Chuyên đề 11 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG PHÁN QUYẾT TRƯỚC VÀ THỰC TẾ ÁP DỤNG CỦA HẢI QUAN VIỆT NAM

Chuyên đề 11 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG PHÁN QUYẾT TRƯỚC VÀ THỰC TẾ ÁP DỤNG CỦA HẢI QUAN VIỆT NAM 

Thsĩ. Nguyễn Hữu Trí

CN. Nguyễn Phương Liên

CN. Ngô Thành Hưng

Viện Nghiên cứu Hải quan – Tổng Cục Hải quan

11.1. Cơ sở lý luận về phán quyết trước và hoạt động phán quyết trước của một số nước

11.1.1. Cơ sở lý luận về phán quyết trước

11.1.1.1. Nội dung cơ bản về hoạt động phán quyết trước

a. Khái niệm, bản chất của hoạt động phán quyết trước

Khái niệm: “Phán quyết” theo từ điển tiếng Việt là một quyết định có tính pháp lý buộc người khác phải tuân theo. Phán quyết trước là thuật ngữ ghép, chỉ một quyết định đã được định đoạt trước.

Thuật ngữ “Phán quyết trước hay Xác định trước” được đề cập trong lĩnh vực hải quan là việc một cơ quan hải quan (hoặc cơ quan có thẩm quyền) đưa ra quyết định trước bằng văn bản đối với một vấn đề cụ thể hoặc nghĩa vụ mà doanh nghiệp phải thực hiện, ví dụ như phân loại hàng hóa, trị giá, xuất xứ hàng hóa hoặc ưu đãi đối với hàng hoá dự kiến sẽ xuất khẩu, nhập khẩu.

Phán quyết trước về mã số hàng hóa, xuất xứ và trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được cơ quan hải quan tiến hành thực hiện đối với hàng hóa của doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu trước khi cơ quan hải quan làm thủ tục hải quan để thông quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

Xét về bản chất, mặc dù các nước có quy định khác nhau về phán quyết trước, tuy nhiên những điểm cơ bản của một phán quyết trước thường tương tự nhau bao gồm:

– Phán quyết trước được ban hành theo đề nghị của doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp;

– Yêu cầu về hồ sơ đề nghị phải đáp ứng đầy đủ các quy định, đồng thời có khung thời gian xác định cho việc xem xét, xử lý hồ sơ;

– Có tính ràng buộc pháp lý, ban hành trước khi xuất khẩu hoặc nhập khẩu hàng hóa, dưới dạng văn bản của Cơ quan Hải quan có thẩm quyền;

– Có giá trị trong khoảng thời gian xác định kể từ ngày ban hành.

Cơ quan Hải quan chỉ phải ban hành các Phán quyết trước theo yêu cầu của bên có liên quan, với điều kiện cơ quan Hải quan có được tất cả những thông tin về hàng hóa xuất nhập khẩu theo quy định mà cơ quan Hải quan cho là cần thiết. 

b. Lợi ích và vai trò của hoạt động phán quyết trước trong lĩnh vực hải quan

Công ước Kyoto sửa đổi (Việt Nam đã ký nghị định thư tham gia từ 2008) cũng như các cam kết quốc tế trong khuôn khổ Tổ chức thương mại thế giới, Cộng đồng các nước ASEAN và một số Hiệp định thương mại tự do đều khuyến nghị cơ quan Hải quan cho phép doanh nghiệp được áp dụng cơ chế phân loại trước về mã số, về xác định trị giá tính thuế, về xuất xứ hàng hoá trước khi làm thủ tục cho hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu. Cơ chế này là chuẩn mực quốc tế về tạo thuận lợi thương mại mang lại cho cả doanh nghiệp và hải quan những lợi ích nhất định. Thông báo kết quả Phán quyết trước thể hiện sự hợp tác và xây dựng niềm tin giữa Hải quan và doanh nghiệp, đóng góp vào việc xây dựng quan hệ đối tác, hợp tác, chia sẻ trách nhiệm và cùng đạt mục tiêu của hai bên là tạo thuận lợi và tuân thủ pháp luật.

Lợi ích có được cho Hải quan từ hoạt động Phán quyết trước bao gồm nâng cao năng suất và hiệu quả quản lý nhờ đẩy nhanh tốc độ thông quan hàng hóa, phân bổ nguồn lực hợp lý vào các giai đoạn trước, trong và sau thông quan. Giúp cơ quan Hải quan tăng hiệu quả quản lý khi thực hiện thủ tục thông quan cho hàng xuất nhập khẩu; hạn chế các trường hợp tranh chấp giữa doanh nghiệp và cơ quan Hải quan về việc áp mã, xác định giá tính thuế, xuất xứ hàng hoá khi làm thủ tục thông quan. Hai bên sẽ tiết kiệm được cả thời gian và chi phí quản lý không phải theo đuổi các vụ khiếu nại, kiện tụng kéo dài.

Bên cạnh đó, hoạt động phán quyết trước góp phần nâng cao trách nhiệm của cán bộ Hải quan liên quan đến quy trình ra phán quyết. Các cán bộ có thẩm quyền ra phán quyết phải đưa ra lý do của phán quyết và logic được sử dụng để làm căn cứ cho việc đưa ra phán quyết. Tránh tình trạng lợi dụng Phán quyết trước làm cản trở hoạt động thương mại. Và đặc biệt kết quả thông báo của Phán quyết trước bổ sung cho cơ sở dữ liệu của hệ thống thông quan tự động và việc phân luồng tự động được chính xác hơn.

Đối với doanh nghiệp sẽ căn cứ vào những thông tin được cung cấp trước có tính ràng buộc pháp lý để nghiên cứu thị trường, lập kế hoạch kinh doanh và tính toán lợi nhuận. Điều này làm tăng độ chắc chắn và có thể dự doán được những lợi ích cho các doanh nghiệp khi tham gia các giao dịch thương mại quốc tế trong thời kỳ toàn cầu hóa. Ngoài ra Phán quyết trước giúp cho doanh nghiệp giảm thiểu được thời gian và chi phí thông quan hàng hóa vì hưởng lợi từ quá trình thông quan được nhanh chóng.

11.1.1.2. Quy định về hoạt động phán quyết trước trong lĩnh vực Hải quan

a. Các quy định chung

Công ước Kyoto sửa đổi, Tại Chuẩn mực 9.9 Phụ lục tổng quát của công ước đã quy định: “Cơ quan Hải quan phải ban hành các phán quyết trước mang tính pháp lý theo yêu cầu của bên có liên quan, với điều kiện cơ quan Hải quan có tất cả những thông tin mà họ cho là cần thiết”. 

Công ước Kyoto sửa đổi khuyến nghị cơ quan Hải quan các nước thực hiện phán quyết trước, trong một số Hiệp định thương mại tự do cũng quy định thực hiện phán quyết trước nhằm cung cấp thông tin trước giúp doanh nghiệp chủ động và tạo thuận lợi cho quá trình tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp. Phán quyết trước được cơ quan Hải quan đưa ra theo đề nghị và dựa trên thông tin về hàng hóa xuất nhập khẩu do doanh nghiệp cung cấp. Một số nước đưa nội dung phán quyết trước đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thành quy định bắt buộc trong luật, một số nước khác coi đây là một cam kết.

Phán quyết trước về mã số hàng hóa là yêu cầu phổ biến nhất được các doanh nghiệp đưa ra. Tuy nhiên, phán quyết trước về xuất xứ và trị giá hàng hóa ngày nay cũng khá phổ biến. Thủ tục đưa ra phán quyết trước đối với các hình thức phán quyết trước về mã số, xuất xứ và trị giá hàng hóa đều tương tự nhau. Theo quy định, để nhận được phán quyết trước doanh nghiệp phải cung cấp cho cơ quan hải quan các thông tin tối thiểu sau:

– Tên và địa chỉ của người nộp đề nghị;

– Toàn bộ thông tin chi tiết về hàng hóa như:

+ Mô tả về thương mại;

+ Đặc tính tự nhiên, cấu tạo, chất lượng;

+ Trị giá, xuất xứ, mục đích sử dụng cuối cùng;

+ Đóng gói và quá trình sản xuất (nếu cần thiết);

+ Thông tin về các lần nhập khẩu trước đó của người nộp đề nghị đối với hàng hóa cùng loại cùng với thuế suất đã được áp dụng;

+ Đơn vị Hải quan nơi hàng hóa sẽ được thông quan.

Cơ quan hải quan có thể (nếu cần thiết) yêu cầu doanh nghiệp đề nghị phán quyết trước gửi mẫu hàng hóa, nếu là mặt hàng phù hợp để lấy mẫu, hoặc gửi ảnh, kế hoạch, bản vẽ hoặc bản mô tả đầy đủ và chính xác về hàng hóa.

Hiệp định Hải quan ASEAN, Điều 34 quy định: “trong phạm vi luật pháp cho phép, các cơ quan hải quan của các nước thành viên sẽ quy định bằng văn bản về các quyết định trước phù hợp với các điều khoản quy định tại  Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN”. 

b. Các quy định về phân loại hàng hóa trước

b1. Nguyên tắc xác định trước mã số hàng hóa xuất nhập khẩu

Để thực hiện xác định trước mã số hàng hóa xuất nhập khẩu, cơ quan phân loại trước tuân thủ các nguyên tắc sau:

– Phân loại hàng hoá trước khi xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá được áp dụng trong trường hợp người khai hải quan chưa làm thủ tục hải quan xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá;

– Khi phân loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu phải dựa vào:

+ Danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; Biểu thuế nhập; Biểu thuế xuất khẩu.

+ 6 Quy tắc tổng quát của Công ước HS;

+ Chú giải bắt buộc của Công ước HS;

+ Chú giải chi tiết Hệ thống hài hoà mô tả và mã hoá hàng hoá (HS).

– Tuỳ theo từng trường hợp cụ thể của hàng hoá mà dựa vào một hay nhiều căn cứ dưới đây để phân loại:

+  Danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; Biểu thuế nhập khẩu; Biểu thuế xuất khẩu.   

+ Thực tế hàng hoá;

+ Tài liệu kỹ thuật, mô tả chi tiết hàng hoá, catalogue minh hoạ hàng hoá;

+ Kết quả phân tích, giám định hàng hoá.

b2. Phân loại trước trong trường hợp có mẫu hàng

Để thực hiện phân loại trước hàng hóa xuất nhập khẩu người khai hải quan có yêu cầu phân loại trước phải gửi phiếu yêu cầu kèm mẫu hàng và tài liệu liên quan cho Cơ quan Hải quan nơi dự kiến sẽ làm thủ tục hải quan để thực hiện phân loại.

Cơ quan Hải quan tiếp nhận yêu cầu trên, thực hiện việc phân loại và ra Thông báo kết quả phân loại cho người khai hải quan.

Trường hợp không phân loại được thì Cơ quan Hải quan đề nghị cơ quan có thẩm quyền phân tích và thực hiện phân loại.

* Hiệu lực của thông báo kết quả phân loại trước    

Thông báo kết quả phân loại trước có hiệu lực thực hiện trong thời gian nhất định kể từ ngày cơ quan hải quan ra Thông báo. Quá thời hạn trên mà người khai hải quan không làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá thì Thông báo đó không còn giá trị thực hiện.

 Thời gian có hiệu lực về kết quả xác định trước mã số hàng hóa xuất nhập khẩu đối với các loại hàng hóa khác nhau có thể sẽ khác nhau. Đối với những mặt hàng nhanh thay đổi, dễ biến chất thì thời hạn hiệu lực phải ngắn hơn (tuỳ tính chất mặt hàng và điều kiện bảo quản mẫu, cơ quan Hải quan thực hiện việc phân loại quyết định thời hạn hiệu lực của thông báo phù hợp đối với từng trường hợp cụ thể).

 * Điều kiện áp dụng kết quả phân loại trước

Hàng hóa được áp dụng kết quả xác định trước mã số phải đáp ứng các điều kiện sau:

– Mẫu lưu còn nguyên trạng. Mẫu này có thể được lưu tại cơ quan Hải quan hoặc tại doanh nghiệp hay kho của người vận tải nếu đáp ứng yêu cầu niêm phong hải quan và được cơ quan Hải quan chấp nhận.

 – Thực tế hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu được Hải quan cửa khẩu xác định đúng là hàng hoá đã được phân loại trước;

– Trong thời gian từ khi cơ quan hải quan Thông báo kết quả phân loại trước đến khi người khai hải quan làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu thực tế hàng hoá, quy định của pháp luật về phân loại hàng hoá đối với mặt hàng phân loại trước không có sự thay đổi.

– Cơ quan hải quan không có phát hiện về sai sót hoặc khai báo không trung thực của người khai hải quan hoặc sai sót của cơ quan hải quan trong phân loại trước.

 Đối với hàng có khối lượng, kích thước lớn, hàng có yêu cầu bảo quản đặc biệt cơ quan hải quan thực hiện như sau:

– Sau khi chấp nhận đề nghị của người khai hải quan và các tài liệu, thông tin cần thiết cho việc phân loại hàng hoá. Chi cục Hải quan cử kiểm hoá viên trực tiếp kiểm tra, chụp ảnh hàng hoá và thực hiện phân loại hàng hoá, thông báo kết quả phân loại cho người khai hải quan.

– Trường hợp không phân loại được thì cơ quan Hải quan đề nghị cơ quan có thẩm quyền thực hiện phân loại.

b3. Phân loại trước trong trường hợp không có mẫu hàng

Đối với hàng hóa không có hàng mẫu, Thủ tục đề nghị phân loại trước thực hiện như đối với trường hợp có mẫu hàng. Trường hợp này, người khai hải quan cần mô tả chi tiết hàng hoá tại phiếu yêu cầu phân loại trước và cung cấp tài liệu, thông tin cần thiết cho Chi cục Hải quan. Nếu không đủ cơ sở phân loại, Chi cục Hải quan có quyền từ chối yêu cầu của người khai hải quan.

Trường hợp không có mẫu hàng lưu tại cơ quan hải quan, Thông báo kết quả phân loại trước trong trường hợp không có hàng mẫu chỉ có giá trị tham khảo khi làm thủ tục hải quan.

b4. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp yêu cầu xác định trước mã số

Doanh nghiệp có yêu cầu xác định trước mã số hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có quyền và nghĩa vụ sau:

Được cơ quan hải quan cung cấp thông tin, xem hàng hoặc lấy mẫu hàng phục vụ việc phân loại hàng hoá và khai báo hải quan;

 Được cơ quan hải quan hướng dẫn phân loại hàng hoá khi có yêu cầu;

– Được quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật; 

– Thực hiện phân loại hàng hoá và khai báo hải quan theo đúng quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả phân loại hàng hoá của mình.

– Thực hiện quyết định phân loại hàng hoá của cơ quan hải quan trong quá trình làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá;

– Cung cấp mẫu hàng, chứng từ, tài liệu liên quan để phục vụ mục đích phân loại hàng hoá theo yêu cầu của cơ quan hải quan.

c. Các quy định về xác định trước trị giá

c1. Nguyên tắc xác định trước trị giá hàng hóa xuất nhập khẩu

Để thực hiện xác định trước trị giá hàng hóa xuất nhập khẩu, cơ quan xác định trước tuân thủ các nguyên tắc sau:

– Xác định trước trị giá tính thuế đối với hàng hoá trước khi xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá được áp dụng trong trường hợp người khai hải quan chưa làm thủ tục hải quan xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá;

 – Khi xác định trị giá hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu phải tuân thủ các phương pháp xác định trị giá hải quan theo quy định của Hiệp định thực thi Điều VII Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT 1994. Xác định trước trị giá tính thuế là “trị giá giao dịch”, ngoài ra các nội dung khác, quy định về sự điều chỉnh giá thanh toán thực tế hoặc giá phải thanh toán, trong trường hợp người mua chịu một số chi phí cấu thành cụ thể nào đó, được coi là đã tạo thành một phần của giá trị mà hải quan dùng để tính thuế, nhưng hiện chưa tính vào giá thực tế đã thanh toán hoặc phải thanh toán cho hàng nhập khẩu. Trị giao dịch bao gồm cả các chi phí mà người mua thanh toán cho người bán dưới dạng hàng hóa hay dịch vụ cụ thể nào đó chứ không phải dưới dạng tiền. Nếu không xác định được trị giá bằng phương pháp xác định trị giá giao dịch, ta thực hiện xác định trị giá hải quan bằng các phương pháp khác tuần tự theo quy định tại Hiệp định trị giá hải quan.

– Hợp đồng mua bán hàng hóa cần xác định trước trị giá, trong đó xác định chủng loại, số lượng hàng hóa;

 c2. Điều kiện xác định trước trị giá đối với hàng hóa xuất nhập khẩu

Các trường hợp và điều kiện xác định trước trị giá đối với hàng hóa xuất nhập khẩu bao gồm:

– Hàng hóa dự kiến xác định trước trị giá phải là hàng hóa chưa làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu;

– Phải xác định truớc phương pháp xác định trị giá tính thuế, các khoản điều chỉnh cộng, điều chỉnh trừ đối với lô hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

– Doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức yêu cầu xác định trước trị giá phải có thời gian hoạt động xuất nhập khẩu nhất định và đáp ứng các điều kiện:

+ Không bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới;

+ Không bị xử phạt về hành vi trốn thuế, gian lận thuế trong hoạt động xuất nhập khẩu.

Đã thực hiện thanh toán qua ngân hàng;

* Hiệu lực của thông báo kết quả xác định trị giá trước    

Thông báo kết quả xác định trước có hiệu lực thực hiện trong thời gian nhất định kể từ ngày cơ quan hải quan ra Thông báo. Quá thời hạn trên mà người khai hải quan không làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá thì Thông báo đó không còn giá trị thực hiện.

Thời gian có hiệu lực về kết quả xác định trước trị giá tính thuế hàng hóa xuất nhập khẩu đối với các loại hàng hóa có thể sẽ khác nhau. Đối với những mặt hàng nhanh thay đổi, dễ biến chất thì thời hạn hiệu lực phải ngắn hơn.

* Điều kiện áp dụng kết quả xác định trị giá trước

Hàng hóa được áp dụng kết quả xác định trước trị giá tính thuế phải đáp ứng các điều kiện sau:

– Thực tế hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu được Hải quan cửa khẩu xác định đúng là hàng hoá đã được xác định trước trị giá;

– Trong thời gian từ khi cơ quan hải quan Thông báo kết quả xác định trị giá trước đến khi người khai hải quan làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu thực tế hàng hoá, quy định của pháp luật đối với mặt hàng xác định trước trị giá không  không có sự thay đổi.

– Cơ quan hải quan không có phát hiện về sai sót hoặc khai báo không trung thực của người khai hải quan hoặc sai sót của cơ quan hải quan trong xác định trước trị giá.

c3. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp yêu cầu xác định trước trị giá

Doanh nghiệp có yêu cầu xác định trước trị giá hàng hóa xuất nhập khẩu có quyền và nghĩa vụ sau:

– Được cơ quan hải quan cung cấp thông tin, xem hàng hoặc lấy mẫu hàng phục vụ việc xác định trị giá hàng hoá và khai báo hải quan;

– Được cơ quan hải quan hướng dẫn xác định trị giá hàng hoá nếu yêu cầu;

– Được quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật; 

– Thực hiện xác định trị giá và khai báo hải quan theo đúng quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả xác định trị giá hàng hoá của mình.

– Thực hiện quyết định xác định trước trị giá hàng hoá của cơ quan hải quan trong quá trình làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá;

– Cung cấp chứng từ, tài liệu liên quan để phục vụ mục đích xác định trị giá hàng hoá theo yêu cầu của cơ quan hải quan.

d. Các quy định về xác định trước xuất xứ

d1. Nguyên tắc xác định trước xuất xứ của hàng hóa nhập khẩu

Để thực hiện xác định trước xuất xứ hàng hóa nhập khẩu, cơ quan hải quan tuân thủ các nguyên tắc sau:

– Xác định trước xuất xứ đối với hàng hoá nhập khẩu được áp dụng trong trường hợp người khai hải quan chưa làm thủ tục hải quan nhập khẩu hàng hoá;

 – Khi xác định trước xuất xứ hàng hoá nhập khẩu phải tuân thủ các quy định về xác định xuất xứ hàng hóa gồm:

+ Xác định xuất xứ hàng hóa nhập khẩu theo Quy tắc xuất xứ ưu đãi được áp dụng theo các Điều ước quốc tế và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan quy định chi tiết việc thi hành các Điều ước này;

+ Xác định xuất xứ hàng hóa nhập khẩu theo quy tắc xuất xứ không ưu đãi theo quy định của Hiệp định quy tắc xuất xứ  hoặc các Hiệp định thương mại đa phương hoặc song phương. Hàng hoá được coi là có xuất xứ khi thuộc một trong các trường hợp sau: Xuất xứ thuần tuý; Xuất xứ không thuần tuý.

–  Hợp đồng mua bán hàng hóa nhập khẩu cần xác định trước xuất xứ, trong đó xác định chủng loại, số lượng hàng hóa;

d2. Điều kiện xác định trước xuất xứ đối với hàng hóa nhập khẩu

Các trường hợp và điều kiện xác định trước xuất xứ đối với hàng hóa nhập khẩu bao gồm:

– Hàng hóa dự kiến xác định trước xuất xứ phải là hàng hóa mà trước đó doanh nghiệp chưa từng nhập khẩu từ nơi định xác định trước xuất xứ;

– Người xin xác nhận trước xuất xứ phải cung cấp mô tả chi tiết về hàng hóa và tất cả các thông tin liên quan cần thiết về lô hàng cần xác định trước và cung cấp các thông tin bổ sung trong một thời gian nhất định;

– Căn cứ trên cơ sở thực tế và hoàn cảnh mà người xin cấp trình bày và các thông tin liên quan khác của các nhà hoạch định chính sách.

* Hiệu lực của thông báo kết quả xác định trước xuất xứ    

Thông báo kết quả xác định trước xuất xứ có hiệu lực thực hiện trong thời gian nhất định kể từ ngày cơ quan hải quan ra Thông báo. Quá thời hạn trên mà người khai hải quan không làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá thì Thông báo đó không còn giá trị thực hiện.

Thời gian có hiệu lực về kết quả xác định trước xuất xứ hàng hóa xuất nhập khẩu đối với các loại hàng hóa có thể sẽ khác nhau. Đối với những mặt hàng nhanh thay đổi, dễ biến chất thì thời hạn hiệu lực phải ngắn hơn.

* Điều kiện áp dụng kết quả xác định trước xuất xứ

Hàng hóa được áp dụng kết quả xác định trước xuất xứ phải đáp ứng các điều kiện sau:

 – Thực tế hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu được Hải quan cửa khẩu xác định đúng là hàng hoá đã được xác định trước xuất xứ;

– Trong thời gian từ khi cơ quan hải quan Thông báo kết quả xác định xuất xứ trước đến khi người khai hải quan làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu thực tế hàng hoá, quy định của pháp luật đối với mặt hàng xác định trước xuất xứ không không có sự thay đổi về các tiêu chí xác định xuất xứ như: chuyển đổi mã số, phần trăm giá trị gia tăng, gia công chế biến cơ bản….

– Cơ quan hải quan không có phát hiện về sai sót hoặc khai báo không trung thực của người khai hải quan hoặc sai sót của cơ quan hải quan trong xác định trước trị xuất xứ.

d3. Quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp yêu cầu xác định trước xuất xứ

Doanh nghiệp có yêu cầu xác định trước xuất xứ hàng hóa xuất nhập khẩu có quyền và nghĩa vụ sau:

– Được cơ quan hải quan cung cấp thông tin, xem hàng hoặc lấy mẫu hàng phục vụ việc xác định xuất xứ hàng hoá và khai báo hải quan;

– Được cơ quan hải quan hướng dẫn xác định xuất xứ khi có yêu cầu;

– Được quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật; 

– Thực hiện xác định xuất xứ và khai báo hải quan theo đúng quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả xác định xuất xứ hàng hoá của mình.

– Thực hiện quyết định xác định trước xuất xứ hàng hoá của cơ quan hải quan trong quá trình làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá;

– Cung cấp chứng từ, tài liệu liên quan để phục vụ mục đích xác định xuất xứ hàng hoá theo yêu cầu của cơ quan hải quan.

e. Các quy định về khiếu nại

Người khai hải quan không nhất trí với kết luận xác định trước về phân loại hàng hóa, trị giá tính thuế hoặc xuất xứ  hàng hóa của cơ quan hải quan thì có  quyền khiếu nại, cụ thể như sau:

– Không đồng ý với kết luận xác định trước của cơ quan Hải quan thì làm văn bản đề nghị cơ quan Hải quan làm thủ tục lô hàng xem xét lại kết quả xác định trước của lô hàng xuất nhập khẩu;

– Không đồng ý với giải quyết khiếu nại của cơ quan Hải quan làm thủ tục xuất nhập khẩu thì đề nghị cơ quan Hải quan cấp trên liên quan giải quyết;

– Không nhất trí với giải quyết của cơ quan hải quan cao nhất thì làm văn bản đề nghị cơ quan chủ quản lực lượng Hải quan giải quyết. Quyết định của Cơ quan chủ quản lực lượng Hải quan là quyết định cuối cùng;

– Trường hợp không nhất trí với kết quả giải quyết khiếu nại trên đây thì có quyền khởi kiện tại toà án theo quy định của luật pháp quốc gia.

11.1.2. Hoạt động phán quyết trước của Hải quan một số nước

11.1.2.1. Hải quan Mỹ

Hoạt động phán quyết trước của Hải quan Mỹ được quy định tại khoản 177 chương 19 của Luật liên bang. Quy định này được áp dụng cho các hoạt động xuất nhập khẩu trong khu vực NAFTA (Mỹ, Canada, Mexico).

Hải quan Mỹ khuyến khích các hoạt động nhập khẩu vào Mỹ từ các nước NAFTA gửi thư yêu cầu xác định trước xuất xứ, trị giá và phân loại hàng hoá. Đơn yêu cầu cần phải theo mẫu quy định, được viết bằng tiếng Anh bao gồm đẩy đủ các yếu tố như là tên, địa chỉ, thông tin xác nhận của các bên liên quan, hành trình vận chuyển của hàng hoá, miêu tả chi tiết hàng hoá cũng như yêu cầu cụ thể về mục đích xác định trước. Hải quan Mỹ có thể yêu cầu doanh nghiệp gửi mẫu hàng hoá đính kèm để tiến hàng kiểm tra. Trong trường hợp cần thiết giải trình rõ ràng, doanh nghiệp có thể yêu cầu được gặp trực tiếp cán bộ Hải quan. Hải quan Mỹ sẽ xem xét và tổ chức một buổi gặp mặt với doanh nghiệp nếu cần.

Trong vòng 120 ngày kể từ khi nhận được đơn yêu cầu xác định trước, Hải quan cần trả lời bằng văn bản Tiếng anh nêu rõ quyết định và các lý lẽ của mình. Các quyết định phán quyết trước của Hải quan Mỹ được lưu trữ cẩn thận và công khai minh bạch.

Hải quan Mỹ lưu trữ lại các quyết định phán quyết trước từ năm 1989, và đã thành lập cơ sở lưu trữ điện tử (CROSS) để tiện cho việc tra cứu. Bất cứ người dùng nào có thể truy cập dễ dàng các quyết định phán quyết trước bằng các sử dụng các từ khoá liên quan đến thông tin cần tìm. Cơ sở dữ liệu được cập nhật liên tục và tính đến tháng 01/2014 có 180.562 phán quyết trước.

Đối với Hải quan Mỹ, các Thông báo phán quyết trước đều có giá trị pháp lý để làm thủ tục hải quan.

11.1.2.2. Hải quan Úc

Việc xây dựng và thực hiện một hệ thống phán quyết trước sẽ mang đến sự chắc chắn, minh bạch và khả năng dự đoán cho doanh nghiệp và các cơ quan liên quan. Trong thời gian vừa qua, Hải quan Úc đã gặt hái được một số thành công về phán quyết trước, đặc biệt trong lĩnh vực tư vấn trị giá, phân loại hàng hóa và xuất xứ. Tại Úc, dịch vụ phán quyết trước luôn sẵn sàng đối với các nhà nhập khẩu của Úc, các nhà xuất khẩu nước ngoài và đại lý của họ. Nguồn nhân lực của Hải quan Úc dành cho việc ban hành phán quyết trước gồm có 5 công chức cho việc ban hành phán quyết trước vể trị giá và xuất xứ, 22 công chức cho việc ban hành phán quyết trước về phân loại hàng hóa. Từ 01/7/2010 đến 30/6/2011, Hải quan Úc đã ban hành 2918 phán quyết trước về phân loại hàng hóa, 42 phán quyết trước về xuất xứ và 89 phán quyết trước về trị giá. Từ 01/7/2011 đén 30/6/2012, Hải quan Úc đã ban hành 3105 phán quyết trước về phân loại hàng hóa, về xuất xứ và trị giá hải quan trong đó có 81 trường hợp doanh nghiệp đề nghị xem xét lại. Còn từ 01/7/2012 đến 30/6/2013, Hải quan Úc đã ban hành 2499 phán quyết trước cả về phân loại hàng hóa, về xuất xứ và trị giá hải quan.

a. Thủ tục phán quyết trước về trị giá (VA)

 Tại Úc, khi doanh nghiệp muốn xin một phán quyết trước về trị giá, doanh nghiệp đó cần gửi một đơn xin tư vấn trị giá (VA) tới cơ quan Hải quan. Đơn có thể được gửi bằng thư điện tử thông qua việc nhập thông tin trực tiếp vào cơ sở dữ liệu máy chủ Hải quan (Hệ thống TAPIN) hoặc bằng văn bản theo mẫu B174 được đăng tải trên website của Hải quan Úc. Các thông tin xin tư vấn được nhập thủ công vào hệ thống TAPIN do cán bộ Hải quan thực hiện. Mỗi đơn xin tư vấn cần phải có chứng từ đi kèm gồm có mô tả hàng hoá; thông tin của các bên liên quan đối với hàng hóa nhập khẩu; đề xuất hướng xử lý đối với vấn đề trị giá và lý do đưa ra cách xử lý; các thông tin về giao dịch và các khoản thuế phải nộp. 

Theo quy định, mỗi một đơn xin VA chỉ được xem xét giải quyết một nội dung trị giá. Người nộp đơn có thể rút đơn nộp tại bất kỳ thời điểm nào trước khi cơ quan Hải quan ra phán quyết cuối cùng. Khi cần thêm thông tin yêu cầu để đưa ra kết luận tư vấn trị giá, Hải quan có thể yêu cầu doanh nghiệp cung cấp thêm thông tin trong vòng 28 ngày. Nếu người nộp đơn không cung cấp thông tin thêm theo yêu cầu, hoặc yêu cầu gia hạn thì Hải quan sẽ huỷ đơn nộp.

Nhằm cung cấp một dịch vụ hiệu quả cho nhà nhập khẩu, Hải quan Úc giải quyết tất cả các đơn nộp trong vòng 30 ngày trong trường hợp người nộp đơn không phải gửi thêm thông tin bổ sung. Đối với các vấn đề trị giá phức tạp, Hải quan có thể cần hơn 30 ngày để đưa ra tư vấn trị giá cuối cùng. Nếu tư vấn trị giá không thể hoàn thành trong thời gian 30 ngày, Hải quan phải thông báo cho người nộp đơn về thời gian gia hạn.  

Mỗi phán quyết đối với một đơn nộp dù chấp nhận hay từ chối, đều bao gồm lý do đưa ra phán quyết và nội dung trích dẫn Luật Hải quan làm cơ sở. Phán quyết này được chuyển đến cho người nộp đơn bằng văn bản và được lưu lại trong TAPIN. Tư vấn có giá trị trong toàn lãnh thổ nước Úc trong thời hạn 5 năm kể từ ngày thông báo VA. Sau 5 năm, VA tự động bị huỷ. Nếu doanh nghiệp cần một phán quyết mới thì doanh nghiệp phải nộp một tờ đơn mới.

Hải quan Úc đưa ra VA với điều kiện doanh nghiệp cung cấp thông tin chính xác và không sai lệch và cung cấp đầy đủ các chứng từ đi kèm. Phán quyết trước mang tính rằng buộc nội bộ. Việc này đảm bảo với doanh nghiệp rằng phán quyết trước không bị thay đổi tuỳ tiện. Hải quan có thể thu hồi hoặc sửa đổi VA trong thời hạn 5 năm trong một số trường hợp cụ thể như: sửa đổi, bổ sung hệ thống luật pháp liên quan đến trị giá; thông tin do doanh nghiệp cung cấp không chính xác hoặc các thông tin liên quan bị thay đổi; do Hải quan thay đổi quan điểm của mình mặc dù việc này rất ít khi xảy ra và có thể bắt nguồn từ tiền lệ pháp lý hoặc tiếp nhận thông tin bổ sung. 

Khi người nộp đơn xin VA không hài lòng với phán quyết thì có thể yêu cầu Văn phòng trung ương rà soát lại phán quyết. Khi đó, người nộp đơn phải gửi một đơn bằng văn bản và nêu đầy đủ lý do tại sao không đồng ý với phán quyết. Việc rà soát sẽ chỉ căn cứ những thông tin đã được cung cấp trước đó của người nộp đơn khi đưa ra phán quyết ban đầu. Nếu người nộp đơn xin VA vẫn không hài lòng với phán quyết đã rà soát thì người nộp đơn có thể đưa vấn đề này ra giải quyết tại Tài phán Hành chính hoặc tòa án có thẩm quyền xét xử.

b. Thủ tục áp dụng cho phán quyết về phân loại hàng hóa (TA)

Tư vấn phân loại hàng hóa (TA) là phán quyết mang tính ràng buộc do Cơ quan Hải quan ban hành theo yêu cầu của doanh nghiệp hoặc đại lý của họ liên quan đến việc phân loại một hàng hoá cụ thể. Thủ tục để đưa ra tư vấn phân loại hàng hóa được thực hiện giống như tư vấn trị giá. Doanh nghiệp hoặc đại lý của họ có thể nộp đơn xin TA bằng phương pháp điện tử thông qua TAPIN; hoặc bằng văn bản, sử dụng mẫu B102 có trên website Hải quan. Các chứng từ đi kèm với đơn xin tư vấn gồm có bản mô tả đầy đủ về hàng hóa, thành phần của hàng hóa, mô tả ngắn gọn quy trình sản xuất hàng hóa, đóng gói hàng hóa, dự kiến sử dụng hàng hóa, hình ảnh hoặc biểu đồ của nhà sản xuất về hàng hóa…

Khi Hải quan đưa ra một phán quyết trước, kết quả phải được thông báo cho doanh nghiệp hoặc đại lý thông qua việc hoàn trả bản sao bằng giấy hoặc thông báo qua TAPIN. Cũng giống như VA, TA vẫn có ràng buộc pháp lý về hải quan trong vòng 5 năm kể từ ngày tư vấn.

Điều kiện để Hải quan có thể thu hồi hoặc sửa đổi TA được quy định tại “Cẩm nang Hướng dẫn nghiệp vụ Hải quan” của Hải quan Úc. Các trường hợp thu hồi hoặc sửa đổi gồm có sự thay đổi về hệ thống pháp luật liên quan đến nội dung tư vấn và thông tin cung cấp cho Hải quan không chính xác hoặc Hải quan thay đổi quan điểm của mình. Khi người nộp đơn xin TA không hài lòng với phán quyết của Hải quan, thì thủ tục xin rà soát, xem xét lại phán quyết được thực hiện giống như tư vấn về trị giá.

c. Thủ tục áp dụng cho phán quyết về xuất xứ (OA)

Hải quan Úc cung cấp phán quyết trước các vấn đề về xuất xứ theo yêu cầu thông qua các văn bản. Tư vấn xuất xứ (OA) hỗ trợ nhập khẩu, sản xuất và xuất khẩu về các vấn đề cụ thể liên quan đến xuất xứ hàng hoá của doanh nghiệp cho mục đích xác định đủ điều kiện áp dụng thuế suất ưu đãi đối với hàng hóa nhập khẩu vào Úc. Các thông tin mà doanh nghiệp xin cấp OA phải cung cấp cho Hải quan gồm có các chứng từ liên quan đến nguồn gốc hàng hóa; một tờ khai chứa đầy đủ tất cả các thông tin liên quan đến việc nhập khẩu, trong đó các thông tin được trình bày là chính xác và đầy đủ; tên, địa chỉ và các thông tin xác nhận khác của tất cả các bên liên quan; bản sao của bất kỳ OA, TA hoặc VA đã được ban hành liên quan đến hàng hoá nhập khẩu…

Quyết định của Hải quan Úc đưa ra dựa trên tờ khai và những tài liệu đi kèm trong đơn xin OA. Tương tự như VA và TA, OA có hiệu lực trong toàn lãnh thổ nước Úc trong vòng 5 năm kể từ ngày Hải quan Úc phát hành OA. Sau 5 năm, OA sẽ tự động hủy bỏ. Nếu doanh nghiệp cần một phán quyết mới thì doanh nghiệp phải nộp một tờ đơn mới. Thủ tục để đưa ra tư vấn xuất xứ sử dụng mẫu được đăng tải trên website Hải quan. Trong những mối quan hệ với các nước khác nhau, Úc sử dụng những mẫu OA khác nhau như đối với Hiệp định thương mại tự do Úc – Mỹ (AUSFTA) sử dụng mẫu B178, với Hiệp định thương mại tự do Thái – Úc (TAFTA) là mẫu B184, còn đối với tất cả các nước còn lại sử dụng mẫu B659. Trong quá trình xử lý một OA, vào bất kì lúc nào, Hải quan Úc có thể yêu cầu thông tin bổ sung cần thiết để đánh giá đơn xin tư vấn. Khi người nộp đơn xin OA không hài lòng với phán quyết, đầu tiên người nộp đơn nên thảo luận với người ra quyết định ban hành OA. Việc rà soát sẽ chỉ căn cứ dựa trên những thông tin đã được cung cấp trước đó của người nộp đơn khi đưa ra phán quyết ban đầu. Nếu người nộp đơn xin OA vẫn không đồng ý với phán quyết thì người nộp đơn có thể yêu cầu kháng cáo vấn đề này đến Tài phán Hành chính hoặc tòa án có thẩm quyền xét xử.

 d. Lợi ích khi thực hiện phán quyết trước

Hoạt động phán quyết trước về xác định trị giá, phân loại mã số và xuất xứ hàng hóa mang lại nhiều lợi ích cho cả Hải quan và nhà nhập khẩu trong việc xử lý đối với hàng hoá xuất nhập khẩu. Trước hết phải kể đến góp phần nâng cao trách nhiệm của cán bộ hải quan liên quan đến quy trình ra phán quyết. Các cán bộ có thẩm quyền ra phán quyết phải đưa ra lý do và logic được sử dụng để làm căn cứ cho việc đưa ra phán quyết. Hệ thống phán quyết trước có sẵn trong TAPIN giúp cho Hải quan xử lý hàng hóa nhập khẩu đồng bộ và thống nhất. Từ đó, giúp cơ quan hải quan rút ngắn thời gian đưa ra phán quyết. Bên cạnh đó, Hải quan Úc rất chú trọng đến vấn đề bảo mật các phán quyết trước. Cơ quan Hải quan cần phân biệt rõ giữa bí mật thương mại và nguyên tắc minh bạch. Quá trình ra quyết định liên quan đến việc ban hành một phán quyết trước cần phải đảm bảo tính minh bạch và bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp xin phán quyết trước. Tuy nhiên, các cơ quan chức năng cần phải bảo mật các thông tin nhạy cảm về thương mại. Nhìn chung, các cơ quan chức năng bị ràng buộc bởi các quy định pháp luật là không được tiết lộ thông tin có thể gây tổn hại đến lợi ích của tổ chức, cá nhân hay thương mại. Do bản chất đặc thù và nhạy cảm của thông tin do các bên xin phán quyết trước cung cấp, không được tiết lộ chi tiết của phán quyết trước cho bất kỳ bên nào khác ngoài bên xin phán quyết trước. Cơ quan Hải quan có thể ban hành các phán quyết chung có ứng dụng tổng thể cho tất cả các doanh nghiệp và các phán quyết trước này có tính pháp lý để các doanh nghiệp làm thủ tục hải quan.

Hải quan Úc cho rằng để thực hiện tốt hệ thống phán quyết trước, cơ quan Hải quan cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:

(i) Các phán quyết trước cần được ban hành dưới dạng văn bản;

(ii) Các phán quyết trước phải được gắn với thẩm quyền ban hành;

(iii) Các phán quyết trước cần có hiệu lực trong một thời hạn xác định và cần thông báo cho doanh nghiệp biết. Bên cạnh đó, hệ thống phán quyết trước nên linh hoạt để các cấp có thẩm quyền có thể điều chỉnh hay thu hồi phán quyết trước trong những trường hợp nhất định;

(iv) Doanh nghiệp cần được thông báo bằng văn bản về việc sửa đổi hoặc thu hồi phán quyết trước và lý do thu hồi;

(v) Cơ quan Hải quan cần tạo cơ hội để doanh nghiệp đề nghị xem xét lại phán quyết trước;

(vi) Hệ thống dữ liệu về phán quyết trước cần được lưu trữ thống nhất, duy trì thông tin và xử lý phán quyết trước cần được dễ dàng tiếp cận.

11.1.2.3. Hải quan Nhật thực hiện phán quyết trước về xuất xứ

Nhật Bản đã ký Hiệp định thương mại song phương với nhiều nước khác nhau như với Singapore, Malaysia, Indonesia, Philippines, Thái Lan, Brunei, Mexico, Chile và gần đây Hiệp định Hợp tác Kinh tế toàn diện giữa Việt Nam và Nhật Bản đã được ký kết. Bên cạnh các Hiệp định thương mại song phương, Nhật Bản cũng đã ký Hiệp định về hợp tác kinh tế toàn diện với ASEAN mặc dù đã ký nhiều Hiệp định song phương với các nước ASEAN. Về các vấn đề liên quan đến xuất xứ, mặc dù quy tắc xuất xứ tại các Hiệp định khá tương đồng nhưng mỗi Hiệp định vẫn có những quy định riêng về xuất xứ phụ thuộc vào quá trình đàm phán, trình độ phát triển của nền kinh tế và mức độ tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp, luật pháp quốc gia của các nước đối tác. Bên cạnh việc hưởng ưu đãi tại các Hiệp định song phương, đa phương, Nhật Bản, với tư cách là quốc gia phát triển, cũng dành cho các nước kém phát triển các ưu đãi theo Chương trình ưu đãi phổ cập (GSP) từ năm 1971, Hải quan Nhật Bản cũng xây dựng các quy định liên quan đến kiểm tra xuất xứ hàng hóa áp dụng đối với các nước được hưởng ưu đãi GSP.

a. Quy định về yêu cầu định trước xuất xứ

Hải quan Nhật Bản đã ban hành quy định về xác nhận trước xuất xứ hàng nhập khẩu. Người có yêu cầu xác nhận trước xuất xứ có thể gửi đề nghị xác nhận trước xuất xứ đến cơ quan hải quan thông qua văn bản chính thức hoặc yêu cầu qua các phương tiện điện tử như: điện thoại, internet, hoặc đến trực tiếp cơ quan hải quan để trao đổi. Những yêu cầu của doanh nghiệp được gửi tới các nhân viên Trung tâm điều tra và quản lý xuất xứ (OAI – Origin Administration and Investigation) tại hải quan vùng, các nhân viên này sẽ nghiên cứu và trả lời theo các hình thức sau:

(i) Đối với yêu cầu bằng văn bản

 Hải quan sẽ ban hành văn bản xác nhận trước về xuất xứ có tính ràng buộc và được các đơn vị thông quan sử dụng và được xem xét lại. Văn bản xác nhận trước xuất xứ có giá trị trong vòng 3 năm kể từ ngày ban hành. Thời hạn trả lời những yêu cầu bằng văn bản là 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu. Văn bản này không có giá trị sử dụng khi:

+ Quá thời hạn 3 năm;

+ Mô tả hàng hoá không đúng với hàng hoá đã khai báo để làm thủ tục;

+ Cơ sở ban hành văn bản xác nhận trước xuất xứ đã thay đổi do việc sửa đổi luật hoặc các quy định liên quan; và

+ Văn bản xác nhận trước xuất xứ trái với luật hoặc các quy định liên quan.

(ii) Đối với những yêu cầu thông qua hình thức khác

 Hải quan sẽ không ban hành văn bản chính thức mà chỉ đưa ra các câu trả lời dưới dạng tư vấn, không có giá trị ràng buộc mà chỉ có tính chất tham khảo. Thông thường cơ quan hải quan sẽ trả lời ngay trong ngày những câu hỏi này.

Trong những trường hợp phức tạp, Trung tâm vùng sẽ tham vấn ý kiến với Trung tâm OAI tại Tổng cục để thống nhất trước khi trả lời.

b. Điều kiện được xác định trước xuất xứ

Doanh nghiệp muốn có được thông báo về xác định trước xuất xứ phải đảm bảo các điều kiện sau:

– Hàng hóa cụ thể, không phải những hàng hóa giả định;

– Người yêu cầu sẽ phải nộp tài liệu về phán quyết trước liên quan đến lô hàng cần xác định trước xuất xứ. Ngoài ra, những thông tin bổ sung cũng phải được nộp vào trong quá trình kiểm tra về nội dung yêu cầu;

– Các nội dung khác của yêu cầu không được mâu thuẫn với xuất xứ hàng hóa đã được đưa ra bởi người yêu cầu hoặc những người có liên quan khác. (như một khiếu nại hành chính hoặc một hành động tư pháp với hàng hóa trong tờ khai nhập khẩu).

b1. Thẩm quyền tiếp nhận yêu cầu phán quyết trước

Theo nguyên tắc, yêu cầu phải được chấp nhận tại cơ quan tổng cục Hải quan. Tuy nhiên, trong trường hợp người yêu cầu có trụ sở tại vùng địa phương, có thể được chấp nhận tại cấp hải quan vùng.

b2. Hồ sơ yêu cầu phán quyết trước

Khi doanh nghiệp yêu cầu được xác định trước xuất xứ, doanh nghiệp phải gửi hồ sơ gồm:

– Đơn yêu cầu về Phán quyết trước (Theo mẫu C-1000-2 của Hải quan Nhật bản) bao gồm các thông tin sau:

+ Nội dung của yêu cầu;

+ Địa điểm nhà sản xuất và nhà sản xuất, hình dáng, số serial của hàng hóa, và giải thích chi tiết về hàng hóa;

+  Đơn giá của hàng hóa trong yêu cầu;

+  Cơ quan Hải quan nơi tờ khai nhập khẩu sẽ được nộp;

+ Ngày hợp đồng có hiệu lực, ngày nhập khẩu có hiệu lực, số lượng, trị giá, yêu cầu đặc biệt, đầu tư, và một kế hoạch cho hợp đồng dài hạn nếu có;

+ Một ví dụ về phán quyết trước trước đó về hàng hóa tương tự hoặc giống hệt trong yêu cầu nếu có;

+ Ý kiến của người yêu cầu về xuất xứ của hàng hóa đang được yêu cầu xác định trước xuất xứ nếu có;

+ Những giấy tờ liên quan đến mẫu hoặc bản sao và bản thay thế hoặc những giấy tờ có liên quan khác như tài liệu dùng để hỏi ý kiến nhằm đồng nhất giữa hàng nhập khẩu và hàng xin xác định trước xuất xứ;

+ Nội dung của yêu cầu và hồi đáp có được công khai hay không. Nếu  “không”, hãy viết lý do (thời gian không công khai không quá 180 ngày).

Trong trường hợp có lý do hợp lý để không sử dụng những hồ sơ chuẩn của phán quyết trước thì có thể sử sụng một mẫu tùy ý bao gồm những điều kiện như trên trừ việc khai báo đơn giá trong yêu cầu.

 Mỗi hồ sơ về Phán quyết trước có yêu cầu chỉ cho một hàng hóa duy nhất trừ trường hợp một bộ hàng hóa.

Vấn đề nhà xưởng và sản xuất ở những quốc gia và thông tin có liên quan của những nguyên liệu không rõ xuất xứ muốn xác nhận xuất xứ hàng hóa sẽ phải mô tả chi tiết hàng hóa. Nếu người yêu cầu có bất cứ ý kiến gì về xuất xứ hàng hóa, hãy để cho người đó đưa ra ý kiến và giải thích căn cứ cho ý kiến đó nếu cần thiết.

Trong trường hợp người yêu cầu không thể cung cấp những thông tin phù hợp về xuất xứ hàng hóa, nhân viên hải quan phải có nghĩa vụ đưa ra những lời khuyên chính xác cho người yêu cầu liên quan đến vấn đề được yêu cầu.

 Nếu người yêu cầu đề nghị “Không” công khai tài liệu Phán quyết trước với các lý do chính đáng, hãy để người đó trình bày lý do với thời hạn (không quá 180 ngày) cho việc không công khai đó. Trong trường hợp công khai và liên quan đến việc phát hành tài liệu Phán quyết trước, nhân viên hải quan phải có nghĩa vụ giải thích cho người yêu cầu một cách chính xác, và đạt được sự thấu hiểu và hợp tác của người đó.

 Nếu người yêu cầu cần thêm bản viết tay trong mục “Giải thích về hàng hóa và quan điểm về xuất xứ”, việc này có thể được sử dụng và bổ sung mẫu tùy ý với bản in kiểm đếm.

b3. Kiểm tra hồ sơ tại thời điểm chấp nhận

Nhân viên Hải quan khi tiếp nhận tài liệu Phán quyết trước phải tiến hành những việc kiểm tra. Nếu các tài liệu được nộp cho các chi cục hải quan, nhân viên Hải quan sẽ phải tham vấn với trung tâm Điều tra và giám sát xuất xứ. Việc kiểm tra phải đảm bảo các yêu cầu sau:

– Phải xác nhận rằng các điều khoản trong hồ sơ Phán quyết trước và các giấy tờ có liên quan không có bất kỳ vi phạm nào;

– Nhân viên Hải quan có thể đề nghị người yêu cầu sửa đổi các điều khoản trong hồ sơ hoặc nộp thêm thông tin bổ sung cho việc hỏi ý kiến, với điều kiện là có quá nhiều điểm chưa rõ ràng trong hồ sơ hoặc nhiều sơ hở trong thông tin. Nhân viên Hải quan không thể chấp nhận những hồ sơ đó cho đến khi người yêu cầu cung cấp những cải thiện cho những điều khoản trong hồ sơ hoặc những thông tin bổ sung đó.

Khi yêu cầu, nhân viên hải quan có thể thông báo bằng lời nói theo đúng nguyên tắc hoặc cũng có thể sử dụng lề hồ sơ Phán quyết trước để viết những yêu cầu này và trả lại nếu cần thiết.

Nhân viên Hải quan phải giải thích các “chú thích” của hồ sơ phán quyết trước nhằm xác nhận hồ sơ nhập khẩu và thời gian hiệu lực của việc nhập khẩu của người yêu cầu nhập khẩu hàng hóa và nhằm truyền đạt một cách chắc chắn những vấn đề dưới đây:

– Câu trả lời cho yêu cầu phán quyết trước này là quan điểm của Hải quan Nhật Bản, vì thế sẽ không áp đặt bất cứ nghĩa vụ nào trong việc khai nhập khẩu đối với người yêu cầu;

– Không thể trả lời những yêu cầu về hàng hóa giả định cũng như những yêu cầu mà không phù hợp với Phán quyết trước;

– Câu trả lời cho yêu cầu sẽ không bị khiếu nại hành chính.

Trong trường hợp người yêu cầu không nhất trí với kết quả Phán quyết trước về xuất xứ thì có quyền khiếu nại.

b4. Phản hồi yêu cầu và công khai

          (i) Phản hồi yêu cầu

Dựa trên bản thảo phản hồi được quyết định ở trên, nhân viên OAI phải đưa ra các thông tin cần thiết vào phần phản hồi về Phán quyết trước và phát hành đến người yêu cầu với bản copy của yêu cầu (bao gồm cả giải thích bổ sung) như một phản hồi chính thống. Trong trường hợp yêu cầu đã được chấp nhận tại chi cục Hải quan, phản hồi sẽ được chuyển đến chi cục Hải quan đó.

Trong trường hợp yêu cầu về Phán quyết trước được giải quyết phù hợp, nhân viên OAI phải gửi bản copy của phản hồi đã được gửi cho người yêu cầu trước đó, cùng với yêu cầu và bản copy các điều khoản hoặc quan điểm người yêu cầu cung cấp về hàng hóa, hoặc bản copy của các điều khoản cần thiết để xác định xuất xứ hàng hóa đến giám đốc trung tâm OAI.

Khi phản hồi được gửi đi, nhân viên OAI sẽ phải giải thích cột “ghi chú” của phản hồi. Nếu được gửi đến người yêu cầu bằng mail, nhân viên OAI sẽ phải thông báo cho người yêu cầu ghi chú được viết ở mặt sau của bản phản hồi.

(ii) Công khai

Nhằm nâng cao sự minh bạch trong việc xác định xuất xứ trước hàng hóa, nội dung của cả hàng hóa và phản hồi sẽ được công khai sau khi phản hồi theo nguyên tắc, và đăng công khai trên website Hải quan cho những người nhập khẩu tìm kiếm thông tin. Tuy nhiên, nếu gặp những trường hợp dưới đây, và người yêu cầu đề nghị nhân viên OAI không công khai thông tin trong một khoảng thời gian nhất định (không quá thời hạn 180 ngày), nhân viên OAI sẽ phải công khai những thông tin đó sau khoảng thời gian nhất định mà người yêu cầu đề nghị. Trong trường hợp nếu có một vài phần của nội dung được xem như có thông tin gây bất lợi cho “Hành động bảo vệ thông tin cá nhân được thực hiện bởi Các cơ quan hành chính”, nhân viên OAI sẽ phải công khai nội dung và giữ bí mật những thông tin đó.

b5. Thay thế và hủy bỏ

Khi bản phản hồi (tối đa ba năm kể từ khi chuyển đi) cần phải thay thế hoặc hủy bỏ bởi những lý do ngoại trừ việc bổ sung quy chế (bao gồm cả hiệp ước, điều luật và các điều khoản), hướng dẫn hành chính, và các Ghi chú Phân loại, các thủ tục  thực hiện như sau:

– Trong trường hợp phản hồi trước đó cần phải được thay thế do thay đổi cấu trúc trong quy chế hoặc hướng dẫn hành chính, nhân viên OAI phải đưa ra những nguyên nhân của việc thay thế và những vấn đề cần thiết khác trong cột (lý do cho việc xác nhận xuất xứ của hàng hóa) của phản hồi về Phán quyết trước cũng được dùng như Thông báo sửa đổi xuất xứ) thay cho phản hồi đã phát hành cho người yêu cầu.

– Bên cạnh đó, nhằm nhất quán những sự trùng lặp giữa Yêu cầu và Thông báo sửa đổi, số giống tương tự như đăng ký trước đó phải được đưa ra và đóng dấu vào Yêu cầu và Thông báo sửa đổi. Nhân viên OAI sẽ phải phát hành cho người yêu cầu như bản gốc cùng với bản copy của yêu cầu, và đề nghị người yêu cầu gửi trả lại bản phản hồi trước đó.

Tuy nhiên, trong trường hợp người yêu cầu chịu tổn thất từ việc thay thế đó, nếu người yêu cầu đã thực hiện một số giao dịch dựa trên bản phản hồi trước đó, và những tổn thất đó được chứng minh trên hợp đồng hoặc những hồ sơ liên quan khác, và không có giao dịch bởi việc nhận phản hồi được chứng minh cũng như việc nhập khẩu có liên quan đến giao dịch không gây bất cứ tổn thất nào hoặc tổn thất cho nền công nghiệp trong nước, theo nguyên tắc, nhân viên OAI sẽ phải lập ra đề mục “xử lý trước thay thế” vào bản phản hồi cùng với ngày thay thế, số hợp đồng giao dịch, số lượng hàng hóa có thể nhập khẩu dựa trên hợp đồng (hạn chế số lượng thực tế), khoảng thời gian có thể nhập khẩu (tối đa ba tháng sau ngày thay thế) và tên của những cơ quan Hải quan có thể thông quan, và đóng dấu lên Thông báo sửa đổi, và phát hành lại cho bên yêu cầu. Khi qua khoảng thời gian có thể nhập khẩu, nhân viên OAI phải được gửi trả lại bản phản hồi và thay vào đó bằng việc chuyển hoặc gửi Thông báo sửa đổi.

– Trong trường hợp bản phản hồi trước đó phải bị thu hồi do những nguyên nhân khác, nhân viên OAI sẽ phải thông báo cho người yêu cầu nguyên nhân của việc thu hồi và bản phản hồi mới với mẫu tùy chọn và phải được người yêu cầu gửi trả lại bản phản hồi trước đó. Trong trường hợp đó, những thông tin cần thiết liên quan đến việc thu hồi bao gồm cả việc phân loại biểu thuế được mô tả trong Thông báo thay đổi.

– Khi bổ sung quy chế hoặc hướng dẫn hành chính ảnh hưởng đến phản hồi đã hoàn thành trước đó như việc bổ sung, thì không cần thiết phải thông báo những ảnh hưởng đó đến người yêu cầu. Nếu người yêu cầu muốn biết những thay đổi của quy chế hoặc hướng dẫn hành chính có ảnh hưởng đến bản phản hồi hay không, nhân viên OAI sẽ phải giải đáp một cách hợp lý.

11.1.2.4. Hải quan Singapore

Từ năm 2002, Singapore đã triển khai chương trình phán quyết trước cho hàng hóa nhập khẩu thông qua hai hiệp định tự do thương mại song phương, Hiệp định đối tác kinh tế Kỷ nguyên mới Nhật Bản – Singapore và Hiệp định tự do thương mại Hoa Kỳ – Singapore. Mặc dù trước năm 2002 Hải quan Singapore chưa có kinh nghiệm thực tế trong việc đưa ra phán quyết trước, nhưng việc đó cũng không gây khó khăn cho họ trong việc giải đáp thắc mắc thông tin từ các doanh nghiệp, như trong trường hợp của một số quốc gia khác.

Mục tiêu chính là chỉ ra các tiêu chuẩn rõ ràng và cơ bản tiến hành các thủ tục dựa theo cái mà các phán quyết trước trước đó bị ràng buộc có thể được tiến hành và quản lý. Theo đó, Singapore đã phải cố gắng phát triển các yếu tố về thủ tục nhằm xây dựng sự cân bằng giữa việc cung cấp khả năng dự đoán với mục đích là đảm bảo sự chắc chắn về phía doanh nghiệp, mặt khác giảm bớt áp lực công việc cho cán bộ hải quan.

a. Đối tượng đăng ký

 Nhằm tránh những yêu cầu phù phiếm, chỉ những người xuất khẩu và nhập khẩu hoặc hãng đại diện của họ mới có thể yêu cầu một phán quyết trước. Tất cả các yêu cầu về phán quyết trước có thể được làm dưới dạng văn bản, được ký bởi cá nhân được ủy quyền bởi bên đưa ra yêu cầu và sử dụng mẫu letterhead của công ty. Mỗi đơn đăng ký sẽ được giới hạn với một sản phẩm.

b. Thông tin yêu cầu từ những người yêu cầu

 Các phán quyết trước chỉ được đưa ra khi người yêu cầu đã cung cấp đầy đủ và khai báo chính xác về tất cả những thông tin có liên quan (bao gồm các tài liệu hỗ trợ). Nhằm tránh những trì hoãn không cần thiết trong việc xử lý đăng ký, người yêu cầu phải đảm bảo rằng Hải quan đã được cung cấp tất cả những thông tin có liên quan. Tuy nhiên, một vài người yêu cầu có thể không biết về số lượng thông tin và chi tiết được yêu cầu. Như thế, trong phạm vi có thể, Hải quan sẽ đưa ra  những thông tin họ yêu cầu từ người yêu cầu, ví dụ, cấu tạo hàng hóa, mô tả quá trình mà hàng hóa được sản xuất hoặc trị giá giao dịch của hàng hóa. Theo đó, một khả năng tiếp cận là yêu cầu tất cả đơn đăng ký được tạo nên từ một mẫu tiêu chuẩn.

Nếu những thông tin thiếu sót được cung cấp, Hải quan có thể yêu cầu người đăng ký cung cấp những thông tin bổ sung trong một khoảng thời gian nhất định. Hải quan có thể từ chối hoặc trì hoãn việc đưa ra phán quyết trước nếu người đăng ký không cung cấp được thông tin bổ sung trong khoảng thời gian quy định.

c. Ban hành phán quyết trước

 Phán quyết trước nên được ban hành trong một khoảng thời gian nhất định dựa theo thời điểm nhận được tất cả thông tin và tài liệu cần thiết từ người đăng ký.

 Để người đăng ký có thể tin tưởng vào phán quyết trước, Hải quan Singapore có một mẫu văn bản chuẩn.

 Phán quyết trước có thể có hiệu lực tại ngày ban hành hoặc vào thời điểm cụ thể trong phán quyết, mà thời điểm này không muộn hơn thời điểm xuất, nhập khẩu của hàng hóa.

 Phán quyết trước có thể được sử dụng cho nhập khẩu mà không quan tâm đến việc giống nhau của người nhập khẩu, người xuất khẩu hoặc người sản xuất, với điều kiện và hoàn cảnh giống nhau ở mọi khía cạnh nguyên vật liệu.

 Phán quyết trước có thể duy trì hiệu lực trong một khoảng thời gian nhất định kể từ ngày ban hành nếu:

– Không có thay đổi về điều kiện và hoàn cảnh nguyên vật liệu;

– Mọi điều khoản và điều kiện của phán quyết trước đều được chấp hành;

– Chưa bị thu hồi.

Hải quan Singapore cũng có những điều khoản để Hải quan cung cấp thông tin cho người đăng ký, theo yêu cầu, với những lý do cho phán quyết.

d. Điều kiện không áp dụng, thay đổi hoặc thu hồi phán quyết trước

 Một phán quyết trước có thể không được áp dụng nếu nó được phân tích rằng những hàng hóa được nhập khẩu khác biệt về nguyên vật liệu so với hàng hóa được khai trong phán quyết hoặc người yêu cầu phán quyết không thực hiện được những điều kiện và điều khoản của phán quyết.

Phán quyết trước có thể bị thay đổi hoặc thu hồi nếu:

– Phán quyết trước dựa trên một cơ sở hoặc pháp luật sai sót;

– Có sự thay đổi trong luật pháp; hoặc

– Có sự thay đổi về điều kiện và hoàn cảnh của nguyên vật liệu mà phán quyết đó dựa trên

e. Thông báo thay đổi hoặc thu hồi

 Hải quan được yêu cầu phải đưa ra thông báo bằng văn bản về bất cứ sự thay đổi hoặc thu hồi nào của phán quyết trước và của ngày có hiệu lực của sự thay đổi hoặc thu hồi tới người tiếp nhận phán quyết trước đó.

 Hải quan có thể trì hoãn ngày có hiệu lực của những thay đổi hoặc thu hồi trên trong một khoảng thời gian, nếu người nhận phán quyết đó tin vào thiện ý của phán quyết đó.

 Một thay đổi hoặc trì hoãn của một phán quyết trước có thể áp dụng với hàng hóa là chủ thể trong phán quyết trước và được nhập khẩu trong hoặc sau thời gian thay đổi hoặc thu hồi. Nó có thể không áp dụng với sự nhập khẩu của hàng hóa xảy ra trước thời điểm.

f. Đối xử đặc biệt và phân biệt

Tuy nhiên, Hải quan Singapore công nhận rằng các quốc gia kém phát triển và một số quốc gia đang phát triển có thể gặp phải những khó khăn trong việc thi hành chương trình phán quyết trước. Đối xử đặc biệt và phân biệt do đó nên là một phần không thể thiếu của bất cứ sự cam kết nào trong khu vực này. Theo đó, các thành viên có thể muốn được tham luận về những vấn đề sau:

– Các yếu tố về thủ tục và chủ thể mà có thể được bao gồm trong các chương trình phán quyết trước của các thành viên. Ví dụ, các quốc gia đang phát triển hoặc các quốc gia kém phát triển có thể cần ngay từ đầu chỉ để giao các phán quyết trước cho việc phân loại mã số hàng hóa.

– Những khung thời gian thi hành dài hơn cho các quốc gia đang phát triển hoặc kém phát triển, và các phương pháp tiếp cận từng giai đoạn khác.

– Cho phép các quốc gia phát triển và kém phát triển được thi hành những nghĩa vụ nặng hơn dựa trên sự cố gắng căn bản nhất.

11.1.3. Kinh nghiệm cho Việt Nam

11.1.3.1. Bài học về xây dựng cơ sở pháp lý

Để làm tốt công tác xác định trước trị giá tính thuế, mã số và xuất xứ hàng hóa, Việt Nam cần xây dựng hệ cơ sở pháp lý chặt chẽ, tuân thủ các quy định của quốc tế trong công tác xác định trước trị giá tính thuế, phân loại hàng hóa và xuất xứ hàng hóa xuất nhập khẩu.

– Nội luật hoá các quy định quốc tế vào trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Những quy định liên quan đến công tác xác định trước trị giá, mã số, xuất xứ hàng hoá phải được quy định trong luật Hải quan, Luật thuế xuất nhập khẩu, các nghị định của Chính phủ và các thông tư hướng dẫn của các Bộ, Ngành liên quan…

– Các văn bản hướng dẫn về công tác xác định trước trị giá, mã số và xuất xứ hàng hóa xây dựng rõ ràng, minh bạch.

– Cần cập nhật các quy định mới về trị giá, phân loại hàng hóa, xuất xứ hàng hóa vào các văn bản hướng dẫn xác định, kiểm tra trị giá, mã số xuất xứ hàng hóa và công khai minh bạch các quy định này để doanh nghiệp và các cơ quan cùng thực hiện.

11.1.3.2. Bài học về công tác thực thi

Để thực hiện chương trình phán quyết trước hiệu quả, các quy trình, thủ tục xác định trước trị giá, mã số, xuất xứ chúng ta cần chú ý các điểm sau:

– Thủ tục trong quy trình xác định trước phải rõ ràng, minh bạch phù hợp với  các quy định về xác định trị giá, mã số và xuất xứ hàng hóa xuất nhập khẩu trong quy trình thủ tục hải quan.

– Xây dựng cơ sở dữ liệu đầy đủ và hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin tốt phục vụ công tác xác định trước trị giá tính thuế, mã số và xuất xứ hàng hóa xuất nhập khẩu.

– Xử lý kịp thời, chính xác các khiếu nại về phán quyết trước trị giá, mã số và xuất xứ hàng hóa xuất nhập khẩu.

11.1.3.3. Bài học về cơ chế hợp tác

– Xây dựng bộ phận chuyên trách về xác định trước trị giá, mã số và xuất xứ có tổ chức theo hệ thống từ Trung ương đến địa phương.

– Tổ chức các khoá đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ xác định trị giá, phân loại hàng hóa, xuất xứ hàng hóa, cho doanh nghiệp và cán bộ công chức hải quan, đặc biệt là cán bộ chuyên trách về xác định trước trị gía tính thuế, phân loại hàng hóa và xuất xứ hàng hóa. 

– Phối hợp tốt với cơ quan cấp giấy chứng nhận xuất xứ, các cơ sở sản xuất (nếu có thể), hải quan nước xuất khẩu và các Bộ, Ngành trong việc kiểm tra, xác minh để xác định trị giá, phân loại hàng hóa và xác định xuất xứ của hàng hóa xuất nhập khẩu.

11.2. Hoạt động phán quyết trước của Hải quan Việt Nam và một số đề xuất

11.2.1. Cơ sở pháp lý

Với định hướng tăng cường hội nhập với thế giới, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào ngày 11/01/2007 và gia nhập Nghị định thư sửa đổi Công ước Kyoto vào ngày 08/01/2008. Bên cạnh đó, Việt Nam tham gia ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTA) với một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Australia và New Zealand… Do đó, Việt Nam phải tuân thủ và thực thi cam kết quốc tế bằng cách xây dựng pháp luật phù hợp với các điều ước và hiệp định đã ký, Luật Hải quan hiện hành phải được sửa đổi để nội luật hóa các điều ước quốc tế về hải quan mà Việt Nam là thành viên. “Phán quyết trước” là quy định mới đề cập đến việc cơ quan Hải quan (hoặc cơ quan có thẩm quyền) đưa ra quyết định trước bằng văn bản đối với một vấn đề cụ thể hoặc nghĩa vụ mà cá nhân, tổ chức phải thực hiện, ví dụ như phân loại thuế, trị giá, nguồn gốc xuất xứ đối với hàng hóa dự kiến sẽ xuất nhập khẩu. Ngay khi chưa gia nhập WTO, các quy định về phán quyết trước của Việt Nam trong lĩnh vực Hải quan cũng đã được chính thức luật hóa trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11. Tại khoản 12 điều 5 của Luật này quy định: “Xác định trước mã số, trị giá hải quan, xác nhận trước xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là việc cơ quan hải quan ban hành văn bản xác định mã số, trị giá hải quan, xác nhận xuất xứ của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trước khi làm thủ tục hải quan”. Cũng như trong dự thảo luật Hải quan (sửa đổi), ý kiến của các đại biểu Quốc hội đều tán thành sự cần thiết phải sửa đổi Luật Hải quan, ngoài các nội dung được tập trung thảo luận như tổ chức bộ máy hải quan, thẩm quyền chống buôn lậu và quản lý rủi ro của Hải quan thì nội dung dự thảo sửa đổi cũng đã bổ sung điều 28 quy định về xác định trước mã số, xuất xứ và trị giá hải quan. Việc bổ sung này phù hợp với Công ước Kyoto mà Việt Nam đã tham gia cũng như các cam kết quốc tế trong khuôn khổ WTO, ASEAN đều khuyến nghị cơ quan Hải quan cho phép doanh nghiệp được áp dụng cơ chế phân loại trước về mã số, xác định trị giá tính thuế và xuất xứ hàng hóa trước khi làm thủ tục cho hàng hóa xuất nhập khẩu.

Thông tư số 128/2013/TT-BTC ngày 10/9/2013 của Bộ Tài Chính quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu (Thông tư 128/2013/TT-BTC chính thức có hiệu lực kể từ ngày 01/11/2013). Một trong những điểm mới trong Thông tư là thông báo kết quả xác định trước (TBKQXĐT) về trị giá hải quan, mã số và xuất xứ của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quy định này hoàn toàn mới nhằm tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ căn cứ vào những thông tin được cung cấp trước có tính ràng buộc pháp lý để nghiên cứu thị trường, lập kế hoạch kinh doanh và tính toán lợi nhuận. Xác định trước trị giá, mã số và xuất xứ hàng hóa xuất nhập khẩu là một trong những khâu quan trọng trong việc khai báo hải quan với cơ quan Hải quan.

Khi Luật Thuế sửa đổi bổ sung được ban hành, Bộ Tài chính đã có Công văn số 8356/BTC-TCHQ ngày 28/6/2013 về việc hướng dẫn về xác định trước mã số, trị giá và thời hạn nộp thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế sửa đổi.

Tại Công văn 8356, quy trình thủ tục và hồ sơ cấp Thông báo kết quả xác định trước về mã số hàng hóa, trị giá hải quan được quy định chi tiết. Tuy nhiên tại công văn trên, TThông báo kết quả xác định trước về xuất xứ chưa được đề cập.

Thông tư 128/2013/TT-BTC có hiệu lực kể từ ngày 01/11/2013, tại Điều 7, Điều 8 và Điều 9 quy định chi tiết về Thông báo kết quả xác định trước về mã số, trị giá, và xuất xứ hàng hóa. Thông tư này ra đời cũng chấm dứt hiệu lực của công văn số 8356/BTC-TCHQ ngày 28/6/2013.

11.2.1.1. Quy định về xác định trước mã số hàng hóa

Việc xác định trước mã số được thực hiện đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trước khi làm thủ tục hải quan, theo đề nghị của tổ chức, cá nhân. Để có được phán quyết trước, tổ chức, cá nhân và cơ quan hải quan phải thực hiện đầy đủ các công việc sau:

a. Quy định về Hồ sơ xác định trước mã số

Hồ sơ xác định trước mã số gồm:

– Đơn đề nghị xác định trước mã số (theo mẫu số 01/XĐTMS/2013 Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư 128/2013/TT-BTC): 01 bản chính;

– Hợp đồng mua bán với nước ngoài theo quy định hiện hành của hàng hóa đề nghị xác định trước mã số do tổ chức, cá nhân có đơn đề nghị xác định trước mã số trực tiếp thực hiện giao dịch: 01 bản sao chụp;

– Tài liệu kỹ thuật mô tả chi tiết thành phần, tính chất, cấu tạo, công dụng, phương thức vận hành của hàng hóa: 01 bản chính;

– Catalogue hoặc hình ảnh hàng hóa: 01 bản sao chụp;

– Mẫu hàng hóa đối với trường hợp phải có mẫu hàng hóa theo yêu cầu của cơ quan Hải quan;

–  Bảng kê các tài liệu của hồ sơ xác định trước mã số: 01 bản chính.

b. Thủ tục xác định trước mã số

Nhiệm vụ của tổ chức, cá nhân và cơ quan hải quan trong việc xác định trước mã số.

b1.  Đối với tổ chức, cá nhân có đề nghị xác định trước mã số

Tổ chức, cá nhân có đề nghị xác định trước mã số có trách nhiệm:

– Điền đủ các thông tin vào Đơn đề nghị xác định trước mã số (theo mẫu số 01/XĐTMS/2013 Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư 128/2013/TT-BTC).

– Nộp đủ hồ sơ đề nghị xác định trước mã số theo quy định về hồ sơ xác định trước mã số đến Cục Hải quan tỉnh, thành phố nơi dự kiến làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa đề nghị xác định trước mã số, trong thời hạn ít nhất 90 ngày trước khi thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu lô hàng;

– Cung cấp, bổ sung tài liệu, thông tin làm rõ nội dung đề nghị xác định trước mã số cho Cục Hải quan tỉnh, thành phố hoặc TCHQ khi có yêu cầu;

– Thông báo bằng văn bản cho Cục Hải quan tỉnh, thành phố trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày có bất kỳ thay đổi nào liên quan đến hàng hóa đề nghị xác định trước mã số, trong đó nêu rõ lý do, ngày, tháng, năm, có sự thay đổi. 

– Đề nghị TCHQ gia hạn áp dụng văn bản thông báo kết quả xác định trước mã số trong trường hợp hết thời hạn có hiệu lực của văn bản thông báo kết quả xác định trước mã số, nhưng không có thay đổi về thông tin, tài liệu, mẫu hàng hóa và quy định của pháp luật làm căn cứ ban hành văn bản thông báo kết quả xác định trước mã số. 

b2. Cơ quan hải quan

 Trên cơ sở quy định của pháp luật, cơ sở dữ liệu về phân loại hàng hóa, áp dụng mức thuế của cơ quan hải quan và hồ sơ đề nghị xác định trước mã số của tổ chức cá nhân, cơ quan hải quan thực hiện như sau:

–  Cục Hải quan tỉnh, thành phố kiểm tra hồ sơ, kiểm tra và thực hiện:

+ Trường hợp hợp đồng mua bán hàng hóa do tổ chức, cá nhân có đơn đề nghị không trực tiếp thực hiện giao dịch: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận Đơn đề nghị xác định trước mã số, Cục Hải quan tỉnh, thành phố có văn bản thông báo từ chối xác định trước mã số gửi tổ chức, cá nhân;

+ Trường hợp hợp đồng mua bán hàng hóa do tổ chức, cá nhân có đơn đề nghị trực tiếp thực hiện giao dịch nhưng hồ sơ xác định trước mã số không đủ hoặc Đơn đề nghị không điền đủ các thông tin theo mẫu: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận Đơn đề nghị, Cục Hải quan tỉnh, thành phố có văn bản yêu cầu tổ chức, cá nhân bổ sung các thông tin, chứng từ, tài liệu;

+ Trường hợp hợp đồng mua bán hàng hóa do tổ chức, cá nhân có đơn đề nghị trực tiếp thực hiện giao dịch, hồ sơ xác định trước mã số đủ, Đơn đề nghị điền đủ thông tin: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ, Cục Hải quan tỉnh, thành phố có văn bản gửi Tổng cục Hải quan nêu rõ ý kiến đề xuất mã số của mặt hàng đề nghị xác định trước, lý do, cơ sở đề xuất và gửi kèm hồ sơ đề nghị xác định trước mã số do tổ chức, cá nhân gửi.

+ Trong quá trình xem xét đề xuất mã số của mặt hàng đề nghị xác định trước, nếu thông tin giữa các tài liệu, chứng từ trong hồ sơ đã thống nhất, nhưng  phải có kết quả phân tích hoặc giám định để xác định đặc tính hàng hóa, Cục Hải quan tỉnh, thành phố có văn bản thông báo tổ chức, cá nhân cung cấp mẫu hàng hóa. Việc gửi mẫu phân tích hoặc giám định thực hiện theo quy định của pháp luật.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kết quả phân tích hoặc giám định, Cục Hải quan tỉnh, thành phố có văn bản đề nghị Tổng cục Hải quan trong đó nêu rõ ý kiến đề xuất mã số của mặt hàng đề nghị xác định trước, lý do, cơ sở đề xuất và gửi kèm hồ sơ đề nghị xác định trước mã số do tổ chức, cá nhân gửi, có bổ sung thông báo kết quả phân tích hoặc kết quả giám định.

Hồ sơ và kết quả xử lý được cập nhật vào cơ sở dữ liệu về phân loại hàng hóa, áp dụng mức thuế của cơ quan hải quan.

Tổng cục Hải quan kiểm tra hồ sơ, văn bản đề nghị của Cục Hải quan tỉnh, thành phố và xử lý:

+ Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan ban hành văn bản thông báo kết quả xác định trước mã số (theo mẫu số 02/TB-XĐTMS/2013 Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư 128/2013/TT-BTC) trong thời hạn 25 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ do Cục Hải quan tỉnh, thành phố gửi (đối với các hàng hóa thông thường) hoặc trong thời hạn tối đa 90 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ (đối với các hàng hóa phải phân tích, giám định, hoặc trường hợp hàng hóa phức tạp). Văn bản thông báo kết quả xác định trước mã số được gửi cho tổ chức, cá nhân, các Cục Hải quan tỉnh, thành phố đồng thời cập nhật vào cơ sở dữ liệu của cơ quan hải quan và công khai trên trang điện tử của Tổng cục Hải quan;

+ Trong quá trình xử lý hồ sơ đề nghị xác định trước mã số do Cục Hải quan tỉnh, thành phố gửi, nếu chưa đủ cơ sở, thông tin để xác định trước mã số, trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ từ Cục Hải quan tỉnh, thành phố, Tổng cục Hải quan có văn bản thông báo để tổ chức, cá nhân bổ sung thông tin, tài liệu. Thời hạn xử lý hồ sơ đề nghị xác định trước mã số được tính từ ngày Tổng cục Hải quan nhận đủ thông tin, tài liệu do tổ chức, cá nhân cung cấp bổ sung.

+ Đối với trường hợp cần xác minh làm rõ tại cơ quan thẩm quyền nước ngoài thì thời hạn xác minh thực hiện theo thỏa thuận đã ký với nước ngoài. Thời hạn xử lý hồ sơ đề nghị xác định trước mã số tính từ ngày Tổng cục Hải quan nhận được kết quả xác minh của cơ quan thẩm quyền nước ngoài.

c. Hiệu lực của văn bản thông báo kết quả xác định trước mã số

Văn bản thông báo kết quả xác định trước mã số không có hiệu lực áp dụng trong trường hợp hàng hóa hoặc hồ sơ thực tế xuất khẩu, nhập khẩu khác với hàng hóa hoặc hồ sơ đề nghị xác định trước mã số.

Văn bản thông báo kết quả xác định trước mã số có hiệu lực tối đa là 03 năm kể từ ngày Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan ký ban hành.

Trường hợp hết thời hạn 03 năm nếu không có thay đổi về thông tin, tài liệu, mẫu hàng hóa và căn cứ ban hành văn bản thông báo kết quả xác định trước mã số, Tổng cục Hải quan xem xét gia hạn áp dụng văn bản thông báo kết quả xác định trước mã số theo đề nghị của tổ chức, cá nhân.

Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan ban hành văn bản sửa đổi, thay thế văn bản thông báo kết quả xác định trước mã số (theo mẫu số 03/TT-XĐTMS/2013 Phụ lục III ban hành kèm Thông tư 128/2013/TT-BTC) trong trường hợp phát hiện văn bản thông báo kết quả xác định trước mã số chưa phù hợp. Văn bản sửa đổi, thay thế văn bản thông báo kết quả xác định trước mã số có hiệu lực kể từ ngày ban hành.

Văn bản thông báo kết quả xác định trước mã số chấm dứt hiệu lực trong trường hợp quy định của pháp luật làm căn cứ để ban hành văn bản thông báo kết quả xác định trước mã số được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế.

Thời điểm chấm dứt hiệu lực kể từ ngày quy định của pháp luật làm căn cứ ban hành văn bản thông báo kết quả xác định trước mã số được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế có hiệu lực thi hành.

Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan ban hành văn bản hủy bỏ văn bản thông báo kết quả xác định trước mã số trong trường hợp phát hiện hồ sơ xác định trước mã số do tổ chức, cá nhân cung cấp không chính xác, không trung thực.

Sơ đồ 11.1. Mô hình quy trình xác định trước như sau

Cục Hải quan Tỉnh, Thành phố xử lý trong 5 ngày

Doanh nghiệp xuất nhập khẩu xin xác định trước

Hồ sơ nộp trước 90 ngày dự kiến làm TTHQ

 

Hồ sơ bị từ chối hoặc sung thông tin theo yêu cầu của Hải quan T. TP

Cục Hải quan Tỉnh, Thành phố chấp nhận HS

 

Tổng cục  Hải quan xử lý

trong 5 ngày

Hồ sơ bị từ chối hoặc sung thông tin theo yêu cầu của Tổng cục Hải quan

Xác minh tại cơ quan có thẩm quyền nước ngoài

Thông báo kết quả xác định trước

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

d. Quyền của tổ chức cá nhân xin xác định trước

 Tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng Văn bản thông báo kết quả xác định trước mã số là cơ sở để khai báo mã số trên tờ khai hải quan và được nộp cùng với hồ sơ hải quan (01 bản chụp) khi làm thủ tục hải quan.

Trường hợp không đồng ý với nội dung xác định trước mã số của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, tổ chức, cá nhân có văn bản kiến nghị Bộ Tài chính để được xem xét, giải quyết.

11.2.1.2. Quy định về xác định trước trị giá hàng hóa

a. Trường hợp, điều kiện xác định trước trị giá

Để xác định trước trị giá hàng hóa xuất nhập khẩu phải tuân thủ các điều kiện sau:

– Phải xác định trước phương pháp xác định trị giá tính thuế, các khoản điều chỉnh cộng, điều chỉnh trừ, áp dụng đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu nếu tổ chức, cá nhân đề nghị xác định trước trị giá chưa từng xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa giống hệt với hàng hoá đó.

– Xác định trước mức giá ngoài việc đáp ứng điều kiện nêu trên, tổ chức, cá nhân đề nghị xác định trước mức giá phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:

+ Có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu trong thời gian tối thiểu 365 ngày tính đến ngày nộp Đơn đề nghị xác định trước trị giá. Trong vòng 365 ngày đó, tổ chức, cá nhân: Không có trong danh sách đã bị xử phạt về hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới của cơ quan hải quan; Không có trong danh sách đã bị xử lý về hành vi trốn thuế, gian lận thuế trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của cơ quan hải quan;

+ Đã thực hiện thanh toán qua ngân hàng bằng phương thức L/C cho toàn bộ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc hợp đồng mua bán đề nghị xác định trước trị giá.

+ Thực hiện giao hàng 01 lần cho toàn bộ hàng hóa thuộc hợp đồng mua bán đề nghị xác định trước trị giá.

b. Hồ sơ xác định trước trị giá

b1. Trường hợp xác định trước phương pháp xác định trị giá

 Đối với trường hợp đề nghị xác định trước phương pháp xác định trị giá tính thuế, hồ sơ xin xác định trước gồm:

– Đơn đề nghị xác định trước trị giá (theo mẫu số 04/XĐTTG/2013 Phụ lục III ban hành kèm Thông tư 128/2013/TT-BTC): 01 bản chính;

–  Hợp đồng mua bán hàng hóa do tổ chức, cá nhân trực tiếp thực hiện giao dịch theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Thông tư số 205/2010/TT-BTC ngày 15/10/2010 của Bộ Tài chính: 01 bản sao chụp;

– Tài liệu kỹ thuật, hình ảnh hoặc catalogue hàng hóa: 01 bản sao chụp;

– Các chứng từ, tài liệu phù hợp với trường hợp đề nghị xác định trước trị giá của tổ chức cá nhân: 01 bản chụp, như:

 Đối với hàng hóa nhập khẩu:

– Chứng từ, tài liệu chứng minh mối quan hệ đặc biệt không ảnh hưởng đến trị giá giao dịch;

– Chứng từ, tài liệu có liên quan đến các khoản tiền người mua phải trả nhưng chưa tính vào giá mua ghi trên hoá đơn thương mại;

– Chứng từ, tài liệu có liên quan đến các khoản điều chỉnh cộng;

– Chứng từ, tài liệu có liên quan đến các khoản điều chỉnh trừ;

– Các chứng từ tài liệu khác liên quan đến hàng hóa đề nghị xác định trước trị giá (nếu có).

Đối với hàng hóa xuất khẩu:

– Các chứng từ có liên quan trong trường hợp giá bán thực tế tại cửa khẩu xuất không phải là giá FOB, giá DAF;

– Các chứng từ tài liệu khác liên quan đến hàng hóa đề nghị xác định trước trị giá (nếu có).

– Bảng kê các chứng từ, tài liệu: 01 bản chính.

b2. Đối với trường hợp đề nghị xác định trước mức giá

 Ngoài các chứng từ, tài liệu nêu trên, hồ sơ xác định trước mức giá của tổ chức, cá nhân phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng bằng phương thức L/C của toàn bộ hàng hóa thuộc hợp đồng mua bán: 01 bản sao chụp.

c. Thủ tục xác định trước trị giá

c1.  Đối với tổ chức, cá nhân

– Điền đủ các thông tin vào Đơn đề nghị xác định trước trị giá (theo mẫu số 04/XĐTTG/2013 Phụ lục III ban hành kèm Thông tư 128/2013/TT-BTC);

– Nộp đủ hồ sơ đề nghị xác định trước trị giá theo quy định đến Cục Hải quan tỉnh, thành phố nơi dự kiến làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa đề nghị xác định trước trị giá, trong thời hạn ít nhất 90 ngày trước khi xuất khẩu, nhập khẩu lô hàng;

– Cung cấp bổ sung hồ sơ, tham gia đối thoại nhằm làm rõ nội dung đề nghị xác định trước trị giá cho Cục Hải quan tỉnh, thành phố hoặc Tổng cục Hải quan khi có yêu cầu;

– Thông báo bằng văn bản cho Cục Hải quan tỉnh, thành phố trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày có bất kỳ thay đổi nào liên quan đến hàng hóa đề nghị xác định trước trị giá đã nộp cho cơ quan hải quan, trong đó nêu rõ nội dung, lý do, ngày, tháng, năm có sự thay đổi.

– Đề nghị Tổng cục Hải quan gia hạn áp dụng văn bản thông báo kết quả xác định trước trị giá trong trường hợp hết thời hạn có hiệu lực của văn bản thông báo kết quả xác định trước trị giá, nhưng không có thay đổi về thông tin, tài liệu và quy định của pháp luật làm căn cứ ban hành văn bản thông báo kết quả xác định trước trị giá.

c2. Đối với cơ quan hải quan

Trên cơ sở quy định của pháp luật, cơ sở dữ liệu về trị giá của cơ quan hải quan và hồ sơ đề nghị xác định trước trị giá của tổ chức, cá nhân, cơ quan hải quan tiếp nhận hồ sơ thực hiện như sau:

(i) Cục Hải quan tỉnh, thành phố

Cục Hải quan tỉnh, thành phố kiểm tra hồ sơ và xử lý:

– Trường hợp không đủ điều kiện xác định trước trị giá quy định hoặc hợp đồng mua bán hàng hóa do tổ chức, cá nhân không trực tiếp thực hiện giao dịch: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Đơn đề nghị, Cục Hải quan tỉnh, thành phố có văn bản từ chối xác định trước trị giá gửi tổ chức, cá nhân;

– Trường hợp đủ điều kiện xác định trước trị giá, hợp đồng mua bán hàng hóa do tổ chức, cá nhân trực tiếp thực hiện giao dịch nhưng hồ sơ không đủ hoặc Đơn đề nghị không điền đủ thông tin theo mẫu: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Đơn đề nghị, Cục Hải quan tỉnh, thành phố có văn bản thông báo cho tổ chức, cá nhân bổ sung các thông tin, chứng từ, tài liệu;

– Trường hợp đủ điều kiện xác định trước trị giá quy định , hợp đồng mua bán hàng hóa do tổ chức, cá nhân trực tiếp thực hiện giao dịch đủ hồ sơ và Đơn đề nghị điền đủ thông tin theo mẫu: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ, Cục Hải quan tỉnh, thành phố có văn bản đề nghị Tổng cục Hải quan xem xét, giải quyết và gửi kèm toàn bộ hồ sơ đề nghị xác định trước trị giá của tổ chức, cá nhân. Văn bản đề nghị Tổng cục Hải quan phải nêu rõ ý kiến đề xuất, cơ sở đề xuất.

Hồ sơ và kết quả xử lý được cập nhật vào cơ sở dữ liệu về trị giá của cơ quan hải quan.

(ii) Tổng cục Hải quan

 Tổng cục Hải quan kiểm tra hồ sơ, văn bản đề nghị của Cục Hải quan tỉnh, thành phố và thực hiện các việc sau:

– Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan ban hành văn bản thông báo kết quả xác định trước trị giá (theo mẫu số 05/TB-XĐTTG/2013 Phụ lục III ban hành kèm Thông tư 128/2013/TT-BTC) trong thời hạn 25 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ do Cục Hải quan tỉnh, thành phố gửi (đối với trường hợp thông thường) hoặc 90 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ (đối với trường hợp phức tạp cần xác minh, làm rõ). Văn bản thông báo kết quả xác định trước trị giá được gửi cho tổ chức, cá nhân và Cục Hải quan tỉnh, thành phố, đồng thời cập nhật vào cơ sở dữ liệu của cơ quan hải quan và công khai trên trang điện tử của Tổng cục Hải quan.

–  Trong quá trình xử lý hồ sơ đề nghị xác định trước trị giá, nếu cần làm rõ thông tin, chứng từ trong hồ sơ đề nghị xác định trước trị giá, Tổng cục Hải quan yêu cầu tổ chức, cá nhân tham gia đối thoại. Trường hợp không đủ cơ sở, thông tin, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ từ Cục Hải quan tỉnh, thành phố, Tổng cục Hải quan có văn bản thông báo hoặc đề nghị tổ chức, cá nhân bổ sung thông tin, tài liệu.

Thời hạn xử lý hồ sơ đề nghị xác định trước trị giá được tính từ ngày Tổng cục Hải quan nhận đủ thông tin, tài liệu do tổ chức, cá nhân cung cấp bổ sung.

– Đối với trường hợp cần xác minh làm rõ tại cơ quan thẩm quyền nước ngoài thì thời hạn xác minh làm rõ thực hiện theo thỏa thuận đã ký với nước ngoài. Thời hạn xử lý hồ sơ xác định trước trị giá được tính từ ngày Tổng cục Hải quan nhận được kết quả xác minh.

Mô hình quy trình xác định trước trị giá tương tự mô hình xác định trước mã số của hàng hóa xuất nhập khẩu.

d. Hiệu lực của văn bản thông báo kết quả xác định trước trị giá

 – Văn bản thông báo kết quả xác định trước trị giá không có hiệu lực áp dụng trong trường hợp hàng hóa hoặc hồ sơ thực tế xuất khẩu, nhập khẩu khác với hàng hóa hoặc hồ sơ đề nghị xác định trước trị giá; hoặc hồ sơ xác định trước trị giá có thay đổi.

 – Văn bản thông báo kết quả xác định trước trị giá có hiệu lực như sau:

+ Trường hợp xác định trước phương pháp xác định trị giá tính thuế: Văn bản thông báo kết quả xác định trước trị giá có hiệu lực đối với giao dịch được xác định trước trị giá nhưng tối đa không quá 03 năm kể từ ngày Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan ký ban hành.

+ Trường hợp xác định trước mức giá: Văn bản thông báo kết quả xác định trước trị giá có hiệu lực trực tiếp đối với lô hàng được xác định trước mức giá.

– Trường hợp hết thời hạn có hiệu lực của văn bản thông báo kết quả xác định trước trị giá, nếu không có thay đổi về thông tin, tài liệu và căn cứ ban hành văn bản thông báo kết quả xác định trước trị giá, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan xem xét gia hạn áp dụng văn bản thông báo kết quả xác định trước trị giá theo đề nghị của tổ chức, cá nhân.

– Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan ban hành văn bản sửa đổi, thay thế văn bản thông báo kết quả xác định trước trị giá (theo mẫu số 06/TT-XĐTTG/2013 Phụ  lục III ban hành kèm Thông tư 128/2013/TT-BTC) trong trường hợp phát hiện văn bản thông báo kết quả xác định trước chưa phù hợp. Văn bản sửa đổi, thay thế văn bản thông báo kết quả xác định trước trị giá có hiệu lực áp dụng kể từ ngày ban hành.

–  Văn bản thông báo xác định trước trị giá chấm dứt hiệu lực trong trường hợp quy định của pháp luật làm căn cứ ban hành văn bản thông báo kết quả xác định trước trị giá có thay đổi. Thời điểm chấm dứt hiệu lực kể từ ngày quy định của pháp luật làm căn cứ ban hành thông báo kết quả xác định trước trị giá thay đổi có hiệu lực thi hành.

– Tổng cục trưởng TCHQ ban hành văn bản hủy bỏ văn bản thông báo kết quả xác định trước trị giá trong trường hợp phát hiện hồ sơ xác định trước trị giá do tổ chức, cá nhân cung cấp không chính xác, không trung thực.

e. Quyền của tổ chức cá nhân xin xác định trước

Văn bản thông báo kết quả xác định trước trị giá là cơ sở để khai báo Tờ khai trị giá tính thuế và được nộp cùng với hồ sơ hải quan (01 bản chụp) khi làm thủ tục hải quan.

Trường hợp không đồng ý với nội dung xác định trước trị giá của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, tổ chức, cá nhân có văn bản kiến nghị Bộ Tài chính để được xem xét, giải quyết.

11.2.1.3. Xác định trước xuất xứ

Quy định về xác định trước xuất xứ chỉ thực hiện được thực hiện đối với hàng hóa nhập khẩu và được quy định cụ thể tại Thông tư 128/2013/TT-BTC.

a. Hồ sơ đề nghị xác định trước xuất xứ

Hồ sơ đề nghị xác định trước xuất xứ hàng hóa nhập khẩu gồm:

– Đơn đề nghị xác định trước xuất xứ hàng hoá nhập khẩu (theo mẫu số 07/XĐXX/2013 phụ lục III ban hành kèm Thông tư 128/2013TT-BTC): 01 bản chính;

– Bản kê các nguyên vật liệu dùng để sản xuất ra hàng hoá gồm các thông tin như: tên hàng, mã số hàng hóa, xuất xứ nguyên vật liệu cấu thành sản phẩm, giá CIF hoặc tương đương của nguyên vật liệu, do tổ chức, cá nhân đề nghị xác định trước xuất xứ phát hành trên cơ sở thông tin do nhà sản xuất hoặc nhà xuất khẩu cung cấp: 01 bản chính;

– Bản mô tả sơ bộ quy trình sản xuất ra hàng hoá hoặc Giấy chứng nhận phân tích thành phần do nhà sản xuất cấp: 01 bản chụp;

–  Catalogue hoặc hình ảnh hàng hóa: 01 bản chụp;

–  Mẫu hàng hóa đối với trường hợp phải có mẫu hàng hóa theo yêu cầu của Tổng cục Hải quan.

b. Thủ tục xác định trước xuất xứ

b1. Nhiệm vụ của tổ chức, cá nhân đề nghị xác định trước xuất xứ

Đối với tổ chức, cá nhân đề nghị xác định trước xuất xứ phải chuẩn bị hồ sơ và cung cấp thông tin liên quan đến hàng hóa nhập khẩu, cụ thể như sau:

–  Điền đủ các thông tin vào đơn đề nghị theo mẫu số 07/XĐXX/2013 phụ lục III ban hành kèm Thông tư 128/2013/TT-BTC.

–  Nộp đủ hồ sơ đề nghị xác định trước xuất xứ theo quy định đến Cục Hải quan tỉnh, thành phố nơi dự kiến làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa đề nghị xác định trước xuất xứ, trong thời hạn ít nhất 90 ngày trước khi nhập khẩu lô hàng;

– Cung cấp, bổ sung tài liệu, thông tin nhằm làm rõ nội dung đề nghị xác định trước xuất xứ cho Cục Hải quan tỉnh, thành phố hoặc Tổng cục Hải quan khi có yêu cầu;

– Thông báo bằng văn bản cho Cục Hải quan tỉnh, thành phố và Tổng cục Hải quan trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày có sự thay đổi về hồ sơ đề nghị xác định trước xuất xứ, trong đó nêu rõ ngày, tháng, năm có sự thay đổi. 

b2. Đối với cơ quan hải quan

(i) Cục Hải quan tỉnh và thành phố

Cục Hải quan tỉnh, thành phố nhận hồ sơ, kiểm tra hồ sơ và thực hiện:   

– Trường hợp hồ sơ xác định trước xuất xứ không đầy đủ hoặc Đơn đề nghị không điền đủ các thông tin theo mẫu: trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận Đơn đề nghị, Cục Hải quan tỉnh, thành phố có văn bản yêu cầu tổ chức, cá nhân bổ sung các thông tin, chứng từ, tài liệu;

– Trong trường hợp nhận được đủ hồ sơ xác định trước xuất xứ theo quy định: trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ, Cục Hải quan tỉnh, thành phố có văn bản đề nghị Tổng cục Hải quan xem xét, giải quyết và gửi kèm hồ sơ đề nghị xác định trước xuất xứ;

– Khi làm thủ tục hải quan nhập khẩu, Cục Hải quan tỉnh, thành phố tiến hành kiểm tra, đối chiếu thông tin trên văn bản xác định trước xuất xứ với hồ sơ và thực tế lô hàng nhập khẩu; trường hợp hàng hóa nhập khẩu không đúng với thông báo xác định trước xuất xứ thì báo cáo Tổng cục Hải quan ra văn bản hủy bỏ giá trị thực hiện của thông báo xác định trước xuất xứ. 

(ii) Tổng cục Hải quan

Tổng cục Hải quan nhận hồ sơ và văn bản đề nghị của Cục Hải quan tỉnh, thành phố, kiểm tra hồ sơ và thực hiện:

– Ban hành thông báo xác định trước xuất xứ (theo mẫu số 08/TBXĐXX/2013 phụ lục III ban hành kèm Thông tư 128/2013/TT-BTC) trong thời hạn 25 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ do Cục Hải quan tỉnh, thành phố gửi đến (đối với các hàng hóa thông thường) hoặc trong thời hạn 90 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ (đối với trường hợp hàng hóa cần thẩm định thêm thông tin về nhà sản xuất, thị trường, nguồn gốc nguyên phụ liệu, đặc điểm địa lý, công nghệ sản xuất, giám định/phân tích phân loại). Văn bản thông báo kết quả xác định trước xuất xứ được gửi cho tổ chức, cá nhân, các Cục Hải quan tỉnh, thành phố đồng thời cập nhật vào cơ sở dữ liệu của cơ quan hải quan và công khai trên trang điện tử của Tổng cục Hải quan;

– Trong quá trình xử lý hồ sơ đề nghị xác định trước xuất xứ do Cục Hải quan tỉnh, thành phố gửi, nếu chưa đủ cơ sở, thông tin hoặc trường hợp phải có mẫu hàng hóa để xác nhận trước xuất xứ, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ từ Cục Hải quan tỉnh, thành phố, Tổng cục Hải quan có văn bản thông báo để tổ chức, cá nhân bổ sung thông tin, tài liệu hoặc mẫu hàng hóa theo quy định. 

Thời hạn xử lý hồ sơ đề nghị xác định trước xuất xứ được tính từ ngày Tổng cục Hải quan nhận đủ hồ sơ bổ sung.

– Đối với trường hợp cần điều tra, xác minh tại cơ quan thẩm có quyền nước ngoài thì thời hạn xử lý hồ sơ xác định trước xuất xứ thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế có liên quan;

– Trường hợp tổ chức, cá nhân có đề nghị xác định trước xuất xứ không cung cấp đủ thông tin cần thiết, Tổng cục Hải quan sẽ từ chối xác định trước xuất xứ và thông báo bằng văn bản (theo mẫu số 09/CDHL-XĐXX/2013 phụ lục III ban hành kèm Thông tư 128/2013/TT-BTC).

Mô hình quytrinhf xác định trước xuất xứ hàng hóa tương tự như mô hình quy trình xác định trước mã số hàng hóa xuất nhập khẩu.

c. Hiệu lực của văn bản thông báo xác định trước xuất xứ

c1. Hiệu lực của thông báo

 Văn bản thông báo xác định trước xuất xứ hàng hóa nhập khẩu có hiệu lực tối đa là 03 năm kể từ ngày Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan ký ban hành và được áp dụng đối với chính hàng hoá đó, cùng nhà sản xuất và nhà xuất khẩu.

c2. Hủy bỏ văn bản thông báo xác định trước xuất xứ

Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan ban hành văn bản hủy bỏ giá trị thực hiện của văn bản thông báo xác định trước xuất xứ, nếu xảy ra một trong các trường hợp sau:

–  Các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan được bổ sung sửa đổi.

–  Các yếu tố đánh giá xuất xứ hàng hoá đã thay đổi.

–  Có sự khác nhau giữa kết quả xác định trước xuất xứ với xuất xứ thực tế của hàng hoá.

–  Người nộp đơn đề nghị xác định trước xuất xứ cung cấp thông tin sai lệch, giả mạo.

d. Sử dụng văn bản thông báo xác định trước xuất xứ

 Văn bản xác định trước xuất xứ là cơ sở để khai báo xuất xứ và làm thủ tục hải quan, không có giá trị để hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt.

Việc xác định trước xuất xứ và áp dụng thuế suất ưu đãi đặc biệt đối với hàng hóa nhập khẩu theo các Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết thì thực hiện theo quy định của Hiệp định đó.

11.2.2. Thực trạng công tác xác định trước mã số, trị giá và xuất xứ hàng hóa của Hải quan Việt nam

11.2.2.1. Đánh giá về cơ sở pháp lý của Hải quan Việt Nam

a. Về thời gian

Đối với Hải quan Việt Nam việc ban hành phán quyết trước được quy định trong thời gian là 25 ngày kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ do Cục Hải quan tỉnh, thành phố gửi (đối với hàng hoá thông thường) hoặc trong thời hạn tối đa 90 ngày làm việc kể từ ngày làm việc kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ (đối với các hàng hoá phải phân tích, giám định, hoặc trường hợp hàng hoá phức tạp).

Văn bản thông báo kết quả xác định trước có hiệu lực tối đa là 03 năm kể từ ngày Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan ký ban hành.

Đối với Hải quan Úc, Nhật việc ban hành phán quyết trước được quy định trong thời gian là 30 ngày đối với hàng hoá thông thường, và đối với hàng hoá phức tạp sẽ cần thêm 30 ngày tiếp theo, trong 30 ngày tiếp theo đó, cơ quan Hải quan sẽ có trách nhiệm gửi thông báo bằng văn bản cho người nộp đơn về thời gian gia hạn. Hải quan Mỹ thì thời gian ra phán quyết trước trong vòng 120 ngày tùy từng trường hợp.

Về hiệu lực của phán quyết trước, Phán quyết trước của Hải quan Úc có hiệu lực là 5 năm, của Nhật là 3 năm.

Về tính pháp lý: Phán quyết trước ở các nước Úc, Mỹ, Nhật đều có giá trị pháp lý. Có thể dùng phán quyết trước để thay thể một phần các chứng từ liên quan đến lĩnh vực mà phán quyết trước đề cập như phán quyết trước về xuất xứ có thể được dùng thay cho tờ khai xuất xứ. Còn ở Việt Nam, phán quyết trước chưa có giá trị pháp lý, doanh nghiệp sử dụng phán quyết trước là để tham vấn cho hàng hóa dự định nhập khẩu. Chính vì lí do này là phán quyết trước chưa được doanh nghiệp sử dụng nhiều ở Việt Nam. Hải quan Việt Nam nên cân nhắc để gắn giá trị pháp lý vào phán quyết trước để tạo thuận lợi cho cả hải quan và doanh nghiệp khi làm thủ tục nhập khẩu.

Ngoài những phán quyết trước được ban hành dưới dạng văn bản, Hải quan Nhật còn tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham vấn bằng miệng hoặc trả lời các thắc mắc của doanh nghiệp liên quan đến phán quyết trước qua điện thoại. Đây là một nét ưu việt của hải quan Nhật, tháo gỡ được nhiều vấn đề cho doanh nghiệp mà không mất thời gian chuẩn bị giấy tờ cũng như thời gian chờ đợi hải quan ban hành phán quyết trước.

b. Bảo mật thông tin

Hải quan các nước rất chú trọng đến vấn đề bảo mật phán quyết trước. Cơ quan Hải quan cần phân biệt rõ giữa bí mật thương mại và nguyên tắc minh bạch. Quá trình ra quyết định liên quan đến việc ban hành một phán quyết trước cần phải đảm bảo tính minh bạch và bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp xin phán quyết trước. Tuy nhiên, các cơ quan chức năng cần phải bảo mật các thông tin nhạy cảm về thương mại. Nhìn chung, theo quy định của các nước, Hải quan cần đảm bảo bí mật thông tin kinh doanh của doanh nghiệp. Cụ thể, trong thời gian Hải quan đang xem xét để ban hành các phán quyết trước theo yêu cầu của doanh nghiệp thì Hải quan sẻ đảm bảo không công bố thông tin thương mại của doanh nghiệp, đặc biệt là những thông tin liên quan đến lô hàng đang là đối tượng xin thụ hưởng phán quyết trước.  Cơ quan Hải quan có thể ban hành các phán quyết chung có thể áp dụng rộng rãi cho tất cả các doanh nghiệp.

Ở Việt Nam khi doanh nghiệp có yêu cầu phán quyết trước cho lô hàng dự kiến nhập khẩu thì doanh nghiệp phải có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin, chứng từ liên quan hoặc mẫu hàng hoá dự kiến xuất nhập khẩu. Hiện tại chưa có văn bản quy định rõ về vấn đề cơ quan Hải quan có trách nhiệm bảo mật các thông tin do tổ chức, cá nhân có yêu cầu cung cấp thông tin phán quyết trước.

c. Trách nhiệm của Hải quan khi ban hành phán quyết sai

Khuyến nghị chung, đặc biệt Hải quan Úc có quy định rất rõ ràng về trách nhiệm của Hải quan khi ban hành phán quyết sai, cụ thể như sau: Khi người nộp đơn xin phán quyết trước không hài lòng với phán quyết thì có thể yêu cầu Văn phòng trung ương rà soát lại phán quyết. Khi đó, người nộp đơn phải gửi một đơn bằng văn bản và nêu đầy đủ lý do tại sao không đồng ý với phán quyết. Việc rà soát sẽ chỉ căn cứ những thông tin đã được cung cấp trước đó của người nộp đơn khi đưa ra phán quyết ban đầu. Nếu người nộp đơn xin phán quyết trước vẫn không hài lòng với phán quyết đã rà soát thì có thể đưa vấn đề này ra giải quyết tại Tòa án  Hành chính hoặc tòa án có thẩm quyền xét xử và Hải quan có trách nhiệm trước Tòa và thi hành các quyết định của Tòa

Ở Việt Nam, tại khoản 6 các Điều 7, 8, 9 Thông tư 128/2013/TT-BTC quy định trường hợp không đồng ý với nội dung phán quyết trước của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, doanh nghiệp có văn bản kiến nghị Bộ Tài chính để xem xét, chưa có quy định việc giải quyết khiếu nại về việc không đồng ý với phán quyết trước tại tòa.

d. Tờ khai xuất xứ

Ở Úc: đối với phán quyết trước về xuất xứ, Úc có riêng 02 mẫu đơn xin xác nhận trước xuất xứ với Mỹ và Thái Lan vì Úc đã ký Hiệp định thương mại tự do với hai nước này. Ngay sau khi Hiệp định được ký và phê chuẩn, Mỹ và Úc sẽ trao ngay cho nhau quy chế miễn thuế đối với nhiều loại hàng hoá và dịch vụ. Điều này sẽ giúp hàng nông sản từ Úc xuất khẩu vào Mỹ nhiều hơn, còn các doanh nghiệp viễn thông, năng lượng, du lịch vận tải… của Mỹ hoạt động kinh doanh thuận lợi tại Úc. Theo ước tính của Bộ Thương mại Mỹ, Hiệp định sẽ làm tăng GDP cho Mỹ khoảng 2 tỷ USD/năm và cho Úc 1,5 tỷ USD/năm. Bối cảnh đó, Úc và Thái Lan đã đồng ý việc ký Hiệp định thương mại tự do (FTA), nhằm cắt giảm thuế đánh vào 2000 – 3000 mặt hàng của hai bên, trong vòng 5 tháng tới. Theo phát ngôn viên bộ ngoại giao Thái Lan cho biết, năm 2010, hai bên đã gỡ bỏ hàng rào thuế quan cho thêm 700 – 800 mặt hàng và đến năm 2015, số mặt hàng được miễm giảm thuế giữa Úc và Thái Lan sẽ lên đến gần 10 ngàn, trong trường hợp Hiệp định được thực hiện triệt để.

Ở Việt Nam: Việt Nam đã tham gia đầy đủ vào tiến trình tự do hóa thương mại trong khu vực ASEAN và ASEAN + với 7 nước gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Australia, New Zealand, Ấn Độ và Chi Lê. Các FTA này đã và đang giúp cho hàng hóa Việt Nam được hưởng thuế suất ưu đãi nhập khẩu vào ASEAN thấp hơn cả thuế suất tối huệ quốc mà các nước ASEAN dành cho các thành viên trong WTO. Cùng với đó, doanh nghiệp Việt Nam có thể nhập khẩu nguyên liệu đầu vào từ ASEAN với giá thấp hơn các khu vực khác để sản xuất hàng hóa, giảm chi phí đầu vào, hưởng ưu đãi về xuất xứ hàng hóa. Về mẫu đơn xin xác nhận trước xuất xứ của doanh nghiệp đối với những hàng hóa có xuất xứ từ ASEAN giống nhau, không có sự khác biệt.

11.2.2.2. Thực thi ban hành các thông báo trước của Hải quan Việt Nam

a. Thực trạng công tác xác định trước trị giá

Từ khi có hướng dẫn xác định trước về trị giá tính thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu (theo Công văn 8356/BTC-TCHQ) đến thời điểm 10/3/2014 không có trường hợp nào đề nghị xác định trước trị giá vì nguyên nhân sau:

Theo quy định tại Công văn hướng dẫn 8356/BTC-TCHQ và sau này Thông tư 128/2013/TT-BTC thay thế,  doanh nghiệp muốn xác định trước trị giá hàng xuất nhập khẩu, doanh nghiệp chuẩn bị hồ sơ và nộp cho Cục Hải quan địa phương nơi doanh nghiệp dự kiến làm thủ tục hải quan trong thời hạn ít nhất 90 ngày trước khi làm thủ tục xuất nhập khẩu, sau đó Cục Hải quan địa phương kiểm tra hồ sơ nếu đúng và đủ thì chuyển về Cục Thuế xuất nhập khẩu (Tổng cục Hải quan) để Cục Thuế xuất nhập khẩu trả lời, còn nếu thiếu hoặc hồ sơ chưa đúng sẽ gửi trả doanh nghiệp để bổ sung. Tuy nhiên doanh nghiệp thường gặp khó khăn trong mục 1, Điều 8 – Thông tư 128/2013/TT-BTC về điều kiện, nhất là các điều kiện như:

– Hàng hóa phải được nhập khẩu lần đầu tiên;

– Đã thanh toán hết toàn bộ tiền hàng;

– Giao toàn bộ hàng 1 lần.

b. Thực trạng công tác phân loại trước

Tính từ tháng 10/2005 đến tháng 12/2013, Cục Thuế xuất nhập khẩu (cơ quan đầu mối) đã trả lời 50 trường hợp các Doanh nghiệp đề nghị phân loại trước hàng hóa. Thực tế cho thấy việc phân loại trước theo quy định tại các văn bản hướng dẫn trước đây, Thông tư 49/2010/TT-BTC ngày 12/4/2010 về việc phân loại, áp dụng mức thuế đối hàng hóa xuất nhập khẩu gặp khó khăn đối với Doanh nghiệp về điều kiện:

 – Hàng hoá chưa được chi tiết tên cụ thể trong Danh mục hàng hoá xuất nhập khẩu Việt Nam hoặc Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi;

 – Hàng hoá có thể xác định được tên gọi, phân loại được mã số trên cơ sở căn cứ vào mô tả mặt hàng, tài liệu kỹ thuật, hình ảnh, mẫu hàng và các tài liệu khác trong hồ sơ phân loại trước, không phải dựa trên kết quả phân tích, giám định bằng trang thiết bị kỹ thuật;

–  Hàng hoá chưa có trong Cơ sở dữ liệu phân loại hàng hoá, áp dụng mức thuế công bố trên trang thông tin điện tử của Tổng cục Hải quan.

 Đến Thông tư 128/2013/TT-BTC thì các điều kiện này đã bỏ đi và các điều kiện để Doanh nghiệp xin đề nghị phân loại trước hàng hóa là đơn giản và dễ thực hiện. 

Ngày 04/12/2013 Tổng cục Hải quan ban hành Quyết định số 3987/QĐ-TCHQ về việc ban hành Quy trình xác định trước mã số hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và quy trình phân loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải phân tích. Việc ban hành quy trình này nhằm cụ thể hóa các bước làm. Tuy nhiên tính đến thời điểm hiện tại việc đề nghị phân loại vẫn rất ít các đơn đề nghị (19 trường hợp -nguồn Cục Thuế xuất nhập khẩu). Một số công ty đề nghị như là: Samsung, Bitracon trade & consult, Công ty Cổ phần giải pháp Quốc tế, Công ty TNHH 3M- Việt Nam, Công ty Công nghiệp Minh khai, Công ty hoa Đà Lạt, Công ty Cổ phần thiết bị Tân Phát, Công ty TNHH Kyoei Việt nam… Những mặt hàng đề nghị xác định trước mã số chủ yếu là hóa chất, vi sinh vật,  cọc bê tông, miếng dán vụn, vật liệu phủ màng mỏng áp dụng công nghệ nano, linh kiện xe ô tô, máy móc kỹ thuật, thuốc,…Thông qua các hồ sơ cho thấy công tác xác định trước mã số hàng hóa thực hiện rất tốt, đúng quy trình.

c. Phân loại trước về xuất xứ

Trên thực tế từ khi ban hành các quy định về xác định trước xuất xứ, chưa có doanh nghiệp nào đề nghị xác định trước xuất xứ với lý do đưa ra: không có tác dụng tạo thuận lợi trong thông quan vì, khi có kết quả về xác định trước xuất xứ thì kết quả này ở cửa khẩu cũng chỉ mang tính tham khảo, hơn nữa theo quy định tại khoản 5 Điều 9 Phần II Thông tư 128/2013/TT-BTC, thông báo này không có tác dụng hưởng ưu đãi thuế quan và cũng không có giá trị pháp lý thay thế C/O trong hồ sơ thông quan. Mặt khác, nếu có xác định trước xuất xứ thì doanh nghiệp vẫn phải cần có C/O trong bộ hồ sơ hải quan, nên thay vì đề nghị xác định trước xuất xứ, doanh nghiệp thực hiện lấy C/O.

11.2.3. Một số đề xuất

Qua kinh nghiệm của một số nước về thực hiện công tác phán quyết trước cho các lĩnh vực: trị giá hàng hóa, xuất xứ hàng hóa và phân loại hàng hóa và đối chiếu với thực tế hoạt động của ngành Hải quan Việt Nam hiện nay. Yêu cầu đặt ra đối với hoạt động phán quyết trước cần tập trung vào các vấn đề sau:

– Xây dựng cơ sở pháp lý về hoạt động phán quyết trước tuân thủ các khuyến nghị của quốc tế và đảm bảo cho các thông báo kết quả xác định trước về phân loại hàng hóa, xuất xứ hàng hóa và trị giá tính thuế là căn cứ làm thủ tục hải quan;

– Thủ tục đề nghị phán quyết trước, ra thông báo kết quả phán quyết trước được minh bạch, đơn giản, dễ thực hiện;

–  Kết quả phán quyết trước được bảo mật và lưu giữ an toàn phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu;

– Xây dựng lực lượng chuyên trách và đẩy mạnh công tác đào tạo nghiệp vụ cho cán bộ chuyên trách cũng như tăng cường tuyên truyền lợi ích của hoạt động phán quyết trước đến công đồng doanh nghiệp.

Trên cơ sở yêu cầu trên, nhóm nghiên cứu có một số kiến nghị như sau:

11.2.3.1. Về cơ sở pháp lý

Hệ thống cơ sở pháp lý của Việt Nam về hoạt động xác định trước trị giá tính thuế, mã số hàng hóa và xuất xứ hàng hóa xuất nhập khảu cơ bản đã phù hợp với các khuyến nghị của Công ước Kyoto sửa đổi, các quy định trong các Hiệp định thương mại và khá tương đồng với các quy định về hoạt động phán quyết trước của một số nước như Mỹ, Úc, Nhật Bản, Trung Quốc hay Singapore. Điều này thể hiện qua cách thức thực hiện phán quyết trước, thời gian xác định phán quyết trước, hiệu lực của Phán quyết trước…(như đã so sánh ở trên. Tuy nhiên, về cơ sở pháp lý còn một vấn đề như công tác bảo mật, lưu trữ tại cơ sở dữ liệu chúng ta chưa có quy định cụ thể, đặc biệt giá trị pháp lý của Thông báo kết quả phán quyết trước của Việt Nam chỉ có tác dụng tham khảo (nhất là trị giá và xuất xứ) nên thực tế các doanh nghiệp chưa mặn mà với hoạt động phán quyết trước.

Trong thời gian tới, nhất là khi hệ thống thông quan tự động VNACCS đã đi vào hoạt động thì công tác xác định trước trị giá, mã số hàng hóa, xuất xứ hàng hóa (một hình thức tạo cơ sở kiểm soát trước thông quan) là hết sức cần thiết. Vì vậy, để làm tốt công tác này, cần bổ sung quy định về công tác bảo mật, xây dựng cơ sở dữ liệu và nhất là xác định tính pháp lý của thông báo kết quả xác định trước trong khi làm thủ tục thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu vào Thông tư 128/2013/TT-BTC. Thông báo này phải có giá trị khi làm thủ tục thông quan cho hàng hóa xuất nhập khẩu như các nước khác đã quy định chứ không chỉ có tác dụng tham khảo như quy định hiện hành của Thông tư 128/2013/TT-BTC.

Xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ cho công tác phán quyết trước về trị giá, mã số và xuất xứ hàng hóa xuất nhập khẩu. Đồng thời thường xuyên cập nhật vào cơ sở dữ liệu này các văn bản hướng dẫn về xác định, kiểm tra trị giá, mã số và xuất xứ hàng hóa xuất nhập khẩu và đặc biệt phải cập nhật những thay đổi về quy định xác định, kiểm tra trị giá, mã số và xuất xứ hàng hóa xuất nhập khẩu. Đồng thời cần công khai các thay đổi này để các doanh nghiệp cùng thực thi.

11.2.3.2. Về thực thi xác định trước

Như phân tích ở trên, các quy định về thông tin mà doanh nghiệp cần cung cấp cho cơ quan hải quan về cơ bản không khác nhau nhiều. Tuy nhiên, trong quá trình thực thi nhóm nghiên cứu đề xuất một số ý kiến nghị sau:

Mô hình quy trình thủ tục xác định trước trị giá, mã số, xuất xứ hàng hóa được trình bày tại hình 1. Về cơ bản mô hình này giống mô hình xác định trước xuất xứ của Hải quan Nhật Bản. Các thủ tục phải qua cấp Cục hải quan địa phương (Nhật Bản được gửi đến Hải quan Vùng). Tuy nhiên, sự khác nhau căn bản là thẩm quyền ra quyết định xác định trước. Ở Nhật Bản, những xác định trước không quá phức tạp thì việc ra thông báo kết quả xác định trước được quyết định bởi cấp vùng. Ở Việt Nam, theo quy định, đơn vị thực hiện phán quyết trước là một bộ phận của Tổng cục Hải quan (đối với lĩnh vực trị giá hàng hóa và phân loại hàng hóa thì một bộ phận thuộc Cục Thuế xuất nhập khẩu xử lý; đối với lĩnh vực xuất xứ hàng hóa thì một bộ phận thuộc Cục Giám sát quản lý xử lý). Còn cấp Cục địa phương chỉ là nơi tiếp nhận hồ sơ và kiểm tra gửi cho cơ quan trung ương là Tổng cục Hải quan. Đây cũng là yếu tố làm cho thời gian ra thông báo trước đối với trường hợp không cần bổ sung hồ sơ dài hơn 5 ngày làm việc so với thời gian ra thông báo kết quả trước của Hải quan Úc. Vì ở Úc, cơ quan quyết định ra thông báo kết quả xác định trước và tiếp nhận hồ sơ xác định trước là ở cấp trung ương. Có thể nhận thấy thẩm quyền quyết định của ta là cấp cao nhất, nhưng hồ sơ doanh nghiệp cần gửi phải đi qua cấp Cục nên thực sự chưa thuận tiện cho doanh nghiệp. Vì vậy nếu giữ nguyên mô hình trong hình 3.1, nhóm nghiên cứu đề xuất cần phân quyền cho cấp Cục địa phương quyết định một số Thông báo kết quả xác định trước và chịu trách nhiệm về kết quả xác định của mình. Tuy nhiên, trong tương lai, việc xử lý dữ liệu tập trung phục vụ cho hệ thống tự động thông quan VNACCS, nên mô hình phân cấp cho cấp Cục chưa thực sự thuyết phục, nhóm nghiên cứu đề xuất mô hình quy trình cụ thể như hình dưới đây:

 

 

 

 

 

 

 

Sơ đồ 11.2. Mô hình về quy trình ra phán quyết trước

 

Tổng cục Hải quan

Doanh nghiệp xuất nhập khẩu xin xác định trước

Hồ sơ nộp trước 90 ngày dự kiến làm TTHQ

 

Hồ sơ bị từ chối hoặc sung thông tin theo yêu cầu của Hải quan T. TP

Xác minh tại cơ quan có thẩm quyền nước ngoài

Thông báo kết quả xác định trước

Các Cục Hải quan địa phương

         

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

a. Về thủ tục

Hiện tại, doanh nghiệp khi có yêu cầu cần điền nội dung vào mẫu đơn theo quy định tại Thông tư 128/2013/TT-BTC và gửi hồ sơ về Cục Hải quan địa phương nơi quản lý doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của Nhật Bản và theo thực tế tiến trình hiện đại hóa của ngành Hải quan Việt Nam hiện nay, đề xuất đa dạng hóa các hình thức đơn gửi: ngoài việc gửi đơn đề nghị qua đường công văn như thông thường, doanh nghiệp còn có thể gửi đơn đề nghị qua đường email hoặc điện thoại.

Đối với hình thức qua email, cơ quan hải quan cần xây dựng mẫu đơn trên website www.customs.gov.vn doanh nghiệp tự điền rồi scan các văn bản cần thiết kèm theo, sau đó gửi toàn bộ cho cơ quan hải quan bằng email (có sử dụng chữ ký số như trong hệ thống thông quan VNACCS). Cơ quan hải quan thực hiện phán quyết trước và gửi email trả lời. Email này có giá trị pháp lý như văn bản giấy.

Đối với hình thức qua điện thoại, cơ quan hải quan sẽ bố trí một đường dây nóng vào giờ hành chính để doanh nghiệp có thể gọi điện hỏi trực tiếp. Câu trả lời được của cán bộ hải quan qua điện thoại chỉ mang tính chất tham khảo chứ không có giá trị pháp lý như văn bản hoặc email. Nếu trường hợp hàng hóa phức tạp, cán bộ hải quan sẽ có hướng dẫn đối với doanh nghiệp để thực hiện các công đoạn tiếp theo; hoặc nếu trả lời được trong ngày làm việc hôm đó thì hẹn lại doanh nghiệp thời gian trả lời.

Đối với phán quyết trước về trị giá nên xem xét các điều kiện như: hàng hóa phải nhập khẩu lần đầu tiên, doanh nghiệp phải thanh toán toàn bộ tiền hàng, giao hàng toàn bộ một lần có thực sự cần thiết không. Đây là những điều kiện gây khó khăn cho doanh nghiệp muốn tham gia vào hoạt động phán quyết trước. Theo kinh nghiệm của các nước đã thực hiện phán quyết trước, doanh nghiệp có quyền được yêu cầu phán quyết trước, và hoạt động thương mại quốc tế là đa dạng, linh hoạt, hàng hóa có thể được giao nhiều lần và việc xác định trước còn là cơ sở để doanh nghiệp lập kế hoạch kinh doanh. Vì vậy, không nên tạo khung cứng như quy định của Việt Nam mà nên bỏ các điều kiện như đã nêu ở trên.

Tổng cục Hải quan cần xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ công tác xác định trước. Khi một thông báo về kết quả xác định trước được đưa ra, cán bộ chuyên trách có trách nhiệm cập nhật thông tin vào cơ sở dữ liệu và cung cấp thông tin cho bộ phận quản lý rủi ro để quản lý.

Phối hợp với các cơ quan cấp giấy chứng nhận xuất xứ, cơ sở sản xuất, hải quan nước xuất khẩu và các Bộ, Ngành để thực hiện xác định trị giá, phân loại hàng hóa và xác định xuất xứ.

Các vấn đề liên quan đến khiếu nại về kết quả thông báo trước cần được xử lý kịp thời, không để việc khiếu kiện kéo dài quá 30 ngày.

b. Các vấn đề về tổ chức động và tuyên truyền

b1. Về mặt tổ chức

Cần xây dựng hệ thống chuyên trách về công tác xác định trước. Hệ thống này cần những cán bộ có trình độ chuyên môn chuyên sâu về các lĩnh vực như trị giá, phân loại hàng hóa và xác định xuất xứ. Trước mắt tại các Cục hải quan địa phương cần biên chế một tổ phụ trách vấn đề phán quyết trước (có thể đặt ở phòng nghiệp vụ).  Tổ này cần ít nhất 03 cán bộ chịu trách nhiệm 03 mảng xác định trước trị giá, xuất xứ và mã số. 

 Tổng cục Hải quan, cần thành lập 03 tổ chuyên sâu về 03 mảng, đặc biệt số lượng cán bộ làm công tác xác định trước mã số cần có nhiều hơn hai lĩnh vực trị giá và xuất xứ. Bộ phận chuyên trách này ngoài việc phối hợp chặt chẽ với các Cục hải quan địa phương, cần phối hợp chặt chẽ với các đơn vị nghiệp vụ của TCHQ như Cục Thuế, Cục Giám sát quản lý, Trung tâm phân tích phân loại (xin ý kiến tham khảo) trong việc xác trị giá, xuất xứ, và phân loại hàng hóa xuất nhập khẩu.

Một năm một lần cần tổ chức bổ túc nâng cao trình độ và cập nhật kiến thức về các lĩnh vực trị giá, xuất xứ và phân loại hàng hóa cho cán bộ chuyên trách.

b2. Về công tác tuyên truyền

Một trong các nguyên nhân dẫn đến tình trạng không mặn mà của doanh nghiệp đối với phán quyết trước là do tuyên truyền của cơ quan hải quan chưa rộng rãi và cụ thể khiến cho doanh nghiệp chưa hiểu rõ lợi ích của hoạt động phán quyết trước. Đặc biệt, khi Hải quan Việt nam triển khai Hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS, việc khai báo trên hệ thống phức tạp hơn, thực hiện phân luồng hàng hóa hoàn toàn tự động. Vì vậy, việc khai chính xác về trị giá, về xuất xứ hay mã số là cần thiết, nên nếu có được các thông tin về xác định trước sẽ thuận lợi cho hoạt động cần thực hiện yêu cầu phán quyết trước. Khi có câu trả lời của cơ quan hải quan, người khai hải quan sẽ có cơ sở chắc chắn và tự tin hơn trong khai báo hải quan trên nền tảng VNACCS/VCIS.

Đề xuất: cơ quan hải quan tại các địa điểm làm thủ tục hải quan cần công khai các quy định và lợi ích của việc xác định trước về trị giá, mã số và xuất xứ hàng hóa xuất nhập khẩu. Phát tờ rơi để doanh nghiệp hiểu rõ hơn vấn đề. Bên cạnh đó, các website của các Cục hải quan địa phương cũng thường xuyên đăng tải các thông tin và tạo các trường dữ liệu để thực hiện hoạt động phán quyết trước trên website. Vấn đề phán quyết trước cũng cần được nêu trong các hội nghị Hải quan – Doanh nghiệp để có những đề xuất trực tiếp từ phía doanh nghiệp nhằm ngày một cải thiện công tác phán quyết trước được thuận lợi hơn./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

———————–

1. Công ước Tokyo sửa đổi năm 2008.

2. hiệp định Hải quan ASEAN

3. Hiệp định thực thi Điều VII Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT 1994.

4. Luật Hải quan.

5. Luật quản lý Thuế số 78/2006QH11.

6. Thông tư số 128/2013/TT-BTC ngày 10/9/2013 của Bộ Tài chính quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hành hoá xuất, nhập khẩu.

7. Công văn số 8356/BTC-TCHQ ngày 28/6/2013 về việc hướng dẫn về xác định mã số, trị giá và thời gian nộp thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế sửa đổi.

8. Các website:

– Tổ chức Hải quan thế giới: http://www.wcoomd.org/

– Tổ chức thương mại thế giới: http://www.wto.org/

– Hải quan Úc:  http://www.customs.gov.au/

– Hải quan Nhật: http://www.customs.go.jp/

– Hải quan Singapore: http://www.customs.gov.sg/

– Hải quan Mỹ: http://www.cbp.gov/

– Hải quan Việt Nam: http://www.gov.vn/

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *