Chuyên đề 10 ĐIỀU HÀNH NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2016 NHIỆM VỤ, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐIỀU HÀNH NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2017

Chuyên đề 10: ĐIỀU HÀNH NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2016 NHIỆM VỤ, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐIỀU HÀNH NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2017 

ThS. Nguyễn Thị Thu Trung, Trường Bồi dưỡng cán bộ tài chính

10.1. Hoạt động điều hành ngân sách năm 2016

10.1.1. Nhiệm vụ, giải pháp và kết quả điều hành NSNN năm 2016

a) Nhiệm vụ điều hành NSNN năm 2016

Năm 2016 là năm đầu thực hiện Kế hoạch phát triển KTXH 5 năm 2016 – 2020, đồng thời là năm có nhiều sự kiện trọng đại của đất nước như Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021. Bên cạnh những yếu tố thuận lợi cho phát triển KTXH, năm 2016 có nhiều khó khăn, thách thức. Tình hình kinh tế thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp; Tốc độ phục hồi kinh tế chậm và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Cạnh tranh giữa các nền kinh tế ngày càng gay gắt; những rủi ro địa – chính trị trên thế giới, diễn biến phức tạp của tranh chấp chủ quyền biển, đảo trên biển Đông, cùng với biến động khó lường trên thị trường tài chính, tiền tệ, giá dầu thô, thiên tai… có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế của đất nước. Việc hình thành Cộng đồng ASEAN vào cuối năm 2015 cùng với việc ký kết và triển khai các hiệp định thương mại tự do mở ra nhiều cơ hội phát triển, nhưng cũng tạo ra những khó khăn, thách thức rất lớn phải nỗ lực vượt qua trong năm 2016.

Dựa vào điều kiện thực tiễn và nhìn lại quá trình điều hành NSNN của những năm trước, ngày 11/11/2015 Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số: 99/2015/QH13 về dự toán NSNN năm 2016 với 3 chỉ tiêu quan trọng nhất, đó là:

Tổng thu cân đối NSNN là: 1.014,5 nghìn tỷ đồng; Nếu tính cả 4,7 nghìn tỷ đồng  thu chuyển nguồn ngân sách địa phương từ năm 2015 sang năm 2016 thì tổng số thu NSNN là 1.019,2 nghìn tỷ đồng; Trong đó: Thu nội địa: 785 nghìn tỷ đồng; Thu từ dầu thô: 54,5 nghìn tỷ đồng; Thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu: 172 nghìn tỷ đồng; Thu từ viện trợ: 3 nghìn tỷ đồng; Thu chuyển nguồn từ NSĐP từ 2015 sang năm 2016 là: 4,7 nghìn tỷ đồng. So với tổng số thu thực hiện năm trước: 858,053 nghìn tỷ đồng (tăng 6.2%), đây là một số thu tích cực, tiên tiến, đặt ra yêu cầu cao nhưng cũng có khả năng thực hiện cao.

Tổng số chi cân đối NSNN là: 1.273,2 nghìn tỷ đồng; Trong đó: Chi đầu tư phát triển: 254,95 nghìn tỷ đồng ; Chi trả nợ và viện trợ: 155,1 nghìn tỷ đồng; Chi phát triển sự nghiệp KTXH, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính: 823,995 nghìn tỷ đồng; Chi cải cách tiền lương, tinh giản biên chế: 13,055 nghìn tỷ đồng; Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính: 100 tỷ đồng, chi dự phòng: 26nghìn tỷ đồng.

So với tổng chi thực hiện năm trước (1.097,303 nghìn tỷ đồng) tăng xấp xỉ 4.5%

Mức bội chi NSNN là 254 nghìn tỷ đồng, tương đương 4,95% tổng sản phẩm trong nước (GDP).

So với mức bội chi năm trước giảm 0.3%, đây cũng là mức bội chi được Quốc Hội đặt ra có tính tiên tiến, bám sát kế hoạch trung hạn về kiểm soát bội chi từ 2010 – 2020.

Trước tình hình đó, Quốc hội đã thông qua mục tiêu tổng quát của Kế hoạch phát triển KTXH năm 2016 là: “Giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, phấn đấu tăng trưởng kinh tế cao hơn năm 2015, chú trọng cải thiện chất lượng tăng trưởng, bảo đảm phát triển bền vững. Đẩy mạnh thực hiện các đột phá chiến lược, tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh. Tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh. Phát trin văn hóa, thực hiện tiến bộ công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và cải thiện đời sống nhân dân. Quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên, chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường. Đẩy mạnh ci cách hành chính, tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính và xã hội; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; tạo sự chuyển biến rõ nét về phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Tăng cường quốc phòng, an ninh, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia; bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế.”

b) Giải pháp điều hành NSNN năm 2016

Để hoàn thành cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển KTXH năm 2016 và tạo đà cho việc thực hiện kế hoạch phát triển KTXH 5 năm 2016 – 2020; hoàn thành dự toán NSNN năm 2016 đã được Quốc Hội thông qua, Chính phủ đã yêu cầu các Bộ, cơ quan Trung ương, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các đơn vị, cá nhân liên quan nỗ lực tổ chức thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp trên tất cả các lĩnh vực; tiếp tục triển khai quyết liệt, có hiệu quả các đột phá chiến lược, các chương trình, đề án, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách, pháp luật phục vụ phát triển KTXH đã đề ra; trong đó tập trung chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ, giải pháp sau đây:

Một là, điều hành linh hoạt, hiệu quả chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và các chính sách khác để đạt và vượt các chỉ tiêu Quốc hội thông qua. Điều hành lãi suất, tỷ giá, tăng trưởng tín dụng phù hợp, xử lý nợ xấu có hiệu quả. Kiểm soát chặt chẽ nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài của quốc gia trong giới hạn theo Nghị quyết của Quốc hội, nâng cao hiệu quả sử dụng, tăng cường kiểm tra, giám sát việc vay, sử dụng vốn vay và trả nợ, nhất là các khoản vay mới, vay có bảo lãnh của Chính phủ, tiếp tục cơ cấu lại các khoản vay theo hướng tăng tỷ trọng vay trung, dài hạn với lãi suất phù hợp. Tiếp tục cơ cấu lại thu, chi NSNN bảo đảm tỷ lệ hợp lý giữa chi đầu tư, chi thường xuyên và chi trả nợ, theo hướng chi đầu tư tăng nhanh hơn; xử lý cơ bản nợ đọng xây dựng cơ bản, không để phát sinh thêm nợ mới, kiên quyết xử lý và thu hồi nợ đọng thuế, quản lý chặt chẽ việc ứng trước dự toán và chi chuyển nguồn, triệt để thực hiện tiết kiệm chi thường xuyên, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương tài chính, các khoản thu, chi NSNN phải được dự toán. Huy động, thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển, tập trung thu hút các dự án đầu tư nước ngoài sử dụng công nghệ cao.

Hai là, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Tập trung tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy khu vực kinh tế trong nước phát triển, thực hiện hiệu quả các giải pháp hỗ trợ nông dân, doanh nghiệp trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, mở rộng thị trường. Tăng cường công tác phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng không bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm.

Ba là, tiếp tục triển khai Hiến pháp năm 2013, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chấm dứt tình trạng chậm ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành pháp luật, nghiêm cấm ban hành văn bản trái với tinh thần và nội dung của Hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Bốn là, phát triển đồng bộ và nâng cao hiệu quả hoạt động các loại thị trường, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, minh bạch. Thực hiện cơ chế thị trường, nghiên cứu và thực hiện tách dịch vụ công ra khỏi quản lý nhà nước; đẩy mạnh xã hội hóa đối với việc cung cấp dịch vụ công, đổi mới tổ chức và hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập. Đẩy nhanh tiến độ và nâng cao hiệu quả việc sắp xếp, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, nhất là các công ty nông, lâm nghiệp.

Năm là, tiếp tục hoàn thiện và tổ chức thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với người có công, người nghèo theo chuẩn nghèo mới, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và giải quyết tốt hơn cung cầu trên thị trường lao động. Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới giáo dục và đào tạo để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gắn với giải quyết việc làm.

Sáu là, tăng cường quản lý tài nguyên, khoáng sản, bảo vệ môi trường; việc khai thác mới tài nguyên, khoáng sản phải thực hiện đấu thầu công khai, minh bạch, phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu. Kiên trì đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia trong quản lý, sử dụng bền vững nguồn nước sông Mê Công.

Bảy là, nâng cao hiệu quả, hiệu lực nền hành chính công và cải cách hành chính, thực hiện nghiêm Nghị quyết 39 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát năng lực, thái độ thực thi pháp luật, đánh giá thực chất đội ngũ cán bộ, công chức, cương quyết loại bỏ những người cản trở, trục lợi, gây khó khăn cho doanh nghiệp, người dân. Nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân.

Tám là, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại; tiếp tục đưa quan hệ với các đối tác đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả; đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại Nhà nước và ngoại giao nhân dân.

Chín là, dự báo và nắm chắc diễn biến tình hình trong và ngoài nước, kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại để chủ động giải quyết mọi tình huống xảy ra, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình để phát triển đất nước.

Từ hệ thống giải pháp của Chính Phủ đưa ra, Bộ Tài chính cụ thể hóa trong điều kiện của Ngành, đưa ra những giải pháp điều hành NSNN năm 2016 như sau:

Một là, triển khai đồng bộ, hiệu quả chính sách tài khóa chặt chẽ, triệt để tiết kiệm để hỗ trợ sản xuất – kinh doanh, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp tập trung chỉ đạo công tác thu – chi NSNN quyết liệt để hoàn thành và hoàn thành vượt mức dự toán NSNN năm 2016 đã được Quốc hội quyết định. Cấp ủy, chính quyền địa phương phải có kế hoạch vào cuộc ngay từ những ngày đầu, tháng đầu, chỉ đạo quyết liệt công tác thu, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản phát sinh theo quy định; Siết chặt công tác quản lý thu, thu hồi nợ đọng thuế, kiểm tra giám sát các gian lận thương mại, chuyển giá,… Phấn đấu thu nội địa tăng 7-8% để hỗ trợ bù đắp hụt thu từ việc giá dầu thô biến động khó lường và hội nhập quốc tế. Để chủ động ứng phó với việc giảm thu NSNN do giá dầu thô giảm, giữ vững cân đối NSNN năm 2016, Bộ Tài chính đã xây dựng các kịch bản điều hành NSNN theo từng mức giá dầu, trong đó có cả mức giá 30 và thậm chí dưới 30 USD/thùng, từ đó đưa ra những giải pháp xử lý cụ thể. Do tỷ trọng thu trực tiếp và gián tiếp liên quan đến dầu thô không lớn (khoảng 10% tổng thu NSNN); Đồng thời, từ kinh nghiệm điều hành năm 2015 cho thấy việc giá xăng dầu giảm cũng có tác động tích cực đến phát triển kinh tế, tạo thêm nguồn thu cho NSNN. Vì vậy, số giảm thu do biến động giá dầu thô có thể bù đắp được từ số phấn đấu tăng thu nội địa và XNK.

Quản lý, điều hành chi NSNN chặt chẽ, triệt để tiết kiệm chi thường xuyên, chi đầu tư.

Hai là, tăng cường công tác quản lý giá, đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng; tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn đầu tư ngoài ngành theo kế hoạch đã được Chính phủ phê duyệt.

Ba là, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong khu vực sự nghiệp công, thông qua điều chỉnh dần giá, phí dịch vụ sát với chi phí và giao quyền tự chủ cho các đơn vị.

Bốn là, kiên trì tiếp tục điều hành giá theo cơ chế thị trường đối với những mặt hàng, dịch vụ mà Nhà nước còn quản lý, định giá như xăng, dầu, điện,…

Năm là, Tiếp tục đẩy mạnh, tăng cường hơn nữa công tác xây dựng thể chế, cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài chính, rà soát các qui định về cải cách thủ tục hành chính để thống nhất quy trình tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập quốc tế. Hiện đại hóa và nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động quản lý Nhà nước của ngành Tài chính, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra tài chính, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Sáu là, điều hành bội chi NSNN trong phạm vi được Quốc hội quyết định; quản lý, kiểm soát chặt chẽ nợ công;

Bảy là, tiếp tục tăng cường kỷ cương, kỷ luật tài chính, tăng cường công khai, minh bạch,…

c) Kết quả điều hành NSNN năm 2016

(1) Kết thúc quý I/2016:

* Kết quả đạt được:

Thu ngân sách quý I đạt 230,5 nghìn tỷ đồng, bằng 22,7% dự toán, tăng 0,3% so với cùng kỳ năm 2015. Trong đó: Thu nội địa: đạt 193.800 tỷ đồng, bằng 24,7% dự toán, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2015 (không kể tiền sử dụng đất thì tăng 9,3%); Thu về dầu thô: ước đạt 8,9 nghìn tỷ đồng, bằng 16,4% dự toán, bằng 45,9% so với cùng kỳ năm 2015; Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu: ước đạt 54,6 nghìn tỷ đồng, bằng 20,2% dự toán, giảm 11,5% so với cùng kỳ năm 2015. Sau khi thực hiện hoàn thuế giá trị gia tăng theo chế độ (27 nghìn tỷ đồng), thu cân đối NSNN từ hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt 27,6 nghìn tỷ đồng, bằng 16% dự toán, bằng 81,3% so cùng kỳ năm 2015.

Chi NSNN, ước đạt 277,59 nghìn tỷ đồng, bằng 21,8% dự toán, tăng 5,4% so cùng kỳ năm 2015, trong đó: Chi đầu tư phát triển: ước đạt 46,67 nghìn tỷ đồng, bằng 18,3% dự toán, tăng 6,9% so cùng kỳ năm 2015; Chi trả nợ và viện trợ: ước đạt 39,2 nghìn tỷ đồng, bằng 25,2% dự toán, tăng 5,3% so cùng kỳ năm 2015, đảm bảo thanh toán đầy đủ, kịp thời các khoản nợ đến hạn theo cam kết; Chi phát triển các sự nghiệp KTXH, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính: ước đạt 191,8 nghìn tỷ đồng, bằng 23,1% dự toán, tăng 5,1% so cùng kỳ năm 2015.

Bội chi NSNN  ước 47.080 tỷ đồng, bằng 18,5%  dự toán năm.

Tình hình huy động vốn cho NSNN: Tính đến ngày 25/3/2016, đã thực hiện phát hành được gần 69 nghìn tỷ đồng trái phiếu Chính phủ bù đắp bội chi NSNN và cho đầu tư phát triển, xấp xỉ 27% nhiệm vụ huy động vốn trong nước năm 2016, đảm bảo nguồn đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ chi ngân sách theo dự toán

* Một số khó khăn:

Tỷ lệ thu NSNN đạt thấp so với dự toán đặt ra nguyên nhân chủ yếu do giá dầu thô giảm sâu, giá dầu thô trên thị trường giảm, xoay quanh mức 30 USD/thùng. Do có độ trễ trong thanh toán, giá dầu của Việt Nam bình quân trong tháng 1/2016 ước khoảng 38 USD/thùng, giảm 22 USD/thùng so với giá xây dựng dự toán.

Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu giảm so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do giá dầu thô và các sản phẩm hóa dầu xuất nhập khẩu giảm mạnh; đồng thời, kim ngạch của một số mặt hàng nhập khẩu có đóng góp số thu lớn cho NSNN giảm (như: ô tô nguyên chiếc giảm 51,6% về lượng, giảm 55,9% về trị giá; sắt thép các loại giảm 21,6% về lượng, giảm 20,9% về trị giá; máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác giảm 4,8% về trị giá,…). Sau khi hoàn thuế giá trị gia tăng theo chế độ, thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu chỉ bằng 3,7% dự toán

Chi đầu tư phát triển và đầu tư XDCB đạt thấp, do đang trong quá trình phân bổ, thông báo kế hoạch vốn cho các chủ đầu tư nên thực hiện chủ yếu là thanh toán vốn cho các dự án chuyển tiếp thuộc các lĩnh vực giao thông, thủy lợi, đê điều và một số dự án quan trọng đảm bảo quốc phòng, an ninh. Để tạo điều kiện cho các đơn vị triển khai thực hiện nhiệm vụ chuyên môn ngay từ đầu năm, ngành Tài chính đã chủ động tạm cấp kinh phí tháng 1/2016 cho các đơn vị đang trong thời gian chờ phân bổ dự toán; thực hiện chi trả trước tiền lương hưu và các khoản trợ cấp đến hết tháng 2/2016 cho các đối tượng là người có công với cách mạng, người hưởng lương hưu, trợ cấp xã hội vui đón Tết.

 * Một số giải pháp cho những tháng tiếp theo

Tiếp tục điều hành dự toán ngân sách năm 2016, đảm bảo kinh phí thực hiện các nhiệm vụ chi theo dự toán được duyệt và thực tế phát sinh; phối hợp với các đơn vị hướng dẫn xây dựng dự toán NNSN năm 2017;hoàn thiện báo cáo đánh giá và phương án xây dựng định mức phân bổ chi thường xuyên NSNN năm 2017; xây dựng kế hoạch điều hành thu, chi ngoại tệ của NSNN năm 2016; rà soát, tổng hợp số tăng thu NSĐP năm 2015 để thực hiện chi cải cách tiền lương năm 2016.

Tổ chức thực hiện tốt các giải pháp về thu NSNN, phấn đấu tăng thu nội địa và thu từ hoạt động xuất nhập khẩu ở mức cao nhất để bù đắp số giảm thu từ dầu thô; kiểm soát chặt chẽ việc hoàn thuế, đảm bảo trong phạm vi dự toán được giao. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế; tăng cường kiểm tra sau thông quan.

Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát chi đảm bảo nguồn đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ chi của NSNN theo dự toán; thực hành tiết kiệm (đặc biệt là chi mua ô tô, chi khánh tiết hội nghị, hội thảo, đi công tác nước ngoài), chống lãng phí; chủ động trong tổ chức điều hành NSNN, ưu tiên để phòng chống khắc phục thiên tai, bão lụt, dịch bệnh, hỗ trợ lãi suất mua gạo tạm trữ… và một số nhiệm vụ cấp bách phát sinh.

Thẩm định chặt chẽ nguồn vốn các dự án khởi công mới; thẩm tra phân bổ kế hoạch đầu tư vốn NSNN năm 2016 cho các Bộ, ngành; tổng hợp kế hoạch vốn đầu tư, phát triển, kế hoạch vốn Trái phiếu Chính phủ năm 2016 của các Bộ, ngành, địa phương.

Thực hiện đồng bộ, linh hoạt các giải pháp huy động vốn, phấn đấu huy động đạt kế hoạch được giao.

Thực hiện huy động, giải ngân các khoản vốn vay nước ngoài theo kế hoạch; đẩy nhanh tiến độ giải ngân các khoản vốn nước ngoài bằng tiền cho cân đối NSNN.

(2) Kết thúc quý II năm 2016

* Kết quả đạt được

Thu NSNN: hết quý II ước đạt 476,8 nghìn tỷ đồng, bằng 47% dự toán năm, tăng 6,1% so cùng kỳ năm 2015. Đây là mức tăng thấp nhất so cùng kỳ 2 năm gần đây. Trong đó, thu nội địa đạt 48,8% dự toán năm, tăng 13,8% so cùng kỳ năm 2015; thu dầu thô đạt 37,2% dự toán năm, giảm 44,8% so cùng kỳ năm 2015; thu xuất nhập khẩu đạt 41,9% dự toán, giảm 2,2% so cùng kỳ năm 2015.

Tiến độ thu ngân sách địa phương đạt khá so dự toán và tăng so với cùng kỳ năm trước. Tính chung, thu NSĐP hết quý II đạt khoảng 55% dự toán; trong đó có 45 địa phương thu đạt từ 50% dự toán năm trở lên; 57 địa phương thu cao hơn so với cùng kỳ năm 2015; tuy nhiên, cũng có một số địa phương tiến độ thu đạt thấp so với dự toán được giao. Trong khi đó, thu NSTW thấp, mới đạt khoảng 42% so với dự toán năm và thấp hơn so với tiến độ thu cùng kỳ năm trước (đạt 46,3%), chủ yếu do giá dầu thô giảm và thực hiện cắt giảm thuế theo các cam kết khi tham gia các hiệp định thương mại tự do.

 Chi NSNN: hết quý II ước đạt 562,5 nghìn tỷ đồng, bằng 44,2% dự toán năm, tăng 4,9% so cùng kỳ năm 2015, cơ bản đáp ứng các nhiệm vụ chi theo dự toán được giao. Hết quý II, đã sử dụng khoảng 2,9 nghìn tỷ đồng nguồn dự phòng NSTW, chủ yếu để hỗ trợ các địa phương khắc phục hậu quả hạn hán và xâm nhập mặn, hỗ trợ giống khôi phục sản xuất sau thiên tai, xử lý sự cố môi trường biển nghiêm trọng ở một số tỉnh miền Trung.

Công tác huy động vốn: Trên cơ sở kế hoạch vay, trả nợ năm 2016 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Bộ Tài chính đã chủ động triển khai các giải pháp huy động vốn. Tính đến hết quý II, đã phát hành được 187,7 nghìn tỷ đồng TPCP, giải ngân vốn vay ODA và ưu đãi được 1.687 triệu USD đảm bảo nguồn đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ chi ngân sách theo dự toán và đầu tư các chương trình, dự án.

Quản lý nợ công và nợ quốc gia: Xây dựng và báo cáo Thủ tướng Chính phủ về định hướng huy động và sử dụng nợ công giai đoạn 2016-2020. Đảm bảo chi trả nợ đầy đủ, đúng hạn, trong phạm vi dự toán. Thường xuyên theo dõi đánh giá mức an toàn nợ công, nợ Chính phủ. Tiếp tục cơ cấu lại nợ trong nước theo theo hướng đa dạng hóa kỳ hạn TPCP, trong đó tập trung phát hành trái phiếu kỳ hạn từ 5 năm trở lên (Kỳ hạn TPCP 6 tháng đầu năm 2016 bình quân là 6,8 năm, lãi suất bình quân khoảng 6,4%/năm). Tăng cường quản lý, giám sát nợ Chính phủ bảo lãnh cũng như nợ của chính quyền địa phương.

* Một số khó khăn:

Tốc độ thu, mức thu NSNN chưa được như mong muốn so với cùng kỳ năm trước cũng như trong năm. Chủ yếu là do thu NSTW đạt thấp do giá dầu thô giảm và cắt giảm một số loại thuế

Thiên tai, hạn hán xảy ra nhiều, mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng; sự cố môi trường ở các tỉnh miền trung tiếp tục gây ảnh hưởng lớn đến tình hình ổn định KTXH, trực tiếp ảnh hưởng nguồn thu và chi của NSNN

* Giải pháp đặt ra cho 6 tháng cuối năm 2016

Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nhất là trong lĩnh vực thuế, hải quan; cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia:

Tập trung xây dựng các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật NSNN năm 2015, định mức phân bổ chi thường xuyên NSNN, làm cơ sở cho việc xây dựng dự toán NSNN năm 2017, năm đầu của thời kỳ ổn định ngân sách 2017 – 2020.

Tập trung triển khai các giải pháp, nhiệm vụ cụ thể về cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp theo các Nghị quyết số 19-2016/NQ-CP, Nghị quyết số 35/NQ-CP, triển khai Chính phủ điện tử theo Nghị quyết số 36a/NQ-CP; xây dựng cơ sở dữ liệu về người nộp thuế, mở rộng hóa đơn điện tử, nộp và hoàn thuế điện tử; thực hiện cơ chế một cửa quốc gia; giảm thiểu giấy tờ, rút ngắn thời gian, giảm chi phí thực hiện TTHC trong lĩnh vực XNK; thí điểm kiểm soát chi qua mạng.

Hai là, triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp về quản lý thu NSNN, chủ động xử lý các tác động do biến động giá dầu thô, quyết tâm thu đạt và vượt dự toán Quốc hội quyết định.

Tập trung triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho SXKD, tăng cường thu hút đầu tư, nâng cao năng lực sản xuất ở những ngành, lĩnh vực, địa bàn, sản phẩm có lợi thế, có cơ hội về thị trường, phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng 6,7% đã đề ra; Cơ quan Thuế, Hải quan phải nắm chắc đối tượng nộp thuế, theo sát tình hình hoạt động SXKD, thu đúng, đủ, kịp thời các khoản thu phát sinh; quyết liệt chống thất thu, chống chuyển giá, buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế; xử lý thu hồi nợ thuế, giảm nợ đọng thuế. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế; kiểm soát chặt chẽ hoàn thuế GTGT.

Ba là, tổ chức điều hành, quản lý chi NSNN chặt chẽ, tiết kiệm, đúng quy định, chống lãng phí; nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN.

Tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thi công và giải ngân vốn đầu tư công, nhất là vốn đầu tư từ NSNN và vốn TPCP. Kịp thời xử lý các khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng các quy định của Luật NSNN, Luật đầu tư công, Luật xây dựng và các văn bản hướng dẫn.

Điều hành ngân sách chủ động, đảm bảo cân đối ngân sách các cấp theo Chỉ thị số 22/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Trong đó: tạm giữ lại 50% nguồn dự phòng NSTW để chủ động xử lý khi nguồn thu NSTW giảm lớn. Tương tự như vậy, ở địa phương, trường hợp dự kiến thu NSĐP (không kể thu tiền sử dụng đất) giảm so với dự toán, các địa phương tạm giữ lại 50% nguồn dự phòng ngân sách để chủ động xử lý khi nguồn thu NSĐP giảm lớn.

Nguồn dự phòng dành tập trung để chi phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn, dịch bệnh… và các nhiệm vụ chi quan trọng, cấp bách, đột xuất phát sinh theo quy định.

Bốn là, quản lý kiểm soát chặt chẽ nợ công trong giới hạn cho phép.

Thực hiện đồng bộ các giải pháp huy động vốn theo kế hoạch vay nợ được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; Tăng cường kiểm tra, giám sát việc vay, sử dụng vốn vay và trả nợ. Kiểm soát chặt chẽ nợ của chính quyền địa phương; thực hiện cơ chế cho vay lại chính quyền địa phương đối với vốn vay ODA và vay ưu đãi. Xây dựng đề án và triển khai giải pháp tái cơ cấu danh mục nợ công; phương án huy động và trả nợ trong điều kiện Việt Nam tốt nghiệp IDA.

Năm là, tăng cường và đẩy mạnh công tác quản lý, kiểm tra thị trường.Tiếp tục thực hiện nhất quán chủ trương quản lý giá theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đối với các mặt hàng quan trọng, thiết yếu; tăng cường kiểm tra, thanh tra và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giá. Công khai thông tin về giá, điều hành giá để tạo sự đồng thuận trong xã hội.

Sáu là, tiếp tục xây dựng các Nghị định quy định về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong từng lĩnh vực.

Xây dựng, ban hành danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng NSNN; sắp xếp, giao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập. Tiếp tục thí điểm cổ phần hóa một số đơn vị sự nghiệp công có đủ điều kiện; đa dạng hóa các loại hình liên doanh, liên kết giữa đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp ngoài công lập nhằm nâng cao số lượng và chất lượng cung ứng dịch vụ công.

Bảy là, tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế một cách tổng thể.

Tiếp tục triển khai thực hiện tái cơ cấu DNNN theo Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 17/7/2012 tháo gỡ các khó khăn vướng mắc nhằm đẩy mạnh tiền trình cổ phần hóa và thoái vốn đầu tư. Tăng cường chức năng quản lý, giám sát, kiểm tra của cơ quan quản lý tài chính và của chủ sở hữu nhà nước.

Tám là, tăng cường kỷ luật tài chính, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Thực hiện kiểm tra, giám sát và công khai, minh bạch việc sử dụng NSNN; triệt để tiết kiệm, chống thất thoát, lãng phí, tham nhũng. Thực hiện nghiêm các kết luận, kiến nghị của các cơ quan thanh tra, kiểm toán.

Chín là, chủ động hợp tác, hội nhập tài chính quốc tế.

Thực hiện đồng bộ các giải pháp hội nhập và hợp tác tài chính quốc tế. Tiếp tục thực hiện lộ trình cắt giảm thuế trong khuôn khổ các FTAs đã ký. Chủ động đánh giá các tác động của các hiệp định thương mại tự do đến thu NSNN để chủ động giải pháp điều hành. Nghiên cứu đánh giá tác động của việc nước Anh rút ra khỏi EU tới tài chính, ngân sách, đặc biệt là quản lý nợ và thị trường vốn.

(3) Kết thúc quý III năm 2016

* Kết quả đạt được:

Thu NSNN: Tổng thu lũy kế hết quý 3 đạt 718,3 nghìn tỷ đồng, bằng 70,8% dự toán năm, tăng 5,2% so cùng kỳ năm 2015 (cùng kỳ năm 2015 đạt 74,9% dự toán năm, tăng 6,6%).Trong đó: Thu nội địa: lũy kế hết quý 3 đạt 579,6 nghìn tỷ đồng, bằng 73,8% dự toán năm, tăng 14,5% so cùng kỳ năm 2015 (cùng kỳ năm 2015 đạt 79,3% dự toán năm, tăng 18%). Ước đến hết quý 3, thu ngân sách địa phương bình quân chung đạt khoảng 84% dự toán năm.

Tuy nhiên, vẫn còn một số khoản thu tiến độ đạt thấp (dưới 75% dự toán), như: thu phí, lệ phí đạt 65,1%, thu khác ngân sách đạt 63,8%. Đặc biệt, thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước chỉ đạt 57,4% dự toán năm, bằng 96,7% so cùng kỳ năm 2015, nguyên nhân chủ yếu do ảnh hưởng của giá dầu khí giảm, hoạt động sản xuất – kinh doanh của các tập đoàn, công ty trong lĩnh vực khai thác, chế biến dầu khí khó khăn, số thu nộp ngân sách giảm. Thu từ dầu thô: Thu ngân sách từ dầu thô lũy kế hết quý 3 ước đạt 29,8 nghìn tỷ đồng, bằng 54,7% dự toán năm, giảm 41,9% so với cùng kỳ năm 2015. Thu ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu: Lũy kế hết quý 3, tổng số thu ước đạt 194,7 nghìn tỷ đồng, bằng 72,1% dự toán năm, tăng 3,9% so cùng kỳ năm 2015; sau khi hoàn thuế giá trị gia tăng theo chế độ (89 nghìn tỷ đồng), thu cân đối NSNN đạt 105,7 nghìn tỷ đồng, bằng 61,5% dự toán năm, giảm 12,3% so với cùng kỳ năm 2015.

Chi NSNN: Tổng chi NSNN luỹ kế chi hết quý 3 ước đạt 870,5 nghìn tỷ đồng, bằng 68,4% dự toán năm, tăng 5,7% so cùng kỳ năm 2015, trong đó: Chi đầu tư phát triển: Ước thực hiện hết quý 3 đạt 138,86 nghìn tỷ đồng, bằng 54,5% dự toán năm, tăng 9,1% cùng kỳ năm 2015; Về tiến độ thực hiện giải ngân theo Nghị quyết số 60/NQ-CP ngày 8/7/2016 của Chính phủ: Ước đến hết quý 3, lũy kế vốn giải ngân cho các dự án khoảng 137,4 nghìn tỷ đồng, đạt 54,5% dự toán năm (cùng kỳ năm 2015 đạt 64,8% dự toán năm); vốn trái phiếu Chính phủ giải ngân ước đạt khoảng 38,8% dự toán năm (cùng kỳ năm 2015 đạt 52,3% dự toán năm). Chi trả nợ và viện trợ: Ước thực hiện chi 3 quý đạt 117,2 nghìn tỷ đồng, bằng 75,6% dự toán năm, tăng 2,1% so cùng kỳ năm 2015. Chi phát triển các sự nghiệp KTXH, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính: Ước thực hiện chi 3 quý đạt 609,3 nghìn tỷ đồng, bằng 73,9% dự toán năm, tăng 4,7% so cùng kỳ năm 2015.

Cân đối NSNN: Bội chi NSNN ước 3 quý đầu năm là 152,2 nghìn tỷ đồng, bằng khoảng 59,9% dự toán năm.

Tình hình huy động vốn cho NSNN: Công tác phát hành trái phiếu Chính phủ năm 2016 khá thuận lợi, đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ chi ngân sách theo dự toán. Đến hết quý 3/2016, đã phát hành được 250.320,5 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ bằng 88,86% kế hoạch năm 2016.

* Một số khó khăn:

Bên cạnh những thuận lợi, chúng ta đã đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Tăng trưởng kinh tế, thương mại toàn cầu thấp hơn so với dự báo; giá nhiều hàng hóa cơ bản và giá dầu thô ở mức thấp. Tình hình Biển Đông phức tạp. Biến đổi khí hậu diễn ra nhanh hơn dự báo. Thiên tai, rét đậm, rét hại ở phía bắc, hạn hán kéo dài ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, xâm nhập mặn chưa từng có ở đồng bằng sông Cửu Long, bão lũ và sự cố ô nhiễm môi trường biển ở 4 tỉnh miền Trung đã ảnh hưởng nặng nề đến kinh tế-xã hội nước ta, nhất là sản xuất và đời sống của người dân.

* Giải pháp cho những tháng còn lại của năm 2016:

Một là, tiếp tục theo dõi diễn biến và thực hiện điều hành dự toán thu, chi NSNN theo đúng mục tiêu và chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã đề ra; đảm bảo cân đối thu chi ngân sách; phấn đấu thu NSNN cả năm đạt và vượt dự toán được giao.

Hai là, thực hiện đồng bộ, linh hoạt các giải pháp huy động vốn, phấn đấu huy động đạt kế hoạch được giao; Tiếp tục rà soát, đàm phán, đẩy nhanh tiến độ giải ngân các khoản vốn nước ngoài bằng tiền cho cân đối NSNN; thực hiện huy động, giải ngân các khoản vốn vay nước ngoài theo kế hoạch.

Ba là, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thể chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp; tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương về xử lý tài chính, xử lý lao động dôi dư đối với các DNNN, thực hiện công tác giám sát, xử lý vướng mắc tài chính của các doanh nghiệp;

Bốn là, tiếp tục công tác tái cấu trúc các công ty chứng khoán; hướng dẫn, khuyến khích các công ty chứng khoán thực hiện hợp nhất, sáp nhập nhằm nâng cao năng lực hoạt động; Tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định về chứng khoán và thị trường chứng khoán.

Năm là, tiếp tục nhất quán chủ trương quản lý giá theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước đối với các mặt hàng quan trọng, thiết yếu theo lộ trình (giá điện, giá than, giá dịch vụ công…); tăng cường kiểm tra, thanh tra về giá; rà soát, đánh giá, xây dựng các giải pháp cụ thể để xử lý chênh lệch thuế nhập khẩu xăng, dầu theo biểu MFN và FTA khi tính giá cơ sở.

Sáu là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ, tư vấn pháp luật về thuế để những cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn số giờ nộp thuế đi vào thực tế cũng như hoàn thiện Kế hoạch cải cách, hiện đại hóa ngành Hải quan giai đoạn 2016-2020; Hoàn thiện và trình ban hành Kế hoạch chi tiết triển khai các hoạt động cải cách, hiện đại hóa trọng tâm ngành Hải quan giai đoạn 2016-2020 và các năm 2016-2017.

 (4) Kết thúc năm 2016

* Kết quả đạt được: Trong năm 2016, trong bối cảnh tình hình còn nhiều khó khăn, thách thức, thực hiện các Nghị quyết của Đảng và Quốc hội, có sự phối kết hợp và nỗ lực phấn đấu của cả hệ thống chính trị, nhiệm vụ tài chính – NSNN năm 2016 đã cơ bản đạt và vượt chỉ tiêu dự toán Quốc hội quyết định, điều hành quyết liệt thu, chi, giữ bội chi NSNN trong phạm vi Quốc hội cho phép, kỷ cương, kỷ luật tài chính – ngân sách được tăng cường; góp phần tích cực vào việc hoàn thành nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội năm 2016. Chủ động hội nhập tài chính khu vực và quốc tế. Triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách an sinh xã hội, tạo niềm tin của xã hội vào sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ. Kết thúc năm Ngân sách 2016, một số chỉ tiêu quan trọng đạt được:

Về thu NSNN, phần lớn nhờ tình hình hoạt động của các Doanh nghiệp có dấu hiệu phục hồi (đặc biệt là khu Doanh nghiệp ngoài quốc doanh) và các biện pháp tăng cường quản lý thuế, chống buôn lậu, gian lận thương mại, tập trung thu hồi nợ đọng thuế. Thu NSNN năm 2016 ước đạt 1.101,38 nghìn tỷ đồng, vượt 8,6% so với dự toán. Trong đó:

Thu nội địa ước đạt 879,36 nghìn tỷ đồng, vượt 12,0% so dự toán (thu từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vượt 2,8%, khu vực công thương nghiệp – ngoài quốc doanh vượt 9,4%, thu từ nhà, đất vượt 97,5%, lệ phí trước bạ vượt 19,8% so dự toán);

Thu từ dầu thô ước đạt 40,18 nghìn tỷ đồng, giảm 26,3% so dự toán; trên cơ sở tính giá dầu thanh toán bình quân đạt 43,6 USD/thùng, giảm 16,4 USD/thùng so giá xây dựng dự toán; sản lượng dầu thanh toán đạt 15,4 triệu tấn, tăng 1,38 triệu tấn so với kế hoạch;

Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt 173,3 nghìn tỷ đồng, tăng 0,8% so dự toán; trên cơ sở: tổng số thu từ hoạt động XNK đạt 271,3 nghìn tỷ đồng, tăng 0,5% so dự toán; hoàn thuế GTGT 98 nghìn tỷ đồng, bằng 100% dự toán. Thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt được kết quả nêu trên nhờ hoạt động xuất nhập khẩu tăng trưởng cao hơn dự báo (kim ngạch xuất khẩu tăng 9,0%, kim ngạch nhập khẩu tăng 5,2%, kim ngạch xuất nhập khẩu chịu thuế tăng 8,8% so năm 2015), kết hợp với triển khai quyết liệt các giải pháp quản lý thu, góp phần tăng thu cho NNN từ lĩnh vực này so với dự toán.

Thu viện trợ ước đạt 8,5 nghìn tỷ đồng, tăng 184,0% so dự toán do tăng số viện trợ ghi thu – ghi chi cho các dự án.

Theo phân cấp hiện hành, không kể số vượt thu viện trợ ghi thu – ghi chi cho các dự án, thu NSTW giảm khoảng 396 tỷ đồng so dự toán; thu NSĐP vượt khoảng 82,39 nghìn tỷ đồng so dự toán, không kể thu tiền sử dụng đất thì vượt 41,3 nghìn tỷ đồng so dự toán

Chi NSNN, Điều hành linh hoạt và chặt chẽ, đảm bảo theo đúng dự toán, đáp ứng yêu cầu triển khai thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, chính trị của các đơn vị sử dụng NSNN. Điều hành quản lý chặt chẽ nguồn dự phòng các cấp; Tạm giữ lại 50% dự toán chi dự phòng NSTW và NSĐP (đối với những địa phương dự kiến giảm thu) để chủ động xử lý khi nguồn thu NSNN giảm lớn. Các bộ, ngành và địa phương đã nghiêm túc tổ chức triển khai các giải pháp đề ra, chi trong phạm vi dự toán được giao, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi quy định; chống thất thoát, lãng phí, tham nhũng. Đồng thời, các cơ quan tài chính cũng tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc sử dụng ngân sách tại một số bộ, địa phương; một số dự án đầu tư sử dụng vốn NSNN; tăng cường công tác kiểm soát chi của KBNN. Từ đó kỷ luật tài chính được tăng cường, hiệu quả trong việc sử dụng NSNN, giữ mức bội chi NSNN trong phạm vi dự toán Quốc hội quyết định.

Tổng chi NSNN năm 2016 ước đạt 1.360 nghìn tỷ đồng, bằng 106,8% so dự toán. Kết quả thực hiện chi tại một số lĩnh vực chủ yếu như sau:

Chi đầu tư phát triển ước đạt 268,18 nghìn tỷ đồng, tăng 5,2% so dự toán.

Chi trả nợ và viện trợ ước đạt 155,1 nghìn tỷ đồng, bằng dự toán; đảm bảo thanh toán đầy đủ, kịp thời nghĩa vụ nợ đến hạn theo cam kết.

Chi thường xuyên ước đạt 836,76 nghìn tỷ đồng, tăng 1,5% so dự toán; đảm bảo các nhu cầu chi theo dự toán đã được Quốc hội quyết định và xử lý kịp thời các nhiệm vụ cấp thiết phát sinh. Bên cạnh đó, đã thực hiện xuất cấp trên 155 nghìn tấn gạo để cứu trợ, cứu đói cho nhân dân và hỗ trợ học sinh vùng khó khăn.

 So với dữ liệu tương ứng của giai đoạn 2006-2016, kết quả thực hiện chi NSNN so với dự toán là rất khả quan.

Bội chi NSNN: Dự toán bội chi NSNN năm 2016 Quốc hội quyết định là 254 nghìn tỷ đồng, bằng 4,95%GDP. Với kết quả thu, chi NSNN năm 2016 nêu trên, bội chi NSNN năm 2016 giữ ở mức dự toán là 254 nghìn tỷ đồng, bằng 4,95%GDP kế hoạch. Tuy nhiên, khoảng cách thu – chi ngân sách ngày càng mở rộng cùng với việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở một số năm không đạt được như dự kiến dẫn đến thâm hụt ngân sách và nợ công ngày càng cao, vượt mức trần đặt ra trong kế hoạch phát triển KTXH giai đoạn 2011-2015 với mức bội chi vượt 6% GDP giai đoạn 2013-2015 và nợ chính phủ vượt 50% GDP.

* Một số hạn chế, khó khăn trong công tác điều hành NSNN năm 2016:

Một là, mặc dù thu NSNN vượt dự toán, cơ cấu thu NSNN ngày càng bền vững hơn với tỷ trọng thu nội địa ngày càng tăng nhưng thu ngân sách trung ương đạt thấp, thu thuế, phí từ khu vực DNNN và thu từ dầu giảm lớn do ảnh hưởng từ các yếu tố biến đổi khí hậu (như hạn hán tác động tới các doanh nghiệp sản xuất điện), giá (giá dầu, khoáng sản…). Bên cạnh đó, tiến độ tái cơ cấu DNNN, bán cổ phần sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp chậm đã ảnh hưởng tới kết quả thu NSNN năm 2016.

Hai là, trong cơ cấu chi NSNN thì chi thường xuyên vẫn chiếm tỷ trọng lớn (khoảng 65% tổng chi), chi đầu tư phát triển chiếm tỷ trọng thấp (khoảng 20% tổng chi) và tiến độ giải ngân vốn đầu tư công còn chậm, ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư.

Ba là, việc đẩy mạnh thực hiện cơ chế tự chủ đối với khu vực sự nghiệp công lập chưa đạt được kết quả như kỳ vọng dẫn đến việc cơ cấu lại các khoản chi NSNN còn gặp nhiều khó khăn.

Bốn là, công tác xây dựng thể chế còn hạn chế, hệ thống văn bản hướng dẫn Luật NSNN năm 2015 làm cơ sở cho việc thực hiện Luật NSNN 2015 từ năm ngân sách 2017 chậm được ban hành.

10.1.2. Bài học kinh nghiệm rút ra từ công tác điều hành NSNN năm 2016

Một là, sự chỉ đạo điều hành kịp thời với những thay đổi của tình hình kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện dự toán NSNN. Bộ Tài chính với việc ban hành hàng loạt các chỉ thị nhằm tăng cường thu NSNN (nhất là các khoản nợ đọng về thuế và tiền sử dụng đất) và quản lý chặt chẽ chi tiêu là lý do quan trọng giải thích cho những kết quả của năm tài khóa 2016.

Hai là, ngay trong bối cảnh khó khăn kinh tế thì việc tăng cường kiểm tra, giám sát trong quản lý thu thuế, chống thất thu thuế; tập trung xử lý các khoản nợ đọng thuế; triển khai các biện pháp cưỡng chế nợ thuế để thu hồi nợ đọng và hạn chế phát sinh số nợ thuế mới cần đặc biệt được quan tâm.

Ba là, cần điều chỉnh việc lập dự toán NSNN phù hợp với những thay đổi dự kiến của tình hình kinh tế, nhất là biến động về tăng trưởng GDP, lạm phát, tình hình giá dầu, hoạt động thương mại quốc tế. Thực hiện lập dự toán thu – chi NSNN cần tuân theo nguyên tắc thận trọng để tránh tình trạng lạc quan quá mức, nhất là trong bối cảnh tình hình kinh tế khó dự đoán.

Bốn là, cần tiếp tục thực hiện các biện pháp chủ động và tích cực trong việc tiết kiệm chi tiêu từ NSNN, phối hợp các bộ ngành rà soát toàn bộ các dự án đầu tư để có các biện pháp xử lý, loại bỏ các dự án đầu tư kém hiệu quả song cũng không làm chậm chễ trong giải ngân vốn đầu tư… Lập dự toán chi đầu tư cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và các bộ, ngành, địa phương để tránh những hạn chế của năm 2016.

10.2. Nhiệm vụ, phương hướng và giải pháp điều hành NSNN năm 2017

10.2.1. Mục tiêu, nhiệm vụ điều hành NSNN năm 2017

Năm 2017 có ý nghĩa rất quan trọng, là năm then chốt trong việc thực hiện kế hoạch phát triển KTXH 5 năm 2016 – 2020, là năm đầu triển khai các Nghị quyết và chủ trương lớn được Quốc hội thông qua. Bên cạnh những yếu tố thuận lợi cho phát triển KTXH, như nền kinh tế tiếp tục phục hồi, tình hình kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát,… cũng còn nhiều khó khăn, thách thức tác động tới nền kinh tế nước ta. Những bất ổn về chính trị, xung đột khu vực, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, diễn biến phức tạp trên Biển Đông, ảnh hưởng đến môi trường hòa bình, ổn định và phát triển. Sự phục hồi chậm của kinh tế thế giới và chiều hướng bảo hộ sẽ ảnh hưởng nhiều mặt tới phát triển kinh tế đất nước. Trong khi đó, ở trong nước, chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, các cân đối kinh tế vĩ mô chưa thật sự vững chắc, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Thiên tai, bão, lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn, dịch bệnh diễn biến phức tạp, khó lường. Nhu cầu đầu tư cho phát triển rất lớn, nhưng nguồn lực còn hạn hẹp. Quản lý đô thị, ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội còn nhiều tồn tại, yếu kém. Nhiệm vụ bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ còn rất nặng nề. Các thế lực thù địch, phản động tăng cường hoạt động chống phá. Thể chế kinh tế thị trường, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng vẫn là những điểm nghẽn cản trở sự phát triển. Kỷ Luật, kỷ cương trong bộ máy hành chính nhà nước chưa nghiêm, chậm được khắc phục; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí,… chưa được đẩy lùi làm giảm hiệu lực và hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước.

Từ đó, Chính phủ đã trình Quốc hội thông qua dự toán NSNN năm 2017 với ba chỉ tiêu quan trọng nhất đó là:

Thu cân đối NSNN năm 2017 là 1.212,18 nghìn tỷ đồng. Trong đó: Thu nội địa 990,28 nghìn tỷ đồng; Thu dầu thô 38,3 nghìn tỷ đồng (giá dầu khoảng 50 USD/thùng); Thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu 180 nghìn tỷ đồng;Thu viện trợ 3,6 nghìn tỷ đồng.

Dự toán chi NSNN là 1,390,48 nghìn tỷ đồng. Trong đó chi đầu tư phát triển là 357,15 nghìn tỷ đồng; Chi thường xuyên là 896,28 nghìn tỷ đồng; Chi trả nợ lãi là 98,9 nghìn tỷ đồng; Chi viện trợ 1,3 nghìn tỷ đồng; Chi cải cách tiền lương, tinh giản biên chế 6,6 nghìn tỷ đồng; Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính 100 tỷ đồng; Chi dự phòng 29,3 nghìn tỷ đồng. Ngoài ra, chi trả nợ gốc của NSNN (không tính trong chi cân đối NSNN) khoảng 164 nghìn tỷ đồng.

Bội chi NSNN là 178,3 nghìn tỷ đồng (3,5% GDP), trong đó bội chi NSTW mức 3,38%GDP (172,3 nghìn tỷ đồng); Bội chi NSĐP mức 0,12% GDP (6 nghìn tỷ đồng). Nhiệm vụ huy động trong năm 2017 là 340 nghìn tỷ đồng, trong đó để bù đắp bội chi 184 nghìn tỷ đồng, để trả nợ gốc 156 nghìn tỷ đồng.

Quốc hội đã thông qua mục tiêu tổng quát của Kế hoạch phát triển KTXH năm 2017 là: “Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, tạo chuyển biến rõ trong thực hiện ba đột phá chiến lược; cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; khuyến khích khởi nghiệp, phát triển doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế. Bảo đảm an sinh xã hội và chăm lo đời sống nhân dân. Phát triển văn hóa, giáo dục, thực hiện dân ch và tiến bộ, công bng xã hội. Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai; tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Tiếp tục hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực thi pháp Luật; tập trung tinh giản biên chế, đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường kỷ Luật, kỷ cương; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Tăng cường tiềm lực quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế, tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”.

10.2.2. Phương hướng, nhiệm vụ điều hành NSNN năm 2017

Để đạt được mục tiêu, nhiệm vụ về KTXH và dự toán NSNN năm 2017 đã được đặt ra, căn cứ vào dự báo tình hình KTXH trong nước, quốc tế và rút kinh nghiệm từ công tác điều hành NSNN năm 2016 Quốc hội, Chính phủ đã lãnh đạo, chỉ đạo các Bộ, Ngành, Địa phương thực hiện tốt và đồng bộ Nghị quyết của Quốc hội, của Chính phủ…đề ra những giải pháp đồng bộ trên tinh thần kế thừa những giải pháp đã phát huy tác dụng trong những năm về trước, bên cạnh đó phải bổ sung những giải pháp phù hợp với tình hình mới ,

a) Một số giải pháp điều hành NSNN năm 2017

Căn cứ vào tình hình thực tiễn, Thủ tướng chính phủ đã chỉ đạo, đưa ra hệ thống giải pháp mà ngành Tài chính cần phải thực hiện trong năm 2017:

Một là, tổ chức triển khai thực hiện tốt Luật NSNN năm 2015; các Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển KTXH 05 năm 2016-2020, Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016 – 2020, Kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2016-2020, Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 – 2020.

Hai là, thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ, phối hợp đồng bộ với chính sách tiền tệ nhằm hỗ trợ phát triển SXKD, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đã đề ra.

Ba là, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, khuyến khích khởi nghiệp, phát triển doanh nghiệp, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh.

Bốn là,  triển khai quyết liệt công tác thu NSNN, quyết tâm thu đạt và vượt dự toán Quốc hội quyết định: Tổ chức thực hiện tốt các Luật thuế và nhiệm vụ thu NSNN năm 2017. Hạn chế tối đa đề xuất, ban hành các chính sách mới làm giảm thu NSNN. Tiếp tục theo dõi chặt chẽ biến động thị trường tài chính, tiền tệ, thương mại thế giới; chủ động rà soát, đánh giá đầy đủ tác động của việc tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTAs) đến thu NSNN để có giải pháp chủ động trong điều hành…

Năm là, tổ chức điều hành, quản lý chi NSNN chặt chẽ, tiết kiệm, đúng quy định, chống lãng phí; nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN; chỉ đề xuất ban hành chính sách làm tăng chi NSNN khi thật sự cần thiết và có nguồn đảm bảo….

Sáu là, tăng cường công tác quản lý giá, thị trường, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý giá; quản lý giá theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đối với các mặt hàng quan trọng, nhà nước còn định giá, bình ổn giá. Tăng cường kiểm tra, thanh tra, kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm.

Bảy là, đẩy mạnh tái cơ cấu DNNN, hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra; triển khai các giải pháp thúc đẩy phát triển đồng bộ thị trường tài chính, thị trường chứng khoán, bảo hiểm, hoạt động đặt cược, casino, trò chơi có thưởng.

Tám là, đẩy mạnh đổi mới cơ chế tài chính đơn vị sự nghiệp công, giá dịch vụ công. Tập trung hoàn thiện, ban hành các danh mục sự nghiệp công sử dụng NSNN; quy hoạch mạng lưới đơn vị sự nghiệp công lập; xây dựng định mức kinh tế – kỹ thuật áp dụng trong các dịch vụ sự nghiệp công lập do Nhà nước quản lý.

Chín là, tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; tăng cường kiểm tra, giám sát và công khai, minh bạch việc sử dụng NSNN; kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ việc chi tiêu, đảm bảo đúng chính sách, chế độ quy định; thực hiện nghiêm các kết luận thanh tra, kiểm toán.

Mười là, chủ động hợp tác, hội nhập tài chính quốc tế; tích cực tham gia các hoạt động hợp tác tài chính khu vực, quốc tế; thực hiện đồng bộ các giải pháp hội nhập và hợp tác tài chính quốc tế; tiếp tục thực hiện lộ trình cắt giảm thuế trong khuôn khổ các FTA đã ký kết.

Mười một là, điều hành ngân sách trong dịp Tết Nguyên đán Đinh Dậu và xử lý tiếp các nhiệm vụ của năm 2016: Tập trung chỉ đạo, điều hành, đảm bảo hoạt động SXKD trước và sau Tết diễn ra bình thường; đảm bảo nguồn chi trả lương, các chính sách ASXH và các nhiệm vụ chính trị quan trọng. Xử lý chuyển nguồn sang năm 2017 theo đúng quy định của Luật NSNN, Nghị quyết của Quốc hội, Nghị quyết của Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Tài chính. Sử dụng nguồn tăng thu NSĐP năm 2016 theo đúng quy định.

Trên cơ sở ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, rút kinh nghiệm điều hành NSNN những năm trước, đặc biệt là  năm 2016 liền kề Bộ tài chính triển khai, thực hiện điều hành NSNN theo hệ thống giải pháp:

Thứ nhất, trên tinh thần chủ đề chỉ đạo, điều hành năm 2017 của Chính phủ là “tăng cường kỷ cương, đề cao trách nhiệm, thi đua sáng tạo, phát triển nhanh và bền vững”, toàn ngành Tài chính tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng thể chế nhằm đáp ứng được yêu cầu đề ra, đảm bảo số lượng, chất lượng, thời hạn; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài chính – NSNN. Trong đó, cần tập trung tổ chức triển khai thực hiện tốt Luật NSNN năm 2015; các Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch Phát triển KTXH 05 năm 2016 – 2020, Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016  – 2020, Kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2016 – 2020, Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 – 2020, dự toán NSNN năm 2017, phân bổ NSTW năm 2017.

Thứ hai, tổ chức điều hành dự toán NSNN năm 2017 tích cực, chủ động, chặt chẽ, tăng cường kỷ luật tài chính – ngân sách; kiên quyết cắt giảm những khoản chi không cần thiết, chậm triển khai; hạn chế chi chuyển nguồn; hạn chế ứng trước dự toán năm sau; giữ bội chi NSNN trong phạm vi Quốc hội đã quyết định; phấn đấu tăng thu, tiết kiệm chi để giảm bội chi NSNN.

Thứ ba, kiểm soát chặt chẽ nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài của quốc gia trong giới hạn cho phép. Không chuyển vốn vay về cho vay lại, bảo lãnh Chính phủ thành vốn cấp phát NSNN. Thực hiện đánh giá đầy đủ các yếu tố tác động lên nợ công và khả năng trả nợ trong trung hạn trước khi thực hiện các khoản vay mới. Tiếp tục thực hiện cơ cấu lại danh mục nợ công theo hướng bền vững, tập trung phát hành trái phiếu Chính phủ kỳ hạn dài và giảm dần lãi suất phát hành Trái phiếu Chính phủ.

Thứ tư, đẩy mạnh tái cấu trúc DNNN, hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra; triển khai các giải pháp thúc đẩy phát triển đồng bộ thị trường tài chính, thị trường chứng khoán, bảo hiểm, hoạt động đặt cược, casino, trò chơi có thưởng. Đẩy mạnh đổi mới cơ chế tài chính đơn vị sự nghiệp công, giá dịch vụ công. Tập trung hoàn thiện, ban hành các danh mục sự nghiệp công sử dụng NSNN; quy hoạch mạng lưới đơn vị sự nghiệp công lập; xây dựng định mức kinh tế – kỹ thuật áp dụng trong các dịch vụ sự nghiệp công lập do Nhà nước quản lý.

Thứ năm, tăng cường công tác quản lý giá, thị trường, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật để thực hiện quản lý giá theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đối với các mặt hàng quan trọng, nhà nước còn định giá, bình ổn giá. Thời gian từ nay đến Tết Nguyên đán Đinh Dậu không còn nhiều, vì vậy, tôi đề nghị các đơn vị liên quan trong Bộ Tài chính cần chủ động phối hợp tốt với các Bộ, ngành, địa phương theo dõi, kiểm soát chặt chẽ tình hình biến động giá cả, thị trường, không để xảy ra tình trạng tăng giá đột biến trước, trong và sau dịp Tết Nguyên đán.

Thứ sáu, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, khuyến khích khởi nghiệp, phát triển doanh nghiệp, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để cải cách thủ tục hành chính đi vào thực tế, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người nộp thuế.

Thứ bảy, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính theo đúng tinh thần của Nghị quyết số 04-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII: Siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính, tập trung chỉ đạo, kiểm tra, giám sát việc thực hiện kỷ luật, kỷ cương hành chính của ngành; kiểm tra nội bộ trong toàn ngành để đánh giá việc thực hiện quyền hạn, trách nhiệm trong thực thi công vụ, nhất là các nhiệm vụ liên quan đến quy trình, thủ tục, giải quyết hồ sơ hành chính đối với cá nhân, doanh nghiệp; đề cao trách nhiệm cá nhân đối với người đứng đầu đơn vị.

b) Kết quả điều hành tính đến hết Quý I năm 2017

Thu NSNN, lũy kế thu 3 tháng đầu năm đạt 280,9 nghìn tỷ đồng, bằng 23,2% dự toán năm, tăng 15,2% so cùng kỳ năm 2016. Trong đó: Thu nội địa đạt 232 nghìn tỷ đồng, bằng 23,4% dự toán năm, tăng 13,3% so với cùng kỳ năm 2016. Thu từ dầu thô đạt 11 nghìn tỷ đồng, bằng 28,9% dự toán năm, tăng 15,9% so với cùng kỳ năm 2016. Thu ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 66,8 nghìn tỷ đồng, bằng 23,4% dự toán năm, tăng 18,5% so với cùng kỳ năm 2016. Sau khi thực hiện hoàn thuế giá trị gia tăng theo chế độ (29 nghìn tỷ đồng), thu cân đối NSNN đạt 37,8 nghìn tỷ đồng, bằng 21% dự toán, tăng 28,6% so cùng kỳ năm 2016.

Chi ngân sách nhà nước quý I ước đạt 284,96 nghìn tỷ đồng, bằng 20,5% dự toán năm, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó: Chi đầu tư phát triển ước thực hiện đạt 44,16 nghìn tỷ đồng, bằng 12,4% dự toán năm, tăng 9% so với cùng kỳ năm 2016. Chi trả nợ lãi đạt 29,1 nghìn tỷ đồng, bằng 29,4% dự toán năm, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm 2016. Chi thường xuyên đạt 211,2 nghìn tỷ đồng, bằng 23,6% dự toán năm, tăng 7,5% so cùng kỳ năm 2016. Bội chi NSNN ước 3 tháng là 4,050 nghìn tỷ đồng, bằng khoảng 2,27% dự toán năm. Tình hình huy động vốn cho NSNN đến hết ngày 31/3/2017, đã phát hành được 56.497 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ bằng 30,8% kế hoạch năm 2017.

Trong công tác quản lý, điều hành NSNN trong những tháng đầu năm 2017,  Bộ Tài chính đã tập trung chỉ đạo các cơ quan Thuế, Hải quan, Kho bạc Nhà nước, Dự trữ nhà nước và Tài chính từ Trung ương đến địa phương triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp tăng cường công tác quản lý, điều hành và bình ổn giá cả thị trường, đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Đến ngày 31/03/2017, đối với kinh phí chi thường xuyên, về cơ bản đã thực hiện phân bổ dự toán được giao. Bộ Tài chính đã có văn bản đề nghị điều chỉnh, đôn đốc các đơn vị thực hiện phân bổ, giao dự toán theo đúng quy định. Đối với vốn đầu tư, cơ bản các Bộ, cơ quan Trung ương và các địa phương đã hoàn thành việc triển khai phân bổ, giao kế hoạch vốn đầu tư XDCB cho các chủ đầu tư dự án theo quy định. Trong 3 tháng đầu năm, hệ thống Kho bạc Nhà nước đã thực hiện kiểm soát chi khoảng 183,6 nghìn tỷ đồng chi thường xuyên và khoảng 40,4 nghìn tỷ đồng chi đầu tư phát triển, qua đó đã phát hiện khoảng 2.400 khoản chi chưa chấp hành đúng thủ tục, chế độ quy định và đã yêu cầu đơn vị bổ sung các thủ tục cần thiết; không chấp nhận thanh toán khoảng 13 tỷ đồng.

Riêng công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại, từ đầu năm đến ngày 15/3/2017, toàn ngành Hải quan đã chủ trì, bắt giữ 2.599 vụ việc vi phạm, trị giá hàng hóa vi phạm ước tính 66 tỷ đồng; số thu ngân sách đạt 32,4 tỷ đồng; khởi tố 06 vụ; chuyển cơ quan khác khởi tố 13 vụ.

Việc cải cách thủ tục hành chính trong các lĩnh vực tài chính, BTC đã ban hành Quyết định số 328/QĐ-BTC ngày 20/02/2017 về Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết 19-2017/NQ-CP. Căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Tài chính được giao tại Nghị quyết 19-2017/NQ-CP, Kế hoạch hành động đã được cụ thể hóa bằng 47 nhóm nhiệm vụ, 87 giải pháp và 175 sản phẩm đầu ra. Triển khai Đề án 896 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính đã hoàn thiện trình Chính phủ dự thảo Nghị quyết về phương án đơn giản hóa TTHC, giấy tờ công dân theo Đề án 896.

Để tăng cường công tác giám sát của người dân, Doanh nghiệp, Bộ tài chính đã chỉ đạo Tổng cục Thuế phối hợp với VCCI tổ chức khảo sát, đánh giá mức độ hài lòng của người dân và tổ chức đối với TTHC thuế. Theo đó, ngày 7/3/2017, đã tổ chức hội nghị công bố kết quả về sự hài lòng của DN về cải cách TTHC thuế năm 2016; kết quả đạt 7,5 điểm, quy ra tỷ lệ là 75%… Nhờ triển khai đồng bộ các nội dung, giải pháp về CCHC, công tác CCHC của BTC trong Quý I/2017 đã bảo đảm độ công khai, minh bạch, tạo thuận lợi cho các hoạt động của các đơn vị thuộc BTC; đội ngũ cán bộ, công chức có ý thức, trách nhiệm với công việc, qua đó đóng góp quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về tài chính nói chung.

Ngoài ra, trong quý I/2017, đã hoàn thành xuất cấp 47,5 nghìn tấn gạo dự trữ quốc gia để cứu trợ, cứu đói cho nhân dân và hỗ trợ học sinh vùng khó khăn, xuất 5.000 tấn gạo DTQG viện trợ cho nước Cộng hòa Cu ba. BTC đã ban hành quyết định xuất gạo hỗ trợ học sinh học kỳ II năm học 2016-201. Bên cạnh đó, BTC đã tăng cường công tác quản lý tài sản công; đẩy mạnh quản lý tài chính DN và cổ phần hóa, thoái vốn DN. Lũy kế 3 tháng đầu năm 2017 đã có 07 DN được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án cổ phần hóa. Tổng giá trị thực tế của 07 DN đã được phê duyệt phương án cổ phần hóa là 1.855 tỷ đồng, trong đó giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại DN là 379 tỷ đồng. Cũng trong 03 tháng đầu năm 2017, các đơn vị đã thoái được 3.072 tỷ đồng, thu về 14.236 tỷ đồng. Tăng cường công tác tài chính đối ngoại và quản lý nợ công; quản lý thị trường tài chính và dịch vụ tài chính, trong đó có thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm; công tác quản lý giá và kiểm soát giá cả thị trường; công tác hội nhập tài chính, hợp tác tài chính quốc tế…

c) Kết quả điều hành tính đến hết Quý II năm 2017

Tính đến hết Quý II, toàn ngành Tài chính đã chủ động đề xuất, tập trung thực hiện đầy đủ, đồng bộ các giải pháp tài chính – NSNN; điều hành quyết liệt thu, chi, đảm bảo giữ bội chi NSNN và nợ công trong phạm vi Quốc hội cho phép.

Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố thuận lợi, còn phát sinh nhiều khó khăn, thách thức, tác động không thuận đến việc thực hiện nhiệm vụ tài chính – NSNN năm 2017; đáng chú ý là tăng trưởng kinh tế đạt thấp; tiến độ thu NSNN, đặc biệt là thu NSTW đạt thấp; công tác quản lý thu NSNN ở một số địa bàn, lĩnh vực chưa quyết liệt, chưa theo sát tình hình thực tiễn, diễn biến hoạt động SX-KD của doanh nghiệp; nợ đọng thuế có khả năng thu còn lớn. Kết quả đạt được cụ thể là:

Đến hết tháng 6/2017, tổng thu NSNN ước đạt 563,5 nghìn tỷ đồng, bằng 46,5% dự toán, tăng 13,9% so cùng kỳ năm 2016; trong đó: Thu nội địa đạt 45,6% dự toán, tăng 12,4%, không kể thu tiền sử dụng đất, thu xổ số kiến thiết, thu cổ tức, lợi nhuận còn lại và thu bán vốn cổ phần sở hữu nhà nước, thì đạt 45,5% dự toán, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm 2016, cơ bản sát với tăng trưởng kinh tế. Do ảnh hưởng bởi khó khăn trong hoạt động sản xuất – xây dựng nên tiến độ một số lĩnh vực như thủy điện, khai khoáng, sản xuất lắp ráp ô tô, điện thoại di động, chế biến thực phẩm,… đạt thấp so với yêu cầu; Thu từ dầu thô đạt 60,1% dự toán, tăng 15,6% so với cùng kỳ năm 2016 (do giá dầu cao hơn giá dự toán, bình quân 54,6 USD/thùng, cao hơn 4,6 USD/thùng); Thu cân đối từ XNK đạt 49,2% dự toán, tăng 22,2% so cùng kỳ năm 2016, chủ yếu nhờ hoạt động XNK 6 tháng đầu năm tiếp tục đà tăng trưởng.

Trong tổng thu NSNN nêu trên, thu NSTW ước đạt 41,5% dự toán; thu NSĐP 54% dự toán; trong đó, có 45 địa phương thu đạt từ 48% dự toán trở lên (không kể tiền sử dụng đất thì có 11 địa phương đạt trên 52%); 54 địa phương thu cao hơn so với cùng kỳ năm 2016; vẫn còn 18 địa phương thu chưa đảm bảo tiến độ dự toán (dưới 48%) và 9 địa phương thu đạt thấp so cùng kỳ, chủ yếu do một số ngành sản xuất công nghiệp có đóng góp số thu lớn cho ngân sách như khai khoáng (dầu thô, khí thiên nhiên, than,…), thủy điện, sản xuất, lắp ráp ô tô, sản xuất điện thoại di động, sản xuất, chế biến thực phẩm, tăng trưởng thấp, thậm chí giảm so với cùng kỳ năm trước.

Tổng chi NSNN ước đạt 582,96 nghìn tỷ đồng, bằng 41,9% dự toán, tăng 8,3% so cùng kỳ năm 2016. Chi NSNN được tổ chức điều hành chặt chẽ, đúng chính sách, chế độ, trong phạm vi dự toán được giao và phù hợp với tiến độ thực hiện. Các bộ, cơ quan trung ương và địa phương đã chủ động rà soát, sắp xếp các nhiệm vụ chi, thực hiện chi, mua sắm tài sản công theo đúng tiêu chuẩn, định mức, chế độ quy định, đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả và trong phạm vi dự toán được giao. Bên cạnh đó đã tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát chi NSNN; qua đó, phát hiện, kịp thời chấn chỉnh và xử lý các sai phạm, góp phần nâng cao kỷ luật tài chính và hiệu quả sử dụng NSNN. Trong 6 tháng đầu năm, đã sử dụng khoảng 1,6 nghìn tỷ đồng nguồn dự phòng NSTW, chủ yếu để hỗ trợ các địa phương khắc phục hậu quả bão lũ, hạn hán và xâm nhập mặn, hỗ trợ giống khôi phục sản xuất sau thiên tai.

Cân đối NSTW và ngân sách các cấp địa phương 6 tháng đầu năm được đảm bảo; trong đó bội chi NSTW bằng khoảng 43,5% dự toán.

Bộ Tài chính đã chủ động trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 19/4/2017 về tập trung chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính – NSNN năm 2017, trong đó yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tập trung chỉ đạo điều hành, phấn đấu hoàn thành vượt mức dự toán thu NSNN từ hoạt động sản xuất kinh doanh (SX-KD) trên địa bàn được giao năm 2017, tổ chức thực hiện chi NSNN đúng chính sách, chế độ, đúng dự toán được duyệt, đảm bảo chặt chẽ, tiết kiệm, chống lãng phí, nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN; đồng thời, đã trình Thủ tướng Chính phủ phương án điều hành NSNN năm 2017 theo các kịch bản tăng trưởng kinh tế nhằm đảm bảo cân đối ngân sách các cấp, giữ bội chi và tổng mức vay của NSNN năm 2017 trong phạm vi Quốc hội cho phép. Các bộ, ngành, địa phương đã tích cực tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp về tài chính – NSNN đã được Quốc hội, Chính phủ quyết định và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Đến nay đã có 43 địa phương ban hành văn bản chỉ đạo của UBND cấp tỉnh về thực hiện Chỉ thị số 14/CT-TTg.

Trong điều hành, Bộ Tài chính đã tập trung chỉ đạo thực hiện tốt các luật thuế và nhiệm vụ thu NSNN năm 2017, quản lý chặt chẽ các khoản thu, khai thác nguồn thu, mở rộng cơ sở thuế (cả đối tượng và địa bàn); đẩy mạnh chống thất thu NSNN và chống buôn lậu, gian lận thương mại; quyết liệt xử lý nợ thuế; tăng cường thanh tra, kiểm tra thuế. Bên cạnh đó, đã tiếp tục rà soát, trình cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các chính sách về tài chính, thuế, phí phù hợp với tình hình thực tế và cam kết hội nhập quốc tế; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính (TTHC), tạo môi trường kinh doanh bình đẳng cho doanh nghiệp.

d) Một số nhiệm vụ tiếp tục thực hiện trong điều hành NSNN năm 2017

Tình hình trong nước, quốc tế còn có khó khăn, thách thức; để hoàn thành tốt nhiệm vụ tài chính – NSNN năm 2017, đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu rất lớn của các bộ, ngành, địa phương và các đơn vị cơ sở trong việc thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp về phát triển kinh tế – xã hội và NSNN đã đề ra trong các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; nhất là Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 19/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc tập trung chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính – NSNN năm 2017. Trong đó, chú trọng tổ chức thực hiện các giải pháp quan trọng chủ yếu sau:

Một là, tập trung hoàn thiện thể chế; đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực tài chính, trọng tâm là lĩnh vực thuế, hải quan, góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, khuyến khích khởi nghiệp, phát triển doanh nghiệp, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh:

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 8/11/2011 của Chính phủ về chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020; xây dựng và triển khai các chương trình, kế hoạch nhiệm vụ năm 2017 về cải cách hành chính, kiểm soát TTHC.

Tập trung thực hiện quyết liệt các giải pháp, nhiệm vụ cải cách TTHC, phát triển doanh nghiệp theo các Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP, Nghị quyết số 35/NQ-CP và triển khai Chính phủ điện tử theo Nghị quyết số 36a/NQ-CP của Chính phủ; Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 6/6/2016 của Thủ tướng Chính phủ. Phấn đấu đạt chỉ tiêu môi trường kinh doanh bằng mức trung bình của ASEAN-4; rà soát, đơn giản, bãi bỏ các TTHC không cần thiết; rút ngắn thời gian thông quan hàng xuất khẩu còn 70 giờ, hàng nhập khẩu còn 90 giờ; mở rộng địa bàn, đối tượng triển khai hóa đơn điện tử, nộp thuế điện tử và hoàn thuế điện tử; tăng số TTHC thực hiện qua cơ chế một cửa quốc gia.

Hai là, tổ chức thực hiện tốt các luật thuế và nhiệm vụ thu NSNN năm 2017; hạn chế tối đa việc đề xuất, ban hành các chính sách mới làm giảm thu ngân sách; quyết tâm thu đạt và vượt dự toán Quốc hội quyết định:

Cơ quan Thuế, Hải quan tập trung thực hiện rà soát, nắm chắc địa bàn, dữ liệu cơ sở SX-KD, người nộp thuế và nguồn thu được giao quản lý; chủ động đề ra các giải pháp và triển khai quyết liệt, liên tục; phấn đấu hoàn thành vượt mức dự toán thu NSNN từ hoạt động SX-KD năm 2017 được giao trên địa bàn. Tăng cường quản lý thu, quyết liệt chống thất thu, chống chuyển giá, buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế; xử lý thu hồi nợ thuế, giảm nợ đọng thuế xuống dưới 5% so với số thực thu NSNN. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế; kiểm soát chặt chẽ hoàn thuế GTGT.

Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ thực hiện nộp đầy đủ, kịp thời vào NSNN lợi nhuận còn lại sau khi trích lập các quỹ theo quy định của pháp luật. Thực hiện thu về trung ương các khoản thu từ cổ phần hóa DNNN theo quy định; đảm bảo thu vào NSNN đủ 60 nghìn tỷ đồng tiền bán bớt phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo dự toán NSNN năm 2017 Quốc hội quyết định.

Tập trung triển khai phương án sắp xếp DNNN giai đoạn 2016 – 2020; xây dựng lộ trình và tổ chức bán phần vốn nhà nước tại công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên. Khẩn trương xử lý các khoản lỗ, nợ xấu của doanh nghiệp, hệ thống ngân hàng; đẩy nhanh tiến độ tái cơ cấu, sắp xếp, cổ phần hóa để nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN. Qua đó tạo nguồn thu cho NSNN.

Ba là, quản lý, điều hành chi NSNN chặt chẽ, đúng quy định, đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả; chỉ đề xuất ban hành chính sách làm tăng chi ngân sách khi thật sự cần thiết và có nguồn đảm bảo:

Các bộ, cơ quan trung ương, địa phương thực hiện chi ngân sách theo dự toán, đúng quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư công, Nghị quyết của Quốc hội, Nghị quyết của Chính phủ và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Khẩn trương trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương án phân bổ kế hoạch vốn ĐTPT (bao gồm cả vốn TPCP) còn lại năm 2017, phê duyệt các chương trình mục tiêu giai đoạn 2016-2020 để triển khai giao dự toán và thực hiện trong năm 2017. Tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thi công và giải ngân các nguồn vốn ĐTPT năm 2017. Điều hành các nhiệm vụ chi ĐTPT năm 2017 (bao gồm kế hoạch vốn TPCP năm 2016 chưa phân bổ chuyển sang) chặt chẽ, cắt giảm dự toán của các dự án, nhiệm vụ chậm triển khai, đảm bảo giữ bội chi và tổng mức vay của NSNN năm 2017 trong phạm vi Quốc hội cho phép cả về số tuyệt đối và tỷ lệ so GDP.

Các địa phương chủ động điều hành đảm bảo cân đối NSĐP, tổ chức chi ngân sách theo dự toán được cấp có thẩm quyền thông qua và khả năng thu NSĐP, nhất là các khoản chi ĐTPT gắn với tiến độ một số nguồn thu (thu tiền sử dụng đất, xổ số kiến thiết,…). Chủ động dành nguồn để thực hiện các chính sách nhà nước đã ban hành, giảm nguồn NSTW phải hỗ trợ. Chủ động sử dụng dự phòng, dự trữ và các nguồn hợp pháp khác của địa phương để xử lý các nhiệm vụ chi phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh và các nhiệm vụ chi quan trọng, cấp bách, đột xuất phát sinh theo quy định. Trường hợp dự kiến NSĐP giảm thu thì phải sử dụng các nguồn dự phòng NSĐP và các nguồn tài chính hợp pháp khác của địa phương để bù đắp hoặc phải điều chỉnh để giảm chi tương ứng.

Bốn là, tăng cường quản lý, kiểm soát chặt chẽ nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài của quốc gia, nợ của chính quyền địa phương:

Thực hiện đồng bộ các giải pháp huy động vốn theo kế hoạch vay nợ được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; tăng cường kiểm tra, giám sát việc vay, sử dụng vốn vay và trả nợ. Tích cực triển khai các giải pháp tái cơ cấu danh mục nợ công.

Kiểm soát chặt chẽ bội chi và vay nợ của NSĐP. Thực hiện cơ chế cho vay lại nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ đối với địa phương theo quy định. Các địa phương thực hiện vay để bù đắp bội chi NSĐP và trả nợ gốc trong phạm vi dự toán Quốc hội quyết định.

Năm là, tăng cường và đẩy mạnh công tác quản lý, kiểm tra thị trường:

Tiếp tục thực hiện nhất quán chủ trương quản lý giá theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đối với các mặt hàng quan trọng, thiết yếu; tăng cường kiểm tra, thanh tra và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giá. Công khai thông tin về giá, điều hành giá để tạo sự đồng thuận trong xã hội.

Sáu là, đổi mới cơ chế tài chính đơn vị sự nghiệp công, giá dịch vụ công:

Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện cơ chế hoạt động tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong từng lĩnh vực gắn với thúc đẩy lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp công đã đề ra. Triển khai quyết liệt công tác sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập.

Tập trung hoàn thành việc xây dựng, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng NSNN thuộc lĩnh vực quản lý; quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập cung ứng dịch vụ sự nghiệp công, xây dựng định mức kinh tế – kỹ thuật áp dụng trong các dịch vụ sự nghiệp công do nhà nước quản lý.

Bảy là, siết chặt kỷ luật tài chính, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí:

Tăng cương công tác thanh tra, kiểm tra công khai và giám sát việc sử dụng NSNN; triệt để tiết kiệm, chống thất thoát, lãng phí, tham nhũng. Thực hiện nghiêm các kết luận, kiến nghị của các cơ quan thanh tra, kiểm toán.

Tám là, chủ động hợp tác, hội nhập tài chính quốc tế:

Thực hiện đồng bộ các giải pháp hội nhập và hợp tác tài chính quốc tế. Tiếp tục thực hiện lộ trình cắt giảm thuế trong khuôn khổ các FTAs đã ký. Chủ động đánh giá các tác động của các hiệp định thương mại tự do đến thu NSNN để chủ động giải pháp điều hành.

Chín là, chuẩn bị tốt các điều kiện và tổ chức xây dựng kế hoạch phát triển KT-XH và dự toán NSNN năm 2018, kế hoạch tài chính – NSNN 3 năm 2018-2020 sát thực tiễn, khả thi:

Mặc dù nền kinh tế chuyển biến tích cực, những tháng đầu năm đã đạt được nhiều kết quả khả quan nhưng vẫn còn tiềm ẩn nhiều khó khăn, thách thức tác động đến việc thực hiện NSNN. Do vậy các bộ, ngành, địa phương tập trung hướng dẫn, chỉ đạo triển khai xây dựng kế hoạch và dự toán NSNN ở bộ, ngành, địa phương mình; tổ chức đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ thu, chi NSNN năm 2017 và cả 2 năm 2016-2017; trên cơ sở đó, bám sát mục tiêu, định hướng, yêu cầu kế hoạch tài chính 5 năm 2016-2020 và của năm 2018 để xây dựng dự toán NSNN năm 2018 và kế hoạch tài chính – NSNN 3 năm 2018-2020 tích cực, đáp ứng tốt các mục tiêu phát triển của ngành, lĩnh vực, địa phương; động viên vào ngân sách ở mức hợp lý, chi tiêu trong phạm vi khả năng nguồn lực, đảm bảo chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả; bội chi NSNN giảm dần và đảm bảo nợ công trong phạm vi Quốc hội cho phép; tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại NSNN theo đúng định hướng đã đề ra; đảm bảo cân đối ngân sách trong trung hạn. Cần phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, phối hợp chặt chẽ giữa Bộ tài chính với các ngành, địa phương. Tiến tới hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ điều hành NSNN đặt ra từ đầu năm./. 

——————–TÀI LIỆU THAM KHẢO—————————– 

  1. Luật NSNN số 83/2015/QH13 NSNN.
  2. Nghị quyết số 99/2015/QH13 ngày 11/11/2015 về dự toán NSNN năm 2016.
  3. Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 07/01/2016 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH và dự toán NSNN năm 2016.
  4. Nghị quyết số 27/2016/QH14 ngày 11/11/2016 về dự toán NSNN năm 2017.
  5. Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2017 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển KTXH và dự toán NSNN năm 2017.
  6. Nghị quyết 19/NQ-CP ngày 18/3/2014 của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh.
  7. Số liệu công khai Dự toán, Quyết toán NSNN (nhiều năm) của Bộ Tài chính.
  8. Báo cáo tổng kết năm 2015; 2016 của Bộ Tài chính.
  9. Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 19/4/2017 về việc tập trung chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ Tài chính – Ngân sách nhà nước năm 2017
  10. Website: http://www.mof.gov.vn.        http://tapchitaichinh.vn.

Bản in

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *