Chuyên đề 11: SÁNG KIẾN HẢI QUAN XANH VỚI HẢI QUAN VN

Chuyên đề 11: SÁNG KIẾN HẢI QUAN XANH VỚI HẢI QUAN VN

ThS. Nguyễn Hữu Trí

Trưởng phòng NCKH – Viện Nghiên cứu Hải quan

 11.1. Tổng quan về sáng kiến Hải quan xanh và cơ sở pháp lý thực hiện sáng kiến Hải quan xanh

11.1.1. Bối cảnh thế giới thực hiện sáng kiến hải quan xanh

Môi trường, đó là không gian sống của con người và các loài sinh vật, là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người, là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình, là nơi giảm nhẹ các tác động của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất và là nơi lưu giữ và cung cấp thông tin cho con người. Tuy nhiên, vì luôn cần một khoảng không gian sống cần thiết cho mình, con người đã vàđang khai thác môi trường như khai khoáng, phá rừng, cải tạo các vùng đất và nước mới. Việc khai thác quá mức không gian và các dạng tài nguyên thiên nhiên có thể làm cho chất lượng không gian sống mất đi khả năng tự phục hồi. Tiếng chuông báo động về tình trạng ô nhiễm môi trường và mất cân bằng sinh thái đãđược dóng lên từ những những năm 70s của Thế kỷ XX.

Năm 1972, hội nghị thế giới về môi trường toàn cầu tại Stockholm – Thụy Điển đã khẳng định tầm quan trọng và tính cần thiết của việc bảo vệ môi trường. Điều này không chỉ ở các nước phát triển mà cả ở các nước đang phát triển và trên toàn cầu.

Năm 1987, trong báo cáo “Tương lai chung của chúng ta”, Ủy ban Quốc tế về môi trường và phát triển đã nêu ra những quan niệm về sự phụ thuộc lẫn nhau trên toàn cầu, mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường.

Tháng 6/1992, Hội nghị thượng đỉnh được tổ chức ở Rio de Janeiro để hiệp thương về các vấn đề kinh tế và môi trường những năm cuối thế kỷ XX và hướng tới sự phát triển bền vững. Hội nghị đã ban hành hai Công ước quan trọng là Công ước về đa dạng sinh học và Công ước về biến đổi khí hậu. Công ước về biến đổi khí hậu được chính thức thực hiện vào 21/3/1994. Mục tiêu của Công ước là “Ổn định nồng độ các khí nhà kính trong khí quyển ở mức độ không gây hại tới hệ sinh thái tự nhiên và con người”.

Chiến lược về bảo vệ môi trường toàn cầu đã đề ra 8 nguyên tắc cho một xã hội bền vững và các hành động ưu tiên tương ứng, bao gồm:

i) Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng;

(ii) Nâng cao chất lượng cuộc sống của con người;

(iii) Bảo vệ sức sống và tính đa dạng sinh học của trái đất;

(iv) Giữ vững trong khả năng chịu đựng được của Trái đất;

(v) Thay đổi thái độ và hành vi của con người;

(vi) Để cho các cộng đồng tự quản lý lấy môi trường của mình;

(vii) Tạo ra một cơ cấu quốc gia thống nhất thuận lợi cho việc phát triển và bảo vệ;

(viii) Xây dựng một khối liên minh toàn thế giới.

Bảo vệ môi trường trong thời đại ngày nay không còn là vấn đề của riêng một quốc gia, mà trở thành mối quan tâm của toàn cầu. Nhân loại đang đứng trước nhiều thách thức về suy thoái môi trường, trong đó nổi lên những thách thức chủ yếu gồm:

Sự biến đổi khí hậu và sự gia tăng các tai họa thiên nhiên;

Diện tích rừng bị thu hẹp;

Đa dạng sinh học bị giảm sút;

Tài nguyên cạn kiệt;

Đất đai bị suy thoái;

Ô nhiễm không khí;

Ô nhiễm phóng xạ, bức xạ;

Ô nhiễm tiếng ồn;

Nạn khan hiếm nước sạch;

Đô thị hóa vô tổ chức.

Ở các nước phát triển, hiểm hoạ sinh thái là do sự phát triển của kỹ thuật công nghệ, do sự phát triển tự phát của nền văn minh công nghiệp, thì ở Việt Nam, hiểm hoạ sinh thái là do sự kết hợp giữa phát triển và lạc hậu, do ảnh hưởng còn nặng nề của nếp suy nghĩ, nếp làm của người sản xuất nhỏ và lối sống công nghiệp còn chưa ổn định, chưa hoàn thiện. Theo đánh giá mới đây của Ngân hàng thế giới tại Việt Nam, với 59 điểm trong bảng xếp hạng chỉ số hiệu quả hoạt động môi trường, Việt Nam đứng ở vị trí 85/163 các nước được xếp hạng.

Tuy nhiên, công tác bảo vệ môi trường đang đứng trước nhiều thách thức đáng quan tâm như: thách thức giữa yêu cầu bảo vệ môi trường với lợi ích kinh tế trước mắt trong đầu tư phát triển; thách thức giữa tổ chức và năng lực quản lý môi trường còn nhiều bất cập trước những đòi hỏi phải nhanh chóng đưa công tác quản lý môi trường vào nền nếp; thách thức giữa cơ sở hạ tầng, kỹ thuật bảo vệ môi trường lạc hậu với khối lượng chất thải đang ngày càng tăng lên; thách thức giữa nhu cầu ngày càng cao về nguồn vốn cho bảo vệ môi trường với khả năng có hạn của ngân sách Nhà nước và sự đầu tư của doanh nghiệp và người dân cho công tác bảo vệ môi trường còn ở mức rất thấp…

Đứng trước những hành vi gây ô nhiễm môi trường hoặc tiếp tay, làm cơ sở cho những hoạt động ảnh hưởng đến môi trường, thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang nỗ lực liên kết, hợp tác với nhau để đấu tranh chống lại tội phạm môi trường.

Trong bối cảnh thế giới như vậy, tháng 02/2001 Hội đồng UNEP đã ra Quyết định số 21/27 về xây dựng và thực hiện “Sáng kiến Hải quan xanh”. Tổ chức Hải quan Thế giới phối hợp với Chương trình Môi trường của Liên Hiệp quốc (UNEP), Tổ chức cảnh sát quốc tế, các tổ chức quốc tế và khu vực và đặc biệt là Hải quan các nước thành viên đã triển khai Sáng kiến Hải quan xanh nhằm chung tay chống lại tội phạm môi trường, bảo vệ hành tinh xanh cho các thế hệ tương lai.

11.1.2. Nội dung sáng kiến Hải quan xanh

Buôn bán trái phép các hàng hoá “nhạy cảm với môi trường” như các chất phá huỷ tầng ozôn, hoá chất, rác thải độc hại nguy hiểm và các loài động vật đang bị đe doạ tuyệt chủng đang là một vấn nạn quốc tế với nhiều hậu quả nghiêm trọng. Việc buôn bán trái phép những loại hàng hoá này sẽ vi phạm các Hiệp định đa phương về môi trường (MEAs) của Liên hợp quốc, những công cụ pháp lý quốc tế ràng buộc các bên ký kết về giải quyết các vấn đề môi trường toàn cầu.

Một số MEAs quy định cụ thể việc vận chuyển qua biên giới các hàng hoá, hóa chất và sản phẩm gây hại cho môi trường dưới hình thức hàng nhập khẩu, xuất khẩu và tạm nhập tái xuất. Do đó, các lực lượng bảo vệ biên giới và Hải quan ở cửa khẩu đóng một vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ môi trường toàn cầu và môi trường quốc gia. Đây cũng được coi là động lực – nhu cầu hành động đối với Hải quan trong Sáng kiến Hải quan xanh được tuyên bố tại Quyết định 21/27 của Hội đồng – UNEP về việc tuân thủ và thực thi các MEAs (tháng 02 năm 2001).

Có thể khái khái quát “Sáng kiến Hải quan xanh” là những hoạt động của tổ chức hải quan nhằm kiểm soát hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa nhạy cảm với môi trường (hàng hóa làm ảnh hưởng đến môi trường). Nội dung Sáng kiến Hải quan bao gồm: mục đích, các đối tác, lợi ích, các hoạt động và công cụ thực hiện Sáng kiến Hải quan xanh. Sáng kiến này được Tổ chức Hải quan thế giới khuyến khích hải quan các nước cũng như các vùng lãnh thổ tham gia. Tuy nhiên, tùy tình hình kinh tế, xã hội của từng nước và từng vùng lãnh thổ mà việc tham gia thực hiện toàn bộ hay một phần sáng kiến.

Mục đích Sáng kiến Hải quan xanh

Sáng kiến Hải quan xanh hướng tới sự hợp tác với các tổ chức quốc tế nhằm ngăn ngừa hàng hoá nhạy cảm đối với môi trường và tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động thương mại hợp pháp trong lĩnh vực này. Tăng cường năng lực cho cơ quan Hải quan và các lực lượng thực thi pháp luật để phát hiện và ngăn chặn buôn bán hàng hóa bị cấm theo các MEAs. Công tác tăng cường năng lực trong Sáng kiến Hải quan xanh được thực hiện thông qua việc nâng cao ý thức cảnh giác và nhận thức của cán bộ Hải quan về các MEAs, các điều khoản hỗ trợ và các công cụ giúp ích cho cơ quan Hải quan thực thi pháp luật.

Các đối tác của Hải quan xanh

Thành phần tham gia thực hiện Sáng kiến Hải quan xanh bao gồm Ban thư ký của các MEAs (Basel, Cartagena, CITES, Montreal, Rotterdam Stockholm), Interpol, Tổ chức cấm vũ khí hoá học, UNEP, Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm Liên hợp quốc và Tổ chức Hải quan thế giới. Ngoài ra, Sáng kiến Hải quan xanh còn phối kết hợp chặt chẽ với một loạt các tổ chức khác của quốc tế và khu vực trong việc triển khai thực hiện Sáng kiến.

Lợi ích của Sáng kiến Hải quan xanh

Đối với lực lượng Hải quan:

(i) Nâng cao nhận thức về vai trò của Hải quan trong bảo vệ môi trường.

(ii) Tăng cường kiến thức về các vấn đề môi trường, cụ thể các vấn đề được đề cập trong các MEAs;

(iii) Tăng cường các kỹ năng theo yêu cầu thực thi từ các cam kết quốc gia về môi trường;

Đối với quốc gia:

(i) Tăng cường khả năng của cán bộ hải quan trong việc phát hiện các đối tượng buôn lậu và hàng hóa thương mại bất hợp pháp. Mặt khác, cơ quan Hải quan cũng chính là cơ quan tạo thuận lợi cho các hoạt động thương mại hợp pháp qua biên giới quốc gia;

(ii) Tăng cường khả năng tuân thủ và thực thi các MEAs thông qua việc theo dõi, giám sát các hoạt động thương mại;

(iii) Tăng cường cơ hội đối thoại với các nước đối tác thương mại khu vực về các vấn đề thương mại bất hợp pháp. Tăng cường xây dựng năng lực một cách bền vững thông qua tích hợp Sáng kiến Hải quan xanh vào các chương trình đào tạo của Hải quan quốc gia;

(iv) Phòng ngừa tổn thất nguồn thu từ thuế hải quan và các loại thuế khác cùng với việc ngăn chặn tội phạm buôn lậu. Tích hợp nội dung bảo vệ môi trường trong các chương trình nghị sự về an ninh quốc gia.

Đối với các thành viên của Sáng kiến Hải quan xanh:

(i) Tăng cường phối hợp triển khai đồng bộ các MEAs;

(ii) Được chia sẻ kinh nghiệm và cơ sở vật chất cho quá trình đào tạo do chuyên gia các Ban Thư ký MEAs đảm nhiệm.

Đối với môi trường toàn cầu:

Giảm bớt tội phạm môi trường, kiểm soát hoá chất và chất thải độc hại môi trường, bảo vệ tốt hơn các loài sinh vật – vì vậy, giúp giảm bớt tình trạng ô nhiễm để môi trường bền vững hơn.

Các hoạt động và công cụ thực hiện Hải quan xanh

Tổ chức Hải quan thế giới đã tổ chức các khóa đào tạo và ban hành Cẩm nang Hướng dẫn Hải quan xanh. Cán bộ được đào tạo và hướng dẫn viên sẽ áp dụng Cẩm nang hướng dẫn trong suốt khoá học và như là văn bản tham khảo sau khoá học.

Cẩm nang Hướng dẫn Hải quan xanh

Nội dung của cuốn Hướng dẫn sáng kiến Hải quan xanh tập trung trình bày các vấn đề của từng MEA như :

– Các khái niệm được nêu trong MEAs;

– Các quy định về thương mại đối với các loại hàng hóa thuộc diện điều chỉnh của MEAs;

– Vai trò cụ thể của Hải quan trong việc thực hiện MEAs;

– Các tài liệu chính thống có liên quan để phổ biến đến cán bộ Hải quan

– Chỉ dẫn các đầu mối liên lạc quốc gia để phối hợp thực hiện các MEAs;

– Các vấn đề thực tiễn cần xem xét trong quá trình thực thi các MEAs như: sức khỏe và sự an toàn cho cán bộ thực thi pháp luật bảo vệ môi trường, nhận diện hàng hóa, bắt giữ và xử lý an toàn hàng hóa nhạy cảm với môi trường.

Hội thảo đào tạo cán bộ hải quan

Hải quan xanh tổ chức nhiều khoá đào tạo trên toàn thế giới, ở các cấp độ khu vực và quốc gia (Hội thảo được tổ chức tại Việt Nam năm 2010 với sự tham gia của hơn 80 đại biểu). Công tác tổ chức hội thảo tập trung vào các năm 2011 – 2012, cụ thể:

Năm 2011, các hội thảo và khóa đào tạo Sáng kiến Hải quan xanh đã tổ chức tại Qatar, Antigua & Barbuda, Budapest, Fiji, UAE, Indonesia, Trung Quốc, Ả rập Saudi.

Năm 2012, các hội thảo được tổ chức tại Mexico City, Minsk- Belarus, Dushanbe – Tajikistan, Astana – Kazakstan, Victoria Falls – Zimbabwe, Male – Maldives.

Các mô đun học tập bằng phương tiện điện tử

Các mô đun này được WCO xây dựng và quản lý bao gồm các nội dung: giới thiệu về Sáng kiến Hải quan xanh, các tiểu mô đun về Công ước về buôn bán các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) và Nghị định thư Montreal. Hiện nay, WCO đang tiếp tục hoàn chỉnh các Mô đun về Công ước về kiểm soát vận chuyển qua biên giới các phế thải nguy hiểm và việc tiêu huỷ chúng (BASEL), Công ước về Đa dạng sinh học, Công ước Rotterdam về thủ tục thông báo trước đối với một số hóa chất và thuốc trừ sâu độc tính cao trong thương mại quốc tế, Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy và Công ước cấm phát triển, sản xuất, tàng trữ, sử dụng và phá huỷ vũ khí hoá học.

Website Sáng kiến Hải quan xanh cũng được xây dựng nhằm trở thành kênh thông tin chính thức về các hoạt động trong Sáng kiến với địa chỉ: www.greencustoms.org

Các công cụ pháp lý quan trọng

Các công cụ pháp lý quan trọngđược cộng đồng Hải quan xanh sử dụng trong quá trình thực thi bảo vệ môi trường bao gồm:

a) Công ước về kiểm soát vận chuyển qua biên giới các phế thải nguy hiểm và việc tiêu huỷ chúng (BASEL)

Công ước Basel được thông qua tại Hội nghị Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền ở Basel vào năm 1989 và bắt đầu có hiệu lực vào năm 1992 với mục tiêu cơ bản là kiểm soát và giảm thiểu các hoạt động vận chuyển chất thải nguy hại, các chất thải khác được quy định bởi Công uớc Basel, phòng ngừa và giảm thiểu sự hình thành cũng như quản lý hợp lý về môi trường những chất thải này, tích cực thúc đẩy việc chuyển giao và sử dụng các công nghệ sạch hơn. Việt Nam phê chuẩn tham gia Công ước Basel ngày 13/3/1995. Hiện nay có 181 thành viên tham gia công ước này.

(b) Công ước Đa dạng sinh học và Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học

Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học ra đời vào ngày 11/9/2003. Đây là phần bổ sung quan trọng cho Công ước về Đa dạng sinh học (CBD) được thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển do Liên Hợp quốc tổ chức năm 1992 tại Rio de Janeiro (Braxin) và chính thức có hiệu lực từ tháng 12/1994.

Công ước và Nghị định thư đặc biệt chú trọng đến vận chuyển xuyên biên giới bất kỳ một sinh vật biến đổi gen nào tạo ra từ công nghệ sinh học hiện đại có thể có các ảnh hưởng bất lợi đến bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học, cụ thể xây dựng các thủ tục, quy định thích hợp để xem xét việc thỏa thuận thông báo trước.

Với mục đích đảm bảo an toàn cho hoạt động vận chuyển, xếp dỡ và sử dụng các sinh vật sống đã được biến đổi gen (LMOs) từ các công nghệ sinh học hiện đại, Nghị định thư Cartagena đề ra các quy định đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu LMOs giữa các quốc gia.

Cho đến nay, đã có hơn 165 quốc gia, vùng lãnh thổ và Liên minh Châu Âu (EU) tham gia hoặc phê chuẩn Nghị định thư, trong đó chỉ có 13 bên không phải là thành viên của WCO.

Đối với cộng đồng Hải quan, việc thực hiện cam kết của Chính phủ đối với các Công ước, Hiệp định quốc tế là nghĩa bắt buộc. Việc quản lý chặt chẽ các loại hàng hóa thuộc diện quy định của CBD là nhiệm vụ của cơ quan Hải quan và đảm bảo mục tiêu bảo vệ môi trường sinh thái, sức khỏe cộng đồng và sức khỏe người dân.

WCO và các thành viên của mình đã tích cực tham gia thực hiện CBD bằng cách phát huy vai trò của lực lượng giám sát, kiểm tra tại biên giới. WCO đã đưa những thông tin, dữ liệu về kiểm soát LMOs vào trong các cơ sở dữ liệu kiểm soát hải quan (nCEN) nhằm đảm bảo việc kiểm tra các mặt hàng này tại biên giới được thực hiện với hiệu quả tối đa, phù hợp với các quy định quốc tế về bảo vệ môi trường. Trong số 179 thành viên của WCO đã có 152 thành viên (cùng với EU) phê chuẩn hoặc tham gia Nghị định thư Cartagena.

(c) Công ước cấm phát triển, sản xuất, tàng trữ, sử dụng và phá huỷ vũ khí hoá học

Hoá chất độc là bất kỳ hoá chất nào thông qua tác động hoá học của nó lên quá trình sống của con người hoặc động vật có thể gây tử vong, tê liệt tạm thời hoặc lâu dài gây ngộ độc cấp tính hoặc mãn tính, gây huỷ hoại môi trường, môi sinh. Vì vậy Công ước quy định cấm các hành vi phát triển, sản xuất, sở hữu, tàng trữ và sử dụng vũ khí hoá học; xuất khẩu, nhập khẩu vũ khí hoá học trực tiếp hay gián tiếp với mọi tổ chức, cá nhân; tham gia vào bất cứ hoạt động chuẩn bị quân sự nào có sử dụng vũ khí hoá học; hỗ trợ, khuyến khích hoặc xúi giục mọi tổ chức, cá nhân dưới bất kỳ hình thức nào hoặc tham gia vào bất kỳ hoạt động nào bị Công ước cấm; sử dụng chất chống bạo loạn như là phương tiện chiến tranh. Việt Nam đã phê chuẩn Công ước từ ngày 24 tháng 8 năm 1998 và hiện có 190 thành viên tham gia.

(d) Công ước về buôn bán các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES), 1973

Công ước được đưa ra kí kết năm 1973 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 1975. Mục đích của công ước này nhằm đảm bảo rằng việc thương mại quốc tế các tiêu bản của các loài động vật và thực vật hoang dã mà không đe dọa sự sống còn của các loài này trong tự nhiên, và nó cũng đưa ra nhiều cấp độ khác nhau để bảo vệ hơn 34.000 loài động và thực vật. Việt Nam tham gia vào Công ước CITES năm 1994 và trở thành thành viên thứ 121/178 quốc gia.

(e) Công ước Rotterdam về thủ tục thông báo trước đối với một số hóa chất và thuốc trừ sâu độc tính cao trong thương mại quốc tế

Phụ lục III của Công ước quy định thông tin về việc xuất/nhập khẩu của 47 hóa chất nguy hại được liệt kê trong, 33 hóa chất trong số đó là thuốc trừ sâu (bao gồm 4 loại thuốc trừ sâu đặc biệt nguy hại) và 14 hóa chất trong số đó là hóa chất công nghiệp. Công ước đã được thông qua vào năm 1998 và có hiệu lực vào năm 2004. Công ước hiện đang có 152 thành viên.

(g) Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POP)

Công ước Stockholm được các nước ký kết ngày 22 tháng 5 năm 2001 tại Stockholm và có hiệu lực từ ngày 17 tháng 5 năm 2004. Việt Nam phê chuẩn Công uớc Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy vào ngày 22 tháng 7 năm 2002, trở thành thành viên thứ 14 của Công uớc.

Công ước Stockholm ra đời với mục đích bảo vệ sức khoẻ con người và môi trường trước nguy cơ gây ra do các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (sau đây gọi tắt là POP). Các chất POP là các hoá chất độc hại, tồn tại bền vững trong môi trường, có khả năng phát tán rộng, tích lũy sinh học trong các hệ sinh thái trên cạn và dưới nước ở gần và cả những nơi rất xa nguồn phát thải chúng, gây tác hại nghiêm trọng cho sức khỏe con người và môi trường. Hiện nay, Công ước hướng tới việc quản lý an toàn, giảm thiểu và cuối cùng là loại bỏ 22 nhóm hoá chất.

h/ Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ô zôn

Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ô zôn được ký ngày 16/9/1987 có hiệu lực ngày 01/01/1989. Việt Nam tham gia vào tháng 01/1994. Số thành viên hiện nay của Nghị định thư là 197.

Nghị định thư là một Thỏa thuận quốc tế quy định việc kiểm soát hoạt động sản xuất và tiêu thụ các chất hóa học phá hủy tầng ô zôn, lá chắn bảo vệ trái đất. Hoạt động kiểm soát Hải quan và thực hiện các hệ thống cấp phép xuất/ nhập khẩu quốc gia có vai trò rất quan trọng đối với các nước đang phát triển nhằm đáp ứng các cam kết tuân thủ mục tiêu theo tinh thần Nghị định thư Montreal. Nghị định thư là văn bản bổ sung cho Công ước Viên về bảo vệ tầng ô zôn

Những thành tựu ban đầu của Sáng kiến Hải quan xanh:

Sáng kiến đã xây dựng và tăng cường được mối quan hệ hợp tác và phối hợp thực hiện các MEAs giữa các đối tác tham gia Sáng kiến.

Giải quyết được nhu cầu về phối hợp đào tạo những kiến thức và kinh nghiệm trong việc thực thi các MEAs, trong đó đưa ra cách tiếp cận gần gũi giữa học viên và giảng viên và hỗ trợ việc chuyển hóa, tích hợp các nội dung Sáng kiến vào các Chương trình đào tạo hải quan quốc gia tại một số nước.

Con số các thành viên tham gia Sáng kiến tăng lên cùng sự phát triển của Sáng kiến.

Kể từ năm 2004, Sáng kiến đã được triển khai tại hơn 30 khu vực và tiểu khu vực.

Các khóa đào tạo, hội thảo đã tạo điều kiện cho các đối tác và các chuyên gia trong lĩnh vực môi trường tăng cường năng lực cho hơn 350 cán bộ hải quan từ gần 120 quốc gia trên thế giới.

Định hướng con đường phía trước của Sáng kiến

Tiếp tục thực hiện ổn định Sáng kiến;

Tiếp tục hỗ trợ quá trình tích hợp nội dung Sáng kiến vào các Chương trình đào tạo hải quan quốc gia;

Khuyến khích việc học tập về các nội dung bảo vệ môi trường bằng phương tiện điện tử;

Thúc đẩy việc thông tin liên lạc và chia sẻ thông tin tình báo liên quan đến hàng hóa nhạy cảm với môi trường;

Huy động các nguồn lực để triển khai công tác bảo vệ môi trường.

Tính bền vững của Sáng kiến hiện đang được Hải quan các nước đảm bảo bằng việc tăng cường thực hiện các nội dung nghiệp vụ có liên quan đến công tác bảo vệ môi trường như: Lồng ghép các yêu cầu bảo vệ môi trường vào Cơ chế Một cửa quốc gia; góp phần cũng các cơ quan quản lý chuyên ngành quản lý hiệu quả năng lượng, tầng ozon và môi trường khí hậu thân thiện với con người; chia sẻ kinh nghiệm về các thông lệ tốt nhất trong việc quản lý hàng hóa nhạy cảm với môi trường.

11.1.3. Cơ sở pháp lý quốc gia quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu liên quan đến môi trường

11.1.3.1. Các quy định liên quan đến bảo vệ môi trường

Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo có tác động qua lại đối với sự tồn tại và phát triển của con người. Thành phần môi trường là các yếu tố tạo thành môi trường như sinh vật, hệ sinh thái, đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng và các loại hình vật chất khác. Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đến môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học; thích ứng với biến đổi khí hậu. Để đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước, các hoạt động phát triển kinh tế xã hội phải đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội ban hành, các Nghị định, Thông tư hướng dẫn quy định về chính sách, biện pháp và nguồn lực bảo vệ môi trường; quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong bảo vệ môi trường.

Luật bảo vệ môi trường

a) Quy định chung

Phần quy định chung Luật bảo vệ môi trường trình bày phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, một số khái niệm cơ bản liên quan đến môi trường và bảo vệ môi trường. Bảo vệ môi trường phải tuân thủ các nguyên tắc:

– Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi tổ chức và cá nhân, đảm bảo quyền được sống và quyền yêu cầu được sống trong môi trường trong lành;

– Bảo vệ môi trường gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế và an sinh xã hội; bảo vệ môi trường quốc gia gắn liền với bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu;

– Bảo vệ môi trường phải phù hợp với điều kiện địa lý, kinh tế và xã hội;

– Hoạt động bảo vệ môi trường phải thường xuyên; ưu tiên phòng ngừa ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường; bảo tồn đa dạng sinh học và khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên;

– Tổ chức, cá nhân sử dụng thành phần môi trường, được hưởng lợi từ môi trường có nghĩa vụ đóng góp tài chính cho bảo vệ môi trường; tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường phải có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại và các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật; và

– Nhà nước quản lý thống nhất về bảo vệ môi trường.

Xuất phát từ các nguyên tắc cơ bản trên, Nhà nước đề ra các chính sách cụ thể để thực hiện bảo vệ môi trường, bao gồm:

– Khuyến khích và tạo điều kiện cho mọi tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ môi trường; kiểm tra, giám sát thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường;

– Tuyên truyền, giáo dục kết hợp với các biện pháp hành chính, kinh tế và các biện pháp khác để xây dựng kỷ cương và văn hóa môi trường;

– Bảo tồn đa dạng sinh học; khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên; phát triển năng lượng sạch và tái tạo; đẩy mạnh tái chế, tái sử dụng và giảm thiểu chất thải;

– Tích cực xử lý các vấn đề môi trường bức xúc, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; chú trọng bảo vệ môi trường khu dân cư;

– Đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ môi trường; khuyến khích cơ chế đầu tư theo hình thức hợp tác công – tư; bố trí khoản chi riêng cho bảo vệ môi trường trong ngân sách với tỷ lệ tăng dần theo tăng trưởng chung; các nguồn kinh phí bảo vệ môi trường được quản lý thống nhất và ưu tiên sử dụng cho các lĩnh vực trọng điểm trong bảo vệ môi trường;

– Ưu đãi về đất, thuế, tài chính cho các hoạt động bảo vệ môi trường, các cơ sở sản xuất, kinh doanh và các sản phẩm được chứng nhận thân thiện với môi trường; Khuyến khích tổ chức, cá nhân tiêu dùng các loại sản phẩm thân thiện với môi trường;

– Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực về bảo vệ môi trường, phát triển ngành công nghệ môi trường; ưu tiên chuyển giao và áp dụng công nghệ xanh, sạch;

– Mở rộng hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường; thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường. Gắn kết các hoạt động bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên và chủ động thích nghi với biến đổi khí hậu; đảm bảo an ninh môi trường.

Để thực hiện tốt chính sách bảo vệ môi trường, Nhà nước chủ động tổ chức các hoạt động bảo vệ môi trường như: Tuyên truyền, giáo dục và vận động mọi người tham gia bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và đa dạng sinh học; Bảo vệ và sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; Giảm thiểu, thu gom, tái chế và tái sử dụng chất thải; Phát triển, sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; giảm thiểu khí thải gây hiệu ứng nhà kính, phá hủy tầng ôzôn; các hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu; Đăng ký cơ sở đạt tiêu chuẩn môi trường, sản phẩm thân thiện với môi trường; Nghiên cứu khoa học, chuyển giao, ứng dụng công nghệ xử lý, tái chế chất thải, công nghệ thân thiện với môi trường; Đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất thiết bị, dụng cụ bảo vệ môi trường; sản xuất, kinh doanh các sản phẩm thân thiện với môi trường; cung cấp dịch vụ bảo vệ môi trường; Bảo tồn và phát triển nguồn gen bản địa; lai tạo, nhập nội các nguồn gen có giá trị kinh tế và có lợi cho môi trường; Xây dựng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, cơ quan, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thân thiện với môi trường; Phát triển các hình thức tự quản và tổ chức hoạt động dịch vụ giữ gìn vệ sinh môi trường của cộng đồng dân cư; xây dựng nếp sống, thói quen giữ gìn vệ sinh môi trường, xóa bỏ hủ tục gây hại đến môi trường, hình thành văn hóa môi trường.

Nhà nước cũng nghiêm cấm các hoạt động ảnh hưởng đến môi trường, chẳng hạn như: Phá hoại, khai thác trái phép rừng, các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác; Khai thác, đánh bắt các nguồn tài nguyên sinh vật bằng phương tiện, công cụ, phương pháp hủy diệt, không đúng thời vụ và sản lượng theo quy định của pháp luật; Khai thác, kinh doanh, tiêu thụ, sử dụng các loài thực vật, động vật hoang dã quý hiếm thuộc danh mục cấm do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; Chôn lấp chất độc, chất phóng xạ, chất thải và chất nguy hại khác không đúng nơi quy định và quy trình kỹ thuật về bảo vệ môi trường; Thải chất thải chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường; các chất độc, chất phóng xạ và chất nguy hại khác vào đất, nguồn nước; Thải khói, bụi, khí có chất hoặc mùi độc hại vào không khí; phát tán bức xạ, phóng xạ, các chất ion hóa vượt quá tiêu chuẩn môi trường cho phép; Gây tiếng ồn, độ rung vượt quá tiêu chuẩn cho phép; Nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương tiện không đạt tiêu chuẩn môi trường; Nhập khẩu, quá cảnh chất thải dưới mọi hình thức; Nhập khẩu, quá cảnh động vật, thực vật chưa qua kiểm dịch; vi sinh vật ngoài danh mục cho phép; Sản xuất, kinh doanh sản phẩm gây nguy hại cho con người, sinh vật và hệ sinh thái; sản xuất, sử dụng nguyên liệu, vật liệu xây dựng chứa yếu tố độc hại vượt quá tiêu chuẩn cho phép; Xâm hại di sản thiên nhiên, khu bảo tồn thiên nhiên; Xâm hại công trình, thiết bị, phương tiện phục vụ hoạt động bảo vệ môi trường; Hoạt động trái phép, sinh sống ở khu vực được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định là khu vực cấm do mức độ đặc biệt nguy hiểm về môi trường đối với sức khỏe và tính mạng con người; Che giấu hành vi hủy hoại môi trường, cản trở hoạt động bảo vệ môi trường, làm sai lệch thông tin dẫn đến gây hậu quả xấu đối với môi trường; Nghiêm cấm hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vượt quá quyền hạn hoặc thiếu trách nhiệm của người có thẩm quyền để làm trái các quy định về quản lý môi trường.

b) Các quy định cam kết bảo vệ môi trường

Luật quy định rõ các đối tượng có trách nhiệm phải bảo vệ và lập cam kết bảo vệ là các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có phát sinh chất thải sản xuất. Chính phủ lập danh mục cụ thể các cơ sở không phải lập bản cam kết bảo vệ môi trường.

Nội dung của bản cam kết bảo vệ môi trường bao gồm:

– Địa điểm thực hiện;

– Loại hình, quy mô sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và nguyên liệu, nhiên liệu sử dụng;

– Các loại chất thải phát sinh;

– Các biện pháp giảm thiểu, xử lý chất thải và tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

Luật cũng quy định việc Đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường được thực hiện bởi:

– Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm tổ chức đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường;

– Các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có phát sinh chất thải sản xuất chỉ được triển khai hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ sau khi đã có bản cam kết bảo vệ môi trường được đăng ký; Tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng phải làm bản cam kết bảo vệ môi trường có trách nhiệm thực hiện đúng và đầy đủ các nội dung đã ghi trong bản cam kết bảo vệ môi trường.

– Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm hướng dẫn chi tiết về xây dựng, đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường. Ủy ban nhân dân cấp huyện chỉ đạo, tổ chức kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các nội dung đã ghi trong bản cam kết bảo vệ môi trường; Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn chi tiết về xây dựng, thẩm định và phê duyệt bản cam kết bảo vệ môi trường..

c) Bảo vệ môi trường trong nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa

Luật quy định: Máy móc, thiết bị, phương tiện, nguyên liệu, nhiên liệu, hóa chất, hàng hóa nhập khẩu, quá cảnh phải đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường. Luật cấm nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương tiện, nguyên liệu, nhiên liệu, hóa chất, hàng hóa sau:

– Máy móc, thiết bị, phương tiện không đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường;

– Máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông vận tải đã qua sử dụng để phá dỡ, trừ trường hợp nhập khẩu tàu biển đã qua sử dụng phải đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật môi trường.

– Nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hóa chất, hàng hóa thuộc danh mục cấm nhập khẩu;

– Máy móc, thiết bị, phương tiện bị nhiễm chất phóng xạ, vi trùng gây bệnh, chất độc khác chưa được tẩy rửa hoặc không có khả năng làm sạch;

– Thực phẩm, nguyên liệu thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến, dụng cụ, vật liệu bao gói chứa đựng thực phẩm đã hết hạn sử dụng hoặc không bảo đảm quy định về an toàn thực phẩm;

– Thuốc, nguyên liệu làm thuốc sử dụng cho người, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật hết hạn sử dụng hoặc không đạt tiêu chuẩn chất lượng.

 Việc nhập khẩu tàu biển đã qua sử dụng phải đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật môi trường. Chính phủ quy định cụ thể đối tượng, điều kiện được phép nhập khẩu, phá dỡ tàu biển đã qua sử dụng.

Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

Việc sử dụng năng lượng ở nước ta hiện nay đang bị lãng phí trong khi nhu cầu sử dụng năng lượng ngày một tăng. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Luật quy định về việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; chính sách, biện pháp thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

a) Về quy định chung

Luật quy định đối tượng áp dụng là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng năng lượng tại Việt Nam. Luật đưa ra các khái niệm về năng lượng; Tài nguyên năng lượng không tái tạo;Tài nguyên năng lượng tái tạo; Nhiên liệu; Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là việc áp dụng các biện pháp quản lý và kỹ thuật nhằm giảm tổn thất, giảm mức tiêu thụ năng lượng của phương tiện, thiết bị mà vẫn bảo đảm nhu cầu, mục tiêu đặt ra đối với quá trình sản xuất và đời sống; Kiểm toán năng lượng; Nhãn năng lượng là nhãn cung cấp thông tin về loại năng lượng sử dụng, mức tiêu thụ năng lượng, hiệu suất năng lượng và các thông tin khác giúp người tiêu dùng nhận biết và lựa chọn phương tiện, thiết bị tiết kiệm năng lượng; Dán nhãn năng lượng; Hiệu suất năng lượng; Mức hiệu suất năng lượng tối thiểu; Sản phẩm tiết kiệm năng lượng.

Luật quy định các nguyên tắc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, gồm:

– Phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể về năng lượng, chính sách an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường;

– Được thực hiện thường xuyên, thống nhất từ quản lý, khai thác tài nguyên năng lượng đến khâu sử dụng cuối cùng;

– Là trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và toàn xã hội.

Luật cũng đề ra chính sách sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả nhằm khuyến khích sử dụng phương tiện, thiết bị tiết kiệm năng lượng; thực hiện lộ trình áp dụng nhãn năng lượng; từng bước loại bỏ phương tiện, thiết bị có công nghệ lạc hậu, hiệu suất năng lượng thấp và nghiêm cấm mọi hành vi:

– Hủy hoại nguồn tài nguyên năng lượng quốc gia;

– Giả mạo, gian dối để được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước trong hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả;

– Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong quản lý sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả vì mục đích vụ lợi;

– Cố ý cung cấp thông tin không trung thực về hiệu suất năng lượng của phương tiện, thiết bị trong hoạt động dán nhãn năng lượng, kiểm định, quảng cáo và các hoạt động khác gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân;

– Sản xuất, nhập khẩu, lưu thông phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng thuộc Danh mục phương tiện, thiết bị phải loại bỏ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.

b) Quản lý phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng

Nhà nước áp dụng các biện pháp quản lý sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đối với phương tiện, thiết bị:

– Xây dựng và công bố tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng, mức hiệu suất năng lượng tối thiểu của phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng. Việc xây dựng tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng, mức hiệu suất năng lượng tối thiểu đối với phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:

+ Thực hiện mục tiêu tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường;

+ Phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, trình độ khoa học và công nghệ của đất nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập khu vực và quốc tế;

+ Khuyến khích đầu tư nghiên cứu, sản xuất, cung cấp cho thị trường sản phẩm có hiệu suất năng lượng cao, tiết kiệm năng lượng.

 Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm công bố 5 năm một lần tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng, mức hiệu suất năng lượng tối thiểu.

– Dán nhãn năng lượng đối với phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng. Việc dán nhãn đáp ứng các yêu cầu sau:

+ Phương tiện, thiết bị thuộc Danh mục phương tiện, thiết bị phải dán nhãn năng lượng phải được dán nhãn trước khi đưa ra thị trường;

+ Cơ sở sản xuất, doanh nghiệp nhập khẩu phương tiện, thiết bị thực hiện việc dán nhãn năng lượng đối với phương tiện, thiết bị sau khi được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận dán nhãn năng lượng;

+ Giấy chứng nhận dán nhãn năng lượng được cấp sau khi phương tiện, thiết bị đã được thử nghiệm phù hợp với tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng;

– Công khai thông tin cần thiết về sử dụng năng lượng của phương tiện, thiết bị;

– Loại bỏ phương tiện, thiết bị dưới mức hiệu suất năng lượng tối thiểu;

– Xử lý các hành vi vi phạm quy định trên.

 Phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng có mức hiệu suất năng lượng dưới mức hiệu suất năng lượng tối thiểu phải loại bỏ theo danh mục và lộ trình do Thủ tướng Chính phủ ban hành. Không được sản xuất, nhập khẩu phương tiện, thiết bị có mức hiệu suất năng lượng dưới mức hiệu suất năng lượng tối thiểu thuộc Danh mục phương tiện, thiết bị phải loại bỏ. Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Công thương và các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục và lộ trình phương tiện, thiết bị phải loại bỏ phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội, trình độ khoa học và công nghệ của đất nước theo từng thời kỳ.

Luật Sở hữu trí tuệ

Một số quy định cụ thể liên quan đến quyền SHTT ở Việt Nam được phản ánh trong Luật Sở hữu trí tuệ 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Sở hữu trí tuệ 2009, cụ thể như sau:

(i) Về các loại quyền, Luật quy định về quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền SHCN, quyền đối với giống cây trồng và việc bảo hộ các quyền.

(ii) Về đối tượng chịu sự điều chỉnh của Luật và đối tượng của quyền gồm:

– Các tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài đáp ứng các điều kiện quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ và điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên là các đối tượng chịu sự điều chỉnh của Luật;

– Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá.

– Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm: sáng chế; kiểu dáng công nghiệp; thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn; bí mật kinh doanh; nhãn hiệu; tên thương mại và chỉ dẫn địa lý.

– Đối tượng quyền đối với giống cây trồng là vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch.

– Chủ thể quyền SHTT chỉ được thực hiện quyền của mình trong phạm vi và thời hạn bảo hộ theo quy định của Luật.

(iii) Về thực thi Luật SHTT: Luật xác định việc thực hiện quyền SHTT không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác và không được vi phạm các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Trong trường hợp nhằm bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và các lợi ích khác của Nhà nước, xã hội, Nhà nước có quyền cấm hoặc hạn chế chủ thể quyền SHTT thực hiện quyền của mình hoặc buộc chủ thể quyền SHTT phải cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng một hoặc một số quyền của mình với những điều kiện phù hợp; việc giới hạn quyền đối với sáng chế thuộc bí mật nhà nước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền SHTT của tổ chức, cá nhân trên cơ sở bảo đảm hài hoà lợi ích của chủ thể quyền SHTT với lợi ích công cộng; không bảo hộ các đối tượng SHTT trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh. Nhà nước cũng khuyến khích, thúc đẩy hoạt động sáng tạo, khai thác tài sản trí tuệ nhằm góp phần phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Hỗ trợ tài chính cho việc nhận chuyển giao, khai thác quyền SHTT phục vụ lợi ích công cộng; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tài trợ cho hoạt động sáng tạo và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Ưu tiên đầu tư cho việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, các đối tượng liên quan làm công tác bảo hộ quyền SHTT và nghiên cứu, ứng dụng khoa học – kỹ thuật về bảo hộ quyền SHTT. Huy động các nguồn lực của xã hội đầu tư nâng cao năng lực hệ thống bảo hộ quyền SHTT, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế.

(iv) Về quyền hạn, thẩm quyền của các chủ thể Luật quy định: Tổ chức, cá nhân có quyền áp dụng các biện pháp mà pháp luật cho phép để tự bảo vệ quyền SHTT của mình và có trách nhiệm tôn trọng quyền SHTT của tổ chức, cá nhân khác theo quy định của Luật SHTT và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Luật bảo vệ quyền SHTT quy định rõ chủ thể quyền SHTT có quyền áp dụng các biện pháp để bảo vệ quyền SHTT của mình như là: Áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền SHTT; Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền SHTT phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại; Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan; Khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Luật cũng có quy định tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền SHTT hoặc phát hiện hành vi xâm phạm quyền SHTT gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc cho xã hội có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT theo các quy định của pháp luật có liên quan. Tổ chức, cá nhân bị thiệt hại hoặc có khả năng bị thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp dân sự và các biện pháp hành chính theo quy định của pháp luật về cạnh tranh. Tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền SHTT của tổ chức, cá nhân khác thì tuỳ theo tính chất, mức độ xâm phạm, ­­có thể bị xử lý bằng biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến SHTT, biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật có liên quan. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các cơ quan Toà án, Thanh tra, Quản lý thị trường, Hải quan, Công an, Uỷ ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Việc áp dụng biện pháp dân sự, hình sự thuộc thẩm quyền của Toà án. Trong trường hợp cần thiết, Tòa án có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật. Việc áp dụng biện pháp hành chính thuộc thẩm quyền của các cơ quan Thanh tra, Công an, Quản lý thị trường, Hải quan, Uỷ ban nhân dân các cấp. Trong trường hợp cần thiết, các cơ quan này có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật. Việc áp dụng biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến SHTT thuộc thẩm quyền của cơ quan hải quan.

Một số văn bản dưới luật liên quan đến bảo vệ môi trường

a) Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 18/3/2013 của Chính phủ

Những năm qua, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững đất nước, Đảng, Quốc hội và Chính phủ luôn quan tâm chỉ đạo phát triển kinh tế – xã hội gắn với coi trọng bảo vệ, cải thiện môi trường và đã đạt được nhiều kết quả tích cực, tạo tiền đề tốt để tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong tương lai. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội, thực trạng môi trường đang nảy sinh nhiều hệ lụy phức tạp, trong đó nổi lên một số vấn đề cấp bách:

– Sự phát triển các khu, cụm công nghiệp không đồng bộ với các điều kiện hạ tầng kỹ thuật về môi trường; Hoạt động khai thác khoáng sản ở nhiều địa phương thiếu sự quản lý chặt chẽ làm gia tăng các điểm nóng về ô nhiễm môi trường. Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn, chất thải y tế, nước thải sinh hoạt và công nghiệp đúng quy chuẩn còn thấp; khí thải, bụi phát sinh từ hoạt động giao thông vận tải, xây dựng, cơ sở sản xuất không được kiểm soát chặt chẽ đã và đang gây ô nhiễm môi trường ….Những tồn tại, hạn chế trên do nhiều nguyên nhân, song chủ yếu xuất phát từ nhận thức, ý thức trách nhiệm về bảo vệ môi trường của nhiều cấp chính quyền, cán bộ quản lý, doanh nghiệp và cộng đồng còn yếu kém. Tình trạng coi trọng các lợi ích kinh tế trước mắt, coi nhẹ công tác bảo vệ môi trường còn phổ biến. Nhiều quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường còn chồng chéo, mâu thuẫn, không khả thi nhưng chưa được sửa đổi, bổ sung kịp thời; thực thi pháp luật chưa nghiêm. Để sớm khắc phục các vấn đề cấp bách nêu trên, tạo sự chuyển biến căn bản trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, Chính phủ yêu cầu tập trung chỉ đạo, thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp sau đây:

Tăng cường công tác bảo vệ môi trường tại các khu, cụm công nghiệp; nâng cao chất lượng thẩm định yêu cầu bảo vệ môi trường trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển;

– Chú trọng bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản;

– Tập trung khắc phục ô nhiễm, cải thiện môi trường nông thôn, làng nghề;

– Chỉ đạo quyết liệt, từng bước khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường tại các thành phố lớn và các lưu vực sông;

– Kiểm soát chặt chẽ hoạt động nhập khẩu phế liệu;

– Ngăn chặn có hiệu quả sự suy thoái của các hệ sinh thái, suy giảm các loài;

– Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường.

b) Nghị định 21/2011/NĐ-CP về biện pháp thi hành Luật Sử dụng năng lượng

(i) Quy định chung

Nghị định này quy định về sử dụng năng lượng; cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm; sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước; dán nhãn năng lượng cho phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng; biện pháp thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; kiểm tra, thanh tra về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả và được áp dụng đối với tổ chức, cá nhân sử dụng năng lượng tại Việt Nam.

(ii) Quy định cụ thể

Dán nhãn năng lượng

Phương tiện, thiết bị thuộc Danh mục phương tiện, thiết bị phải dán nhãn năng lượng phải được dán nhãn trước khi đưa ra thị trường. Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan lập Danh mục phương tiện, thiết bị phải dán nhãn năng lượng và lộ trình thực hiện, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.

Phân loại nhãn năng lượng

Nhãn năng lượng gồm hai loại: Nhãn so sánh là nhãn cung cấp thông tin về mức tiêu thụ năng lượng, loại năng lượng sử dụng, hiệu suất năng lượng và các thông tin khác giúp người tiêu dùng so sánh với các sản phẩm cùng loại trên thị trường để nhận biết và lựa chọn phương tiện, thiết bị tiết kiệm năng lượng; Nhãn xác nhận là nhãn chứng nhận phương tiện, thiết bị có hiệu suất năng lượng cao nhất so với phương tiện, thiết bị khác cùng loại. Căn cứ vào tiêu chuẩn quốc gia về hiệu suất năng lượng, Bộ Công Thương quy định mức hiệu suất năng lượng trong nhãn so sánh và nhãn xác nhận.

Thực hiện dán nhãn năng lượng

Nhãn năng lượng theo mẫu do Bộ Công Thương quy định và được dán trên phương tiện, thiết bị; Cơ sở sản xuất và doanh nghiệp nhập khẩu tự thực hiện việc in, dán nhãn năng lượng cho phương tiện, thiết bị được cấp Giấy chứng nhận dán nhãn năng lượng. Trước 60 ngày làm việc, khi hiệu lực của Giấy chứng nhận dán nhãn năng lượng hết hạn, cơ sở sản xuất, doanh nghiệp nhập khẩu đăng ký chứng nhận lại. Cơ sở sản xuất, doanh nghiệp nhập khẩu không được dán nhãn năng lượng lên phương tiện, thiết bị mà Giấy chứng nhận dán nhãn năng lượng đối với phương tiện, thiết bị đó đã hết hiệu lực.

Các trường hợp sau đây bị đình chỉ việc dán nhãn năng lượng: Dán nhãn năng lượng giả; Dán nhãn năng lượng khi chưa được cấp Giấy chứng nhận dán nhãn năng lượng hoặc Giấy chứng nhận dán nhãn năng lượng đã hết hạn, Giấy chứng nhận dán nhãn năng lượng bị tẩy xóa; Nhãn năng lượng không đúng nội dung, quy cách do Bộ Công Thương ban hành hoặc ghi sai thông số hiệu suất năng lượng của phương tiện, thiết bị.

Giấy chứng nhận dán nhãn năng lượng cho phương tiện, thiết bị bị thu hồi trong các trường hợp sau đây: Có gian dối trong hồ sơ đăng ký dán nhãn năng lượng; Có kết quả thử nghiệm không đúng với hiệu suất năng lượng thực tế của phương tiện, thiết bị; Bị xử phạt 02 lần do vi phạm quy định về dán nhãn.

Báo cáo của các doanh nghiệp nhập khẩu phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng thuộc Danh mục phương tiện, thiết bị phải dán nhãn năng lượng

Doanh nghiệp nhập khẩu phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng thuộc Danh mục phương tiện, thiết bị phải dán nhãn năng lượng có trách nhiệm hàng năm gửi báo cáo tới Sở Công Thương tại địa phương các nội dung sau:

– Tên cơ sở, địa chỉ;

– Chủng loại phương tiện, thiết bị; nước sản xuất và số lượng từng loại phương tiện, thiết bị nhập khẩu;

– Hiệu suất năng lượng của từng loại phương tiện, thiết bị;

– Loại phương tiện, thiết bị có chứng chỉ về hiệu suất năng lượng đã được cấp tại nước sản xuất.

Sở Công Thương tiếp nhận và tổng hợp báo cáo của các doanh nghiệp nhập khẩu phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng thuộc Danh mục phương tiện, thiết bị phải dán nhãn năng lượng tại địa phương gửi Bộ Công Thương trước ngày 31 tháng 3 năm tiếp theo.

Bộ Tài chính có trách nhiệm cung cấp thông tin về chủng loại, số lượng, nguồn gốc phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng nhập khẩu thuộc Danh mục phương tiện, thiết bị phải dán nhãn năng lượng theo đề nghị của Bộ Công Thương.

Phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng phải loại bỏ

Căn cứ xác định phương tiện, thiết bị thuộc Danh mục phương tiện, thiết bị phải loại bỏ bao gồm:

– Không đạt các quy chuẩn an toàn của phương tiện, thiết bị;

– Hiệu suất sử dụng năng lượng của phương tiện, thiết bị thấp hơn mức hiệu suất năng lượng tối thiểu.

– Phù hợp tình hình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và yêu cầu quản lý nhà nước trong từng thời kỳ.

Mức hiệu suất năng lượng tối thiểu được Bộ Khoa học và Công nghệ công bố trong tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng của phương tiện, thiết bị. Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục phương tiện, thiết bị phải loại bỏ. Nghiêm cấm việc nhập khẩu, lưu thông các phương tiện, thiết bị thuộc Danh mục phương tiện, thiết bị phải loại bỏ.

Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả gồm các nội dung chính sau: Hoàn thiện khung thể chế, cập nhật các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật liên quan đến lĩnh vực tiết kiệm năng lượng; Tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn, giáo dục nâng cao nhận thức của cộng đồng về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; Nghiên cứu, phát triển các dự án ứng dụng khoa học công nghệ nhằm nâng cao hiệu suất năng lượng trong sản xuất công nghiệp, xây dựng và giao thông vận tải, nông nghiệp, dịch vụ; Hỗ trợ dự án thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

Các dự án đầu tư sản xuất phương tiện, thiết bị tiết kiệm năng lượng; đầu tư nâng cấp dây chuyền sản xuất, mở rộng quy mô sản xuất bằng công nghệ tiết kiệm năng lượng được hỗ trợ theo quy định hiện hành về tín dụng đầu tư và ưu đãi đầu tư. Tổ chức, cá nhân đầu tư sản xuất các sản phẩm tiết kiệm năng lượng, sản phẩm sử dụng năng lượng tái tạo tại Việt Nam được nhà nước ưu đãi về thuế, hỗ trợ vốn, đất đai để xây dựng cơ sở sản xuất.

Phương tiện, thiết bị, phụ tùng, linh kiện tiết kiệm năng lượng, sử dụng năng lượng tái tạo mà trong nước chưa sản xuất được thì được miễn, giảm thuế nhập khẩu theo quy định của pháp luật về thuế gồm:

– Phương tiện, thiết bị, phụ tùng, vật tư phục vụ cho hoạt động nghiên cứu phát triển công nghệ, đổi mới công nghệ tiết kiệm năng lượng, các chương trình điều tra, nghiên cứu, chế tạo thử, xây dựng các dự án điển hình sử dụng năng lượng tái tạo.

– Phụ tùng, linh kiện để sản xuất: phương tiện, thiết bị chiếu sáng tiết kiệm năng lượng; phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng mặt trời, năng lượng gió.

– Sản phẩm tiết kiệm năng lượng, các loại phương tiện giao thông tiết kiệm nhiên liệu, sử dụng khí hóa lỏng, khí thiên nhiên, điện, nhiên liệu hỗn hợp, nhiên liệu sinh học trong nước chưa sản xuất được.

Nâng cao nhận thức về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

Các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức phổ biến, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng để nâng cao nhận thức của cộng đồng, động viên sự tham gia của nhân dân trong lĩnh vực sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Để nâng cao nhận thức về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, chúng ta cần: Đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ chuyên trách về quản lý năng lượng cho các cơ sở, ngành và địa phương; Phổ cập nội dung tiết kiệm năng lượng thông qua hệ thống giáo dục các cấp và các phương tiện thông tin đại chúng; Đưa nội dung thúc đẩy các hoạt động tiết kiệm năng lượng vào hoạt động của các hội khoa học kỹ thuật, tổ chức đoàn thể quần chúng; Tổ chức các phòng trưng bày sản phẩm tiết kiệm năng lượng, tổ chức các cuộc thi sáng tạo về tiết kiệm năng lượng.

Trách nhiệm của các Bộ Ngành

Bộ Công Thương: Chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả theo các nhiệm vụ được quy định trong Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; Phối hợp với các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân thành phố trực thuộc trung ương giám sát, kiểm tra, đôn đốc thực hiện Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả và Nghị định này, định kỳ hàng năm báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Bộ Khoa học và Công nghệ: Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng và công bố tiêu chuẩn quốc gia về hiệu suất năng lượng và mức hiệu suất năng lượng tối thiểu cho phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng đang được sử dụng phổ biến theo lộ trình dán nhãn năng lượng; tiêu chuẩn quốc gia về hiệu suất năng lượng đối với kết cấu kiến trúc, vật liệu xây dựng, chiếu sáng, sưởi ấm, làm mát và mức cung cấp năng lượng cho các khu vực chủ yếu trong các tòa nhà; tiêu chuẩn quốc gia về hệ thống quản lý năng lượng trong cơ sở sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, tòa nhà và doanh nghiệp vận tải; Phối hợp với các Bộ quản lý ngành liên quan xây dựng chính sách chuyển giao công nghệ, tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong lĩnh vực sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

Bộ Tài chính: Chủ trì, phối hợp với Bộ, ngành liên quan xây dựng, ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hướng dẫn chi tiết về chính sách ưu đãi tài chính đối với hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, sản phẩm tiết kiệm năng lượng; Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan hướng dẫn thủ tục nhập khẩu phương tiện, thiết bị phải dán nhãn năng lượng; quy định chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng lệ phí cấp Giấy chứng nhận dán nhãn năng lượng.

(iii) Nội dung cơ bản của Thông tư 07/2012/TT-BCT

Thông tư này quy định Trình tự chứng nhận sản phẩm tiết kiệm năng lượng. Doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu hàng hoá thuộc Danh mục sản phẩm sử dụng năng lượng được lựa chọn để dán nhãn có nhu cầu được chứng nhận và dán nhãn xác nhận sản phẩm tiết kiệm năng lượng hoặc nhãn so sánh sản phẩm tiết kiệm năng lượng cho sản phẩm cần thực hiện các bước sau đây:

– Lấy mẫu: Doanh nghiệp lấy mẫu điển hình của hàng hoá theo tiêu chuẩn quy định và gửi tới phòng thử nghiệm được chỉ định để thử nghiệm;

– Thử nghiệm: Phòng thử nghiệm được chỉ định có trách nhiệm thử nghiệm sản phẩm hàng hoá theo tiêu chuẩn tương ứng và cấp phiếu kết quả thử nghiệm đúng chủng loại sản phẩm đã thử nghiệm cho doanh nghiệp;

– Lập hồ sơ kỹ thuật: Hồ sơ kỹ thuật do doanh nghiệp lập bao gồm các tài liệu sau: Hồ sơ thiết kế sản phẩm; Các thông số kỹ thuật của hàng hoá, đặc biệt là các thông số về chỉ tiêu tiêu thụ năng lượng; Bản công bố tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm hàng hoá và công bố hàng hoá phù hợp tiêu chuẩn của sản phẩm tiết kiệm năng lượng; Nhãn hàng hoá; Các giấy chứng nhận, chứng chỉ khác về hệ thống quản lý chất lượng, chất lượng sản phẩm, đặc tính kỹ thuật (nếu có).

Sau khi được cấp giấy chứng nhận sản phẩm tiết kiệm năng lượng, doanh nghiệp thực hiện in nhãn tiết kiệm năng lượng tại cơ sở in do Bộ Công nghiệp chỉ định và dán nhãn xác nhận sản phẩm tiết kiệm năng lượng hoặc nhãn so sánh sản phẩm tiết kiệm năng lượng lên sản phẩm sử dụng năng lượng đã đăng ký theo mức tiết kiệm năng lượng xác định trong giấy chứng nhận sản phẩm tiết kiệm năng lượng được cấp. Nhãn sản phẩm tiết kiệm năng lượng phải in theo mẫu do Bộ Công nghiệp quy định. Nhãn sản phẩm tiết kiệm năng lượng được in, dán trên sản phẩm hoặc bao gói sản phẩm phải có kích thước phù hợp, không được gây nhầm lẫn, che lấp hoặc ảnh hưởng tới thông tin ghi trên nhãn hàng hoá theo quy định của pháp luật. Hết thời hạn có hiệu lực của giấy chứng nhận sản phẩm tiết kiệm năng lượng, doanh nghiệp không được tiếp tục dán nhãn sản phẩm tiết kiệm năng lượng lên sản phẩm của mình và phải đăng ký chứng nhận lại. Doanh nghiệp phải đăng ký chứng nhận lại khi giấy chứng nhận sản phẩm tiết kiệm năng lượng hết hiệu lực; tiêu chuẩn đánh giá có thay đổi hoặc hàng hoá đánh giá đã được chứng nhận có những thay đổi về mức tiêu thụ năng lượng. Sản phẩm hàng hoá chứng nhận lại nếu đạt các yêu cầu theo quy định tại Thông tư này sẽ được cấp giấy chứng nhận sản phẩm tiết kiệm năng lượng mới.

Ngoài ra còn rất nhiều các văn bản đã được Nhà nước, Chính phủ, các Bộ, Ngành ban hành nhằm đảm bảo môi trường của chúng ta được an toàn. Có thể kể đến như:

– “Kế hoạch hành động quốc gia về Đa dạng sinh học đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 thực hiện Công ước Đa dạng sinh học và Nghị định thư Cartagena về An toàn sinh học”;

– Thông tư số 01/2013/TT-BTNMT quy định về phế liệu được phép xuất nhập khẩu;

– Quyết định số 15/2006/QĐ – BTNMT quy định danh mục thiết bị làm lạnh sử dung môi chất lạnh CFC cấm nhập khẩu;

– Thông tư liên tịch sô 47/2011/TTLT – BCT – BTNMT quy định việc nhập khẩu, xuất khẩu, tạm nhập tái xuất các chất làm suy giảm tầng ôzon. 

11.1.3.2. Các quy định cụ thể liên quan đến bóng đèn sợi đốt, bóng đèn và thiết bị tiết kiệm năng lượng

Ngoài các quy định chung tuân thủ các quy định về pháp luật bảo vệ môi trường và tiết kiệm năng lượng, Chính phủ còn ban hành các quy định liên quan đến sản xuất, tiêu thụ xuất nhập khẩu bóng đèn sợi đốt, bóng đèn tiết kiệm năng lượng, thiết bị tiết kiệm năng lượng. Trong số này phải kể đến các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Quyết định số 51/2011/QĐ-TTg, Quyết định 03/2013/QĐ-TTg

Quyết định số 51/2011/QĐ-TTg Quy định Danh mục phương tiện, thiết bị phải dán nhãn năng lượng, áp dụng mức hiệu suất năng lượng tối thiểu và lộ trình thực hiện. Theo quyết định này, Danh mục phương tiện, thiết bị phải dán nhãn năng lượng và áp dụng mức hiệu suất năng lượng tối thiểu bao gồm:

(i) Nhóm thiết bị gia dụng gồm: Đèn huỳnh quang ống thẳng, đèn huỳnh quang compact, chấn lưu điện từ và điện tử cho đèn huỳnh quang, máy điều hòa nhiệt độ, tủ lạnh, máy giặt sử dụng trong gia đình, nồi cơm điện, quạt điện, máy thu hình.

(ii) Nhóm thiết bị văn phòng và thương mại gồm: Máy phôtô copy, màn hình máy tính, máy in, tủ giữ lạnh thương mại.

Lộ trình thực hiện dán nhãn năng lượng được thực hiện: việc dán nhãn năng lượng tự nguyện được khuyến khích thực hiện đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2012; Từ ngày 01 tháng 01 năm 2013 thực hiện dán nhãn năng lượng theo hình thức bắt buộc; Từ ngày 01 tháng 01 năm 2014 thực hiện dán nhãn năng lượng theo hình thức bắt buộc đối với tủ giữ lạnh thương mại.

Lộ trình thực hiện áp dụng mức hiệu suất năng lượng tối thiểu

– Đối với nhóm thiết bị gia dụng, từ ngày 01 tháng 01 năm 2014, không được phép nhập khẩu và sản xuất các thiết bị có hiệu suất năng lượng thấp hơn mức hiệu suất năng lượng tối thiểu.

– Đối với các nhóm thiết bị công nghiệp, thiết bị văn phòng và thương mại, từ ngày 01 tháng 01 năm 2015, không được phép nhập khẩu và sản xuất các thiết bị có mức hiệu suất năng lượng thấp hơn mức hiệu suất năng lượng tối thiểu.

– Đối với các sản phẩm đèn tròn (đèn sợi đốt), từ ngày 01 tháng 01 năm 2013, không được nhập khẩu, sản xuất và lưu thông loại đèn có công suất lớn hơn 60 W.

Tuy nhiên tháng 01/2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 03/2013/QĐ-TTg điều chỉnh lộ trình thực hiện áp dụng mức hiệu suất năng lượng tối thiểu, cụ thể như sau:

– Đối với nhóm hàng là đèn huỳnh quang ống thẳng, đèn huỳnh quang compact, chấn lưu điện từ, điện tử cho đèn huỳnh quang, máy điều hòa nhiệt độ, máy giặt lồng đứng sử dụng trong gia đình, nồi cơm điện, quạt điện từ ngày 01/07/2013;

– Tủ lạnh, máy giặt lồng ngang, máy thu hình từ 01/01/2014;

– Nhóm thiết bị công nghiệp gồm máy biến áp phân phối ba pha, động cơ điện từ 01/7/2013.

Từ ngày 01/01/2015, không được phép nhập khẩu và sản xuất thiết bị có hiệu suất năng lượng thấp hơn mức hiệu suất năng lượng tối thiểu.

Quyết định 78/2013/QĐ-TTg

Ngày 25/12/2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 78/2013/QĐ-TTg ban hành danh mục và lộ trình phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng phải loại bỏ và các tổ máy phát điện hiệu suất thấp không được xây dựng mới. Theo quyết định này, các loại bóng đèn sợi đốt, bóng đèn compact và các thiết bị phải được loại bỏ cụ thể như sau:

– Đèn huỳnh quang dạng ống, đèn huỳnh quang compact, balat (chấn lưu) điện từ và điện tử dùng cho đèn huỳnh quang, tủ lạnh, máy giặt gia dụng, nồi cơm điện, quạt điện, bình đun nước nóng có dự trữ;

– Nhóm thiết bị công nghiệp: Máy biến áp phân phối, động cơ điện, lò hơi trong các xí nghiệp công nghiệp;

Các tổ máy phát điện bằng than, khí trong các nhà máy nhiệt điện.

Không được phép nhập khẩu và sản xuất các thiết bị có hiệu suất năng lượng thấp hơn mức hiệu suất năng lượng tối thiểu.

Đối với nhóm thiết bị gia dụng, Hiệu suất năng lượng không thấp hơn hiệu suất năng lượng tối thiểu quy định tại các Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) như sau:

Bóng đèn huỳnh quang compact: TCVN 7896:2008;

Bóng đèn huỳnh quang dạng ống: TCVN 8249:2009;

Balát điện tử dùng cho bóng đèn huỳnh quang: TCVN 7897:2008;

Balát điện từ dùng cho bóng đèn huỳnh quang: TCVN 8248:2009;

Tủ lạnh: TCVN 7828:2013;

Máy giặt gia dụng: TCVN 8526:2010;

Nồi cơm điện: TCVN 8252:2009;

Quạt điện: TCVN 7826:2007;

Bình đun nước nóng có dự trữ: TCVN 7898:2009.

Đối với nhóm thiết bị công nghiệp, Hiệu suất năng lượng không thấp hơn hiệu suất năng lượng tối thiểu quy định tại các Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) như sau:

– Máy biến áp phân phối:        TCVN 8525:2010;

– Động cơ điện: TCVN 7450-1:2005;

– Lò hơi trong các xí nghiệp công nghiệp: TCVN 8630:2010.

Nghiêm cấm nhập thiết bị cũ, lạc hậu đối với các nhà máy điện có công suất tổ máy nằm ngoài quy định nêu trên; việc cấp phép xây dựng đối với các nhà máy điện này sẽ do các cấp có thẩm quyền xem xét và phê duyệt theo từng dự án cụ thể.

 Lộ trình thực hiện, từ ngày 01 tháng 01 năm 2015, không được phép nhập khẩu và sản xuất các thiết bị có mức hiệu suất năng lượng thấp hơn mức hiệu suất năng lượng tối thiểu.

11.1.3.3. Các quy định hải quan liên quan đến xuất khẩu, nhập khẩu

Luật Hải quan

a) Quy định chung

Luật Hải quan quy định quản lý nhà nước về hải quan đối với hàng hoá được xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài trong lãnh thổ hải quan. Luật được áp dụng cho tổ chức, cá nhân thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hoá, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải. Tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải. Cơ quan hải quan, công chức hải quan và các Cơ quan khác của Nhà nước trong việc phối hợp quản lý nhà nước về hải quan.

Về chính sách hải quan, Nhà nước Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh lãnh thổ Việt Nam; Xây dựng Hải quan Việt Nam trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động minh bạch, hiệu lực, hiệu quả.

Luật cũng quy định, trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viêncó quy định khác với quy định của Luật Hải quan thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó. Đối với những trường hợp mà Luật Hải quan, văn bản pháp luật khác của Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viênchưa có quy định thì có thể áp dụng tập quán và thông lệ quốc tế liên quan đến hải quan, nếu việc áp dụng tập quán và thông lệ quốc tế đó không trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực hải quan bao gồm:

– Đối với công chức hải quan:Gây phiền hà, khó khăn trong việc làm thủ tục hải quan; Bao che, thông đồng để buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, gian lận thương mại, gian lận thuế; Nhận hối lộ, chiếm dụng, biển thủ hàng hoá tạm giữ hoặc thực hiện hành vi khác nhằm mục đích vụ lợi; Hành vi khác vi phạm pháp luật về hải quan.

– Đối với người khai hải quan, tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải: Thực hiện hành vi gian dối trong việc làm thủ tục hải quan;Buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; Gian lận thương mại, gian lận thuế; Đưa hối lộ hoặc thực hiện hành vi khác nhằm mưu lợi bất chính;Cản trở công chức hải quan thi hành công vụ;Truy cập trái phép, làm sai lệch, phá hủy hệ thống thông tin hải quan; và Hành vi khác vi phạm pháp luật về hải quan.

Hải quan Việt Nam có nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hoá, phương tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; thống kê hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.

b) Nguyên tắc tiến hành thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan

Nguyên tắc tiến hành thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, phương tiện xuất nhập cảnh, quá cảnh được quy định như sau:

– Hàng hoá, phương tiện vận tải phải được làm thủ tục hải quan, chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan; vận chuyển đúng tuyến đường, đúng thời gian qua cửa khẩu hoặc các địa điểm khác theo quy định của pháp luật;

– Kiểm tra, giám sát hải quan được thực hiện trên cơ sở áp dụng quản lý rủi ro nhằm bảo đảm hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước về hải quan và tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;

– Hàng hoá được thông quan, phương tiện vận tải được xuất cảnh, nhập cảnh sau khi đã hoàn thành thủ tục hải quan;

– Thủ tục hải quan phải được thực hiện công khai, nhanh chóng, thuận tiện và theo đúng quy định của pháp luật;

– Việc bố trí nhân lực, thời gian làm việc phải đáp ứng yêu cầu hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.

c) Thủ tục hải quan

Hàng hóa xuất nhập khẩu muốn xuất khẩu, nhập khẩu phải làm thủ tục hải quan. Trươc hết phải thực hiện khai hải quan, người khai hải quan phải khai đầy đủ, chính xác, rõ ràng các tiêu chí thông tin tờ khai hải quan.Khai hải quan được thực hiện theo phương thức điện tử, trừ trường hợp người khai hải quan được khai trên tờ khai hải quan giấy theo quy định của Chính phủ.Tờ khai hải quan đã đăng ký có giá trị làm thủ tục hải quan. Chính sách quản lý hàng hóa, chính sách thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu được áp dụng tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan, trừ trường hợp pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có quy định khác.Người khai hải quan xác định có sai sót trong việc khai hải quan được thực hiện khai bổ sung.

Tờ khai hải quan được đăng ký sau khi cơ quan hải quan chấp nhận việc khai của người khai hải quan. Thời điểm đăng ký được ghi trên tờ khai hải quan.Trường hợp không chấp nhận đăng ký tờ khai hải quan, cơ quan hải quan thông báo lý do bằng văn bản giấy hoặc qua phương thức điện tử cho người khai hải quan biết.

Khi kiểm tra hồ sơ hải quan, cơ quan hải quan kiểm tra tính chính xác, đầy đủ, sự phù hợp của nội dung khai hải quan với chứng từ thuộc hồ sơ hải quan, kiểm tra việc tuân thủ chính sách quản lý hàng hóa, chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Kiểm tra hồ sơ hải quan được thực hiện thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan hoặc trực tiếp bởi công chức hải quan.

Hàng hóa có dấu hiệu vi phạm phải kiểm tra thực tế hàng hóa. Việc kiểm tra thực tế được thực hiện trên cơ sở áp dụng quản lý rủi ro.Hàng hoá thuộc một trong các trường hợp sau đây được miễn kiểm tra thực tế: Hàng hóa phục vụ yêu cầu khẩn cấp;Hàng hoá chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh;Hàng hoá thuộc trường hợp đặc biệt khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Việc kiểm tra thực tế hàng hoá do công chức hải quan thực hiện trực tiếp hoặc bằng máy móc, thiết bị kỹ thuật, các biện pháp nghiệp vụ khác.

Việc kiểm tra thực tế hàng hóa phải có mặt của người khai hải quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ sau khi đăng ký tờ khai hải quan và hàng hoá đã được đưa đến địa điểm kiểm tra. Việc kiểm tra thực tế hàng hóa tại địa điểm kiểm tra chung với nước láng giềng được thực hiện theo thỏa thuận giữa các bên.

Việc kiểm tra thực tế hàng hóa vắng mặt người khai hải quan do thủ trưởng cơ quan hải quan nơi lưu giữ hàng hóa quyết định và chịu trách nhiệm trong các trường hợp sau đây:Để bảo vệ an ninh;Để bảo vệ vệ sinh, môi trường;Có dấu hiệu vi phạm pháp luật.

Việc kiểm tra thực tế hàng hóa vắng mặt người khai hải quan được tiến hành dưới các hình thức:Kiểm tra không xâm nhập qua máy soi;Kiểm tra bằng thiết bị kỹ thuật, các biện pháp nghiệp vụ khác của cơ quan hải quan; Mở hàng hóa để kiểm tra trực tiếp với sự chứng kiến của đại diện cơ quan nhà nước tại khu vực cửa khẩu, đại diện doanh nghiệp vận tải, doanh nghiệp kinh doanh cảng, kho, bãi. Việc kiểm tra phải được lập thành văn bản có chữ ký của các bên liên quan.

Hàng hóa được thông quan sau khi đã hoàn thành thủ tục hải quan. Trường hợp người khai hải quan đã hoàn thành thủ tục hải quan nhưng chưa nộp, nộp chưa đủ số thuế phải nộp trong thời hạn quy định thì hàng hóa được thông quan khi được tổ chức tín dụng bảo lãnh về số tiền thuế phải nộp hoặc được áp dụng thời hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế.

Trường hợp chủ hàng hoá bị xử phạt vi phạm hành chính về hải quan bằng hình thức phạt tiền và hàng hóa đó được phép xuất khẩu, nhập khẩu thì hàng hoá có thể được thông quan nếu đã nộp phạt hoặc được tổ chức tín dụng bảo lãnh về số tiền phải nộp để thực hiện quyết định xử phạt của cơ quan hải quan hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Đối với hàng hóa phải kiểm tra, phân tích, giám định để xác định có đủ điều kiện được xuất khẩu, nhập khẩu, cơ quan hải quan chỉ thực hiện thông quan hàng hóa sau khi xác định hàng hoá được xuất khẩu, nhập khẩu trên cơ sở kết luận kiểm tra, phân tích, giám định hoặc thông báo miễn kiểm tra của cơ quan kiểm tra chuyên ngành theo quy định của pháp luật.

Hàng hoá phục vụ yêu cầu khẩn cấp; hàng hóa chuyên dùng phục vụ an ninh, quốc phòng; túi ngoại giao, túi lãnh sự, hành lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ được thông quan theo quy định.

Hàng hóa xuất nhập khẩu phải chịu sự giám sát hải quan. Đối tượng giám sát hải quan gồm hàng hoá, phương tiện vận tải, phương tiện vận tải nội địa vận chuyển hàng hoá đang chịu sự giám sát hải quan. Hoạt động giám sát hải quan được thực hiện bằng các phương thức sau đây:Niêm phong hải quan;Giám sát trực tiếp do công chức hải quan thực hiện;Sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật.

Nghị định 08/2015/NĐ-CP và Thông tư 38/2015/TT-BTC

Để thực hiện kiểm tra giám sát hải quan theo tinh thần của Luật Hải quan, Chính phủ đã ban hành Nghị định 08/2015/NĐ-CP và Bộ Tài chính ban hành Thông tư 38/2015/TT-BTC hướng dẫn cụ thể thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu thương mại, kiểm tra giám sát hải quan. Về cơ bản khi làm thủ tục hải quan phải thực hiện như sau:

Người khai hải quan, người nộp thuế có trách nhiệm trong việc khai hải quan, khai bổ sung và sử dụng hàng hóa theo mục đích kê khai nhưsau:

Tự kê khai đầy đủ, chính xác, trung thực các tiêu chí trên tờ khai hải quan và các chứng từ phải nộp, phải xuất trình theo quy định của pháp luật, các yếu tố làm căn cứ, liên quan đến tính thuế hoặc miễn thuế, xét miễn thuế, xét giảm thuế, xét hoàn thuế, không thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng, thuế bảo vệ môi trường (trừ việc kê khai thuế suất, số tiền thuế phải nộp đối với hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế);

Tự xác định, chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc kê khai số tiền thuế phải nộp; số tiền thuế được miễn thuế, xét miễn thuế, xét giảm thuế, hoàn thuế hoặc không thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng, thuế bảo vệ môi trường theo đúng quy định của pháp luật; kê khai số tiền thuế phải nộp trên giấy nộp tiền theo quy định của Bộ Tài chính về thu, nộp thuế và các khoản thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

Đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu kê khai thuộc đối tượng không chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng, thuế bảo vệ môi trường hoặc miễn thuế, xét miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hoặc áp dụng thuế suất ưu đãi, ưu đãi đặc biệt, mức thuế theo hạn ngạch thuế quan và đã được xử lý theo kê khai nhưng sau đó có thay đổi về đối tượng không chịu thuế hoặc mục đích được miễn thuế, xét miễn thuế, áp dụng thuế suất ưu đãi, ưu đãi đặc biệt, mức thuế theo hạn ngạch thuế quan; hàng hóa là nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để sản xuất hàng hoá xuất khẩu và hàng hóa tạm nhập – tái xuất chuyển tiêu thụ nội địa thì người nộp thuế phải thực hiện khai hải quan đối với hàng hóa thay đổi mục đích sử dụng, chuyển tiêu thụ nội địa theo quy định về việc chuyển tiêu thụ nội địa;

Cử người đại diện khi làm thủ tục hải quan và các thủ tục hành chính khác với cơ quan hải quan.

Việc kế thừa các quyền và hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế của doanh nghiệp hình thành sau khi tổ chức lại thực hiện theo quy định tại Điều 55 Luật Quản lý thuế, cụ thể như sau:

 Doanh nghiệp chuyển đổi có trách nhiệm kế thừa nghĩa vụ, quyền lợi về thuế; các ưu đãi về thủ tục hải quan và thủ tục nộp thuế hàng nhập khẩu của doanh nghiệp cũ;

Doanh nghiệp hợp nhất, sáp nhập, bị chia, bị tách được áp dụng thời hạn nộp thuế 275 ngày đối với hàng hóa là nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để sản xuất hàng hóa xuất khẩutrong trường hợp:

– Doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện mà hợp nhất, sáp nhập với doanh nghiệp cũng đáp ứng đủ điều kiện;

– Doanh nghiệp mới được hình thành từ doanh nghiệp bị chia, doanh nghiệp bị tách mà doanh nghiệp bị chia, bị tách đáp ứng đủ điều kiện.

– Doanh nghiệp hợp nhất, sáp nhập, bị chia, bị tách thuộc các trường hợp khác: Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là Cục Hải quan) nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính xem xét thực tế để quyết định việc cho áp dụng thời hạn nộp thuế 275 ngày.

Cơ quan hải quan, công chức hải quan thực hiện trách nhiệm và quyền hạn quy định tại Điều 19 Luật Hải quan, Điều 8, Điều 9 Luật Quản lý thuế được sửa đổi, bổ sung tại khoản 5, khoản 6 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều

Về nộp, xác nhận và sử dụng các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan, hồ sơ thuế

Người khai hải quan, người nộp thuế không phải nộp tờ khai hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (sau đây gọi tắt là tờ khai hải quan) khi đề nghị cơ quan hải quan thực hiện các thủ tục xét miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, không thu thuế, xử lý tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa, gia hạn nộp thuế, nộp dần tiền thuế nợ, xác nhận hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế, xoá nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt, trừ trường hợp khai hải quan trên tờ khai hải quan giấy.

Các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan, hồ sơ khai bổ sung, hồ sơ đăng ký Danh mục hàng hoá miễn thuế, hồ sơ báo cáo sử dụng hàng hóa miễn thuế, hồ sơ xét miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, không thu thuế, hồ sơ đề nghị xử lý tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa, hồ sơ đề nghị gia hạn nộp thuế, hồ sơ nộp dần tiền thuế nợ, hồ sơ xác nhận hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế, hồ sơ đề nghị xoá nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp cho cơ quan hải quan thông qua Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan hoặc nộp bản giấy theo quy định của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan. Trường hợp theo quy định phải nộp bản chính thì người khai hải quan phải nộp trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu chính cho cơ quan hải quan.

Khi kiểm tra hồ sơ, cơ quan hải quan sử dụng các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan điện tử và các thông tin trên Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan để kiểm tra, đối chiếu và lưu trữ.

Trường hợp khai hải quan trên tờ khai hải quan giấy, hồ sơ hải quan theo quy định là bản chụp thì người khai hải quan, người nộp thuế có thể nộp bản chính hoặc bản chụp. Trường hợp bản chụp hoặc các chứng từ do người nước ngoài phát hành bằng hình thức điện tử, fax, telex hoặc các chứng từ, tài liệu do người khai hải quan, người nộp thuế phát hành thì người khai hải quan, người nộp thuế phải xác nhận, ký tên, đóng dấu và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực và hợp pháp của các chứng từ đó. Trường hợp bản chụp có nhiều trang thì người khai hải quan, người nộp thuế xác nhận, ký tên, đóng dấu lên trang đầu và đóng dấu giáp lai toàn bộ văn bản.

Các chứng từ thuộc hồ sơ nếu không phải bản tiếng Việt hoặc tiếng Anh thì người khai hải quan, người nộp thuế phải dịch ra tiếng Việt và chịu trách nhiệm về nội dung bản dịch.

Người khai hải quan có trách nhiệm lưu trữ hồ sơ theo quy định tại, sổ sách, chứng từ kế toán trong thời hạn theo quy định của pháp luật về kế toán. Ngoài ra, người khai hải quan phải lưu trữ các chứng từ khác liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong thời hạn 5 năm, bao gồm chứng từ vận tải đối với hàng hóa xuất khẩu, phiếu đóng gói, tài liệu kỹ thuật, chứng từ, tài liệu liên quan đến định mức thực tế để gia công, sản xuất sản phẩm xuất khẩu.

Người khai hải quan phải lưu trữ bản chính các chứng từ nêu trên (trừ trường hợp đã nộp bản chính cho cơ quan hải quan), trường hợp các chứng từ điện tử thì lưu giữ dưới dạng điện tử hoặc chuyển đổi ra chứng từ giấy theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

Sử dụng chữ ký số trong thực hiện thủ tục hải quan điện tử

Chữ ký số sử dụng trong thủ tục hải quan điện tử của người khai hải quan phải thỏa mãn các điều kiện sau:

– Là chữ ký số tương ứng với chứng thư số được tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng hoặc tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số nước ngoài được công nhận theo quy định tại Nghị định số 170/2013/NĐ-CP cung cấp;

– Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số nêu trên phải thuộc danh sách tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số đã được cơ quan hải quan xác nhận tương thích với Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan và đăng tải trên Cổng thông tin điện tử hải quan (địa chỉ: http://www.customs.gov.vn).

– Trước khi sử dụng chữ ký số để thực hiện thủ tục hải quan điện tử, người khai hải quan phải đăng ký chữ ký số với cơ quan hải quan.

Trường hợp người khai hải quan thực hiện thủ tục hải quan điện tử thông qua đại lý làm thủ tục hải quan hoặc ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu thì đại lý làm thủ tục hải quan hoặc người nhận ủy thác phải sử dụng tài khoản đăng nhập và chữ ký số của đại lý làm thủ tục hải quan hoặc người nhận ủy thác.

Người khai hải quan phải đăng ký sửa đổi, bổ sung thông tin chữ ký số với cơ quan hải quan trong các trường hợp sau: các thông tin đã đăng ký có sự thay đổi, gia hạn chứng thư số, thay đổi cặp khóa, tạm dừng chứng thư số.

Chữ ký số đã đăng ký của người khai hải quan được sử dụng để thực hiện thủ tục hải quan điện tử trên phạm vi toàn quốc.

Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan

Cơ quan hải quan chịu trách nhiệm tổ chức xây dựng, quản lý, vận hành và khai thác sử dụng Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan (sau đây gọi tắt là Hệ thống).

Các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi thẩm quyền có trách nhiệm cung cấp, trao đổi thông tin liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hóa với cơ quan Hải quan thông qua Hệ thống theo quy định của pháp luật hiện hành.

Các đối tượng được truy cập và trao đổi thông tin với Hệ thống, gồm:

– Công chức hải quan;

– Người khai hải quan;

– Tổ chức cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng đã được cơ quan hải quan công nhận;

– Các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan đến cấp phép, quản lý chuyên ngành hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa;

– Các cơ quan theo dõi quản lý thuế, quản lý giá đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

– Tổ chức tín dụng đã ký thỏa thuận thu nộp thuế, lệ phí và các khoản thu khác của ngân sách nhà nước liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu với Tổng cục Hải quan; các tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức khác hoạt động theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng thực hiện việc bảo lãnh số tiền thuế phải nộp cho người khai hải quan;

– Các doanh nghiệp kinh doanh cảng, kho, bãi;

– Các tổ chức, cá nhân khác theo quy định của Tổng cục Hải quan.

Cấp tài khoản truy cập Hệ thống:

Các đối tượng quy định trên được cấp tài khoản truy cập Hệ thống theo quy định của cơ quan hải quan;

 Việc truy cập Hệ thống phải đảm bảo bí mật nhà nước, bí mật thông tin của đối tượng làm thủ tục hải quan theo quy định của pháp luật.

 Tổ chức, cá nhân tham gia khai hải quan qua Hệ thống phải đáp ứng các điều kiện sau:

– Đăng ký tham gia kết nối với Hệ thống để được cấp tài khoản truy cập và các thông tin kết nối. Khi có thay đổi, bổ sung hoặc hủy hiệu lực thông tin đăng ký, tổ chức, cá nhân phải thông báo ngay cho cơ quan hải quan. Việc đăng ký, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy thông tin đăng ký thực hiện theo hướng dẫn tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này;

– Trang bị đầy đủ về hạ tầng kỹ thuật trong hoạt động giao dịch điện tử đảm bảo cho việc khai báo, truyền, nhận, lưu trữ thông tin khi truy cập và trao đổi thông tin với Hệ thống; sử dụng phần mềm khai hải quan điện tử do cơ quan hải quan cung cấp (nếu có) hoặc phần mềm khai hải quan điện tử đã được Tổng cục Hải quan kiểm tra và xác nhận phù hợp yêu cầu nghiệp vụ của cơ quan hải quan và tương thích với Hệ thống.

Thủ tục hải quan, kiểm tra giám sát hải quan

Đánh giá tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu

Cơ quan hải quan đánh giá, phân loại tuân thủ pháp luật hải quan, pháp luật thuế của doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, bao gồm:

– Doanh nghiệp ưu tiên;

– Doanh nghiệp tuân thủ;

– Doanh nghiệp không tuân thủ.

Tiêu chí đánh giá tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp được dựa trên Hệ thống các các chỉ tiêu thông tin theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ.

Cơ quan hải quan cung cấp thông tin liên quan đến việc đánh giá tuân thủ pháp luật; hỗ trợ, hướng dẫn doanh nghiệp nâng cao năng lực tuân thủ pháp luật.

Áp dụng biện pháp kiểm tra hàng hóa trong quá trình xếp, dỡ, vận chuyển, lưu giữ tại kho, bãi, cảng, khu vực cửa khẩu

Việc quyết định kiểm tra thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong quá trình xếp, dỡ, vận chuyển, lưu giữ tại kho, bãi, cảng, khu vực cửa khẩu được dựa trên áp dụng quản lý rủi ro theo các tiêu chí sau:

– Chủ hàng, người giao hàng, người nhận hàng và các đối tượng khác liên quan;

– Đặc điểm, tính chất hàng hóa; tuyến đường vận chuyển, phương tiện vận chuyển và các yếu tố khác liên quan của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

– Lựa chọn ngẫu nhiên không quá 01% tổng số hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tập kết, xếp, dỡ tại khu vực cửa khẩu.

 Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan căn cứ tiêu chí quy định trên quyết định việc kiểm tra hàng hóa bằng máy soi container hoặc phương tiện kỹ thuật khác thông qua Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan. Chi cục trưởng Chi cục Hải quan quản lý kho, bãi, cảng, cửa khẩu tổ chức thực hiện việc kiểm tra.

Áp dụng biện pháp kiểm tra hải quan trong quá trình làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

Nguyên tắc chung:

Việc xác định hàng hóa phải kiểm tra thực tế được dựa trên quản lý rủi ro thông qua phân luồng của Hệ thống; Chi cục trưởng Chi cục Hải quan thực hiện quyết định kiểm tra theo thông báo phân luồng của Hệ thống và kiểm tra ngẫu nhiên đánh giá sự tuân thủ của người khai hải quan theo quy định, hướng dẫn của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan; trên cơ sở đó thực hiện việc kiểm tra thực tế hàng hóa.

– Việc kiểm tra hàng hóa thuộc diện quản lý chuyên ngành được thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành; thực hiện kiểm tra thực tế toàn bộ lô hàng đối với trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật về hải quan.

 Việc kiểm tra hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh của doanh nghiệp ưu tiên được thực hiện theo Thông tư riêng của Bộ Tài chính.

 Việc kiểm tra hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh của doanh nghiệp tuân thủ được thực hiện như sau:

– Kiểm tra trực tiếp hồ sơ trong các trường hợp:

+ Có dấu hiệu vi phạm pháp luật về hải quan;

+ Lựa chọn không quá 5% trên tổng tờ khai hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trên cơ sở phân tích, đánh giá rủi ro;

+ Hàng hóa theo quy định của pháp luật chuyên ngành phải kiểm tra trực tiếp hồ sơ.

– Kiểm tra thực tế hàng hóa trong các trường hợp:

– Có dấu hiệu vi phạm pháp luật về hải quan;

– Lựa chọn không quá 1% trên tổng tờ khai hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trên cơ sở phân tích, đánh giá rủi ro;

– Theo quy định của pháp luật chuyên ngành phải kiểm tra thực tế hàng hóa.

– Cơ quan hải quan thực hiện kiểm tra đánh giá tuân thủ đối với doanh nghiệp tuân thủ theo khoản.

 Việc kiểm tra hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh của doanh nghiệp không tuân thủ được thực hiện như sau:

– Kiểm tra trực tiếp hồ sơ trong các trường hợp:

+ Có dấu hiệu vi phạm pháp luật về hải quan;

+ Hàng hóa theo quy định của pháp luật chuyên ngành phải kiểm tra trực tiếp hồ sơ;

+ Lựa chọn kiểm tra trực tiếp hồ sơ không quá 50% trên tổng tờ khai hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trên cơ sở kết quả phân tích, đánh giá rủi ro.

– Kiểm tra thực tế hàng hóa trong các trường hợp:

+ Có dấu hiệu vi phạm pháp luật hải quan và theo quy định quản lý chuyên ngành

+ Lựa chọn kiểm tra thực tế hàng hóa tối thiểu 20% trên tổng tờ khai hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trên cơ sở kết quả phân tích, đánh giá rủi ro.

Khai hải quan

Hồ sơ hải quan

Hồ sơ hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu bao gồm:

– Tờ khai hàng hóa xuất khẩu theo các chỉ tiêu thông tin quy định tại Phụ lục II ban hành kèm Thông tư 38/2015/TT-BTC.

Trường hợp thực hiện trên tờ khai hải quan giấy theo quy định tại khoản 2 Điều 25 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP, người khai hải quan khai và nộp 02 bản chính tờ khai hàng hóa xuất khẩu theo mẫu HQ/2015/XK tại Phụ lục IV ban hành kèm Thông tư 38/2015/TT-BTC;

– Giấy phép xuất khẩu đối với hàng hóa phải có giấy phép xuất khẩu: 01 bản chính nếu xuất khẩu một lần hoặc 01 bản chụp kèm theo Phiếu theo dõi trừ lùi nếu xuất khẩu nhiều lần;

-Giấy thông báo miễn kiểm tra hoặc giấy thông báo kết quả kiểm tra của cơ quan kiểm tra chuyên ngành theo quy định của pháp luật: 01 bản chính.

Đối với Giây phép, Giấy thông báo miễn kiểm tra nếu áp dụng cơ chế một cửa quốc gia, cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành gửi giấy phép xuất khẩu, văn bản thông báo kết quả kiểm tra, miễn kiểm tra chuyên ngành dưới dạng điện tử thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia, người khai hải quan không phải nộp khi làm thủ tục hải quan.

 Hồ sơ hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu bao gồm:

– Tờ khai hàng hóa nhập khẩu theo các chỉ tiêu thông tin quy định tại Phụ lục II ban hành kèm Thông tư 38/2015/TT-BTC.

Trường hợp thực hiện trên tờ khai hải quan giấy theo quy định tại khoản 2 Điều 25 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP, người khai hải quan khai và nộp 02 bản chính tờ khai hàng hóa nhập khẩu theo mẫu HQ/2015/NK Phụ lục IV ban hành kèm Thông tư 38/2015/TT-BTC;

– Hóa đơn thương mại trong trường hợp người mua phải thanh toán cho người bán: 01 bản chụp.

Trường hợp chủ hàng mua hàng từ người bán tại Việt Nam nhưng được người bán chỉ định nhận hàng từ nước ngoài thì cơ quan hải quan chấp nhận hóa đơn do người bán tại Việt Nam phát hành cho chủ hàng.

 Người khai hải quan không phải nộp hóa đơn thương mại trong các trường hợp sau:

+ Người khai hải quan là doanh nghiệp ưu tiên;

+ Hàng hóa nhập khẩu để thực hiện hợp đồng gia công cho thương nhân nước ngoài, người khai hải quan khai giá tạm tính tại ô “Trị giá hải quan” trên tờ khai hải quan;

+ Hàng hóa nhập khẩu không có hóa đơn và người mua không phải thanh toán cho người bán, người khai hải quan khai trị giá hải quan theo hướng dẫn của Bộ Tài chính về xác định trị giá hải quan.

– Vận tải đơn hoặc các chứng từ vận tải khác có giá trị tương đương đối với trường hợp hàng hóa vận chuyển bằng đường biển, đường hàng không, đường sắt, vận tải đa phương thức theo quy định của pháp luật(trừ hàng hoá nhập khẩu qua cửa khẩu biên giới đường bộ, hàng hoá mua bán giữa khu phi thuế quan và nội địa, hàng hóa nhập khẩu do người nhập cảnh mang theo đường hành lý): 01 bản chụp.

Đối với hàng hóa nhập khẩu phục vụ cho hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí được vận chuyển trên các tàu dịch vụ (không phải là tàu thương mại) thì nộp bản khai hàng hoá (cargo manifest) thay cho vận tải đơn;

– Giấy phép nhập khẩu đối với hàng hóa phải có giấy phép nhập khẩu; Giấy phép nhập khẩu theo hạn ngạch: 01 bản chính nếu nhập khẩu một lần hoặc 01 bản chụp kèm theo Phiếu theo dõi trừ lùi nếu nhập khẩu nhiều lần;

– Giấy thông báo miễn kiểm tra hoặc Giấy thông báo kết quả kiểm tra của cơ quan kiểm tra chuyên ngành theo quy định của pháp luật: 01 bản chính.

Đối với Giấy phép, Giấy thông báo miễn kiểm tra, nếu áp dụng cơ chế một cửa quốc gia, cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành gửi giấy phép nhập khẩu, văn bản thông báo kết quả kiểm tra, miễn kiểm tra chuyên ngành dưới dạng điện tử thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia, người khai hải quan không phải nộp khi làm thủ tục hải quan;

– Tờ khai trị giá: Người khai hải quan khai tờ khai trị giá theo mẫu, gửi đến Hệ thống dưới dạng dữ liệu điện tử hoặc nộp cho cơ quan hải quan 02 bản chính (đối với trường hợp khai trên tờ khai hải quan giấy). Các trường hợp phải khai tờ khai trị giá và mẫu tờ khai trị giá thực hiện theo Thông tư của Bộ Tài chính quy định về việc xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

– Chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa (Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa hoặc Chứng từ tự chứng nhận xuất xứ): 01 bản chính hoặc chứng từ dưới dạng dữ liệu điện tử trong các trường hợp sau:

+ Hàng hoá có xuất xứ từ nước hoặc nhóm nước có thoả thuận về áp dụng thuế suất ưu đãi đặc biệt với Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam và theo các Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia, nếu người nhập khẩu muốn được hưởng các chế độ ưu đãi đó;

+ Hàng hoá thuộc diện do Việt Nam hoặc các tổ chức quốc tế thông báo đang ở trong thời điểm có nguy cơ gây hại đến an toàn xã hội, sức khoẻ của cộng đồng hoặc vệ sinh môi trường cần được kiểm soát;

+ Hàng hoá nhập khẩu từ các nước thuộc diện Việt Nam thông báo đang ở trong thời điểm áp dụng thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, thuế chống phân biệt đối xử, thuế tự vệ, thuế suất áp dụng theo hạn ngạch thuế quan;

+ Hàng hoá nhập khẩu phải tuân thủ các chế độ quản lý nhập khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Trường hợp theo thoả thuận về áp dụng thuế suất ưu đãi đặc biệt với Việt Nam hoặc theo các Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định về việc nộp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa nhập khẩu là chứng từ điện tử hoặc Chứng từ tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa của người sản xuất/người xuất khẩu/người nhập khẩu thì cơ quan hải quan chấp nhận các chứng từ này.

 Hồ sơ hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc đối tượng miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu:

– Trường hợp hàng hoá thuộc đối tượng được miễn thuế xuất khẩu, ngoài các chứng từ nêu trên, người khai hải quan nộp 01 bản chụp, xuất trình bản chính Danh mục hàng hóa miễn thuế kèm theo Phiếu theo dõi trừ lùi đã được đăng ký tại cơ quan hải quan đối với các trường hợp phải đăng ký danh mục theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 104 Thông tư 38/2015/TT-BTC.

– Trường hợp đăng ký danh mục hàng hóa miễn thuế trên Hệ thống, người khai hải quan không phải nộp danh mục, phiếu theo dõi trừ lùi, nhưng phải khai đầy đủ các chỉ tiêu thông tin theo Phụ lục II Thông tư 38/2015/TT-BTC;

– Trường hợp hàng hoá thuộc đối tượng được miễn thuế nhập khẩu nêu tại Điều 103 Thông tư 38/2015/TT-BTC thì ngoài các chứng từ quy định trên, người khai hải quan nộp, xuất trình thêm các chứng từ sau:

+ Danh mục hàng hóa miễn thuế kèm theo Phiếu theo dõi trừ lùi đã được đăng ký tại cơ quan hải quan đối với các trường hợp phải đăng ký danh mục theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 104 Thông tư 38/2015/TT-BTC: nộp 01 bản chụp, xuất trình bản chính để đối chiếu và trừ lùi.

Trường hợp đăng ký danh mục hàng hóa nhập khẩu miễn thuế trên Hệ thống, người khai hải quan không phải nộp danh mục, phiếu theo dõi trừ lùi, nhưng phải khai đầy đủ các chỉ tiêu thông tin theo Phụ lục II Thông tư 38/2015/TT-BTC;

+ Chứng từ chuyển nhượng hàng hoá thuộc đối tượng miễn thuế đối với trường hợp hàng hoá của đối tượng miễn thuế chuyển nhượng cho đối tượng miễn thuế khác: nộp 01 bản chụp.

 Hồ sơ hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc đối tượng không chịu thuế:

Trường hợp hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thuộc đối tượng không chịu thuế, ngoài các chứng từ nêu trên người khai hải quan nộp, xuất trình thêm các chứng từ sau:

+ Tờ khai xác nhận viện trợ không hoàn lại của cơ quan tài chính theo quy định của Bộ Tài chính đối với hàng hóa viện trợ không hoàn lại thuộc đối tượng không chịu thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng: nộp 01 bản chính.

Trường hợp chủ dự án ODA không hoàn lại, nhà thầu chính thực hiện dự án ODA không hoàn lại xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt theo quy định của pháp luật về thuế thì phải có thêm hợp đồng cung cấp hàng hoá, trong đó quy định giá trúng thầu hoặc giá cung cấp hàng hoá không bao gồm thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt (đối với trường hợp tổ chức, cá nhân trúng thầu nhập khẩu); hợp đồng uỷ thác nhập khẩu hàng hoá, trong đó quy định giá cung cấp theo hợp đồng uỷ thác không bao gồm thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt (đối với trường hợp uỷ thác nhập khẩu): nộp 01 bản chụp;

+ Hợp đồng bán hàng hoặc Hợp đồng cung cấp hàng hóa, trong đó, quy định giá trúng thầu hoặc giá cung cấp hàng hóa không bao gồm thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng (nếu có): nộp 01 bản chụp, xuất trình bản chính trong lần nhập khẩu đầu tiên tại Chi cục Hải quan nơi làm thủ tục nhập khẩu để đối chiếu;

+ Hợp đồng bán hàng cho các doanh nghiệp chế xuất theo kết quả đấu thầu hoặc Hợp đồng cung cấp hàng hóa, trong đó, quy định giá trúng thầu hoặc giá cung cấp hàng hóa không bao gồm thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng (nếu có) để phục vụ xây dựng nhà xưởng, văn phòng làm việc của doanh nghiệp chế xuất do các nhà thầu nhập khẩu;

+ Hàng hoá thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng là máy móc, thiết bị, vật tư thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để sử dụng trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ; máy móc, thiết bị, phụ tùng thay thế, phương tiện vận tải chuyên dùng và vật tư thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để tiến hành hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ dầu, khí đốt; tàu bay, giàn khoan, tàu thuỷ thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu tạo tài sản cố định của doanh nghiệp, thuê của nước ngoài sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và để cho thuê, phải có:

Hợp đồng bán hàng cho các doanh nghiệp theo kết quả đấu thầu hoặc hợp đồng cung cấp hàng hoá hoặc hợp đồng cung cấp dịch vụ (ghi rõ giá hàng hoá phải thanh toán không bao gồm thuế giá trị gia tăng) đối với hàng hoá thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng do cơ sở trúng thầu hoặc được chỉ định thầu hoặc đơn vị cung cấp dịch vụ nhập khẩu: nộp 01 bản chụp, xuất trình bản chính trong lần nhập khẩu đầu tiên tại Chi cục Hải quan nơi làm thủ tục nhập khẩu để đối chiếu;

Hoặc Hợp đồng uỷ thác nhập khẩu hàng hoá, trong đó ghi rõ giá cung cấp theo hợp đồng uỷ thác không bao gồm thuế giá trị gia tăng (đối với trường hợp nhập khẩu uỷ thác): nộp 01 bản chụp;

Hoặc Văn bản của cơ quan có thẩm quyền giao nhiệm vụ cho các tổ chức thực hiện các chương trình, dự án, đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ hoặc hợp đồng khoa học và công nghệ giữa bên đặt hàng với bên nhận đặt hàng thực hiện hợp đồng khoa học và công nghệ: nộp 01 bản chính;

Hoặc Hợp đồng thuê ký với nước ngoài đối với trường hợp thuê tàu bay, giàn khoan, tàu thuỷ; loại trong nước chưa sản xuất được của nước ngoài dùng cho sản xuất, kinh doanh và để cho thuê: nộp 01 bản chụp.

+ Giấy xác nhận hàng hóa nhập khẩu phục vụ trực tiếp cho quốc phòng của Bộ Quốc phòng hoặc phục vụ trực tiếp cho an ninh của Bộ Công an đối với hàng hoá nhập khẩu là vũ khí, khí tài chuyên dùng phục vụ trực tiếp cho quốc phòng, an ninh thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị giá tăng: nộp 01 bản chính.

– Đối với thiết bị, dụng cụ chuyên dùng cho giảng dạy, nghiên cứu, thí nghiệm khoa học, để được áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng 5% theo quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng, người khai hải quan phải nộp hợp đồng bán hàng cho các trường học, các viện nghiên cứu hoặc hợp đồng cung cấp hàng hóa hoặc hợp đồng cung cấp dịch vụ: nộp 01 bản chụp, xuất trình bản chính trong lần nhập khẩu đầu tiên tại Chi cục Hải quan nơi làm thủ tục nhập khẩu để đối chiếu.

Kiểm tra chi tiết hồ sơ hải quan, kiểm tra thực tế hàng hóa

Nguyên tắc kiểm tra

 Căn cứ thông báo kết quả phân luồng tờ khai hải quan của Hệ thống, quyết định của Chi cục trưởng Chi cục Hải quan nơi đăng ký tờ khai hoặc Chi cục Hải quan nơi kiểm tra thực tế hàng hóa, thông tin khai hải quan, thông tin chỉ dẫn rủi ro trên Hệ thống, công chức hải quan thông báo cho người khai hải quan thông qua Hệ thống về việc nộp, xuất trình một đến toàn bộ chứng từ thuộc hồ sơ hải quan và thực hiện kiểm tra chi tiết hồ sơ hải quan, kiểm tra thực tế hàng hóa. Trường hợp kiểm tra thực tế hàng hóa, công chức phải ghi kết quả kiểm tra trên Phiếu ghi kết quả kiểm tra, cập nhật vào Hệ thống theo quy định tại Thông tư này và hướng dẫn của Tổng cục Hải quan, quyết định thông quan, giải phóng hàng hoặc đưa hàng về bảo quản.

Trong quá trình kiểm tra hải quan, nếu phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật hải quan, pháp luật thuế, công chức hải quan có trách nhiệm báo cáo, đề xuất Chi cục trưởng Chi cục Hải quan quyết định thay đổi hình thức, mức độ kiểm tra phù hợp.

Trong quá trình kiểm tra hải quan, nếu phải trưng cầu giám định phục vụ công tác kiểm tra hải quan, cơ quan hải quan chịu trách nhiệm chi trả chi phí.

 Kiểm tra tên hàng, mã số hàng hóa, mức thuế khi kiểm tra hồ sơ hải quan.

 Nội dung kiểm tra:

Kiểm tra nội dung khai và kiểm tra tính chính xác về tên hàng, mã số hàng hóa, mức thuế khai trên tờ khai hải quan với các thông tin ghi trên các chứng từ trong hồ sơ hải quan;

 Xử lý kết quả kiểm tra:

+ Trường hợp xác định người khai hải quan khai báo tên hàng, mã số hàng hóa, mức thuế rõ ràng, đầy đủ, không có sự sai lệch về tên hàng với các thông tin ghi trên các chứng từ trong bộ hồ sơ hải quan thì cơ quan hải quan chấp nhận nội dung khai về tên hàng, mã số hàng hóa và mức thuế của người khai hải quan;

+ Trường hợp đủ căn cứ để xác định người khai hải quan khai không đúng tên hàng, mã số hàng hóa, mức thuế thì hướng dẫn và yêu cầu người khai hải quan khai bổ sung theo quy định và xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật. Trường hợp người khai hải quan không thực hiện khai bổ sung thì cơ quan hải quan xác định lại mã số hàng hóa, mức thuế và thực hiện ấn định thuế, đồng thời, tùy theo mức độ vi phạm thì xử lý theo quy định của pháp luật và thực hiện cập nhật kết quả kiểm tra vào cơ sở dữ liệu, thông quan hàng hóa sau khi người khai hải quan nộp đủ tiền thuế, tiền phạt (nếu có) theo quy định;

+ Trường hợp phát hiện thông tin khai báo về tên hàng, mô tả hàng hóa chưa phù hợp với mã số hàng hóa, hoặc sai lệch giữa các thông tin trên chứng từ thuộc bộ hồ sơ hải quan và thông tin khai trên tờ khai hải quan nhưng chưa đủ căn cứ để xác định tên hàng, mã số hàng hóa, mức thuế thì yêu cầu người khai hải quan nộp bổ sung tài liệu kỹ thuật hoặc hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc bản phân tích thành phần sản phẩm.

Qua kiểm tra các chứng từ nộp bổ sung, nếu cơ quan hải quan có đủ cơ sở xác định người khai hải quan khai không đúng tên hàng, mã số hàng hóa, mức thuế thì hướng dẫn người khai hải quan khai bổ sung. Trường hợp người khai hải quan không nộp được chứng từ theo yêu cầu của cơ quan hải quan hoặc qua kiểm tra các chứng từ, cơ quan hải quan chưa đủ cơ sở để xác định tên hàng, mã số hàng hóa, mức thuế thì thực hiện lấy mẫu phân tích, giám định theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính về phân loại hàng hóa, phân tích để phân loại hàng hóa, phân tích để kiểm tra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu hoặc báo cáo Chi cục trưởng Chi cục Hải quan quyết định kiểm tra thực tế hàng hóa.

 Kiểm tra tên hàng, mã số hàng hóa, mức thuế khi kiểm tra thực tế

Nội dung kiểm tra:

– Kiểm tra nội dung khai và kiểm tra tính chính xác về tên hàng, mã số hàng hóa trên tờ khai hải quan với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

– Khi kiểm tra thực tế hàng hóa, công chức hải quan phải xác định tên hàng, mã số hàng hóa theo các tiêu chí nêu trong Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam, Biểu thuế áp dụng đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

 Xử lý kết quả kiểm tra:

– Trường hợp xác định không có sự sai lệch về tên hàng, mã số hàng hóa khai trên tờ khai hải quan so với hàng hóa thực tế xuất khẩu, nhập khẩu; không có sự sai lệch về mức thuế với các Biểu thuế áp dụng có hiệu lực tại thời điểm kiểm tra, cơ quan hải quan chấp nhận nội dung khai về tên hàng, mã số hàng hóa và mức thuế của người khai hải quan;

-Trường hợp đủ căn cứ để xác định người khai hải quan khai không đúng tên hàng, mã số hàng hóa, mức thuế thì hướng dẫn và yêu cầu người khai hải quan khai bổ sung theo quy định tại Điều 20 Thông tư 38/2015/TT-BTC và xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật. Trường hợp người khai hải quan không thực hiện khai bổ sung thì cơ quan hải quan xác định lại mã số hàng hóa, mức thuế và thực hiện ấn định thuế, đồng thời, tùy theo mức độ vi phạm giữa nội dung khai hải quan và thực tế kiểm tra để thực hiện xử lý theo quy định của pháp luật và cập nhật kết quả kiểm tra vào cơ sở dữ liệu, thông quan hàng hóa sau khi người khai hải quan nộp đủ tiền thuế, tiền phạt (nếu có) theo quy định;

+Trường hợp không thể xác định được chính xác tên hàng, mã số hàng hóa theo các tiêu chí trong Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam, Biểu thuế áp dụng đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, công chức hải quan cùng người khai hải quan lấy mẫu để thực hiện phân tích, giám định theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính về phân loại hàng hóa, phân tích để phân loại hàng hóa, phân tích để kiểm tra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

– Trường hợp lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan trên cơ sở kết quả phân tích, giám định để xác định tên hàng, mã số hàng hóa thì cơ quan hải quan có thể sử dụng kết quả phân tích, giám định của lô hàng này để thực hiện thủ tục hải quan cho các lô hàng tiếp theo của chính người khai hải quan có cùng tên hàng, xuất xứ, mã số hàng hóa khai báo, nhập khẩu từ cùng một nhà sản xuất (đối với hàng hóa nhập khẩu).

Kiểm tra trị giá hải quan

 Kiểm tra trị giá hải quan: Cơ quan hải quan thực hiện kiểm tra trị giá hải quan do người khai hải quan khai trên tờ khai hải quan để xác định các trường hợp có đủ cơ sở bác bỏ trị giá khai báo và các trường hợp có nghi vấn về trị giá khai báo nhưng chưa đủ cơ sở bác bỏ:

– Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có đủ cơ sở bác bỏ trị giá khai báo nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

+ Người khai hải quan không kê khai hoặc kê khai không đúng, không đủ các chỉ tiêu liên quan đến trị giá hải quan trên tờ khai hàng hóa xuất khẩu;

+ Các nội dung về trị giá, điều kiện giao hàng trên hóa đơn thương mại không phù hợp với các nội dung tương ứng trên vận tải đơn hoặc các chứng từ vận tải khác có giá trị tương đương theo quy định của pháp luật.

– Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có nghi vấn về trị giá khai báo nhưng chưa đủ cơ sở bác bỏ là trường hợp trị giá khai báo thấp hơn thông tin rủi ro về trị giá tại cơ sở dữ liệu giá theo quy định của Tổng cục Hải quan.

Kiểm tra, xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

Đối với hàng hóa xuất khẩu

Xuất xứ hàng hóa xuất khẩu được xác định dựa trên nội dung khai của người khai hải quan, chứng từ thuộc hồ sơ hải quanvà thực tế hàng hoá.Khi có dấu hiệu gian lận xuất xứ hàng hóa xuất khẩu hoặc trên cơ sở thông tin cảnh báo về chuyển tải bất hợp pháp, Chi cục Hải quan nơi đăng ký tờ khai yêu cầu người khai hải quan cung cấp chứng từ chứng minh xuất xứ hàng xuất khẩu; trường hợp người khai hải quan không xuất trình thì tiến hành xác minh tại cơ sở sản xuất hàng hóa xuất khẩu. Trong khi chờ kết quả kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa, hàng hóa xuất khẩu được thông quan theo quy định.

Đối với hàng hóa nhập khẩu

Người khai hải quan nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa nhập khẩu cho cơ quan hải quan theo quy định.

Trường hợp chưa nộp được chứng từ chứng nhận xuất xứ tại thời điểm khai hải quan, người khai hải quan khai theo mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi tối huệ quốc (sau đây gọi tắt là thuế suất MFN) hoặc thông thường. Khi nộp bổ sung chứng từ chứng nhận xuất xứ trong thời hạn theo quy định, người khai hải quan khai bổ sung theo mức thuế suất ưu đãi đặc biệt tương ứng, được hoàn trả số tiền thuế chênh lệch đã nộp; trường hợp lô hàng thuộc diện miễn kiểm tra hồ sơ khi khai hải quan, người khai hải quan phải nộp bổ sung bộ hồ sơ hải quan theo quy định tại khoản 2 Điều 16 Thông tư38/2015/TT-BTC khi nộp bổ sung chứng từ chứng nhận xuất xứ;

Khi kiểm tra xuất xứ hàng hoá, cơ quan hải quan căn cứ vào chứng từ chứng nhận xuất xứ, hồ sơ hải quan, thực tế hàng hoá, những thông tin có liên quan đến hàng hoá và quy định tại Điều 15 Nghị định số 19/2006/NĐ-CP ngày 20/02/2006 của Chính phủ, Thông tư hướng dẫn thực hiện quy tắc xuất xứ ưu đãi và không ưu đãi của Bộ Công Thương và các văn bản hướng dẫn có liên quan;

Cơ quan hải quan chấp nhận chứng từ chứng nhận xuất xứ trong trường hợp có khác biệt nhỏ, không ảnh hưởng đến tính hợp lệ của chứng từ chứng nhận xuất xứ và bản chất xuất xứ của hàng hóa nhập khẩu.

Kiểm tra giấy phép xuất nhập khẩu, kết quả kiểm tra chuyên ngành

Cơ quan hải quan kiểm tra, đối chiếu thông tin về giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu; kết quả kiểm tra hoặc thông báo miễn kiểm tra chuyên ngành do cơ quan kiểm tra chuyên ngành gửi đến hoặc do người khai hải quan nộp trực tiếp cho cơ quan hải quan với thông tin khai trên tờ khai hải quan và xử lý như sau:

– Nếu thông tin khai báo phù hợp thì chấp nhận thông tin khai báo;

– Nếu thông tin khai báo không phù hợp thì yêu cầu người khai hải quan xuất trình hồ sơ để cơ quan hải quan kiểm tra.

Trường hợp giấy phép sử dụng cho nhiều lần xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa thì Chi cục Hải quan nơi đăng ký tờ khai hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu lần đầu lập Phiếu theo dõi trừ lùi theo mẫu số 05/TDTL/GSQL Phụ lục V ban hành kèm Thông tư 38/2015/TT-BTC, thực hiện việc trừ lùi đối với lô hàng đã được cấp số tờ khai và giao cho người khai hải quan để làm thủ tục hải quan cho các lần xuất khẩu, nhập khẩu tiếp theo. Chi cục Hải quan nơi đăng ký tờ khai hải quan theo dõi, trừ lùi trên phiếu và xác nhận khi người khai hải quan xuất khẩu, nhập khẩu hết số hàng trên giấy phép.

Kiểm tra thực tế hàng hóa

Kiểm tra hàng hóa nhập khẩu trong quá trình xếp, dỡ từ phương tiện vận tải nhập cảnh xuống kho, bãi, cảng, khu vực cửa khẩu nhập và hàng hóa xuất khẩu sau đã thông quan được tập kết tại các địa điểm trong khu vực cửa khẩu xuất:

+ Việc kiểm tra hàng hóa được thực hiện bằng máy soi hoặc các phương tiện kỹ thuật khác. Trường hợp phải kiểm tra theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 34 Luật Hải quan thì Chi cục Hải quan cửa khẩu thực hiện việc kiểm tra thực tế với sự chứng kiến của đại diện cơ quan Cảng vụ tại cảng biển, cảng hàng không quốc tế hoặc Bộ đội Biên phòng;

Xử lý kết quả kiểm tra đối với hàng hóa nhập khẩu trong quá trình xếp, dỡ từ phương tiện vận tải nhập cảnh xuống kho, bãi, cảng, khu vực cửa khẩu nhập:

+ Trường hợp kiểm tra không phát hiện dấu hiệu vi phạm thì đơn vị được giao nhiệm vụ kiểm tra hàng hóaqua máy soi cập nhật thông tin kết quả kiểm tra qua máy soi trên Hệ thống.

Chi cục Hải quan nơi đăng ký tờ khai hải quan hàng hóa nhập khẩu sử dụng kết quả kiểm tra qua máy soi trên để làm thủ tục hải quan theo quy định;

+ Trường hợp kiểm tra phát hiện dấu hiệu vi phạm, đơn vị được giao nhiệm vụ kiểm tra hàng hóaqua máy soi cập nhật kết quả kiểm tra trên Hệ thống; phối hợp với doanh nghiệp kinh doanh, kho, bãi, cảng bố trí địa điểm lưu giữ riêng đối với lô hàng; phối hợp với Chi cục Hải quan nơi đăng ký tờ khai để thực hiện việc kiểm tra trực tiếp hàng hóa khi người khai hải quan đến làm thủ tục hải quan.

Kiểm tra thực tế hàng hóa đối với những lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu làm thủ tục tại Chi cục Hải quan cửa khẩu:

– Đối với những lô hàng nhập khẩu phải kiểm tra thực tế hàng hóa thuộc diện đã tiến hành kiểm tra theo quy định thì công chức hải quan được sử dụng kết quả kiểm tra qua máy soi để làm thủ tục hải quan.

Trường hợp khi kiểm tra qua máy soi phát hiện dấu hiệu vi phạm thì thực hiện việc mở kiểm tra trực tiếp hàng hóa;

– Đối với Chi cục Hải quan chưa được trang bị máy soi container, việc kiểm tra thực tế hàng hóa được thực hiện bởi công chức hải quan.

 Kiểm tra thực tế hàng hóa tại Chi cục Hải quan nơi hàng hóa nhập khẩu chuyển đến:

– Trường hợp lô hàng kiểm tra qua máy soi theo quy định không phát hiện dấu hiệu vi phạm thì được sử dụng kết quả kiểm tra này để quyết định việc thông quan hàng hóa theo quy định;

– Trường hợp kiểm tra qua máy soi phát hiện có dấu hiệu vi phạm theo quy định thì Chi cục Hải quan cửa khẩu niêm phong hàng hóa và giao cho người khai hải quan vận chuyển về Chi cục Hải quan nơi đăng ký tờ khai hải quan để kiểm tra;

Kiểm tra về lượng hàng hóa

Cơ quan hải quan căn cứ vào nội dung khai hải quan, kết quả kiểm tra thực tế hàng hóa hoặc kết quả giám định do người khai hải quan cung cấp (nếu có) để xác định khối lượng, trọng lượng hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

Trường hợp bằng phương pháp thủ công hoặc sử dụng máy móc, thiết bị kỹ thuật hiện có tại Chi cục Hải quan, địa điểm kiểm tra hải quan, công chức hải quan kiểm tra thực tế hàng hóa không đủ cơ sở để xác định tính chính xác đối với nội dung khai của người khai hải quan về khối lượng, trọng lượng hàng hóa thì tiến hành trưng cầu giám định tại tổ chức kinh doanh dịch vụ giám định theo quy định của pháp luật. Cơ quan hải quan căn cứ vào kết luận của tổ chức kinh doanh dịch vụ giám định để quyết định việc thông quan.

Kiểm tra chất lượng hàng hóa

Khi kiểm tra thực tế hàng hóa, công chức hải quan phải xác định chất lượng hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu để làm cơ sở áp dụng chính sách thuế và chính sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, trừ việc kiểm tra chất lượng theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

Trường hợp bằng phương pháp thủ công hoặc sử dụng máy móc, thiết bị kỹ thuật hiện có tại Chi cục Hải quan, địa điểm kiểm tra hải quan, công chức hải quan kiểm tra thực tế hàng hóa không đủ cơ sở để xác định chất lượng hàng hóa để thực hiện quản lý xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa thì tiến hành trưng cầu giám định tại tổ chức kinh doanh dịch vụ giám định theo quy định của pháp luật. Cơ quan hải quan căn cứ vào kết luận của tổ chức kinh doanh dịch vụ giám định để quyết định việc thông quan.

Đối với hàng hóa có yêu cầu bảo quản đặc biệt, không thể thực hiện kiểm tra thực tế tại các địa điểm kiểm tra của cơ quan hải quan thì Chi cục trưởng Chi cục Hải quan quyết định đưa hàng về các địa điểm đáp ứng yêu cầu bảo quản đặc biệt để kiểm tra thực tế hoặc căn cứ kết quả giám định để quyết định thông quan.

Các Văn bản khác có liên quan đến thủ tục hải quan

Ngoài Luật Hải quan số 54/2014/QH13 ngày 23tháng 6 năm 2014; Nghị định định 08/2015/NĐ-CP; Thông tư 38/2015/TT-BTC, khi thực hiện thủ tục hải quan cần quan tâm đến các văn bản liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu như:

– Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11;

– Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH10 ngày 29 tháng 11 năm 2006; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế số 21/2012/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2012;

– Luật Ngân sách Nhà nước số 01/2002/QH11 ngày 16 tháng 12 năm 2002;

– Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008;

– Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt số 27/2008/QH12 ngày 14 tháng 11 năm 2008;

– Luật Thuế bảo vệ môi trường số 57/2010/QH12 ngày 15 tháng 11 năm 2010;

– Luật Thanh tra số 56/2010/QH12 ngày 15 tháng 11 năm 2010;

– Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02 tháng 5 năm 2001 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê Tài chính và Nghị định số 65/2005/NĐ-CP ngày 19 tháng 05 năm 2005 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02 tháng 5 năm 2001 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê Tài chính;

– Nghị định số 66/2002/NĐ-CP ngày 1 tháng 7 năm 2002 của Chính phủ quy định về định mức hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh và quà biếu, tặng nhập khẩu được miễn thuế;

– Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hoá với nước ngoài;

– Nghị định số 23/2007/NĐ-CP ngày 12/02/2007 của Chính phủ ngày 12 tháng 02 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết Luật thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá và các hoạt động có liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài;

– Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế;

– Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 08 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 121/2011/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 8 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng;

– Nghị định số 26/2009/NĐ-CP ngày 16 tháng 3 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Nghị định số 113 /2011/NĐ-CP ngày 8 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 26/2009/NĐ-CP ngày 16 tháng 3 năm 2009 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt;

– Quyết định số 33/2009/QĐ-TTg ngày 2 tháng 3 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành cơ chế, chính sách tài chính đối với khu kinh tế cửa khẩu;

– Nghị định số 93/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ ban hành Quy chế quản lý và sử dụng viện trợ phi Chính phủ nước ngoài;

– Nghị định số 87/2010/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số Điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;

– Nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày 08 tháng 08 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế bảo vệ môi trường và Nghị định số 69/2012/NĐ-CP ngày 14 tháng 09 năm 2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 2 Nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày 08 tháng 08 năm 2011 của Chính phủ;

– Nghị định số 07/2012/NĐ-CP ngày 09 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ Quy định về cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động thanh tra chuyên ngành;

– Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật quản lý thuế và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế…

– Nghị định số 87/2012/NĐ-CP ngày 23/10/2012 của Chính phủ quy định về thủ tục hải quan điện tử và Thông tư 196/2012/TT-BTC hướng dẫn việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất nhập khẩu thương mại và các loại hình xuất nhập khẩu hàng hóa khác.

– Thông tư 22/2014/TT-BTC ngày 14/02/2014 của Bộ Tài chính quy định thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thương mại trên hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS.

11.2. Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi sáng kiến Hải quan xanh của Hải quan Việt Nam

11.2.1. Thực trạng công tác kiểm tra giám sát, kiểm soát hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tác động đến môi trường

11.2.1.1. Các quy định cụ thể về kiểm tra, kiểm soát hải quan

Quy trình thủ tục hải quan theo quyết định 1171 đối với hàng hóa xuất nhập khẩu

Với mục đích giảm thời gian thông quan và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, ngày 15 tháng 6 năm 2009, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan đã ban hành quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thương mại. Quy trình thủ tục hải quan theo quyết định 1171 được thực hịên theo 4 bước cụ thể như sau:

Bước 1. Tiếp nhận hồ sơ; kiểm tra điều kiện và đăng ký tờ khai; kiểm tra hồ sơ và thông quan đối với lô hàng miễn kiểm tra trhực tế hàng hoá

Công chức hải quan tiếp nhận hồ sơ hải quan, nhập mã số doanh nghiệp, kiểm tra điều kiện đăng ký tờ khai, nhập các thông tin vào hệ thống quản lý rủi ro, đăng ký tờ khai, ký, đóng dấu “Cán bộ đăng ký tờ khai” trên tờ khai, in lệnh hình thức, mức độ kiểm tra hải quan; tiến hành kiểm tra sơ bộ hồ sơ hải quan theo quy định, ghi kết quả kiểm tra và ý kiến đề xuất vào lệnh. Công chức tiếp nhận chuyển bộ hồ sơ cho lãnh đạo chi cục. Lãnh đạo chi cục nghiên cứu duyệt lệnh hình thức, mức độ kiểm tra hải quan theo 1 trong 3 mức mà hệ thống quản lý tự động phân luồng đưa ra hoặc quyết định khác do có những nghi ngờ hoặc cần kiểm tra ngẫu nhiên. Tuỳ thuộc vào phê duyệt của Lãnh đạo chi cục trên lệnh hình thức, công chức HQ ở bước 1 nhập thông tin vào hệ thống và xử lý kết quả.

* Mức kiểm tra sơ bộ hồ sơ hải quan, Công chức tiếp nhận hồ sơ chấp nhận khai báo của DN, đóng dấu “Xác nhận đã làm thủ tục hải quan” và chuyển hồ sơ hải quan cho Công chức bước 3.

* Mức kiểm tra chi tiết hồ sơ hải quan, miễn kiểm tra thực tế hàng hoá, Công chức bước 1 tiến hành kiểm tra chi tiết hồ sơ bao gồm phải kiểm tra nội dung khai, kiểm tra số lượng, chủng loại giấy tờ thuộc hồ sơ, tính đồng bộ giữa các chứng từ …và đặc biệt chú ý kiểm tra tên mã hàng, xuất xứ hàng hoá và trị giá tính thuế. Kết thúc kiểm tra, Công chức phải ghi kết quả kiểm tra và đề xuất xử lý kết quả kiểm tra hồ sơ vào lệnh kiểm tra.

– Nếu kết quả kiểm tra phù hợp công chức hải quan đóng dấu “Xác nhận đã làm thủ tục hải quan” và chuyển hồ sơ hải quan cho công chức bước 3.

– Trường hợp có căn cứ, có lý do xác đáng, công chức có thể đề xuất lãnh đạo thay đổi hình thức, mức độ kiểm tra và ghi cụ thể vào lệnh hình thức

* Mức kiểm tra thực tế hàng hoá

Công chức hải quan bước 1 tiến hành kiểm tra chi tiết hồ sơ như quy định sau đó kiểm tra chi tiết, ghi kết quả kiểm tra và đề xuất cụ thể mức độ kiểm tra hàng hoá 5%; 10% (mức 1) hoặc là kiểm tra toàn bộ hàng hoá (mức 2) trên lệnh hình thức, chuyển hồ sơ cho công chức bước 2.

Bước 2. Kiểm tra thực tế và thông quan đối với lô hàng phải kiểm tra thực tế

Lãnh đạo chi cục quyết định công chức kiểm tra thực tế hàng hoá. Công chức hải quan bước 2 nhận hồ sơ hải quan đã được kiểm tra chi tiết, kiểm tra nội dung khai bổ sung và đề xuất ý kiến về nội dung khai bổ sung, trình lãnh đạo chi cục xét duyệt. Căn cứ vào phê duyệt của lãnh đạo, công chức ghi kết quả tiếp nhận hồ sơ khai bổ sung và ký tên đóng dấu công chức vào bản khai bổ sung. Sau đó, công chức được phân công tiến hành kiểm tra hàng hoá với cách thức và nội dung như sau:

Kiểm tra tình trạng bao bì, niêm phong hàng hoá, nhãn mác, ký mã hiệu, quy cách đóng gói…

Kiểm tra thực tế hàng hoá theo hướng dẫn tại Lệnh hình thức, mức độ kiểm tra (kiểm tra số lượng, chất lượng, chủng loại, phân loại, xuất xứ ….)

Kiểm tra xong, công chức hải quan ghi kết quả kiểm tra theo quy định cụ thể và kết luận kiểm tra vào lệnh hình thức và tờ khai hải quan.

– Nếu kết quả kiểm tra thực tế phù hợp, công chức ký, đóng dấu công chức “Xác nhận đã làm thủ tục hải quan” và chuyển hồ sơ cho công chức bước 3.

– Nếu phát hiện có sai lệch, công chức bước 2 đề xuất các biện pháp xử lý, trình lãnh đạo chi cục xem xét, quyết định: Kiểm tra tính thuế lại và ra quyết định ấn định thuế, lập biên bản chứng nhận hoặc biên bản vi phạm, quyết định thông quan hay xử lý theo quy định của pháp luật.

Bước 3. Thu thuế, lệ phí hải quan; đóng dấu “Đã làm thủ tục hải quan”; trả tờ khai cho người khai hải quan

Công chức hải quan bước 3, sau khi nhận được hồ sơ hải quan từ công chức bước 1 hoặc công chức bước 2, căn cứ vào kết quả kiểm tra trên lệnh hình thức và tờ khai hải quan tiến hành thu thuế và lệ phí hải quan theo quy định; Đóng dấu “Đã làm thủ tục hải quan”; Vào sổ theo dõi và trả tờ khai hải quan cho người khai. Nếu không có vướng mắc gì công chức bước 3 chuyển hồ sơ hải quan cho công chức bước 4.

Bước 4. Phúc tập hồ sơ

Thực hiện theo quy trình phúc tập hồ sơ do TCHQ quy định, cụ thể như sau:

Tiếp nhận hồ sơ theo từng loại hình, thứ tự, số lượng tờ khai; kiểm tra hồ sơ về số loại, số lượng, hình thức từng loại (mẫu, bản chính hay bản sao,…) các giấy tờ của hồ sơ hải quan và ký nhận bàn giao hồ sơ trên sổ giao nhận hồ sơ (mở sổ theo dõi).

Căn cứ vào các thông tin có được tại thời điểm phúc tập (nhất là các thông tin nhạy cảm, các chỉ đạo của cấp trên), khối lượng công việc, để xác định thời gian phúc tập đối với từng hồ sơ và mức độ phúc tập sâu đối với từng hồ sơ. 

Bước 2: Kiểm tra TT

Kiểm tra sự đầy đủ, đồng bộ (số loại, số lượng, hình thức) các chứng từ của hồ sơ hải quan; kiểm tra tuân thủ của toàn bộ công việc đã làm được thể hiện trên hồ sơ hải quan trong quá trình thông quan của người khai hải quan, của công chức hải quan so với quy định; kiểm tra sự hợp lệ của các chứng từ (về hình thức và nội dung chứng từ, chữ ký, dấu, trình tự thời gian, chứng từ không bị tẩy xoá, sửa đổi nội dung, thay thế hoặc có dấu hiệu giả mạo); kết quả tính thuế, xử lý (nếu có). Đối với hồ sơ có độ rủi ro cao và trường hợp có thông tin gian lận, sai phạm phúc tập phải tiến hành kiểm tra kỹ thêm về tên hàng, lượng hàng, mã số, thuế suất, trị giá, định mức sử dụng nguyên liệu của mã hàng (đối với loại hình nhập SXXK, hàng gia công), giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá (trường hợp hưởng thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt). Đối với những mặt hàng phải phân tích phân loại hoặc giám định, phúc tập phải kiểm tra kết quả giám định, phân tích phân loại, kết quả kiểm tra thẩm định của cơ quan, tổ chức cấp giấy chứng nhận có đúng chức năng, thẩm quyền, phạm vi, điều kiện, tiêu chuẩn và quy trình giám định không…

 Kết thúc ghi vào “Phiếu ghi kết quả phúc tập hồ sơ hải quan (mẫu số 01/PT đính kèm qui trình này) và phân loại, báo cáo lãnh đạo Chi cục kết quả phúc tập, cập nhật các thông tin về kết quả phúc tập hồ sơ vào hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ công tác kiểm tra sau thông quan và tổng hợp báo cáo định kỳ về Phòng Kiểm tra sau thông quan 15 ngày 1 lần (tình hình, số liệu trong kỳ báo cáo là đến ngày 15 và ngày 30/31 của tháng).

Quy trình thủ tục hải quan theo Thông tư 22/2014/TT-BTC

Quy trình thủ tục hải quan theo Thông tư 22/2014/TT-BTC áp dụng đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu gồm 5 bước:

Bước 1: Tiếp nhận, kiểm tra, đăng ký, phân luồng tờ khai

Hệ thống tự động tiếp nhận, kiểm tra, hướng dẫn (nếu có) cho người khai hải quan và cấp số tiếp nhận đối với bản thông tin đăng ký trước; Hệ thống tự động tiếp nhận, kiểm tra, hướng dẫn (nếu có), cấp số và phân luồng tờ khai hải quan theo một trong các hình thức: Xanh – Vàng – Đỏ. Trường hợp xanh, Hệ thống chuyển tờ khai hải quan sang Bước 4 của Quy trình; các luồng còn lại, Hệ thống chuyển tờ khai hải quan sang Bước 2 của Quy trình.

Bước 2: Kiểm tra hồ sơ hải quan đối vàng và đỏ

Chi cục trưởng phân công cho công chức thực hiện kiểm tra hồ sơ thông qua Màn hình quản lý quá trình xử lý tờ khai (Màn hình NA02A). Đối với những tờ khai thuộc lô hàng có trên 50 dòng hàng khai cùng loại hình thì phân công cho 01 công chức xử lý các tờ khai thuộc lô hàng; Chỉ đạo các nội dung công chức cần kiểm tra, phê duyệt đề xuất của công chức kiểm tra hồ sơ, quyết định việc tạm dừng hoàn thành việc kiểm tra và hủy tạm dừng hoàn thành kiểm tra thông qua chức năng Tạm dừng và Hủy tạm dừng CEA/CEE (nếu có) tại Màn hình kiểm tra thông tin tờ khai – Kiểm tra hồ sơ; việc chỉ đạo và phê duyệt phải được cập nhật vào Hệ thống tại ô “Cập nhật ý kiến của Lãnh đạo”.

Công chức thừa hành thực hiện việc kiểm tra hồ sơ theo quy định tại Điều 14 Thông tư 22/2014/TT-BTC; thực hiện ý kiến chỉ đạo của Chi cục trưởng và các chỉ dẫn nghiệp vụ của Hệ thống (nếu có) thông qua Màn hình kiểm tra thông tin tờ khai – Kiểm tra hồ sơ; xử lý kết quả kiểm tra theo quy định.

Nếu kiểm tra hồ sơ phát hiện khai không đầy đủ hoặc có sự sai lệch, chưa phù hợp giữa chứng từ thuộc bộ hồ sơ hải quan và thông tin khai trên Hệ thống, công chức kiểm tra hồ sơ yêu cầu doanh nghiệp thực bổ sung sửa đổi.

Nếu kết quả kiểm tra hồ sơ phù hợp thì thông quan ghi kết quả kiểm tra vào hệ thống hoặc đề xuất Chi cục trưởng phê duyệt lấy mẫu (nếu có) tại ô “Cập nhật ý kiến của công chức xử lý” và đề xuất cho phép giải phóng hàng trên Màn hình kiểm tra thông tin tờ khai. Chi cục trưởng phê duyệt, hoàn thành việc kiểm tra thông qua chức năng CEA/CEE. Hoặc có yêu cầu đưa hàng về bảo quản kiểm tra, đề xuất làm thủ tục đưa hàng về bảo quản.

 Đối với những lô hàng phải thực hiện kiểm tra hàng hóa, công chức sau khi hoàn tất việc kiểm tra hồ sơ hải quan, chỉ ghi nhận kết quả kiểm tra hồ sơ tại ô “Cập nhật ý kiến của công chức xử lý”, không thực hiện CEA/CEE và chuyển hồ sơ sang Bước 3.

Bước 3: Kiểm tra thực tế hàng hóa

Chi cục trưởng phân công cho công chức kiểm tra thực tế hàng hóa thông qua Màn hình NA02A. Nếu phân công cho nhiều hơn 01 công chức thực hiện kiểm tra thực tế hàng hóa, thực hiện phân công 01 công chức tại ô “Tên người phụ trách kiểm hóa”, các công chức còn lại ghi nhận tại ô “Cập nhật ý kiến của Lãnh đạo” trên Màn hình kiểm tra thông tin tờ khai.

Đối với những tờ khai liên kết với số tờ khai khác (lô hàng có trên 50 dòng hàng) trong đó có hơn 01 tờ khai phân luồng đỏ thì toàn bộ các tờ khai luồng đỏ phân công cho nhóm công chức kiểm tra thực tế hàng hóa các tờ khai thuộc lô hàng. Đối với tờ khai chuyển luồng từ luồng vàng sang luồng đỏ, sau khi phê duyệt đề xuất chuyển luồng của công chức kiểm tra hồ sơ, Chi cục trưởng trực tiếp tiến hành phân công công chức kiểm tra thực tế hàng hóa. Chi cục trưởng quyết định hình thức, mức độ kiểm tra, chỉ đạo các nội dung công chức cần kiểm tra; phê duyệt đề xuất của công chức kiểm tra thực tế hàng hóa, quyết định việc tạm dừng hoàn thành việc kiểm tra và hủy tạm dừng hoàn thành kiểm tra thông qua chức năng Tạm dừng và Hủy tạm dừng CEA/CEE (nếu có) tại Màn hình kiểm tra thông tin tờ khai – Kiểm tra thực tế hàng hóa; việc chỉ đạo và phê duyệt phải được cập nhật vào Hệ thống tại ô “Cập nhật ý kiến của Lãnh đạo”.

Công chức được phân công tại ô “Tên người phụ trách kiểm hóa” trên Màn hình kiểm tra thông tin tờ khai – Kiểm tra thực tế hàng hóa sử dụng nghiệp vụ CKO để thông báo cho người khai hải quan về việc chuyển luồng (nếu có), hình thức, địa điểm và thời gian kiểm tra thực tế hàng hóa theo đúng nội dung chỉ đạo của Chi cục trưởng.

Kết quả kiểm tra hàng hóa phải xác định rõ những nội dung phù hợp/chưa phù hợp của hàng hóa thực tế xuất khẩu, nhập khẩu so với khai báo của người khai hải quan, đồng thời phải xác định đầy đủ các thông tin về hàng hóa làm căn cứ tính thuế và phải được cập nhật tại ô “Cập nhật ý kiến của công chức xử lý”. Hoàn thành việc kiểm tra thực tế hàng hóa thông qua chức năng CEA/CEE. Trường hợp kết quả kiểm tra thực tế hàng hóa không đúng so với khai báo của người khai hải quan thì công chức kiểm tra thực tế hàng hóa thực hiện theo quy định hiện hành và chuyển hồ sơ đến các bước nghiệp vụ tiếp theo để xem xét, quyết định.

Bước 4: Quản lý, hoàn chỉnh hồ sơ

Hệ thống tự động kiểm tra việc nộp thuế của tờ khai hải quan trên cơ sở thanh toán của người khai hải quan được cập nhật trên Hệ thống. Xác nhận thông quan/giải phóng hàng/đưa hàng về bảo quản/vận chuyển hàng về địa điểm kiểm tra đối với tờ khai luồng vàng, luồng đỏ. Trên cơ sở xác nhận thông quan/giải phóng hàng/đưa hàng về bảo quản/vận chuyển hàng về địa điểm kiểm tra trên Hệ thống, công chức được giao nhiệm vụ xác nhận thông quan/giải phóng hàng/đưa hàng về bảo quản/vận chuyển hàng về địa điểm kiểm tra đối với tờ khai luồng vàng, luồng đỏ tiến hành in 02 Tờ khai hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (trừ thông tin chi tiết từng dòng hàng) trên Hệ thống e-Customs; đóng dấu xác nhận theo mẫu dấu tương ứng.

Trường hợp khu vực giám sát chưa triển khai Hệ thống VNACCS, công chức được giao nhiệm vụ in 01 Tờ khai hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu luồng xanh (trừ thông tin chi tiết từng dòng hàng) trên Hệ thống e-Customs, đóng dấu xác nhận theo mẫu dấu tương ứng quy định tại Phụ lục kèm theo Quyết định này, ký tên, đóng dấu công chức vào góc trên cùng bên phải của trang đầu tiên của Tờ khai in.

Trường hợp Hệ thống tại khu vực giám sát gặp sự cố, in Bảng kê số hiệu kiện, container, phương tiện chứa hàng của tờ khai quy định tại Bước 5 dưới đây, ký tên, đóng dấu công chức để đính kèm tờ khai bản in giao người khai hải quan.

Quản lý, hoàn chỉnh hồ sơ

Công chức được giao nhiệm vụ quản lý, hoàn chỉnh hồ sơ theo dõi, quản lý và hoàn chỉnh hồ sơ của các lô hàng đã được “Thông quan”, “Giải phóng hàng”, “Đưa hàng về bảo quản”, mà còn nợ các chứng từ được phép chậm nộp thuộc bộ hồ sơ hải quan hoặc còn vướng mắc chưa hoàn tất thủ tục hải quan.

Bước 5: Quản lý hàng hóa qua khu vực giám sát hải quan

Việc giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu ra, vào khu vực giám sát hải quan được thực hiện trên Hệ thống e-Customs tại Văn phòng Đội giám sát và Bộ phận giám sát cổng khu vực giám sát thuộc Chi cục Hải quan quản lý khu vực giám sát thực hiện. Trong trường hợp Chi cục Hải quan quản lý khu vực giám sát không phân chia thành Văn phòng Đội giám sát và Bộ phận giám sát cổng khu vực giám sát, hoặc không có Đội giám sát chuyên trách thì Chi cục trưởng Chi cục Hải quan quản lý khu vực giám sát chịu trách nhiệm phân công công chức phù hợp thực hiện.

Nội dung kiểm tra:

– Tiếp nhận, kiểm tra các chứng từ người khai hải quan phải xuất trình theo đúng quy định.

– Kiểm tra thông tin khai báo về chi tiết số hiệu container tại chỉ tiêu “Số đính kèm khai báo điện tử” đối với hàng hóa nhập khẩu được đóng trong container vận chuyển bằng đường biển. Nếu kiểm tra phát hiện thông tin khai báo không đầy đủ hoặc có sự sai lệch, chưa phù hợp giữa chứng từ thuộc diện phải nộp, xuất trình, công chức giám sát tùy theo từng trường hợp hướng dẫn người khai hải quan điều chỉnh, bổ sung hoặc xử lý theo quy định. Nếu kết quả kiểm tra phù hợp: Cập nhật số hiệu container sẽ qua khu vực giám sát (đối với hàng hóa nhập khẩu bằng container) hoặc số hiệu kiện hoặc số hiệu của phương tiện chứa hàng thuộc tờ khai sẽ qua khu vực giám sát trên Hệ thống e-Customs (tại tiêu chí “Số container”),

Đối với tờ khai hàng hóa nhập khẩu được phân luồng xanh (trừ tờ khai nhập khẩu tại chỗ), công chức giám sát tiến hành in 01 Tờ khai hàng hóa nhập khẩu thông quan (trừ thông tin chi tiết từng dòng hàng) trên Hệ thống e-Customs; đóng dấu xác nhận theo mẫu dấu quy định tại Phụ lục kèm theo Quyết định này, ký tên, đóng dấu công chức vào góc trên cùng bên phải của trang đầu tiên Tờ khai in giao cho người khai hải quan.

Bộ phận giám sát cổng khu vực giám sát có trách nhiệm kiểm tra, đối chiếu số hiệu container/số ký hiệu của phương tiện chứa hàng với danh sách số hiệu container/số ký hiệu của phương tiện chứa hàng do Văn phòng Đội giám sát cập nhật trên Hệ thống e-Customs; tình trạng niêm phong hãng tàu, tình trạng niêm phong hải quan (nêu có). Sử dụng máy đọc số container để kiểm tra, đối chiếu nếu đã được trang bị; Xác nhận hàng qua khu vực giám sát trên Hệ thống e-Customs trên cơ sở xác nhận của Văn phòng Đội giám sát. Riêng đối với hàng hóa vận chuyển bằng container hoặc chia thành nhiều chuyến thì xác nhận theo từng container hoặc theo từng chuyến hàng qua khu vực giám sát trên Hệ thống e-Customs.

Quyết định của Thủ tướng về quản lý hàng hoá qua biên giới

Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định hoạt động quản lý, buôn bán hàng hoá qua biên giới trên các lĩnh vực mua bán, trao đổi hàng hoá của cư dân biên giới, buôn bán tại chợ biên giới, chợ cửa khẩu và chợ trong Khu kinh tế cửa khẩu và hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới theo các phương thức không theo thông lệ buôn bán quốc tế. Các quy định này đã được thỏa thuận trong các Hiệp định thương mại song phương giữa Cộng hòa xã hội Việt Nam và các nước có chung biên giới.

Trừ hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu, hàng hóa kinh doanh có điều kiện phải thực hiện theo những quy định riêng, các các loại hàng hóa khác được thực hiện theo Quyết định của Thủ tướng về quản lý buôn bán hàng hóa qua biên giới. Chất lượng hàng hóa buôn bán qua biên giới phải phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam về quản lý chất lượng hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Đối với hàng hóa nhập khẩu thuộc Danh mục phải kiểm tra chất lượng và kiểm dịch theo quy định hiện hành thì phải được kiểm tra về chất lượng trước khi thông quan; không được nhập khẩu qua những cửa khẩu không có các điểm kiểm dịch động thực vật, kiểm tra chất lượng hàng hóa theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Hàng hóa buôn bán qua biên giới được thanh toán bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi hoặc bằng đồng Việt Nam và đồng tiền của nước có chung biên giới. Phương thức thanh toán do các bên mua, bán thỏa thuận phù hợp các quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trên cơ sở Hiệp định về thanh toán được ký kết giữa nước ta và các nước có chung biên giới; khuyến khích các chủ thể kinh doanh thanh toán qua ngân hàng theo các phương thức mở tín dụng thư; hàng đổi hàng; thanh toán qua ngân hàng bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi hoặc bằng đồng Việt Nam và đồng tiền của nước có chung biên giới.

Về chính sách thuế, hàng hóa buôn bán qua biên giới phải nộp thuế và các lệ phí khác theo quy định của luật pháp Việt Nam và được hưởng các ưu đãi về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hàng hóa qua biên giới theo các thỏa thuận song phương giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước có chung biên giới nếu có. Đối với hàng hóa do cư dân nước có chung biên giới sản xuất nhập khẩu vào nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng của cư dân biên giới dưới hình thức mua bán, trao đổi cư dân biên giới được miễn thuế nhập khẩu nếu trị giá hàng hóa đó không quá một lượng nhất định (hiện nay là 2.000.000đ/người ngày). Các chính sách thuế liên quan khác thực hiện theo quy định hiện hành của Nhà nước.

Quyết định quy định, công dân có hộ khẩu thường trú tại các huyện tiếp giáp biên giới với các nước có chung biên giới được mua bán, trao đổi các mặt hàng phù hợp với quy định về hàng hóa buôn bán qua biên giới được quy định trên. Chủ thể được xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới gồm các Doanh nghiệp, đơn vị thuộc các thành phần kinh tế đăng ký, thành lập theo Luật pháp Việt Nam và Hộ kinh doanh thuộc các tỉnh tiếp giáp biên giới đăng ký theo quy định của Chính phủ về đăng ký kinh doanh. Đồng thời quy định về các mặt hàng mà cư dân biên giới được phép mua bán trao đổi.

Quy định về điều hành hoạt động tại cửa khẩu

Trước đây, Chính phủ đã ban hành Quy chế điều hành hoạt động tại các cửa khẩu. Gần đây nhất, ngày 25 tháng 7 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế điều hành hoạt động tại các cửa khẩu. Theo đó Quy chế áp dụng cho các cửa khẩu quốc tế và cửa khẩu chính (hay cửa khẩu quốc gia hoặc cửa khẩu song phương) trên biên giới đất liền. Quy chế quy định cụ thể như sau:

– Thống nhất quản lý hoạt động của các lực lượng chức năng chuyên ngành tại cửa khẩu;

– Quản lý các dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu;

– Phối hợp với chính quyền địa phương và cơ quan quản lý cửa khẩu của nước có chung biên giới;

– Quy định cụ thể hoạt động của Ban Quản lý cửa khẩu.

 Các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện chức năng quản lý hành chính, chuyên ngành tại khu vực cửa khẩu.Các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia các hoạt động liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hóa, xuất nhập cảnh người, phương tiện giao thông vận tải và các hoạt động khác tại cửa khẩu.Các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến công tác quản lý và điều hành hoạt động tại cửa khẩu là những đối tượng tham gia thực hiện quy chế.

Về nguyên tắc phải đảm bảo các hoạt động tại cửa khẩu được thực hiện thống nhất, đồng bộ, phối hợp chặt chẽ, có trật tự, có nề nếp, tạo điều kiện thuận lợi, thúc đẩy các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, xuất nhập cảnh người, phương tiện giao thông vận tải qua các cửa khẩu theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính.Khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư và phát triển các dịch vụ hỗ trợ thương mại tại các khu vực cửa khẩu biên giới đất liền.Phù hợp với hoạt động đối ngoại và hội nhập kinh tế của đất nước, xây dựng các cửa khẩu trở thành cầu nối giao lưu, hợp tác, hòa bình và phát triển.Góp phần phát triển kinh tế – xã hội kết hợp với đảm bảo an ninh, quốc phòng, ổn định và trật tự an toàn xã hội khu vực biên giới đất liền.

Hải quan, Bộ đội biên phòng và các lực lượng chức năng khác tại cửa khẩu thực hiện hoạt động quản lý chuyên ngành theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng cơ quan quản lý cấp trên của mình về hoạt động quản lý chuyên ngành. Ban Quản lý cửa khẩu điều hành việc phối hợp thống nhất các hoạt động chuyên ngành của các lực lượng chức năng tại cửa khẩu đảm bảo sự đồng bộ, có trật tự, có nề nếp theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính.

11.2.1.2 Thực trạng quản lý hoạt động xuất nhập khẩu liên quan đến môi trường.

Thực trạng khuôn khổ pháp lý.

Trong khuôn khổ nhiệm vụ của mình, cơ quan hải quan thực hiện các hoạt động nghiệp vụ trên cơ sở luật Hải quan và các luật khác có liên quan. Đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa tác động đến môi trường, đặc biệt là bóng đèn sợi đốt, thiết bị tiết kiệm năng lượng thì liên quan đến Luật Thương mại, Luật quản lý thuế, Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế bảo vệ môi trường, Luật bảo vệ môi trường, Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả… Dưới Luật là hệ thống các nghị định, thông tư hướng dẫn, danh mục các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hàng hóa nhập khẩu liên quan đến bóng đèn sợi đốt được trình bày ở phục lục đính kèm. Về nguyên tắc, cán bộ hải quan khi làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tác động đến môi trường thì trước tiên thực hiện theo Luật Hải quan và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn Luật Hải quan, bên cạnh đó phải tham chiếu tới các luật và văn bản hướng dẫn luật khác.

Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật hiện nay để thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa tác động đến môi trường nói chung và hàng hóa là bóng đèn sợi đốt, bóng đèn tiết kiệm năng lượng về cơ bản đáp ứng được yêu cầu quản lý. Trong đó, quan trọng nhất là tạo khung pháp lý cơ bản để quản lý chặt chẽ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tác động đến môi trường, chủ yếu là hàng nhập khẩu trong quá trình thông quan và tạo cơ sở pháp lý đối với hoạt động kiểm soát hải quan của cơ quan hải quan. Tuy nhiên trong quá trình quản lý nhà nước về hải quan đối với những mặt hàng này nổi lên một số một số vấn đề như:

Thứ nhất,các quy định về pháp lý còn tản mát ở nhiều văn bản khác nhau không thuận lợi cho tra cứu. Giai đoạn trước 2014, Luật Hải quan và các văn bản pháp lý dưới luật còn nhiều điểm chưa rõ, chưa phù hợp với phù hợp với hoạt động hải quan trong tình hình mới. Luật Hải quan năm 2014 đã được thông qua vào tháng 6/2014 cơ bản đã hoàn thiện khung pháp lý cho các hoạt động của cơ quan hải quan nhưng hiệu lực có từ 01/01/20115. Do đó trong giai đoạn từ giữa năm đến cuối năm 2014, cơ quan hải quan đang chuẩn bị các nội dung cho các văn bản dưới luật.

Thứ hai, Luật bảo vệ môi trường được sửa đổi trong năm 2014 và có hiệu lực từ 01/01/2015, kèm theo đó các văn bản hướng dẫn cũng thực hiên theo các văn bản cũ.

Thứ ba, một số chủ trương để kiểm soát thiết bị tiết kiệm năng lượng chưa sát với thực tế. Chẳng hạn như:

– Chủ trương dán nhãn tiết kiệm năng lượng của Thủ tướng Chính phủ theo quyết định 51/2011/QĐ-TTg và theo lộ trình phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ tại quyết định số 03/2013/QĐ-TTg gặp vướng mắc ngay khi đi vào thực hiện: theo đó, hàng hóa nhập khẩu theo danh mục của quyết định 51 phải nộp bản sao giấy chứng nhận dán nhãn năng lượng do Tổng cục Năng lượng – Bộ Công thương cấp. Tuy nhiên để có giấy chứng nhận này, doanh nghiệp phải mang hồ sơ và hàng hóa đến Tổng cục Năng lượng để kiểm tra, đề nghị cấp. Do đó, đã gây khó khăn cho thực hiện thủ tục hải quan, ách tắc hàng hóa tại cửa khẩu. Để thực hiện giải quyết tình trạng trên, TCHQ đã có những biện pháp tháo gỡ kịp thời cho doanh nghiệp, nhưng tốn nhiều thời gian, nguồn lực hơn cho việc quản lý.

– Chủ trương hạn chế sản xuất bóng đèn sợi đốt có công suất lớn hơn 60W, quản lý chặt việc nhập khẩu mặt hàng bóng đèn sợi đốt, cấm nhập khẩu bóng đèn sợi đốt có công suất từ 60W trở lên phục vụ mục đích chiếu sáng. Tuy nhiên, quá trình xây dựng lộ trình kiểm soát việc sản xuất, cấm nhập khẩu bóng đèn sợi đốt có công suất lớn, cơ quan hải quan chưa tham gia một cách tích cực, vì vậy hoạt động kiểm soát loại hàng hóa này chưa được đồng bộ, kịp thời. Đặc biệt đối với hàng hóa của cư dân biên giới với số lượng ít thì việc kiểm soát là khó khăn.

Tình hình xuất nhập khẩu của bóng đèn sợi đốt và bóng đèn tiết kiệm năng lượng

Theo số liệu điều tra nghiên cứu và thống kê hiện nay, bóng đèn sợi đốt và bóng đèn tiết kiệm năng lượng (thuộc mã HS: 8539) được xuất nhập khẩu với kim ngạch không lớn, chủng loại khá đa dạng song chủ yếu phục vụ chuyên ngành và công nghệ kỹ thuật, lượng sử dụng cho chiếu sáng dân dụng không được liệt kê trong mục đích nhập khẩu (gần như không có). Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa có mã HS 8539 trong cả nước trong 2 năm 2012, 2013 và 6 tháng đầu năm 2014 được thể hiện trong bảng 2.1 dưới đây:

Bảng 11.1. Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa mã số 8539

Đơn vị tính: USD

 

Năm 2012

Năm 2013

6 tháng đầu năm 2014

Kim ngạch xuất khẩu

13.004.900

21.624.400

14.321.500

Kim ngạch nhập khẩu

33.435.700

36.583.900

18.144.000

Nguồn Cục CNTT&TKHQ

Tại một số Cục Hải quan các tỉnh biên giới phía Bắc, hàng hóa thuộc mã số HS 8539 gồm có: đèn điện dây tóc, hoặc phóng điện, kể cả đèn pha gắn kín và đèn tia cực tím hoặc tia hồng ngoại; đèn hồ quang được nhập khẩu nhiều từ Trung Quốc. Tuy nhiên, bóng đèn sợi đốt sử dụng trong chiếu sáng dân dụng nhập khẩu với số lượng ít. Điều này được minh chứng qua số liệu của các Cục Hải quan Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai và Quảng Ninh. Cụ thể như sau:

– Số liệu thống kê mặt hàng này tại Chi cục Hải quan cửa khẩu Hữu Nghị được thể hiện trong bảng 2.2.

Bảng 11.2. Số liệu nhập khẩu bóng đèn sợi đốt và bóng đèn huỳnh quang compact tại cửa khẩu Hữu Nghị – Lạng Sơn giai đoạn 2012-2014

Mặt hàng

Năm 2012

Năm 2013

Năm 2014

Số TK

Số lượng (cái, chiếc)

Kim ngạch (USD)

Số TK

Số lượng (cái, chiếc)

Kim ngạch (USD)

Số TK

Số lượng (cái, chiếc)

Kim ngạch (USD)

Bóng đèn sợi đốt

25

251.497

30.615

41

17.941

90.444

23

942

6.211

Bóng đèn huỳnh quang

165

663.246

298.606

144

1.939.203

611.423

78

1.534.865

175.819

Nguồn: Cục Hải quan Lạng Sơn

– Tại Cục Hải quan Cao Bằng, bóng đèn sợi đốt và bóng đèn huỳnh quang compact không được nhập khẩu những năm gần đây (2013, 2014), kể cả hàng hóa của cư dân biên giới. Năm 2012 được nhập khẩu với trị giá kim ngạch 219.583 USD.

– Tại cục Hải quan Lào Cai, bóng đèn sợi đốt và bóng đèn huỳnh quang compact nhập khẩu chính ngạch. Hàng hóa được phép mang qua cửa khẩu theo chính sách Nhà nước của cư dân biên giới cũng không có bóng đèn sợi đốt và bóng đèn huỳnh quang. Số liệu kim ngạch nhập khẩu cụ thể như sau: năm 2012: 94.593 USD, năm 2013: 21.761 USD, năm 2014 (đến tháng 5/2014): 10.086 USD.

– Tại Cục Hải quan Quảng Ninh, bóng đèn sợi đốt và bóng đèn tiets kiệm năng lượng được nhập khẩu chủ yếu bằng đường chính ngạch qua các cửa khẩu Móng Cái, Hoành Mô, Bắc Phong Sinh. Hàng hóa trao đổi của cư dân biên giới là bóng đèn chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Bảng 2.3 chỉ rõ số lượng, kim ngạch chủng loại hàng hóa này trong 6 tháng đầu năm 2014 của Cục.

Bảng 11.3. Thống kê số lượng bóng đèn sợi đốt và bóng đèn huỳnh quang compact nhập khẩu năm 2014 tại Quảng Ninh

STT

Nơi nhập khẩu

Số lượng (cái)

Trị giá (usd)

1

Móng Cái

1.740.190

431.024

2

Hoành Mô

2.960

9.654

3

Bắc Phong Sinh

162.410

49.446

Tổng cộng

 

1.905.560

490.123

Nguồn: Cục Hải quan Quảng Ninh

Chủng loại và mục đích sử dụng các loại bóng đèn sợi đốt, bóng đèn tiết kiệm năng lượng được chi tiết trong bảng 2.4; 2.5 dưới đây:

Bảng 11.4. Chủng loại và mục đích sử dụng các loại đèn nhập khẩu

STT

Tên loại đèn

Trị giá (usd)

1

Đèn tín hiệu màu vàng AD16-22D, 220V. Dùng cho tủ điều khiển nhà máy thủy điện

6

2

Đèn neon dùng điện 220V, công suất từ 25-40w, dài 60-120cm

0,35

3

Đèn phóng điện (huỳnh quang) từ 2u-11w đến 4u-55w

0,1 -0,3

4

Bóng đèn pha H3 dùng cho xe tải

2

5

Bóng đèn điện dùng cho lò nung cao tần phát sáng bằng sợi Vonfram công suất 4kw loại FD911

16

6

Bóng đèn điện dùng cho lò nung cao tần phát sáng bằng sợi Vonfram công suất 60kw loại FD911

85

7

Bóng đèn điện dùng cho lò nung cao tần phát sáng bằng sợi Vonfram công suất 120kw loại FD 943S

100

8

Bóng đèn điện dùng cho lò nung cao tần phát sáng bằng sợi Vonfram công suất 20kw loại FU22s

6

9

Bóng đèn điện dùng cho lò nung cao tần phát sáng bằng sợi Vonfram công suất 0,5kw loại FU33

6

10

Bóng đèn điện dùng cho lò nung cao tần phát sáng bằng sợi Vonfram công suất 250kw loại FD912S

90

11

Bóng đèn điện dùng cho lò nung cao tần phát sáng bằng sợi Vonfram công suất 1,5kw loại FU33

6

12

Bóng đèn điện dùng cho lò nung cao tần phát sáng bằng sợi Vonfram công suất 3,5-4kw loại 7T62R

16

13

Bóng đèn điện dùng cho lò nung cao tần phát sáng bằng sợi Vonfram công suất 30kw loại FU

16

14

Bóng đèn điện dùng cho lò nung cao tần phát sáng bằng sợi Vonfram công suất 5kw loại FU

10-17

15

Bóng đèn 24V từ 5W đến 70W dùng cho xe tải

3-8

16

Bóng đèn sợi đốt 24V-25W, linh kiện dùng cho đèn khám bệnh

4

17

Cụm đèn pha , 2 chiếc/bộ, dùng cho xe tải từ 3,5 tấn đến 7 tấn

5-7

18

Đèn chiếu sáng phía trước dùng cho ô to tải từ 3-5 tấn

16,5

19

Đèn huỳnh quang dùng phòng nổ dùng trong hầm lò 20w, 40w-127v

32-56

20

Đèn làm việc dùng trên cabin cẩu bánh xích, 24v

10

21

Đèn pha(đèn lốp) gắn kín phòng nổ dùngtrong hầm lò 70-127v

2.388

22

Đèn pha (liền khối) dùng cho xc tải 0,5 -10 tấn

1-1,2

23

Đèn pha máy xúc lật

25

24

Đèn pha gắn kín chống nước 36/24v, dùng cho máy xúc đá bánh xích

400

25

Đèn pha gắn kín dùng cho xe Daewoo Bus

90-96

26

Đèn pha gắn kín phòng nổ 24v-35w, dùng cho tàu điện 8 tấn trong hầm lò

597

27

Đèn pha gắn kín phòng nổ 36v-35w, dùng cho máy xúc đá trong hầm lò

597

28

Đèn tín hiệu (đèn pha gắn kín) dùng trong hầm lò, 50Hz-127v

41

29

Đèn tín hiệu các màu dùng cho tủ điều khiẻn nhà máy thủy điện

6-13,5

30

Đèn chiếu sáng phía trước dùng cho ô to tải từ 7-10 tấn

7-12

Nguồn: số liệu khảo sát của Viện Nghiên cứu hải quan –tổng hợp qua báo cáo

Bảng 11.5. Các loại bóng đèn và linh kiện sản xuất bóng đèn nhập khẩu

Tên hàng

Loại hình

Xuất xứ

Bóng đèn halogen, 220V-20W, hiệu Leishi Zhaoming

Nhập Kinh doanh

China

Bóng đèn điện CMT220-LSE-W/BH sử dụng cho hệ thống đèn chiếu sáng NISHIO NTC46W-M

Nhập Đầu tư nộp thuế

Japan

Bóng đèn điện tia cực tím DIS-6H-C UV-Block sử dụng cho hệ thống đèn chiếu sáng LUMI AIR NLA850A

Nhập Đầu tư nộp thuế

Japan

Đèn tia cực tím cho đầu dò 474 của máy sắc ký lỏng dùng trong phòng thí nghiệm

Nhập Kinh doanh

Japan

Bóng đèn 6V, 30W

Nhập Viện Trợ

France

Đèn chiêu 6V. 60W

Nhập Viện Trợ

France

Bóng đèn pha (Halogen Vonfram) máy xúc ủi , Phụ tùng máy thi công xây dựng hiệu Komatsu

Nhập Kinh doanh

Japan

Bóng đèn halogen cho máy quang phổ DR 2700 -5000 dùng trong phòng thí nghiệm, hiệu Hach

Nhập Kinh doanh

Germany

Bóng đèn SS-188148 loại halogen vonfram dùng trong lò nướng (bộ phận lò nướng Tefal), hãng SX: SIS

Nhập Kinh doanh

France

Đèn Led bóng dài 580mm, 2ft, FT9B, công suất 12W, điện áp 90V-246V, Model: FT9B0590-101N66

Nhập Kinh doanh

Taiwan

Đèn Led bóng tròn PKF 12W, công suất 12W, điện áp 100-240V, 50-60Hz, kích thước 60x125mm

Nhập Kinh doanh

Taiwan

Bóng đèn halogen OSRAM – 12V15W dùng cho xe có động cơ

Nhập Kinh doanh

Italy

Bóng đèn halogen OSRAM – 12V55W dùng cho xe có động cơ

Nhập Kinh doanh

Italy

Đèn pha xe máy Vespa

Nhập Kinh doanh

Italy

Bóng đèn tín hiệu trên bàn điều khiển máy bay ABS1238-26-30B Hãng SX: B/E – Mặt hàng phụ tùng máy bay

Nhập Kinh doanh

USA

Bóng đèn led ST8-HT4-170-865 20W 220-240 20X1.Hãng sản xuất osram

Nhập Kinh doanh

China

Bóng đèn halogen 3.5V code 04900-U dùng cho bộ khám tai mũi họng. Hãng Welch Allyn/ Mỹ, hàng y tế, mới 100%.

Nhập Kinh doanh

Mexico

Bóng đèn đọc trên máy bay, (Dùng cho máy bay), P/n: AST7839BP2, Hãng sx: Airbus

Nhập Kinh doanh

France

Phụ tùng ôtô Toyota cho xe 5-8 chỗ, Đèn pha Land Cruiser

Nhập Kinh doanh

Japan

Bóng đèn Halogen 8GH004554-28 Hãng SX: Goodrich – Mặt hàng phụ tùng máy bay thuộc

Nhập Kinh doanh

Germany

Phụ tùng ôtô Toyota cho xe 5-8 chỗ, Đèn pha Camry 2007

Nhập Kinh doanh

Japan

Phụ tùng ôtô Toyota cho xe 5-8 chỗ, Đèn pha Land Cruiser

Nhập Kinh doanh

Japan

Phụ tùng ôtô Toyota cho xe 5-8 chỗ, Đèn pha Hiace

Nhập Kinh doanh

Japan

Phụ tùng ôtô Toyota cho xe 5-8 chỗ, Bóng đèn linh kiện xe ô tô hiệu Lexus

Nhập Kinh doanh

Japan

Đèn Halogen cho máy gia công / loại: JCR 12V 100w H10/5-2

Nhập ĐT nộp thuế

Japan

Bộ phận của đèn HQ Compact xoắn không chân H6 loại T4 7W -35W B22 (gồm: Đui đèn có dây dẫn điện, vỏ nhựa, mạch điện điện tử)

Nhập SXXK

China

Bóng đèn 24V-5W S0445-01443 dùng cho xe ô tô Hino 10.4-26 tấn

Nhập Kinh doanh

Japan

Bóng đèn halogen dùng cho Kính hiển vi MODEL OP-91641, hãng sx Keyence

Nhập Kinh doanh

Japan

bóng đèn / 5B9-H3751-00 dùng cho xe máy YAMAHA

Nhập Kinh doanh

Thailand

Bóng đèn, linh kiện xe Fortuner/HA,7chỗ

Nhập ĐT Kinh doanh

Japan

Bóng đèn linh kiện xe INNOVA

Nhập ĐT Kinh doanh

Japan

Bóng đèn pha halogen H4 12342 ED 12V 60/55W IP, hiệu Philips (H4/EPD/00050A)

Nhập ĐT Kinh doanh

Germany

Bóng đèn, linh kiện xe FORTUNER

Nhập ĐT Kinh doanh

Japan

 Bóng đèn xi nhan loại 12V5W, hiệu (S) Thai

Nhập ĐT Kinh doanh

Thailand

 Bóng đèn pha loại 12V 25/25W, hiệu Stanley

Nhập ĐT Kinh doanh

Thailand

 Đuôi bóng đèn xe máy bằng sắt

Nhập ĐT Kinh doanh

China

Đèn chiếu sáng trong phòng sạch 100W

Nhập khu chế xuất

Korea

Đèn hồng ngoại của camera điện thoại

Nhập Gia công

Korea

Bóng đèn sau (12v 21/5w) xe PCX HONDA

Nhập ĐT Kinh doanh

Thailand

Bóng đèn, phụ tùng xe ô tô Toyota VIOS

Nhập ĐT Kinh doanh

Japan

Bóng đèn, phụ tùng xe ô tô Toyota YARIS

Nhập ĐT Kinh doanh

Japan

Bóng đèn, phụ tùng xe ô tô Toyota CROWN

Nhập ĐT kinh doanh

Japan

Bóng đèn, phụ tùng xe ô tô Toyota CAMRY

Nhập ĐT kinh doanh

Japan

Bóng đèn, phụ tùng xe ô tô Toyota COROLLA

Nhập ĐT kinh doanh

Japan

Bóng đèn xe ô tô Toyota LAND CRUISER PRADO

Nhập ĐT kinh doanh

Japan

Bóng đèn hậu12V/28WMDX

Nhập ĐT kinh doanh

Japan

bóng đèn pha (hid) (d2s) ô tôCR-V

Nhập ĐT kinh doanh

Germany

Bóng đèn pha trước ô tôLEGEND

Nhập ĐT kinh doanh

Germany

Bóng đèn Halogen HY6W, 12V, 6W dùng cho xe gắn máy

Nhập ĐT kinh doanh

Germany

Bóng đèn huỳnh quang Philips TLD-765 ,kt: 1.2m, Công suất: 36W, điện áp: 220V

Nhập khu chế xuất

VietNam

Đèn phơi sáng bằng tia cực tím ( tia UV)

 

 

Bóng đèn bảng điện 24V- 440V

Nhập SXXK vào KCX

Japan

Đèn báo hiệu thao tác sai AR9E538

Nhập SXXK vào KCX

Japan

Đèn 30V 1W G11 BA9S

Nhập SXXK vào KCX

Japan

Đèn WT-11 WT-27 W-7

Nhập SXXK vào KCX

Japan

Đèn WG-40

Nhập SXXK vào KCX

Japan

Bóng đèn bảng điện KPL30W

Nhập SXXK vào KCX

Korea

Bóng đèn của bảng mạch điện tử AH16P-Z1

Nhập SXXK vào KCX

Japan

Đèn tín hiệu

Nhập SXXK vào KCX

Malaysia

Đèn tín hiệu

Nhập SXXK vào KCX

China

Bóng đèn chiếu sáng mặt đồng hồ tốc độ của xe máy loại có dây tóc

Nhập Kinh doanh

China

Đèn tia cực tím UV L10852 , tia UV: 185 nm-2000 nm, công suất 200W

Nhập kho ngoại quan

China

Bóng đèn Halogen JCR15V150WBAL(15V- 150W)

Nhập khu chế xuất

Japan

Đèn phóng tia lazer dùng cho máy đục lỗ sản phẩm bằng tia X, điện áp 6V, công suất 2W, dòng điện 1 chiều

Nhập khu chế xuất

Japan

Đui bóng đèn dùng cho đèn của máy mài biên dạng PJ311 517308

Nhập khu chế xuất

Japan

Đèn halogen cho máy mài biên dạng JC24V-300W

Nhập khu chế xuất

Japan

FS-20032: Đèn Halogen 12V-100W (Phillips)

Nhập khu chế xuất

Germany

SP-23862: Đèn Halogen 6423 XHP 15V 150W

Nhập khu chế xuất

Germany

ST-20019: Đèn Halogen 17V185W (185/17LFA) dùng cho máy soi lỗi đĩa

Nhập khu chế xuất

Japan

Nguồn: tổng hợp từ khảo sát của Viện NCHQ

Bảng 11.6 Bóng đèn và linh kiện phục vụ sản xuất bóng đèn xuất khẩu

Tên hàng

Tên loại hình

Tên nước NK

Đèn chiếu sáng dùng trong phòng sạch

Hàng hóa Tái xuất ra nước ngoài từ KCX

Korea

Đèn compact 20w và phụ kiện (01 công tắc bật kèm ổ cắm, 4m dây điện 2×1.5mm2, 2M mang cáp điện S24x14) cho nhà lắp ghép C04, mới 100%

Xuất Kinh doanh

Cameroon

Bóng đèn huỳnh quang FL T10 40W Cooldaylight

Xuất khẩu hàng SX từ hàng NK

Egypt

Bóng đèn huỳnh quang FL T10 20W Cooldaylight

Xuất khẩu hàng SX từ hàng NK

Egypt

Bóng đèn huỳnh quang (FLuorescent lamp) FL T10 20W CoolDaylight

Xuất khẩu hàng SX từ hàng NK

Egypt

Bóng đèn huỳnh quang (FLuorescent lamp) FL T10 40W CoolDaylight

Xuất khẩu hàng SX từ hàng NK

Egypt

8986773800 Bóng đèn pha Halogen HS1 12636 HP 12V35/35W, hiệu Philips

Tái xuất

Germany

8986773800 Bóng đèn pha Halogen HS1 12636 HP 12V35/35W, hiệu Philips

Tái xuất

Germany

2/812/NTX-KCX/2010. Đèn vòng chiếu sáng (simple-3). Tái xuất 14 Chiếc

Hàng hóa Tái xuất ra nước ngoài từ KCX

Japan

2/856/NTX-KCX/2012. Đèn vòng chiếu sáng của kính hiển vi (simple-3). Tái xuất 5 Chiếc

Hàng hóa Tái xuất ra nước ngoài từ KCX

Japan

7/61/NTA26/2011. Bóng đèn (simple-3). Tái xuất 4 Chiếc

Hàng hóa Tái xuất ra nước ngoài từ KCX

Japan

2/365/NTX-KCX/2012. Đèn vòng chiếu sáng của kính hiển vi (simple-3). Tái xuất 18 Chiếc

Hàng hóa Tái xuất ra nước ngoài từ KCX

Japan

Bóng đèn pha dùng cho xe máy Yamaha / 1DB-H4314-10

Xuất Kinh doanh

Thailand

Vỏ đèn pha dùng cho xe máy Yamaha / 1DB-H410A-00

Xuất Kinh doanh

Thailand

Cụm đèn pha dùng cho xe máy Yamaha / 1FC-H4370-00

Xuất Kinh doanh

Thailand

(nguồn tổng hợp từ khảo sát của Viện NCHQ)

Số liệu trên cho thấy, bóng đèn sợi đốt và bóng đèn huỳnh quang tiết kiệm năng lượng hiện nay nhập khẩu về chủ yếu là dùng làm linh kiện cho các loại xe ô tô, máy xúc, xe chở than, một số ít dùng trong hầm lò, trong y tế. Như vậy, có thể thấy thực tế bóng đèn sợi đốt nhập khẩu chỉ dùng cho các máy móc thi công, phương tiện vận tải, thiết bị chuyên dụng và không có bóng đèn dùng chiếu sáng trong dân dụng.

Ngoài ra trong quá trình kiểm soát hàng nhập khẩu tại một số Cục Hải quan như Lạng Sơn, Quảng Ninh còn phát hiện có hàng hóa là bóng đèn huỳnh quang có nhãn của Công ty sản xuất bóng đèn và phích nước Rạng Đông. Tuy số hàng này không lớn nhưng cũng là dấu hỏi để các cơ quan chức năng xem xét đó là hàng giả hay do Công ty đặt gia công tại Trung Quốc.

Thực trạng hoạt động kiểm tra, giám sát, kiểm soát đối với hàng hóa tác động đến môi trường

Trong hoạt động quản lý nhà nước về hải quan, phân cấp quản lý được thực hiện như sau: cấp Trung ương là Tổng cục Hải quan bao gồm các đơn vị chuyên môn tham mưu cho Lãnh đạo TCHQ về các hoạt động nghiệp vụ. Cấp địa phương là các Cục Hải quan địa phương dưới đó là các Chi cục cửa khẩu hoặc các Đội kiểm soát. Cấp trung ương có nhiệm vụ ban hành, hướng dẫn các quy trình làm việc, xử lý các trường hợp ngoài phạm vi của cấp địa phương. Cấp địa phương trực tiếp triển khai các hoạt động nghiệp vụ hải quan, trực tiếp làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu cho hàng hóa xuất nhập khẩu và phương tiện vận tải xuất nhập cảnh, quá cảnh cho các tổ chức cá nhân tham gia doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu. Đối với hàng hóa tác động đến môi trường, hoạt động kiểm tra, giám sát do các Cục Hải quan địa phương thực hiện; hoạt động kiểm soát do Cục Điều tra Chống buôn lậu và các Đội kiểm soát thuộc các Cục Hải quan địa phương và cửa khẩu cùng thực hiện. Các hoạt động kiểm tra, giám sát và kiểm soát được thực hiện như sau:

(i) Đối với kiểm tra, giám sát hải quan         

Ngành Hải quan đã thực hiện thủ tục hải quan theo quy trình 1171 từ 2009 gồm 4 bước như đã trình bày tại mục 2.1. tháng 4/2014 TCHQ triển khai hệ thống VNACCS/VCIS, một hệ thống xử lý tự động các tờ khai hải quan dựa trên công nghệ hiện đại của Nhật Bản. Tuy nhiên việc thực hiện thủ tục hải quan vẫn theo trình tự: khi doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu một mặt hàng nào đó, họ chuẩn bị hồ sơ hải quan rồi gửi đến cơ quan hải quan, cơ quan hải quan thực hiện kiểm tra hồ sơ hải quan và cho kết luận thông quan ngay, hay phải tiến hành kiểm tra chi tiết hồ sơ hay phải qua kiểm tra thực tế hàng hóa. Qua thời gian, các công đoạn được điện tử hóa rút ngắn thời gian và công sức của cả cơ quan quan hải quan và doanh nghiệp.

Hiện nay, doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu chủ yếu thực hiện thủ tục trên hệ thống VNACCS/VCIS. Doanh nghiệp chủ đông khai báo và gửi thông tin đến hệ thống VNACCS/VCIS xác định nơi đăng ký làm thủ tục hải quan. Hệ thống VNACCS/VCIS sẽ tự động phân luồng xanh, vàng hoặc đỏ đối với tờ khai hải quan. Nếu là luồng xanh, hàng hóa sẽ được thông quan ngay, doanh nghiệp mang tờ khai in trên hệ thống đến địa điểm lưu giữ hàng hóa thông qua văn phòng giám sát hải quan tại khu vực để xác nhận, là hoàn thành thủ tục hải quan. Nếu luồng vàng, người khai hải quan sẽ bị kiểm tra hồ sơ hải quan, và nếu luồng đỏ sẽ bị kiểm tra thực tế hàng hóa.

Đối với hàng hóa được phân vào luồng xanh

Đối với hàng hóa rơi vào luồng xanh, được hệ thống thông quan ngay, vì vậy nếu có sự gian lận trong khai báo của doanh nghiệp thì vệc lọt lưới hàng hóa ảnh hưởng đến môi trường nói chung và hàng hóa là bóng đèn sợi đốt có công suất 60W trở lên, bóng đèn tiết kiệm năng lượng kém chất lượng nói riêng là có thể xảy ra.

Đối với việc kiểm tra chi tiết hồ sơ

Vướng mắc nhất tại khâu này chính là việc công chức phải kiểm tra chi tiết hồ sơ cả trên hệ thống lẫn hồ sơ giấy của doanh nghiệp. Đặc biệt đối với những lô hàng cần giấy phép chuyên ngành hoặc một số mặt hàng cấm có giới hạn (ví dụ như chỉ cấm bóng đèn sợi đốt công suất từ 60W trở lên phục vụ mục đích chiếu sáng dân dụng) thì việc kiểm tra chi tiết hồ sơ sẽ khó khăn hơn, và kéo dài thời gian hơn. Hoặc đối với những thiết bị tiết kiệm năng lượng cần dán nhãn, thì việc khai báo nhãn theo loại nào cũng là điều khó cho công chức hải quan khi kiểm tra chi tiết hồ sơ.

Đối với việc kiểm tra thực tế hàng hóa

Công việc này trong ngành hải quan thường gọi là kiểm hóa. Tổ kiểm hóa do 2 hoặc 3 cán bộ hải quan thực hiện. Việc kiểm tra thực tế có thể được thực hiện bằng các công cụ không can thiệp như máy soi, thiết bị nhận dạng…Tuy nhiên, với điều kiện cơ sở vật chất còn hạn chế, đặc biệt là các cửa khẩu đường bộ việv kiểm tra thực tế thường được thực hiện bằng phương pháp thủ công. Cụ thể: chủ hàng hóa phải mở công ten nơ hoặc thùng chứa hàng, cán bộ hải quan kiểm đếm số lượng, xem xét hình dáng, nhãn mác, cân nặng,…nếu thấy cần phải xem xét về chất lượng, cán bộ hải quan sẽ đề nghị chuyển mẫu hàng đi phân tích tại Trung tâm phân tích phân loại để xác minh. Nếu bằng mắt thường, cán bộ hải quan nhận ra ngay hàng hóa là loại cấm nhập hoặc gây ô nhiễm nặng (ví dụ như bốc mùi hôi thối, hoặc đã phân hủy…) thì sẽ lập biên bản và thông báo cho các cơ quan chức năng khác đến kiểm tra, xác minh (ví dụ như quản lý thị trường, cảnh sát môi trường, vệ sinh dịch tễ, cơ quan môi trường…).

Đối với mặt hàng là bóng đèn sợi đốt, thiết bị tiết kiệm năng lượng thì việc kiểm tra thực tế công suất, chất lượng của thiết bị cũng là vấn đề khó khăn cho công chức hải quan. Ngoài việc dựa trên khai báo, các yếu tố ghi trên thiết bị, công chức hải quan chưa có phương thức để nhận biết công suất hoặc chất lượng. Việc này đòi hỏi phải có sự trang bị phương tiện, phối hợp với lực lượng chuyên ngành thì việc kiểm tra mới đảm bảo đúng quy định.

Đối với hoạt động giám sát hải quan,

Cơ quan hải quan tổ chức một đội bố trí tại cổng các kho hàng, cảng để giám sát hàng hóa mang ra khỏi khu vực. Tuy nhiên, đây cũng là một vấn đề khó khăn khi lượng hàng hóa nhiều, nguồn lực có hạn và đặc biệt hạ tầng hệ thống công nghệ thông tin còn hạn chế để văn phòng giám sát kiểm tra, đối chiếu hệ thống với tờ khai và lô hàng thực tế được mang ra.

Thực trạng phối hợp với các cơ quan chức năng trong kiểm soát hàng hóa tác động đến môi trường

Nghị định số 187/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài. Nghị định đáp ứng yêu cầu quản lý xuất nhập khẩu trong bối cảnh Việt Nam đã là thành viên của WTO và tham gia ký kết nhiều hiệp định thương mại song phương, đa phương khác, nhằm góp phần xử lý các vướng mắc, bất cập phát sinh trong lĩnh vực xuất nhập khẩu thời gian qua. Nghị định có một số điểm mới đáng chú ý như sau:

– Quy định cơ chế xem xét, giải quyết việc cho phép nhập khẩu hàng hóa thuộc Danh mục hàng hoá cấm nhập khẩu của các Bộ, cơ quan ngang Bộ xem xét cho phép nhập khẩu trong các trường hợp cụ thể theo nguyên tắc và quy định sau đây:

+ Nhập khẩu hàng hóa để nghiên cứu khoa học: Các Bộ, cơ quan ngang Bộ xem xét, giải quyết theo phân công và quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định 187/2013/NĐ-CP.

+ Nhập khẩu hàng hóa viện trợ nhân đạo: Bộ Công Thương xem xét, giải quyết trên cơ sở đề nghị của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

+ Hàng hóa quy định trên là hàng hóa không gây ô nhiễm môi trường, không lây lan dịch bệnh, không ảnh hưởng sức khỏe con người, an toàn giao thông, an ninh, quốc phòng, trật tự xã hội và không ảnh hưởng xấu đến đạo đức, thuần phong mỹ tục của Việt Nam.

– Quy định về việc hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải thực hiện kiểm dịch, kiểm tra về an toàn thực phẩm, kiểm tra chất lượng. Căn cứ quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, quy chuẩn kỹ thuật, an toàn thực phẩm và các quy định khác của pháp luật có liên quan, các Bộ, cơ quan ngang Bộ theo chức năng quản lý công bố Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải kiểm tra việc bảo đảm chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật, an toàn thực phẩm trước khi thông quan và hướng dẫn cụ thể việc kiểm tra, xác nhận chất lượng hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

– Bộ Quốc phòng, Bộ Công an xem xét, cho phép tạm xuất, tái nhập vũ khí, khí tài, trang thiết bị quân sự, an ninh để sửa chữa phục vụ mục đích an ninh, quốc phòng; quy định việc nhập khẩu máy bay không sử dụng trong hàng không dân dụng không có vũ trang, xe ô tô có bọc thép không gắn vũ khí quân dụng; súng bắn sơn, đạn sơn và các mặt hàng khác có ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh, quốc phòng thực hiện theo giấy phép của Bộ Công Thương sau khi có ý kiến đề nghị của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng. Bộ Công Thương trao đổi với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an để công bố danh mục và quy định cụ thể việc cấp phép nhập khẩu các mặt hàng này.

– Về vấn đề nhập khẩu hàng hóa theo hạn ngạch thuế quan, Bộ quản lý chuyên ngành quyết định lượng hạn ngạch thuế quan, Bộ Công Thương công bố cụ thể và quy định phương thức điều hành nhập khẩu đối với từng mặt hàng sau khi tham khảo ý kiến Bộ Tài chính và các Bộ quản lý chuyên ngành liên quan.

– Về vấn đề nhập khẩu máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng, phải tuân thủ quy định của Bộ Khoa học và Công nghệ. Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan ban hành quy định cụ thể về việc nhập khẩu máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng.

– Đối với hàng hóa là hàng tiêu dùng đã qua sử dụng, linh kiện, phụ tùng đã qua sử dụng thuộc danh mục hàng cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu chỉ được phép tạm xuất để sửa chữa, bảo hành với điều kiện hàng hóa đó còn trong thời hạn bảo hành theo hợp đồng nhập khẩu.

Ngoài ra, Nghị định cũng phân công trách nhiệm quản lý và nguyên tắc quản lý của các Bộ, ngành cũng đã được điều chỉnh phù hợp với các quy định hiện hành.

Để thực hiện bảo vệ môi trường, cơ quan hải quan thường xuyên phối hợp với một số các cơ quan Nhà nước trong hoạt động bảo vệ môi trường, cụ thể như sau:

Với Tổng cục môi trường

Tổng cục Hải quan và Tổng cục Môi trường đã ban hành chung quy chế phối hợp trong quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu đối với một số mặt hàng gây ô nhiễm môi trường số 01/QCLN-TCMT-TCHQ ngày 18/4/2013. Những mặt hàng trọng tâm thuộc diện quản lý là:

– Phế liệu

– Chất thải, Chất thải nguy hại

– Hóa chất độc hại với môi trường

– Động thực vật có nguy cơ tuyệt chủng theo công ước Cites

– Các loại hàng hóa sản xuất ở nước ngoài đưa vào Việt nam hoặc sản xuất ở Việt nam đưa ra nước ngoài có ảnh hưởng đến môi trường.

Việc phối hợp giữa 2 cơ quan trên 2 mặt: cung cấp thông tin cho nhau và cùng phối hợp trong kiểm tra, kiểm soát các hàng hóa xuất nhập khẩu có dấu hiệu vi phạm.

Với Tổng cục Cảnh sát

Tổng cục Hải quan cùng với Tổng cục Cảnh sát đã ban hành quy chế phối hợp số 5341/QCPH-TCHQ-TCCS ngày 22/11/2007 trong đấu tranh, phòng chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật. Nội dung Quy chế có đề cập đến việc phối hợp cả về cung cấp thông tin và cử cán bộ tham gia đấu tranh, bắt giữ các loại tội phạm vận chuyển, buôn lậu hàng hóa gây ô nhiễm môi trường.

Hoạt động ký kết của cơ quan hải quan với 2 cơ quan trên ngoài việc tổ chức kiểm soát các loại hàng hóa tác động xấu đến môi trường còn thường xuyên tổ chức hội thảo, trao đổi thông tin, nghiệp vụ cũng như chia sẻ kinh nghiệm trong kiểm tra, kiểm soát các loại hàng hóa xuất nhập khẩu gây ô nhiễm môi trường. Cho đến hiện tại, sự phối hợp với Tổng cục Cảnh sát, cụ thể là Cục cảnh sát môi trường mang lại hiệu quả cao về bắt giữ các lô hàng nhập khẩu gây ô nhiễm môi trường.

Đối với các ngành chức năng khác có trách nhiệm cung cấp các chỉ tiêu chất lượng, các giấy phép, kiểm tra chất lượng chuyên ngành…

Một số kết quả trong kiểm soát hàng hóa tác động đến môi trường trên cơ sở phối hợp giữa 2 cơ quan Tổng cục Hải quan và Tổng cục Cảnh sát như sau:

Trên thực tế, Việt Nam có gần 60 cửa khẩu quốc tế, quốc gia, và 49 cảng biển các loại, mỗi năm có tới hàng triệu tấn hàng hóa nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, nhập khẩu vào Việt Nam theo đường chính ngạch. Điển hình nhất rác thải công nghiệp được núp dưới danh nghĩa “máy móc, thiết bị”, phế liệu tạp chất và thậm chí cả chất thải nguy hại (ắc qui chì đã qua sử dụng, sắt, thép, nhựa, cao su, vải vụn…). Bên cạnh đó, những loại hàng hóa có nguy cơ gây ô nhiễm sinh học ảnh hưởng trực tiếp đến cộng đồng cũng được nhập vào Việt Nam như thực phẩm đông lạnh không rõ nguồn gốc, bị nhiễm khuẩn hoặc quá thời hạn…để tiêu thụ trong nước hoặc xuất sang nước khác. Nhiều loại động vật hoang dã quý hiếm, một số loài nằm trong nguy cơ tuyệt chủng hoặc sách đỏ như hổ, báo, gấu, tê tê… hay sản phẩm của chúng (ngà voi, sừng tê giác, mật gấu…) cũng được các đối tượng mua bán, vận chuyển vào Việt Nam dưới nhiều hình thức khác nhau.

Các địa bàn trọng điểm, nơi xảy ra phần lớn các vụ vi phạm là Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh và Quảng Ninh. Chỉ tính riêng trong giai đoạn từ tháng 1/2008-09/2009, Cục Hải quan Hải Phòng đã bắt giữ và xử lý 202 công-te-nơ và gần 200 tấn nhựa phế liệu các loại, 19 công-te-nơ giấy phế liệu, 18 công-te-nơ và 370 kg sắt phế liệu. Còn Thành phố Hồ Chí Minh là 145 tấn đồng nhôm phế liệu, 55 tấn sắt phế liệu, 41 tấn nhựa phế liệu. Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng hóa là phế liệu thường khai báo hàng hóa là phế liệu được phép nhập khẩu để làm nguyên liệu sản xuất, hoặc đã được làm sạch nhưng trên thực tế phần lớn là phế liệu có chứa tạp chất, chất thải nguy hại. Có những vụ hàng hóa ghi trên tờ khai là nhập quặng chì nhưng thực chất là nhập ắc quy chì phế thải; ghi nhập là hàng mới nhưng thực tế là vỏ chai nhựa đựng đồ uống tái sinh, túi nilon,…Điển hình như các vụ của Công ty TNHH Vũ Hải (Quảng Ninh), nhập khẩu hơn 63.000 tấn bản cực ắc quy chì nhưng khai báo hải quan là quặng chì. Công ty TNHH một thành viên Mega Star và Công ty TNHH Vòng Tròn, nhập khẩu 86 container (tương đương 1.782 tấn) thép phế liệu dính dầu nhớt, tạp chất qua các cảng tại Tp Hồ Chí Minh. Công ty cổ phần Thép Đà Nẵng – Ý nhập khẩu hơn 7.000 tấn thép phế liệu không đảm bảo các quy định về BVMT. Công ty Cửu Long – Vinashin Hải Phòng núp danh nghĩa nhập khẩu máy móc, thiết bị phục vụ dự án xây dựng Nhà máy Nhiệt điện Sông Hồng (Nam Định) đã nhập toàn thiết bị cũ nát, hỏng từ một nhà máy cũ có tuổi đời trên 40 năm của Hàn Quốc, trong đó có 1 máy biến thế còn hơn 4000 lít dầu thải có chứa PCB – loại chất hữu cơ khó phân hủy có hàm lượng phóng xạ vượt mức cho phép, độc hại với người và môi trường…

Bên cạnh đó, việc xuất, nhập động vật hoang dã quí hiếm ngày càng diễn biến phức tạp. Điển hình như Công ty cổ phần Thương mại xuất nhập khẩu Móng Cái (Quảng Ninh) nhập khẩu hơn 2,8 tấn rắn, rùa các loại (trong vụ này, đối tượng đã xuất trình giấy chứng nhận của Tổ chức Cites nhưng qua xác minh, cơ quan chức năng xác định trong số các loài được phép nhập khẩu theo giấy chứng nhận đó có 3 loài đặc biệt quý hiếm).

Đối với mặt hàng bóng đèn sợi đốt, chỉ duy nhất có một vụ vận chuyển trái phép 1.148 bóng đèn sợi đốt hiệu Rạng Đông công suất 11-15W, trị giá 17,2 triệu đồng bị Đội Kiểm soát hải quan số 1 của Cục hải quan Quảng Ninh phát hiện và thu giữ.

Các kết quả trên cho thấy hiện nay, hoạt động phối hợp giữa cơ quan hải quan với Tổng cục Cảnh sát và Tổng cục Môi trường mới chỉ tập trung vào các nhóm hàng hóa gây ô nhiễm môi trường, trong khi các hàng hóa nhập khẩu có tác động đến môi trường như bóng đèn sợi đốt công suất lơn, bóng đèn tiết kiệm năng lượng kém chất lượng chưa được quan tâm nhều.

Việc phối hợp kiểm tra kiểm soát đối với bóng đèn sợi đốt, bóng đèn kém chất lượng chỉ diễn ra trên các văn bản pháp luật, còn thực tế các Bộ, Ngành chưa có biện pháp hiệu quả để hỗ trợ Hải quan như xác định chất lượng, xác định công suất, hiệu suất năng lượng tối thiểu.. của các thiết tại cửa khẩu. Vì vậy, việc kiểm soát của Hải quan, vấn đề khó khăn nhất vẫn là việc xác định các tiêu chuẩn ghi trên thiết có phù hợp với thực tế không?

Với lực lượng biên phòng và Cảnh sát biển

Tổng cục Hải quan và Bộ Tư lệnh Biên phòng có quá trình phối hợp lâu dài với nhau trên các tuyến biên giới đất liền, kể từ 2002, hai lực lượng đã có quy chế phối hợp chung. Đồng thời tại các địa phương, lực lượng hải quan và lực lượng biên phòng cũng ký kết các quy chế phối hợp trên địa bàn. Hoạt động phối hợp chung giữa hai lực lượng hiện nay đang rất tốt với hàng chục nghìn thông tin trao đổi, hàng ngàn vụ việc phối hợp bắt giữ hàng hóa buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới. Nhiệm vụ kiểm soát hàng hóa ảnh hưởng đến môi trường cũng không nằm ngoài nhiệm vụ chung của hai lực lượng. Dù vậy, kết quả bắt giữ các vụ việc vận chuyển hàng hóa ảnh hưởng đến môi trường còn khiêm tốn.

Tổng cục Hải quan và Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển đã ký quy chế phối hợp lực lượng giữa Hải quan và Cảnh sát biển vào ngày 21/8/2014 nhằm tăng cường hiệu quả công tác phối hợp giữa hai lực lượng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, góp phần đảm bảo an ninh biển đảo và chống buôn lậu, gian lận thương mại trên biển. Quy chế phối hợp đã cụ thể hóa nội dung Thông tư liên tịch số 25/2012/TTLT-BQP-BTC ngày 30/3/2012 giữa Bộ Quốc phòng và Bộ Tài chính hướng dẫn phối hợp thực hiện quản lý nhà nước giữa Bộ Quốc phòng với Bộ Tài chính về hoạt động của lực lượng Cảnh sát biển và phối hợp hoạt động giữa lực lượng Cảnh sát biển với lực lượng Hải quan trên các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam. Công tác phối hợp giữa hai lực lượng nhằm phát hiện, bắt giữ, điều tra, xử lý, bàn giao vụ việc vi phạm một cách nhanh nhất, theo đúng thủ tục, trình tự, quy định của pháp luật, không bỏ sót, lọt vụ việc. Đảm bảo vụ việc được xử lý theo đúng chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của mỗi bên và có thông tin phản hồi cho bên phối hợp nhằm đưa công tác phối hợp giữa hai lực lượng ngày càng đi vào thực chất. Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển và Tổng cục Hải quan thống nhất thiết lập đường dây nóng để tiếp nhận, xử lý kịp thời thông tin trao đổi giữa hai bên. Cục Điều tra chống buôn lậu – Tổng cục Hải quan và Phòng Pháp luật – Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển là các đơn vị đầu mối. Từ Quy chế khung nói trên, các Cục Hải quan tỉnh, thành phố cũng triển khai ký kết quy chế phối hợp với các đơn vị Cảnh sát biển quản lý trên cùng địa bàn. Trên cơ sở đó, hoạt động kiểm soát hàng hóa ảnh hưởng đến môi trường cũng nằm trong khuôn khổ nhiệm vụ chung của cả hai lực lượng.

Sở dĩ các mặt hàng ảnh hưởng đến môi trường đi qua đường này thường ít vì hiệu quả kinh tế không cao. Đặc biệt đối với mặt hàng chiếu sáng dân dụng, do nhu cầu sử dụng cũng như việc sử dụng các thiết bị công suất lớn ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người tiêu dùng hàng ngày nên hầu như không có buôn lậu các mặt hàng này. Thậm chí người tiêu dùng tại biên giới cũng không mua các mặt hàng này.

Thực trạng nhận thức cán bộ, đào tạo, tuyên truyền trong kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan đối với hàng hóa tác động đến môi trường

Về nhận thức: nhận thức của cán bộ hải quan về các hàng hóa tác động đến môi trường, nhất là đối với hàng hóa là bóng đèn sợi đốt và bóng đèn huỳnh quang compact chất lượng thấp nhìn chung chưa được cán bộ công chức quan tâm nhiều. Theo khảo sát điều tra đối với gần 500 cán bộ hải quan tại các Cục Hải quan biên giới phía Bắc, Miền Nam và Miền Trung. Mắc dù đối tượng được phỏng vấn nằm ở độ tuổi 30 -40 và có trình độ tốt nghiệp đại học là chủ yếu, nhưng kết quả điều tra cho thấy bức tranh toàn cảnh về việc quan tâm đến môi trường của công chức thực thi tại cửa khẩu (Chi tiết tại phụ lục kèm theo). Nhưng có thể nhận thấy:

Xấp xỉ 47,7% các cán bộ hải quan trả lời không biết và chưa từng nghe thông tin khi được hỏi về sáng kiến hải quan xanh được hải quan thế giới khuyến nghị thực hiện, 52,6% còn lại trả lời có biết hoặc có nghe nói.

Xấp xỉ 25% số cán bộ hải quan không biết hoặc chưa từng nghe đến chương trình tiết kiệm năng lượng, loại bỏ bóng đèn sợi đốt, chuyển đổi thị trường chiếu sáng Việt Nam.

Theo số liệu khảo sát về tình hình phân luồng bóng đèn sợi đốt, bóng đèn compact, thiết bị tiết kiệm năng lượng trong hệ thống quản lý rủi ro, phần lớn trả lời rằng tùy thuộc vào từng lô hàng chứ không cố định một luồng xanh, vàng hoặc đỏ cho bất kỳ lô hàng nào thuộc các loại trên. Cũng theo đó, khảo sát về việc có cần thiết quy định bắt buộc vào luồng đỏ đối với hàng hóa là bóng đèn sợi đốt, bóng đèn tiết kiệm năng lượng, thiết bị tiết kiệm năng lượng, có 47,4% công chức cho rằng điều này là cần thiết, còn lại 52,6% cho rằng không cần thiết.

Những con số trên đã minh họa rất rõ về nhận thức của cán bộ hải quan thực thi nhiệm vụ tại cửa khẩu về chủ trương loại bỏ bóng đèn sợi đốt thông qua việc chuyển đổi thị trường chiếu sáng tại Việt Nam của Chính phủ.

Về đào tạo: các chương trình đào tạo trong nội bộ ngành Hải quan hiện nay chưa đề cập nhiều nội dung về kiểm tra, giám sát, kiểm soát đối với hàng hóa tác động đến môi trường nói chung và hàng hóa là bóng đèn sợi đốt, bóng đèn compact chất lượng thấp nói riêng. Đào tạo về kiểm soát hàng hóa tác động đến môi trường hiện nay chủ yếu thông qua tài liệu và các hội thảo do Tổng cục Môi trường phối hợp với Cục Cảnh sát môi trường phối hợp tổ chức. Nội dung chủ yếu về kiểm soát hàng hóa gây ô nhiễm môi trường như hàng hóa là chất thải, hàng hóa là ắc quy chì, hàng hóa dính dầu thải,…

Một điểm rất quan trọng trong công tác phối hợp đó là chưa có sự phối hợp giữa cơ sở sản xuất với các lực lượng chức năng, đặc biệt là đối với hải quan trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới (chưa có cơ sở sản xuất bóng đèn đưa ra yêu cầu bảo hộ cho Hải quan).

Về tuyên truyền: thực tế hiện nay, tuyên truyền chủ yếu về Công ước Cites tại các địa điểm làm thủ tục hải quan, trụ sở cơ quan hải quan qua áp phíc, các vấn đề khác trong tiết kiệm năng lượng ít được quan tâm.

Những hạn chế còn tồn tại trong kiểm tra, giám sát, kiểm soát hàng hóa xuất nhập tác động đến môi trường

Thứ nhất, Về cơ sở pháp lý còn chưa đồng bộ, chồng chéo, thiếu sự phối hợp chặt chẽ trong việc xây dựng những Thông tư liên tịch hướng dẫn cụ thể hoạt động kiểm tra, giám sát, kiểm soát hàng hóa ảnh hưởng đến môi trường nói chung và kiểm tra, giám sát việc nhập khẩu bóng đèn sợi đốt công suất từ 60W trở lên và bóng đèn tiết kiệm năng lượng. Nguyên nhân chủ yếu vẫn là chưa có tiếng nói chung trong việc hạn chế nhập khẩu hàng hóa làm ảnh hưởng môi trường.

Thứ hai, Trong bảo vệ môi trường ngoài việc quản lý hàng hóa gây ô nhiễm trường còn phải quản lý chặt chẽ đến những nhóm hàng hóa tác động ảnh hưởng xấu đến môi trường. Hiện tại việc kiểm tra, giám sát, kiểm soát của cơ quan hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu gây ô nhiễm môi trường hiện nay đã làm khá tốt, tuy nhiên những hàng hóa gây ảnh hưởng xấu đến môi trường như hàng hóa gián tiếp cho khí thải gây ô nhiễm không khí, hàng hóa là máy móc sản xuất thải ra chất độc hại với nguồn nước, với đất… hoặc những hàng hóa khi sử dụng làm không khí nóng lên gây hiệu ứng nhà kính như bóng đèn sợi đốt và bóng đèn tiết kiệm năng lượng chất lượng thấp…thì chưa được kiểm soát chặt chẽ. Do đó có thể nói, hạn chế đầu tiên đó là thiếu sự quản lý chặt chẽ đối với hàng hóa tác động đến môi trường đặc biệt là hàng hóa bóng đèn sợi đốt và bóng đèn tiết kiệm năng lượng chất lượng thấp. Hạn chế này không chỉ có ở cơ quan hải quan mà có ở cả các cơ quan quản lý nhà nước khác có liên quan đến bảo vệ môi trường. Nguyên nhân của vấn đề là do trước đây nguồn lực trong bảo vệ môi trường chưa được chú trọng, đầu tư, quan tâm nên chỉ tập trung giải quyết đối với những nhóm hàng gây ô nhiễm môi trường, còn lại chưa tập trung, hoặc nếu có thì còn lỏng lẻo.

Thứ ba, Với 4.639 km đường biên giới đường bộ, trong đó có 1.281km đường biên giới đất liền với Trung Quốc; 2.130 km đường biên giới đất liền với Lào; 1.228 km đường biên giới đất liền với Campuchia và 3.444 km đường biển, tiếp giáp với Vịnh Bắc Bộ, Biển Đông và Vịnh Thái Lan thì hoạt động chống vận chuyển trái phép hàng hóa tác động đến môi trường nếu chỉ riêng mình cơ quan hải quan thực hiện là vô cùng khó khăn. Để thực hiện cần phải có sự hợp tác, phối hợp cùng thực hiện của tất cả các cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn. Từ chính quyền các cấp đến các cơ quan đóng trên biên giới, lãnh hải như biên phòng, hải quan, cảnh sát biển, an ninh hàng không,…Tuy nhiên hiện nay việc phối hợp mới chỉ có các cơ quan công an, môi trường, biên phòng, cảnh sát biển và hải quan cùng thực hiện. Như vậy chưa đủ nguồn lực để có thể kiểm soát trên toàn tuyến đường biên giới. Nguyên nhân của vấn đề này là do chưa có sự chỉ đạo sát sao từ cấp lãnh đạo nhà nước.

Thứ tư, Chế tài xử lý cho các loại tội phạm vận chuyển trái phép, nhập khẩu hàng hóa tác động đến môi trường còn chưa đủ mạnh, nhiều trường hợp chỉ phạt hành chính và buộc tái xuất thôi chưa đủ, còn phải truy cứu trách nhiệm hình sự mới đủ sức răn đe. Công tác xử lý hàng hóa sau khi bị bắt giữ chưa có quy định cụ thể, dẫn đến nhiều trường hợp bắt giữ rồi nhưng hàng hóa vẫn để lâu không xử lý ngay.

Thứ năm: sức ép từ việc tạo thuận lợi thương mại, từ hội nhập kinh tế quốc tế yêu cầu cơ quan hải quan phải hiện đại hóa, phải đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm thời gian thông quan, giảm kiểm tra thực tế hàng hóa. Hiện tại, với việc khai hải quan trên tờ khai điện tử và thông quan tự động dựa trên nền tảng quản lý rủi ro, người khai hải quan chỉ việc khai trên hệ thống phần mềm rồi gửi về hệ thống tự động của cơ quan hải quan, hệ thống sẽ tự động phân luồng thông quan cho tờ khai. Nếu hệ thống phân luồng xanh hoặc vàng thì lô hàng được thông quan mà không cần kiểm tra thực tế hàng hóa. Do đó, xuất hiện tình trạng, hàng hóa khai trên tờ khai khác với hàng hóa thật. Doanh nghiệp nhập khẩu chỉ cần 2 năm không vi phạm pháp luật hải quan và đáp ứng đủ một số tiêu chí khác là hàng hóa thông quan sẽ không phải luồng đỏ – không phải kiểm tra thực tế hàng hóa. Việc này tiềm ẩn nguy cơ buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa tác động đến môi trường nói chung và với hàng hóa là bóng đèn sợi đốt, bóng đèn tiết kiệm năng lượng chất lượng thấp rất lớn. Thực tế đã chứng minh điều này. Doanh nghiệp khai là quặng chì nhưng lại nhập ắc quy phế thải, khai phôi thép nhưng lại là rác thải công nghiệp, khai hạt nhựa nhưng lại là bao, túi nilon,…Tình trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như: chế tài xử phạt còn yếu, dữ liệu kiểm soát của cơ quan hải quan còn thiếu, phần mềm thông quan của cơ quan hải quan còn thiếu sót, có sự tiếp tay “tư vấn” của một số cán bộ biến chất, thoái hóa, ý thức của cộng đồng doanh nghiệp trong tuân thủ pháp luật kém,…

Thứ sáu: thái độ tích cực trong xử lý những vụ việc kiểm tra, giám sát, kiểm soát hàng hóa gây ô nhiễm môi trường của cán bộ hải quan tại cửa khẩu. Qua khảo sát thực tế tại nhiều địa phương là điểm nóng trong vấn đề nhập khẩu hàng hóa tác động đến môi trường, cho thấy có một bộ phận cán bộ hải quan “ngại” xử lý, nếu phải xử lý thì cũng thiếu tính triệt để. Lý do đưa ra là: những vụ việc này thường kéo dài, rắc rối về thủ tục giấy tờ và mất nhiều thời gian.

Thứ bảy, Trang thiết bị còn chưa đủ, hiện tại ngành hải quan đã được trang bị máy soi container di động và cố định để kiểm tra hàng hóa mà không cần mở container. Nhưng với số lượng ít (chưa đến 20 chiếc), và chỉ bố trí tại một số cửa khẩu, cảng lớn. Tại cửa khẩu SBQT Nội Bài và Tân Sơn Nhất được bố trí thêm máy đo nồng độ phóng xạ nhưng chưa được bố trí tại các cửa khẩu, cảng biển lớn. Như vậy, nếu để phát hiện triệt để trong kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất nhập nhập khẩu tác động đến môi trường cũng như trong kiểm soát hàng hóa tại biên giới thì trang thiết bị trên là chưa đủ. Đặc biệt nếu trong tương lai cơ quan hải quan đẩy mạnh công tác kiểm soát chặt chẽ các nhóm hàng gián tiếp gây ô nhiễm môi trường, như nhóm hàng hóa là bóng đèn sợi đốt và bóng đèn tiết kiệm năng lượng chất lượng thấp thì cần có thêm những thiết bị kiểm tra khác phù hợp hơn nhằm hỗ trợ tối đa cho cán bộ hải quan tại các cửa khẩu.

Thứ tám, Công tác đào tạo về những hàng hóa tác động đến môi trường nói chung và đối với hàng hóa là bóng đèn sợi đốt, bóng đèn tiết kiệm năng lượng chất lượng thấp của ngành hải quan còn hạn chế, thường phụ thuộc vào sự tổ chức của Tổng cục Môi trường hoặc Cục Cảnh sát môi trường chứ chưa có sự chủ động tổ chức đào tạo. Bên cạnh đó, cán bộ kiểm hóa, cán bộ làm công tác giám sát, kiểm soát hiện nay đang có rất nhiều các công việc nên nguồn lực thực hiện cho kiểm tra, giám sát, kiểm soát hàng hóa tác động đến môi trường nói chung và đối với hàng hóa là bóng đèn sợi đốt, bóng đèn tiết kiệm năng lượng chất lượng thấp còn hạn chế, thiếu tính chuyên nghiệp, không được chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa như Tổng cục môi trường và Cảnh sát môi trường. Đây cũng là một điểm yếu trong hệ thống tổ chức ngành hải quan hiện nay.

Thứ chín: Về công tác phối hợp còn thiếu đồng bộ từ việc hoạch định chính sách, cung cấp thông tin đến phối hợp kiểm tra, kiểm soát. Đặc biệt là sự phối hợp của các cơ sở sản xuất bóng đèn với Hải quan trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới.

Ngoài ra công tác tuyên truyền cũng chưa được các cấp, các ngành quan tâm đúng mực.

11.2.2. Yêu cầu và định hướng của Hải quan Việt Nam trong bảo vệ môi trường và thực hiện sáng kiến Hải quan xanh

Trước hết, phải khẳng định những quan điểm, yêu cầu và định hướng đối với Hải quan Việt Nam trong thực hiện Sáng kiến Hải quan không thể nằm ngoài các nội dung của Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. đó là:

– Bảo vệ môi trường là yêu cầu sống còn của nhân loại; Chiến lược bảo vệ môi trường là bộ phận cấu thành không tách rời của Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, Chiến lược phát triển bền vững; bảo vệ môi trường hướng tới mục tiêu phát triển bền vững nhằm đáp ứng nhu cầu của các thế hệ hiện tại nhưng vẫn giữ được tiềm năng và cơ hội cho các thế hệ mai sau; đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững.

– Phát triển phải tôn trọng các quy luật tự nhiên, hài hòa với thiên nhiên, thân thiện với môi trường; khuyến khích phát triển kinh tế phù hợp với đặc tính sinh thái của từng vùng, ít chất thải, các-bon thấp, hướng tới nền kinh tế xanh.

– Ưu tiên phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm; coi trọng tính hiệu quả, bền vững trong khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên; chú trọng bảo tồn đa dạng sinh học; từng bước phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; tăng cường năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu.

– Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của toàn xã hội, là nghĩa vụ của mọi người dân; phải được thực hiện thống nhất trên cơ sở xác định rõ trách nhiệm của các Bộ, ngành, phân cấp cụ thể giữa Trung ương và địa phương; kết hợp phát huy vai trò của cộng đồng, các tổ chức quần chúng và hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới.

– Tăng cường áp dụng các biện pháp hành chính, từng bước áp dụng các chế tài hình sự, đồng thời vận dụng linh hoạt các cơ chế kinh tế thị trường nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm các quy định của pháp luật các yêu cầu, quy chuẩn, tiêu chuẩn về môi trường được thực hiện.

– Tổ chức, cá nhân hưởng lợi từ tài nguyên và các giá trị của môi trường phải trả tiền; gây ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên và đa dạng sinh học phải trả chi phí khắc phục, cải tạo, phục hồi và bồi thường thiệt hại.

Mục tiêu đến năm 2020 bao gồm mục tiêu Tổng quát và mục tiêu cụ thể mà các Bộ, ngành, các tổ chức và cá nhân cần hướng tới:

a) Mục tiêu tổng quát

Kiểm soát, hạn chế về cơ bản mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên và suy giảm đa dạng sinh học; tiếp tục cải thiện chất lượng môi trường sống; nâng cao năng lực chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững đất nước.

b) Mục tiêu cụ thể

– Giảm về cơ bản các nguồn gây ô nhiễm môi trường.

– Khắc phục, cải tạo môi trường các khu vực đã bị ô nhiễm, suy thoái; cải thiện điều kiện sống của người dân.

– Giảm nhẹ mức độ suy thoái, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên; kiềm chế tốc độ suy giảm đa dạng sinh học.

– Tăng cường khả năng chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, giảm nhẹ mức độ gia tăng phát thải khí nhà kính.

Tầm nhìn đến năm 2030

Ngăn chặn, đẩy lùi xu hướng gia tăng ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên và suy giảm đa dạng sinh học; cải thiện chất lượng môi trường sống; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; hình thành các điều kiện cơ bản cho nền kinh tế xanh, ít chất thải, các-bon thấp vì sự thịnh vượng và phát triển bền vững đất nước.

Trên cơ sở những quan điểm, mục tiêu và tầm nhìn chung được đặt ra trong Chiến lược, có thể nhận định đối với cơ quan Hải quan nhiệm vụ chính là phòng ngừa và hạn chế các tác động xấu của các hàng hóa xuất nhập khẩu trái phép đến môi trường. Mặt khác Hải quan cũng tham gia thực hiện các quy định khuyến khích sử dụng tiết kiệm tài nguyên, năng lượng, sản xuất và sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, các sản phẩm và bao bì sản phẩm không gây hại hoặc ít gây hại đến môi trường.

Những định hướng nội dung đối với cơ quan Hải quan trong việc góp phần bảo vệ môi trường và thực hiện Sáng kiến Hải quan xanh, bao gồm:

Thứ nhất, thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn việc đưa công nghệ, máy móc, phương tiện, thiết bị cũ, lạc hậu gây ô nhiễm môi trường; đưa chất thải vào nước ta;

Thứ hai, áp dụng đồng bộ các biện pháp xử phạt hành chính, thuế, phí bảo vệ môi trường lũy tiến theo mức độ tác động xấu đến môi trường;

Thứ ba, kiểm tra, kiểm soát và thực hiện các yêu cầu về an toàn hóa chất, an toàn phóng xạ, hạt nhân kết hợp xử lý vi phạm bảo đảm thực hiện đúng quy định pháp luật.

Thứ tư, áp dụng chế độ kiểm soát nghiêm ngặt để phát hiện các trường hợp vận chuyển trái phép, tiêu thụ các loài được ưu tiên bảo vệ, loài cấm khai thác ngoài tự nhiên; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

Thứ năm, bảo vệ các loài động vật hoang dã, các giống loài có nguy cơ tuyệt chủng; tăng cường năng lực kiểm soát việc xâm nhập của các loài sinh vật ngoại lai xâm hại; quản lý rủi ro do vi sinh vật biên đổi gen và sản phẩm của chúng đối với môi trường và sức khỏe con người. bảo vệ và chống thất thoát các nguồn gen bản địa quý hiếm.

Thứ sáu, góp phần thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong xây dựng, giao thông, chiếu sáng, thiết bị điện, sản xuất, dịch vụ; khuyến khích đầu tư thu hồi năng lượng, nhiệt trong sản xuất, tiêu dùng để tái sử dụng.

Thứ bảy, tham gia xây dựng và hoàn thiện chính sách, quy định hải quan về công tác bảo vệ môi trường phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Một mặt, tăng cường kiểm soát hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu nhạy cảm với môi trường qua biên giới. Mặt khác, ngăn chặn việc lợi dụng rào cản môi trường trong xuất khẩu hàng hóa làm ảnh hưởng xấu đến sản xuất, kinh doanh. Hình thành các cơ chế công nhận, chứng nhận phù hợp với điều kiện trong nước và tiêu chuẩn quốc tế về môi trường.

Thứ tám, tham gia tích cực vào các hoạt động quốc tế và khu vực về môi trường; thực hiện đầy đủ các Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, các cam kết quốc tế, chương trình, dự án song phương và đa phương về bảo vệ môi trường phù hợp với lợi ích quốc gia. Cụ thể đối với Hải quan Việt Nam là yêu cầu thực hiện tích cực, hiệu quả Sáng kiến Hải quan xanh.

Tham gia hợp tác chặt chẽ với các nước láng giềng và các nước trong khu vực để giải quyết các vấn đề môi trường liên quốc gia.

Góp phần nâng cao vị thế của nước ta trên các diễn đàn khu vực và toàn cầu về môi trường.

Tranh thủ tối đa nguồn hỗ trợ tài chính, kỹ thuật từ các nước, các tổ chức quốc tế và cá nhân cho công tác bảo vệ môi trường.

11.2.3. Giải pháp thực hiện kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu hàng hóa ảnh hưởng đến môi trường của Hải quan Việt Nam

11.2.3.1. Giải pháp về hoàn thiện cơ sở pháp lý

Luật Hải quanquy định về hồ sơ hải quan, đề cập đến “các chứng từ khác theo quy định của pháp luật đối với từng mặt hàng mà người khai hải quan phải nộp hoặc xuất trình cho cơ quan hải quan”. Nghị định số 08/2015/NĐ-CP của chính phủ và Thông tư số 38/2015/TT-BTC cũng đều đề cập đến “chứng từ khác” trong đó có giấy phép chuyên ngành. Do vậy, theo quy định pháp luật, doanh nghiệp khi nhập khẩu các mặt hàng tiết kiệm năng lượng phải xuất trình giấy chứng nhận dãn nhãn năng lượng cho cơ quan Hải quan khi xuất trình hồ sơ hải quan cho hàng hóa nhập khẩu. Tuy nhiên, yêu cầu này lại có khoảng cách đối với thực tiễn vì doanh nghiệp khó có khả năng xuất trình giấy chứng nhận dán nhãn năng lượng trong điều kiện hàng hóa cần phải được nhập khẩu và xuất trình cho cơ quan quản lý chuyên ngành để cấp giấy chứng nhận. Như vậy khoảng cách giữa pháp lý và thực tiễn đó cần được Tổng cục Hải quan và các Bộ, ngành chức năng phối hợp đề xuất điều chỉnh và có cơ chế công nhận các giấy tờ, giấy chứng nhận được các nước cấp nhằm giảm thiểu các quy định giấy tờ và thời gian làm thủ tục hải quan.

Ngoài ra, để thực hiện việc này, Chính phủ cần sớm hoàn thiện các quy định pháp lý và thiết lập hệ thống trao đổi thông tin điện tử giữa các cơ quan quản lý hàng hoá XNK (Chính phủ điện tử) để các ngành có thể nhanh chóng hồi đáp thông tin về các yêu cầu quản lý chuyên ngành. Ngành Hải quan cần tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý hải quan để giảm bớt giấy tờ và thời gian cho doanh nghiệp. Điều này có nghĩa là cần sớm có quyết định thực hiện cơ chế Một cửa quốc gia tiến tới một cửa ASEAN đúng tiến độ cam kết 2015.

11.2.3.2. Giải pháp về nghiệp vụ của cơ quan hải quan

Đối với hoạt động kiểm tra, giám sát, kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu

a) Quy trình kiểm tra, giám sát Hải quan

Trên thực tế không có quy trình riêng cho hoạt động kiểm tra giám sát hải quan đối với thủ tục hải quan cho hàng hóa xuất nhập khẩu là hàng hóa ảnh hưởng đến môi trường mà chỉ có quy trình chung cho toàn bộ hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa. Tuy nhiên, để kiểm soát tốt việc nhập khẩu hàng hóa ảnh hưởng đến môi trường trong thủ tục hải quan, cần thực hiện các việc cơ bản và bắt buộc sau:

Thứ nhất, xây dựng danh mục hàng hóa rủi ro về môi trường và hàng hóa cấm nhập khẩu, nhập khẩu có điều kiện trong cơ sở dữ liệu quản lý của cơ quan hải quan để phục vụ công tác quản lý rủi ro;

Thứ hai, tiêu chí phân luồng đối với các loại hàng hóa này phải bắt buộc thiết kế phân vào luồng đỏ (luồng 3 trong hệ thống VNACCS/VCIS).

Thứ ba, Thực hiện kiểm tra thực tế bằng phương pháp thủ công (sử dụng công chức) đối với các lô hàng là bóng đèn sợi đốt, bóng đèn tiết kiệm năng lượng thuộc nhóm 8539. Các công chức được phân công kiểm tra thực tế lô hàng này cần nắm được các thông số cơ bản về bóng đèn sợi đốt, bóng đèn tiết kiệm năng lượng,

b) Kiểm tra kỹ thuật

Để kiểm tra sơ bộ công suất của các loại bóng đèn sợi đốt, bóng đèn tiết kiệm năng lượng ta có thể sử dụng các phương pháp đơn giản như So sánh công suất với bóng chuẩn và Sử dụng đồng hồ đo dòng điện và điện áp.

So sánh công suất với bóng chuẩn

Để xác định được công suất nhỏ hơn công suất chuẩn, có thể sử dụng một bóng đèn sợi đốt có công suất chuẩn 60 W do nhà máy cung cấp để so sánh với bóng doanh nghiệp nhập khẩu, cụ thể làm như sau:

– Sử dụng một bóng đèn sợi đốt công suất chuẩn 60 W;

– Thắp bóng đèn chuẩn cùng với bóng đèn nhập khẩu;

– Quan sát bằng mắt thường nếu cường độ sáng của bóng đèn nhập khẩu thấp hơn bóng đèn chuẩn thì lô hàng nhập khẩu có công suất thấp hơn 60 W. Theo quy định được phép nhập khẩu.

Sử dụng đồng hồ đo dòng điện và điện áp

Tại cửa khẩu cần được trang bị 02 đồng hồ, một dùng đo điện áp; một dùng đo dòng điện. Đầu tư mua sắm 02 đồng hồ này không lớn và được mắc theo sơ đồ để đo dùng điện và điện áp như sau:

Khi mắc đèn và các đồng hồ Vôn kế và Ampe kế theo sơ đồ trên nếu kết quả Von kế và Ampe kế theo bảng dưới đây hoặc Ampe kế chỉ nhỏ hơn thì công suất nhỏ hơn 60 W.

Chỉ số Von kế (Von)

240

230

220

210

200

190

180

170

Chỉ số Ampe kế(Ampe)

0,25

0,26

0,27

0,28

0,30

0,32

0,33

0,35

Đối với bóng đèn tiết kiệm năng lượng phải có kiểm tra chất lượng của lực lượng chuyên ngành theo các tiêu chí nhãn xanh Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 154/QĐ-BTNMT ngày 25/01/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên môi trường.

Quản lý hải quan đối với hàng của cư dân biên giới

Phân cấp cho địa phương về quản lý và điều hành thương mại biên giới để có những điều chỉnh kịp thời về chính sách phù hợp với từng thời điểm.

Cần quy định cụ thể về thanh toán mua bán, trao đổi hàng hóa dịch vụ tại khu kinh tế cửa khẩu nhằm tránh hình thành chợ tiền tại khu vực vùng biên. Xây dựng chính sách ưu đãi của cư dân biên giới về mặt hàng và định mức miễn thuế phù hợp với thực tế từng tuyến biên giới. Điều chỉnh danh mục hàng hóa mua, bán, trao đổi hàng hóa cư dân biên giới, loại bỏ khỏi danh sách những hàng hóa không phục vụ trực tiếp cho đời sống cư dân hoặc có khả năng gây hại đến môi trường; hoặc quy định Danh mục hàng hóa không được phép mua bán, trao đổi cư dân biên giới, trong đó có hàng hóa nhạy cảm với môi trường

Kiểm soát hải quan

Tiếp tục triển khai Quyết định số 133/2002/QĐ-TTg ngày 09 tháng 10 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế phối hợp phòng, chống ma tuý giữa lực lượng Công an, Bộ đội Biên phòng, Hải quan và Cảnh sát biển trên khu vực biên giới, cửa khẩu và trên biển ở cấp độ cơ sở, Quyết định số 65/2010/QĐ-TTg ngày 25/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế về trách nhiệm và quan hệ phối hợp hoạt động giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại. Đồng thời, tích cực triển khai Quy chế phối hợp giữa Hải quan, Công an và Bộ đội biên phòng đã được ký kết giữa Tổng cục Hải quan, Lực lượng Công an và Bộ đội biên phòng và phối hợp giữa Hải quan với các lực lượng khác. Tổng cục Hải quan phát huy tác dụng của Quy chế phối hợp nhằm các mục đích sau:

Phát huy sức mạnh tổng hợp và tăng cường công tác phối hợp giữa các lực lượng: Lực lượng Công an, Bộ đội biên phòng, Tổng cục môi trường, Hải quan và các lực lượng khác trong đấu tranh phòng chống tội phạm buôn lậu, gian lận thương mại , tội phạm môi trường và các hành vi vi phạm pháp luật về hải quan;

Lực lượng Công an, Bộ đội biên phòng các tỉnh khu vực biên giới, Cảnh sát biển hỗ trợ Tổng cục Hải quan, đặc biệt là các Cục Hải quan các tỉnh biên giới, ven biển trong công tác điều tra, xử lý các vi phạm về pháp luật hải quan, đặc biệt là công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và buôn bán hàng hóa nhạy cảm với môi trường qua biên giới.

Với mục đích đó nội dung Quy chế phối hợp cần thực hiện giữa các lực lượng cụ thể như sau:

– Trao đổi thông tin, tài liệu, nghiệp vụ

– Hoạt động phối hợp

11.2.3.3. Các giải pháp khác

Về tổ chức: Đối với cơ quan Tổng cục Hải quan, cần tổ chức riêng một bộ phận cán bộ từ 3 đến 5 người, chuyên về hàng hóa tiết kiệm năng lượng dưới hình thức tổ công tác thuộc Cục Giám sát và quản lý và tại Cục Điều tra Chống buôn lậu. Đối với các Cục Hải quan địa phương: bố trí cán bộ chuyên quản về hàng hóa tiết kiệm năng lượng tại Phòng Nghiệp vụ để triển khai công việc. Đồng thời, xây dựng cơ chế hỗ trợ, đãi ngộ cho các cán bộ làm công tác chuyên quản, tăng khen thưởng trong phát hiện các vụ việc bắt giữ hàng nhái, hàng giả mạo tiết kiệm năng lượng.

Về tuyên truyền, đào tạo: Cơ quan Hải quan cần phối hợp với Tổng cục năng lượng, Tổng cục Môi trường, Tổng cục Cảnh sát (Cục cảnh sát môi trường) và các đơn vị có liên quan tổ chức tuyên truyền, tác đào tạo trong Ngành Hải quan việc kiểm tra các tính năng kỹ thuật mặt hàng tiết kiệm năng lượng và kiểm soát hàng hóa tác động xấu đến môi trường.

Về phối hợp: Xây dựng quy chế phối hợp bốn bên với Tổng cục Năng lượng, Tổng cục Môi trường, Tổng cục Cảnh sát và Tổng cục Hải quan trong tham vấn xây dựng các quy định, chính sách; trao đổi thông tin, hỗ trợ đào tạo và phối hợp thực hiện kiểm tra, kiểm soát hàng hóa tác động đến môi trường nói chung và hàng hóa là bóng đèn sợi đốt, bóng đèn kém chất lượng nói riêng.

Về trang thiết bị: Cơ quan Hải quan cần xem xét hỗ trợ trang thiết bị cho các cán bộ hải quan tại cửa khẩu thực hiện việc kiểm tra kỹ thuật đối với mặt hàng bóng đèn sợi đốt, bóng đèn tiết kiệm năng lượng và các mặt hàng nhạy cảm tới môi trường.

Về hợp tác quốc tế: Tổng cục Hải quan cần tham mưu, đề xuất việc ký kết các thỏa thuận hợp tác với Hải quan các nước, các vùng lãnh thổ để tăng cường công tác phối hợp trao đổi thông tin tình báo, trợ giúp kỹ thuật và có cơ chế công nhận lẫn nhau các giấy chứng nhận dán nhãn năng lượng và các giấy tờ khác có liên quan đến môi trường; tăng cường tham gia thực hiện Sáng kiến Hải quan xanh.

Đối với các cơ sở sản xuất

Do có hiện tượng hàng giả, hàng nhái kém chất lượng xuất hiện, để làm tốt công tác kiểm soát bóng đề sợi đốt, bóng đèn tiết kiệm năng lượng của cơ sở mình, đề nghị các cơ sở sản xuất đăng ký yêu cầu bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp tại biên giới với cơ quan Hải quan.

Đề nghị các doanh nghiệp chủ động phối hợp với các cơ quan quản lý chuyên ngành thực hiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cũng như hỗ trợ cơ quan Hải quan trong quá trình thực thi kiểm soát hàng hóa nhạy cảm với môi trường.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

A. Công ước quốc tế

  1. Công ước về kiểm soát vận chuyển qua biên giới các phế thải nguy hiểm và việc tiêu huỷ chúng (BASEL), 1989 ký kết ngày 13/03/1995
  2. Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học ký kết ngày 16/11/1994
  3. Công ước về đa dạng sinh học (CBD), 1992 ký kết ngày 16/11/1994
  4. Công ước cấm phát triển, sản xuất, tàng trữ, sử dụng và phá hủy vũ khí hóa học ký kết ngày24/08/1998
  5. Công ước về buôn bán các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES), 1973 ký kết ngày20/01/1994
  6. Công ước Rotterdam về thủ tục thông báo trước đối với một số hàng hóa chất và thuốc trừ sâu độc tính cao trong thương mại quốc tế
  7. Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POP), 2001 ký kết ngày 10/08/2006
  8. Công ước quốc tế về đơn giản hóa và hài hòa các thủ tục Hải quan (Công ước Kyoto) sửa đổi năm 1999
  9. Công ước về Hệ thống hài hòa trong mô tả và mã hàng hóa (Công ước HS) có hiệu lực từ 1/1/1988
  10. Hiệp định về trị giá GATT/WTO (Hiệp định thực hiện điều VI) có hiệu lực từ 1/1/1981
  11. Công ước Hải quan về sổ ATA cho việc chấp nhận tạm thời hàng hóa có hiệu lực từ 30/7/1963
  12. Công ước Istanbul có hiệu lực từ 29/06/1990

B. Luật

  1. Luật số 45/2005/QH11 ngày 14/06/2005 của Quốc hội về Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
  2. Luật số 36/2005/QH11 ngày 14/06/2005 của Quốc hội về Thương mại
  3. Luật số 54/2014/QH13 ngày 23/06/2014 của Quốc hội về Hải quan
  4. Luật số 55/2014/QH13 ngày 23/06/2014 của Quốc hội về Bảo vệ Môi trường
  5. Luật số 50/2010/QH12 ngày 17/06/2010 của Quốc Hội về Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả
  6. Luật số 57/2010/QH12 ngày 15/11/2010 của Quốc Hội về Thuế bảo vệ môi trường
  7. Luật số 15/2012/QH13 của Quốc Hội về xử lý vi phạm hành chính.

C. Các Nghị định, thông tư liên quan

  1. Nghị định số 73/2011/NĐ-CP ngày 24/08/2011 của Chính Phủ về Quy định xử phạt vi phạm hành chính về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả
  2. Quy định số 03/2013/QĐ-TTg ngày 14/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ về danh mục phương tiện, thiết bị phải dán nhãn năng lượng, áp dụng mức hiệu suất năng lượng tối thiểu và lộ trình thực hiện
  3. Nghị định số 21/2011/NĐ-CP ngày 29/03/2011 của Chính Phủ về Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả
  4. Nghị định số 134/2013/NĐ-CP ngày 17/10/2013 của Chính Phủ về Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực, an toàn đập thủy điện, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả
  5. Quyết định số 588 /QĐ-TCMT ngày 18/06/2014 của Tổng Cục Môi trường về Về việc ban hành các Hướng dẫn kỹ thuật về kiểm soát phát thải hóa chất nguy hại vào môi trường
  6. Quyết định số 79/2007/QĐ-TTg ngày 31/05/2007 của Thủ tướng Chính phủ về Kế hoạch hành động quốc gia về Đa dạng sinh học đến năm 2010và định hướng đến năm 2020 thực hiện Công ước Đa dạng sinh học và Nghị định thư Cartagena về An toàn sinh học
  7. Nghị định số 175-CP ngày 18/10/1994 của Chính Phủ về Hướng dẫn thi hành luật Bảo vệ môi trường
  8. Nghị định số 121/2004/NĐ-CP ngày 12/05/2004 của Chính Phủ về Quy định về sử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
  9. Quyết định số 31/2014/QĐ-TTg ngày 05/05/2014 của Thủ tướng Chính phủ về Cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án phát điện sử dụng chất thải rắn tại Việt Nam
  10. Thông tư số 47/2011/TTLT-BCT-BTNMT ngày 30/12/2011 của Bộ CT và Bộ TNMT về quy định việc quản lý nhập khẩu, xuất khẩu, tạm nhập tái xuất các chất làm suy giảm tầng ô zôn theo quy định của nghị định thư montreal vê các chất làm suy giảm o- zon
  11. Thông tư số 08/2012/TT-BCT ngày 09/04/2012 ngày 09/04/2012 của Bộ Công Thương Ban hành về Danh mục sản phẩm, hàng hóa có khả năng gây mất an toàn thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ CT
  12. Thông tư số 02/2014/TT-BCT ngày 16/01/2014 của Bộ Công thương về Quy định các biện pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả cho các ngành công nghiệp
  13. Thông tư số 08/2006/TT-BTNMT ngày 08/09/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về Hướng dẫn chi tiết thực hiện một số nội dung về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường
  14. Thông tư số 01/2013/TT-BTNMT ngày 28/01/2013 của Bộ Tài nguyên và môi trường về Quy định về phế liệu được phép nhập khẩu để làm nguyên liệu sản xuất;
  15. Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính Quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
  16. Thông tư số 22/2014/TT-BTC ngày 14/2/2014 của Bộ Tài chính quy định về thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thương mại.
  17. Thông tư số 194/2010/TT-BTC ngày 06/12/2010 của Bộ Tài chínhHướng dẫn về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan;thuế xuất khẩu,thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
  18. Thông tư 94/2014/TT-BTC ngày 17/7/2014 của Bộ tài chính quy định về TTHQ, kiểm tra, giám sát hải quan đối với một số loại hàng hóa kinh doanh TNTX, chuyển khẩu và gửi kho ngoại quan; xử lý đối với trường hợp từ chối nhận hàng
  19.  Tổng cục Hải quan, báo cáo các năm 2010, 2011, 2012, 2013
  20. http://www.greencustoms.org/
  21. http://www.monre.gov.vn/


Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *