàn Quốc.

 

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *