Chuyên đề 1: THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1986-2016

Chuyên đề 1: THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1986-2016

 ThS. Lê Thị Mai Liên

Viện Chiến lược và Chính sách tài chính

 Để xây dựng và phát triển kinh tế đất nước vững mạnh, tại Đại hội Đảng VI năm 1986, Việt Nam đã đưa ra quyết định không thể đảo ngược là thực hiện “Đổi mới” nền kinh tế thông qua chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Trải qua 30 năm đổi mới, Việt Nam từ một trong những nước nghèo nhất thế giới đã trở thành một nước có thu nhập trung bình với mức tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người khoảng 2.046 USD[1] và có tỷ lệ hộ nghèo cả nước ước khoảng 5,8% – 6% vào cuối năm 2014, riêng tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện nghèo còn 33,2%. Đồng thời, đã có 56 quốc gia công nhận quy chế thị trường tại Việt Nam[2] và điều này thể hiện những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong thuyết phục các quốc gia công nhận Việt Nam là một nền KTTT đầy đủ. Ngoài ra, việc thể chế hóa các đường lối, chủ trương của Đảng trong xây dựng và hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN cũng là nhân tố quan trọng đóng góp vào thành công trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội (KT – XH) của Việt Nam giai đoạn 1986 – 2016.

1.1. Một số kết quả đạt được trong việc thể chế hóa các đường lối, chủ trương của Đảng trong xây dựng nền KTTT định hướng XHCN.

Qua 30 năm đổi mới, cùng với quá trình phát triển tư duy, lý luận của Đảng, các chủ trương, đường lối phát triển nền KTTT định hướng XHCN đã được thể chế hóa. Trên cơ sở Hiến pháp[3], hệ thống các văn bản pháp luật đã được ban hành dưới nhiều hình thức như bộ luật, luật, pháp lệnh,… Các nội dung pháp luật kinh tế – tài chính đã dần phù hợp hơn với cơ chế thị trường, đáp ứng được hầu hết những đòi hỏi từ công cuộc cải cách kinh tế, tác động tích cực tới quá trình phát triển kinh tế – xã hội theo KTTT định hướng XHCN. Cụ thể:

Một là, tạo dựng khung pháp lý cho việc thực hiện quyền tự do bình đẳng trong kinh doanh, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong nền kinh tế.

Xuất phát từ việc ban hành Pháp lệnh về hợp đồng kinh tế[4] tới việc ban hành Bộ Luật dân sự[5], Luật Thương mại[6], Luật Cạnh tranh[7],… đã tạo khung khổ pháp lý khẳng định quyền tự do kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế. Ngoài ra, việc ban hành Luật Doanh nghiệp[8] thay thế Luật Công ty[9], Luật Doanh nghiệp tư nhân[10], Luật Doanh nghiệp nhà nước[11]… càng khẳng định quyền tự do và bình đẳng trong kinh doanh cũng như cụ thể hóa điều 57, Hiến pháp năm 1992 (nay là điều 33, Hiến pháp năm 2013)[12], giúp tạo ra bầu không khí mới trong môi trường đầu tư ở Việt Nam.

Bên cạnh việc thể chế hóa và khẳng định quyền tự do kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế, các quy định về hợp đồng kinh tế cùng với các quyền và trách nhiệm của các chủ thể trong các quan hệ kinh tế – xã hội đã hình thành khung pháp lý đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ kinh tế.

Hai là, thiết lập hệ thống thể chế cho phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, khai thác hiệu quả mọi nguồn lực xã hội.

Với việc ban hành Luật Đầu tư nước ngoài[13], Luật Công ty[14], Luật Doanh nghiệp tư nhân, Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Hợp tác xã[15]… trong 20 năm đầu đổi mới cho thấy Nhà nước Việt Nam đã chính thức thừa nhận sự tồn tại hợp pháp của các thành phần kinh tế, trong đó có thành phần kinh tế nhà nước. Đặc biệt là sự ra đời của Luật Doanh nghiệp thông qua việc khắc phục sự chia cắt, tách biệt áp dụng theo thành phần kinh tế của hệ thống luật pháp trước đó về doanh nghiệp khi các doanh nghiệp có cùng loại hình pháp lý, song nếu thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, lại bị điều chỉnh bởi các quy định pháp luật khác nhau về nhiều phương diện, bao gồm từ thủ tục, điều kiện gia nhập hoặc rút lui khỏi thị trường, đến cách thức quản lý nội bộ,… Những điều chỉnh pháp lý này đã thể hiện cam kết chính trị không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, hướng tới việc tạo lập môi trường thuận lợi, bình đẳng và phù hợp với yêu cầu của nền KTTT định hướng XHCN và các đòi hỏi của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Vấn đề tạo cơ sở pháp lý cho phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong môi trường bình đẳng còn thể hiện thông qua việc ban hành Luật Đầu tư[16] 2005 thay thế Luật đầu tư nước ngoài và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước[17]… Hiện nay, các quy định trong Luật Đầu tư năm 2014 còn hướng tới việc khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong xã hội. Bên cạnh Luật Đầu tư, việc ban hành Luật Phá sản[18] đã hình thành khung pháp lý cho việc thực hiện chức năng đào thải, chọn lọc của cơ chế cạnh tranh, góp phần thúc đẩy quá trình phân bổ lại nguồn lực theo hướng có hiệu quả hơn.

Đối với nguồn lực nhà nước, việc ban hành các luật thuế cùng với Luật Ngân sách nhà nước[19], Luật Đầu tư công 2014[20], Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp 2014[21],… đã đánh dấu sự phát triển và hoàn thiện thể chế tài chính nhà nước trong huy động, phân bổ, quản lý và sử dụng các nguồn lực tài chính nhà nước tiết kiệm, hiệu quả và minh bạch.

Ba là, thể chế về phân phối đã hướng đến việc đảm bảo các nguyên tắc của KTTT, đồng thời khắc phục những bất cập mà cơ chế thị trường gây ra.

Quá trình hoàn thiện thể chế về phân phối trong 30 năm đổi mới được thể hiện rõ nét thông qua: (i) Chuyển từ cơ chế quản lý giá mang tính hành chính sang cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước; (ii) Thực hiện đổi mới chính sách tài chính và cơ chế phân phối trong doanh nghiệp nhà nước (DNNN); (iii) Chuyển đổi quan hệ phân phối giữa Nhà nước và doanh nghiệp thông qua việc hình thành hệ thống thuế và thu NSNN thống nhất; (iv) Phân phối thông qua chi NSNN được đổi mới theo hướng chú trọng tới tính hiệu quả, đảm bảo tính công bằng và công khai, minh bạch. Trong đó, đã hình thành nên hệ thống chính sách pháp luật tài chính về thuế, ngân sách, tài chính doanh nghiệp, giá cả… Cụ thể:

Thứ nhất, quá trình đổi mới chính sách giá và cuộc chiến chống lạm phát trong những năm cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 thông qua việc xoá bỏ các quy định cứng nhắc về giá đối với nhiều hàng hoá và tư liệu sản xuất, Nhà nước trả lại chức năng định giá cho thị trường, thực hiện tự do hoá giá cả đối với đại bộ phận hàng hóa dịch vụ lưu thông trên thị trường, đồng thời Nhà nước thực hiện cắt giảm các khoản bao cấp trợ giá trực tiếp. Ngoài ra còn điều chỉnh lương tối thiểu nhằm đảm bảo người lao động sống được bằng lương, tái sản xuất được sức lao động. Theo đó đã góp phần đẩy lùi tình trạng lạm phát phi mã, giá cả từng bước được hình thành theo cơ chế thị trường. Trên cơ sở giá cả được tự do hoá, chức năng phân bổ các nguồn lực sản xuất cũng được từng bước giao cho thị trường đảm nhiệm.

Thứ hai, việc đổi mới chính sách tài chính và cơ chế phân phối trong DNNN trong những năm 90 và đầu những năm 2000 theo hướng xoá bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung trong hoạt động của DNNN[22] sang tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính kinh tế cho DNNN, phân biệt rõ cơ chế đối với DNNN hoạt động sản xuất kinh doanh và doanh nghiệp hoạt động công ích, xoá bỏ dần cơ chế bao cấp, từng bước chuyển DNNN sang hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường, tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, đồng thời tách bạch rõ hơn chức năng quản lý nhà nước với chức năng kinh doanh của doanh nghiệp. Theo đó quan hệ giữa Nhà nước với DNNN đã dần được làm rõ về các mặt, kể cả mặt phân phối và sở hữu, trong đó việc phân phối đã từng bước theo cơ chế thị trường. Việc sắp xếp lại DNNN dưới nhiều hình thức[23] đã tạo điều kiện cho cơ chế thị trường hoạt động.

Thứ ba, đã hình thành hệ thống thuế và thu NSNN thống nhất – đây là bước chuyển đổi quan trọng trong quan hệ phân phối giữa Nhà nước và doanh nghiệp. Quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế theo hướng thống nhất và bình đẳng, phù hợp với yêu cầu của nền KTTT định hướng XHCN, góp phần quan trọng tạo ra sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư, từ đó thúc đẩy sản xuất và đầu tư, đồng thời tạo nguồn thu cho NSNN để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội. Việc hoàn thiện hệ thống chính sách thuế và thu NSNN được thể hiện trên các khía cạnh:

– Hệ thống chính sách thuế và thu ngân sách từng bước được đổi mới đồng bộ, phù hợp với nền KTTT.

Trước năm 1990, chính sách thuế được ban hành chủ yếu thông qua Pháp lệnh hoặc Nghị định nên tính pháp lý chưa cao, trong giai đoạn 1986-1990, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng VI, thuế công thương nghiệp[24], thuế nông nghiệp[25], thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hàng mậu dịch[26]… đã được xây dựng và hoàn thiện.

Cải cách thuế bước 1(1990-1995): hệ thống thuế Việt Nam đã bao gồm nhiều luật thuế (khoảng12 sắc thuế lớn và các loại phí, lệ phí); trong đó, nguồn thu chủ lực là thuế doanh thu[27], thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu[28], thuế tiêu thụ đặc biệt[29] và thuế lợi tức[30]… Riêng về thuế vốn, thực chất là khoản thu trên vốn NSNN cấp, chỉ áp dụng trong phạm vi hẹp đối với khu vực nhà nước, không phải là thuế nên Hội đồng Nhà nước giao cho Chính phủ ban hành dưới hình thức Nghị định. Nhìn chung, cải cách thuế bước 1 đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, bước đầu đã phát huy vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế, tạo nguồn thu ngày càng to lớn cho NSNN, đồng thời đã làm cho thuế có cơ sở pháp luật vững chắc, áp dụng bình đẳng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, thay thế hẳn hệ thống thu cũ. Tuy nhiên, hệ thống thuế vẫn còn những bất cập. Đó là: chưa bao quát các nguồn thu phát sinh trong nền KTTT; hệ thống chính sách thuế còn chưa phù hợp với thông lệ quốc tế, chưa đảm bảo được tính tương thích với các nền KTTT trong khu vực; các sắc thuế dù đã được sửa đổi, bổ sung vẫn chưa đạt được mục tiêu đơn giản và rõ ràng.

Cải cách thuế bước 2(1996-2004) với mục tiêu là củng cố hiệu lực thu bằng cách tăng cường quản lý và chống thất thu; xây dựng nền ngân sách dựa vào nội lực là chính, đồng thời chuẩn bị hội nhập kinh tế khu vực. Do đó, chính sách thuế giai đoạn này đã có những thay đổi. Cụ thể:

+ Ban hành Luật thuế giá trị gia tăng (GTGT)[31] thay thế cho Luật thuế doanh thu và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN)[32] thay thế cho Luật thuế lợi tức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999. Đây là hai luật thuế cơ bản quan trọng điển hình cho hai loại thuế: Thuế gián thu (thuế GTGT) và thuế trực thu (thuế TNDN). Phạm vi điều chỉnh của hai sắc thuế này khá rộng, tác động đến nhiều mặt KT-XH nên có thể coi là bước đột phá quan trọng nhất của công cuộc cải cách thuế bước 2.

Ngoài việc ban hành một số luật thuế mới, các luật thuế đã ban hành cũng được rà soát, sửa đổi và bổ sung như:

+ Ban hành Pháp lệnh thuế tài nguyên[33] (sửa đổi) số 05/1998/PL-UBTVQH ngày 16/04/1998 thay thế Pháp lệnh thuế tài nguyên ban hành năm 1990.

+ Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao[34] năm 1994 được sửa đổi, bổ sung hai lần vào năm 1997 (Luật số 54-L/CTN ngày 18/2/1997) và năm 1999 (Số 14/1999/PL-UBTVQH10 ngày 30/6/1999). Đến năm 2001 Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao được ban hành mới (số 35/2001/PL-UBTVQH10 ngày 19/5/2001) và được sửa đổi bổ sung năm 2004 (số 14/2004/PL-UBTVQH11 ngày 24/3/2004)

+ Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 1991 được sửa đổi, bổ sung năm 1993, và tiếp tục được sửa đổi bổ sung năm 1998 (Luật số 04/1998/QH10 ngày 20/5/1998)

+ Thuế tiêu thụ đặc biệt sau khi ban hành năm 1990 và được sửa đổi năm 1993, 1995, trong giai đoạn 1996-2004 đã sửa đổi năm 2003 (Luật số 08/2003/QH11 ngày 17/6/2003)

+ Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất[35] được sửa đổi năm 1999 (Số 17-1999/QH10 ngày 21/12/1999).

Các quy định về quản lý lệ phí, phí được giao cho Bộ Tài chính[36] (Quyết định số 276/CT ngày 28/07/1992) đã bảo đảm được thêm nguồn thu về lệ phí và phí tập trung vào Ngân sách Nhà nước.

Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến 2010[37] được tiến hành trong bối cảnh tình hình kinh tế có nhiều thay đổi, Việt Nam đã bắt đầu tham gia vào các Hiệp định thương mại quốc tế và song phương và tiến hành đàm phán các thỏa thuận quốc tế về thuế như Hiệp định tránh đánh thuế hai lần[38], cam kết về giảm thuế nhập khẩu với ASEAN[39], và các thoả thuận quốc tế khác về thuế như Chương trình hành động của quốc gia (IAP)[40], Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Nhìn chung, cải cách thuế bước 2 về cơ bản đã đạt được những mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, hệ thống chính sách thuế vẫn chưa thực sự phát huy được sức mạnh của một công cụ quản lý và điều tiết chủ đạo của nhà nước đối với nền kinh tế. Những nhược điểm chủ yếu tập trung vào mặt kỹ thuật và quy trình quản lý thu thuế; bên cạnh đó, Việt Nam đang bước những bước chủ động trên hành trình hội nhập quốc tế.

Cải cách thuế bước 3(2005-2010) được thực hiện trong bối cảnh công nghệ thông tin, khoảng cách giữa các nước gần nhau hơn trong một thị trường rộng mở đã tác động đến chính sách thuế của từng nước và Việt Nam nhằm duy trì sự ổn định. Bên cạnh đó, những chủ trương của Đảng và Nhà nước hướng đến thiết lập tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước cũng ảnh hưởng nhiều đến cải cách thuế lần này. Ở giai đoạn này, cùng với các cam kết quốc tế đa phương và song phương dẫn đến sự cắt giảm đáng kể nguồn thu từ thuế nhập khẩu do vậy nội dung của cải cách thuế bước 3 hướng đến việc sửa đổi các sắc thuế hiện hành và ban hành những loại thuế mới theo hướng tăng dần tỷ trọng thuế trực thu, giảm dần tỷ trọng thuế gián thu; phù hợp hội nhập và thực hiện các cam kết quốc tế. Do đó, trong quản lý thuế, Luật Quản lý thuế ra đời, có hiệu lực từ ngày 01/01/2007 (Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 ngày 29/11/2006) quy định đầy đủ các nội dung của công tác quản lý thuế, có phạm vi điều chỉnh thống nhất đối với toàn bộ các loại thuế (thuế nội địa và thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu), các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước do cơ quan quản lý thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật. Ngoài ra còn ban hành Luật thuế giá trị gia tăng ngày 03/06/2008 (số 13/2008/QH12)[41], Luật thuế TNDN số 14/2008/QH12 được ban hành ngày 03/06/2008[42]; Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12 ra đời ngày 21/11/2007[43]; Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11 ngày 14/06/2005[44]; Luật thuế TTĐB số 27/2008/QH12 ngày 14/11/2008[45], Luật thuế tài nguyên số 45/2009/QH12 ngày 25/11/2009[46].

Như vậy, trong giai đoạn này, chương trình cải cách thuế đến năm 2010 cơ bản hoàn thành định hướng ban hành những loại thuế mới và sửa đổi, bổ sung các sắc thuế chủ yếu hiện hành để phù hợp với giai đoạn hội nhập kinh tế, thực hiện các cam kết quốc tế hướng đến thương mại tự do thông qua tỷ trọng các loại thuế trực thu trong tổng thu thuế.

Giai đoạn 2011-2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 732/QĐ-TTg ngày 17/05/2011 về việc phê duyệt Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020[47]. Trong giai đoạn này, có hai sắc thuế mới có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012 là Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (được Quốc hội khóa XII thông qua tại kỳ họp thứ 7 ngày 17/06/2010) và Luật thuế bảo vệ môi trường (được Quốc hội khóa XII thông qua tại kỳ họp thứ 8 ngày 15/11/2010). Đây là loại thuế mới trong hệ thống thuế hiện hành, thay thế cho việc áp dụng một số loại phí (như phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn,…). Theo đó, trong giai đoạn này hệ thống chính sách thuế bao gồm các sắc thuế, phí và lệ phí: (1) Thuế giá trị gia tăng; (2) Thuế tiêu thụ đặc biệt; (3) Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; (4) Thuế thu nhập doanh nghiệp; (5) Thuế thu nhập cá nhân; (6) Thuế tài nguyên; (7) Thuế sử dụng đất nông nghiệp; (8) Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; (9) Thuế bảo vệ môi trường; (10) Các khoản phí và lệ phí.

Giai đoạn 2011-2020, hệ thống chính sách thuế và thu ngân sách đã động viên hợp lý, kịp thời các nguồn lực từ sản xuất. Đến nay, cơ bản hoàn thành việc sửa đổi, bổ sung và ban hành các luật về thuế, Luật Hải quan[48] theo lộ trình đề ra. Trong đó, đã trình Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN[49]; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNDN[50]; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TTĐB. Đồng thời, đã kịp thời hướng dẫn và tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả một số chính sách mới như Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; Luật thuế bảo vệ môi trường từ ngày 01/01/2012[51]. Các chính sách thuế, phí, lệ phí ban hành về cơ bản đã đảm bảo minh bạch, đơn giản, phù hợp với các cam kết về hội nhập quốc tế, góp phần tạo môi trường đầu tư ổn định, hấp dẫn, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Đặc biệt, việc thực hiện các chính sách miễn, giảm, gia hạn các khoản thuế và thu NSNN; điều chỉnh giảm mức độ động viên trong một số sắc thuế, khoản thu đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao tính hấp dẫn của môi trường đầu tư, tạo điều kiện cho doanh nghiệp và người dân có thêm nguồn lực cho đầu tư và tiêu dùng, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển[52].

Sau ba mươi năm thực hiện cải cách hệ thống chính sách thuế và thu ngân sách đã từng bước được đổi mới đồng bộ, phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đồng thời đóng vai trò là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nước; hệ thống chính sách thuế rõ ràng, công khai, minh bạch, cơ bản bao quát các nguồn thu chủ yếu và huy động hợp lý vào NSNN; công tác quản lý thuế từng bước được hiện đại hóa đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thuế và thu NSNN.

Cải cách hệ thống chính sách thuế và thu ngân sách đã thể hiện tính tiên phong đi đầu trong quá trình đổi mới và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, thúc đẩy quá trình cải cách và hội nhập kinh tế quốc tế. Quá trình cải cách thuế ở Việt Nam được diễn ra một cách có hệ thống, mang tính tổng thể đối với tất cả các ngành, lĩnh vực và chủ thể trong nền kinh tế. Chỉ trong một thời gian ngắn, hệ thống thuế, phí và lệ phí được thiết lập khá đầy đủ theo thông lệ quốc tế và áp dụng thống nhất cho mọi chủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế.

Quá trình cải cách thuế phù hợp với tình hình kinh tế – xã hội ở từng thời kỳ, không gây biến động lớn đối với các hoạt động sản xuất, gắn liền với quá trình chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần và hội nhập kinh tế quốc tế, tạo sự đồng thuận trong hoạch định chính sách và thực thi chính sách.

Hệ thống chính sách thuế đã trở thành công cụ quan trọng trong quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, phù hợp với quy luật KTTT. Việc ban hành và áp dụng hệ thống chính sách thuế thống nhất tạo môi trường công bằng, bình đẳng giữa các khu vực và thành phần kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, góp phần quan trọng trong việc tạo nguồn thu cho NSNN.

– Hệ thống chính sách thuế rõ ràng, công khai, minh bạch, bao quát hết các nguồn thu chủ yếu và huy động hợp lý vào ngân sách nhà nước, đồng thời khuyến khích sản xuất kinh doanh.

Hệ thống chính sách thuế đã được quy định khá đầy đủ, rõ ràng, công khai, minh bạch, bao quát hết các nguồn thu chủ yếu của NSNN, tạo hành lang pháp lý đầy đủ cho việc quản lý nhà nước bằng pháp luật.

Hệ thống chính sách thuế động viên hợp lý vào NSNN, đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước và đảm bảo nguồn tài chính cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội qua đó góp phần đưa ngân sách Việt Nam thoát khỏi tình trạng phụ thuộc vào viện trợ nước ngoài và chấm dứt phát hành tiền để bù đắp thiếu hụt NSNN từ đầu những năm 1990. Đồng thời, hệ thống chính sách thuế cũng góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, khuyến khích xuất khẩu, khuyến khích đầu tư, đổi mới công nghệ, đảm bảo phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và hợp tác quốc tế về thuế, có lộ trình, bước đi thích hợp để thực hiện bảo hộ có chọn lọc, có điều kiện, có thời hạn, góp phần tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế, tạo môi trường pháp lý bình đẳng.

Cơ cấu thu ngân sách theo ngành và thành phần kinh tế được cải thiện theo hướng tích cực và bền vững với tỷ trọng tăng dần của số thu ngân sách từ các ngành công nghiệp, dịch vụ cũng như xu hướng giảm dần sự phụ thuộc vào số thu từ khu vực kinh tế nhà nước; tỷ trọng số thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng tăng lên trong tổng số thu NSNN; tỷ trọng số thu nội địa tăng dần trong tổng thu NSNN.

– Công tác quản lý thuế từng bước được hiện đại hóa.

Cơ quan quản lý thuế thống nhất là Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan thuộc Bộ Tài chính đã được thành lập theo hệ thống dọc từ Trung ương đến địa phương[53] để thay thế cho các cơ quan quản lý các nguồn thu khác nhau trước đây; Với việc ban hành và triển khai áp dụng Luật Quản lý thuế từ 1/7/2007, tách biệt chính sách thuế với công tác quản lý thuế, các thủ tục hành chính thuế, quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế, trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong việc thực thi pháp luật thuế đã được quy định rõ ràng, công khai, minh bạch hơn so với trước. Phương pháp quản lý thuế theo cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật, cơ quan thuế thực hiện quản lý theo chức năng đã góp phần nâng cao tính tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế.

Thứ tư, thể chế về phân phối thông qua chính sách phân bổ nguồn lực nhà nước đã hướng tới việc đảm bảo tính hiệu quả, tính công khai minh bạch và công bằng trong phát triển nền KTTT định hướng XHCN. Điều này được thể hiện rõ thông qua việc ban hành Luật NSNN, Luật Đầu tư công, Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành. Trong đó, phân bổ nguồn lực NSNN đã dựa trên các nguyên tắc và tiêu chí minh bạch[54] có tính đến đặc thù từng lĩnh vực, vùng, miền và đối tượng…

Cùng với quá trình đổi mới tư duy về kinh tế, chính sách chi ngân sách cũng trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau phụ thuộc vào các ưu tiên về phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong từng thời kỳ.

Từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung với sự bao cấp của NSNN đối với hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế, bước sang nền KTTT định hướng XHCN, chính sách chi ngân sách đã được đổi mới theo hướng giảm dần sự bao cấp của NSNN, đặc biệt là chế độ bao cấp đối với các DNNN và các đơn vị sự nghiệp công. Nhà nước đã thực hiện tách bạch giữa hoạt động quản lý Nhà nước và hoạt động sản xuất kinh doanh, giữa hoạt động quản lý hành chính và hoạt động sự nghiệp[55]. Theo đó, tài chính Nhà nước và tài chính doanh nghiệp đối với các DNNN đã dần được phân định rõ; cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công cũng đã được tách bạch khỏi cơ chế quản lý tài chính đối với cơ quan hành chính Nhà nước[56]. Đối với khu vực doanh nghiệp, cơ chế bù lỗ, bù giá từ NSNN đã dần được xóa bỏ và thay bằng cơ chế tự hạch toán kinh doanh. Đối với khu vực hành chính sự nghiệp, cơ chế quản lý tài chính cũng được đổi mới nhằm nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, tiết kiệm chi để dành nguồn lực cho các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội. Đối với các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước, cơ chế khoán chi hành chính đã được thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý hành chính Nhà nước và hỗ trợ quá trình tinh giảm biên chế. Đối với các đơn vị sự nghiệp, cơ chế tự chủ về tài chính bên cạnh tự chủ về bộ máy, về nhân lực là động lực thúc đẩy các đơn vị sự nghiệp đổi mới phương thức hoạt động nhằm cung ứng tốt hơn dịch vụ công cho xã hội. Nhà nước cũng thực hiện xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp[57], khuyến khích sự tham gia của các thành phần kinh tế trong việc cung ứng dịch vụ công, tạo tiền đề cho việc hình thành và phát triển thị trường các dịch vụ công, giảm dần sự bao cấp của NSNN. Chi NSNN được cơ cấu lại theo hướng xóa bỏ bao cấp, tập trung nguồn lực cho các mục tiêu chiến lược, các chương trình mục tiêu quốc gia và ưu tiên cho các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học công nghệ, cho phát triển nông nghiệp, nông thôn và an sinh xã hội.

Đối với chi đầu tư phát triển, NSNN tập trung đầu tư vào kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, các dự án không có khả năng thu hồi vốn; hỗ trợ đầu tư cho những vùng khó khăn, các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình kinh tế trọng điểm của Nhà nước. Đồng thời, có cơ chế khuyến khích sự tham gia của các thành phần kinh tế khác cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng theo các mô hình xây dựng – kinh doanh – chuyển giao, mô hình hợp tác công – tư[58]

Thứ năm, chính sách phân phối, lưu thông đã hướng tới thực hiện theo cơ chế thị trường. Chủ trương cải cách, mở cửa nền kinh tế là một bước đột phá làm thay đổi một cách toàn diện diện mạo của đất nước. Trong lĩnh vực phân phối, lưu thông, Nhà nước đã thực hiện mở rộng giao lưu hàng hoá giữa các địa phương trong cả nước, giữa trong nước với nước ngoài, xóa bỏ mọi hình thức chia cắt thị trường. Hệ thống phân phối cũng được tự do hóa, xóa bỏ thế độc quyền của các xí nghiệp thương mại quốc doanh, cho phép mọi thành phần kinh tế được tham gia vào quá trình sản xuất và phân phối hàng hóa. Luật Cạnh tranh đã được ban hành, là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc bảo đảm môi trường sản xuất kinh doanh bình đẳng, ngăn ngừa và xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

Thứ sáu, trong phân phối đã quan tâm, chú trọng tới điều tiết thu nhập và an sinh xã hội nhằm khắc phục những mặt trái của KTTT, hướng tới việc xây dựng xã hội XHCN. Điều này được thể hiện thông qua việc thực hiện tiền tệ hóa tiền lương thay cho cơ chế tem phiếu và phân phối bằng hiện vật, xóa bỏ chế độ bao cấp ngoài lương dưới hình thức hiện vật. Tách bạch được tiền lương của khu vực hành chính với tiền lương của khu vực sự nghiệp và với tiền lương của khu vực doanh nghiệp. Chính sách tiền lương và thu nhập đã được đổi mới thông qua việc khuyến khích mọi người tăng thu nhập và làm giàu dựa vào kết quả lao động và hiệu quả kinh tế. Cơ chế “cởi trói”, cho phép Đảng viên được làm kinh tế và cán bộ, công chức, viên chức được tham gia góp vốn, thành lập doanh nghiệp tư nhân là một bước tiến lớn trong nhận thức và tư duy về kinh tế của Đảng, phù hợp với thực tế khách quan.

Thông qua các đợt cải cách tiền lương năm 1993 và năm 2004, hệ thống tiền lương đã có những thay đổi căn bản với việc tách hệ thống tiền lương của khu vực doanh nghiệp ra khỏi hệ thống tiền lương của khu vực hành chính sự nghiệp, đồng thời cũng tách bảng lương của khu vực sự nghiệp ra khỏi bảng lương của khu vực quản lý hành chính. Tiền lương trong khu vực doanh nghiệp đã dần tiệm cận với quy luật cung – cầu trên thị trường lao động. Tiền lương của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh hoàn toàn do thị trường tự điều chỉnh thông qua thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động hoặc thông qua thỏa ước tập thể; Nhà nước chỉ can thiệp thông qua chính sách tiền lương tối thiểu nhằm đảm bảo mức sống tối thiểu cho người lao động. Tiền lương của khu vực hành chính và khu vực sự nghiệp đã và đang được đổi mới, tuy chưa đạt được mục tiêu đề ra nhưng cũng đã thu hẹp dần khoảng cách với mức tiền lương chung trên thị trường lao động.

Hệ thống bảo hiểm xã hội (BHXH) ra đời năm 1995, tách bạch với hoạt động của NSNN. Đối tượng tham gia BHXH đã được mở rộng, bao gồm cả người lao động thuộc khu vực doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế; nguồn thu của Quỹ BHXH là từ sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động thay thế cho cơ chế bao cấp từ NSNN trước đó. Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006, 2014 khẳng định thêm tầm quan trọng của hệ thống BHXH và quyết tâm mở rộng mạng lưới BHXH của Nhà nước với việc áp dụng chính sách bảo hiểm thất nghiệp và mở rộng hình thức BHXH tự nguyện. Bên cạnh đó các quy định về bảo hiểm y tế (BHYT) được hình thành và ngày càng hoàn thiện, đánh dấu bằng Luật bảo hiểm y tế 2008, 2014. Đối tượng tham gia BHYT bắt buộc được mở rộng. Nhà nước hỗ trợ mua thẻ BHYT cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, hỗ trợ người cận nghèo mua thẻ BHYT và một số nhóm đối tượng xã hội… Nhà nước cũng rất chú trọng đến công tác bảo đảm xã hội, chính sách ưu đãi đối với người có công và gia đình chính sách, công tác xóa đói, giảm nghèo, công bằng xã hội, khắc phục những mặt trái của cơ chế thị trường như chênh lệch giàu nghèo và sự phát triển mất cân đối giữa các vùng miền.

Bốn là, thể chế về giá cả và quản lý giá cả ngày càng hoàn thiện

Thể chế về giá cả được xây dựng và hình thành tạo thuận lợi cho quá trình trao đổi hàng hóa, quản lý giá cả thị trường… Những năm cuối của thập kỷ 80, Việt Nam đã tiến hành những biện pháp cải cách mạnh mẽ trong lĩnh vực giá cả[59] theo xu hướng hình thành hệ thống một giá tương ứng với giá thị trường. Năm 1992, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định về quản lý giá[60]. Đây là những quy định pháp lý đầu tiên về quản lý giá trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế. Đúng 10 năm sau, UBTVQH đã ban hành Pháp lệnh giá[61] và đến năm 2012 Quốc hội khóa XIII đã ban hành Luật giá[62] nhằm tạo lập và hoàn thiện khung pháp luật cho việc quản lý giá trong nền KTTT định hướng XHCN. Điều này đã tạo ra những tác động tích cực cho quá trình chuyển đổi nền kinh tế: bao cấp qua giá đã được huỷ bỏ đối với hầu hết các mặt hàng, giá cả trên thị trường hàng hoá, dịch vụ đã phản ánh được quan hệ cung – cầu và tạo cơ sở cho quá trình ra quyết định đầu tư theo hướng sử dụng có hiệu quả hơn nguồn lực xã hội. Hệ thống giá đang dần trở thành tín hiệu khách quan, phản ánh nền kinh tế để các doanh nghiệp có cơ sở xây dựng phương án sản xuất kinh doanh nhằm đạt hiệu quả cao nhất, ngăn ngừa rủi ro, đảm bảo cạnh tranh, tồn tại và đứng vững trên thị trường.

Năm là, thể chế cho phát triển các loại thị trường theo cơ chế thị trường định hướng XHCN ngày càng hoàn thiện

a. Thị trường hàng hóa và dịch vụ

Để phát triển thị trường hàng hóa, dịch vụ, ngay từ Đại hội Đảng VI, Đảng đã đề ra “chính sách mở rộng giao lưu hàng hóa, xóa bỏ tình trạng ngăn sông, cấm chợ, chia cắt thị trường theo địa giới hành chính”[63]. Theo đó, để giải quyết vấn đề “bế quan tỏa cảng” nhằm tạo điều kiện thúc đẩy lưu thông hàng hóa cùng với việc thực hiện ba chương trình kinh tế lớn[64], Pháp lệnh về hợp đồng kinh tế, Bộ Luật dân sự, Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh đã lần lượt ra đời nhằm tạo thuận lợi cho các giao dịch trên thị trường.

Trong xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ việc xóa bỏ độc quyền ngoại thương năm 1989 thông qua ban hành quy định về chế độ và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu[65]. Tiếp đến là việc cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được phép hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu. Việc ban hành Luật Công ty (1990) cho phép các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân cũng được kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu đã thúc đẩy sự phát triển của thị trường hàng hóa. Ngoài ra, thủ tục xin giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu cũng được đơn giản hoá từng bước. Việc ban hành Luật Thương mại (1997) và các văn bản hướng dẫn thi hành có thể coi là bước ngoặt của quá trình tự do hoá ngoại thương ở Việt Nam bởi nó đã chính thức khẳng định quyền tự do kinh doanh trong lĩnh vực ngoại thương và quyền tự chủ của doanh nghiệp được tôn trọng. Tiếp đó, Luật Hải quan[66] được ban hành quy định quản lý nhà nước về hải quan đối với hàng hoá được xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài trong lãnh thổ hải quan nhằm tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, đảm bảo thực hiện tuân thủ chính sách của nhà nước đối với các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh. Ngoài ra, Luật Hải quan còn quy định rõ tổ chức và hoạt động của Hải quan, các thủ tục và chế độ quản lý hải quan được đơn giản, hài hòa, tuân thủ các chuẩn mực, thông lệ quốc tế tạo thuận lợi cho các chủ thể trong nền kinh tế thực hiện hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa[67]. Bên cạnh đó, Nhà nước còn thực hiện nhiều biện pháp nới lỏng về quản lý ngoại hối, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp trong quá trình thanh toán với đối tác nước ngoài. Những rào cản phi thuế như chế độ quota, quy định đầu mối xuất khẩu, nhập khẩu cũng dần được dỡ bỏ, thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.

b. Thị trường các yếu tố sản xuất

– Đối với thị trường lao động, Bộ Luật lao động[68] đã hình thành nền tảng pháp lý đầu tiên của thị trường lao động bằng việc công nhận quyền tự do tìm việc làm và quyền lựa chọn người lao động. Đây là hai yếu tố cơ bản tạo ra quan hệ cung – cầu cho thị trường lao động. Ngoài ra, nhiều văn bản pháp lý liên quan khác cũng được ban hành để điều chỉnh những hành vi trên thị trường như các quy định liên quan đến quan hệ lao động, về hợp đồng lao động, thời giờ làm việc và nghỉ ngơi, về tiền lương và trợ cấp xã hội,… Dựa trên các quy định này, giao dịch trên thị trường lao động đã hình thành và từng bước phát triển, không chỉ riêng trong lãnh thổ Việt Nam mà còn vươn ra cả phạm vi ngoài nước.

– Về phát triển thị trường bất động sản, việc ban hành Luật Đất đai[69], cùng với hệ thống các văn bản, chính sách liên quan như Luật Xây dựng[70], Luật Quy hoạch đô thị[71], Luật Đấu thầu[72], chính sách giá cả về đất đai, chính sách thu từ đất, cho thuê đất,… đã tạo hành lang pháp lý cho việc điều chỉnh từng vấn đề cụ thể liên quan tới thị trường đất đai, thị trường nhà ở.

– Đối với thị trường công nghệ, lần đầu tiên, vấn đề bảo hộ quyền sở hữu công nghệ được đưa vào và quy định trong Bộ Luật dân sự (1995). Tiếp đó, với chủ trương coi KH&CN là động lực của tăng trưởng, nhiều cơ chế, chính sách cho phát triển thị trường công nghệ đã được thể chế hoá thành hệ thống các văn bản pháp quy nhằm điều chỉnh hành vi, sự tham gia, mối quan hệ qua lại giữa các tổ chức tham gia vào thị trường công nghệ. Một số văn bản quy phạm pháp luật quan trọng liên quan đến vận hành thị trường công nghệ phải kể đến như: Luật KH&CN[73], Bộ Luật dân sự, Bộ Luật hình sự[74], Luật Thương mại,… Bên cạnh đó, còn có rất nhiều văn bản dưới luật cũng đã được ban hành. Đặc biệt, đã ban hành hai luật quan trọng là Luật Sở hữu trí tuệ[75] và Luật Chuyển giao công nghệ[76]. Những quy định pháp lý trên là cơ sở cho việc hình thành và phát triển thị trường công nghệ trong nền KTTT định hướng XHCN.

– Khung pháp lý cho việc hình thành TTTC, đặc biệt là thị trường vốn cũng dần được hoàn thiện.

+ Thị trường tín dụng ngân hàng

Việc chuyển đổi từ hệ thống ngân hàng một cấp sang hệ thống ngân hàng hai cấp được đánh dấu bằng sự ra đời của Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam[77] và Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính[78]. Trong đó, đối tượng, nhiệm vụ và mục tiêu hoạt động của mỗi cấp được luật pháp quy định cụ thể. NHNN Việt Nam thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và thực thi chính sách tiền tệ. Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ. Hệ thống ngân hàng hai cấp đã xoá bỏ được tính chất độc quyền Nhà nước trong hoạt động ngân hàng bằng cách cho phép thành lập NHTM thuộc nhiều loại hình sở hữu khác nhau. Điều này đã tạo khung khổ pháp lý cho sự phát triển của thị trường tín dụng ngân hàng. Để đảm bảo cho sự hoạt động và phát triển lành mạnh của thị trường tín dụng ngân hàng, Pháp lệnh thanh tra[79] được ban hành nhằm thanh tra, giám sát các hoạt động của thị trường tín dụng ngân hàng, đảm bảo cho các hoạt động tín dụng ngân hàng phát huy hiệu quả, tránh xảy ra những biến cố lớn trên thị trường tín dụng ngân hàng.

Đến nay, Luật NHNN Việt Nam (2010) và Luật Các tổ chức tín dụng (2010) đã tạo cơ sở pháp lý cho việc củng cố, sắp xếp lại và hoàn thiện hệ thống ngân hàng Việt Nam. Các tổ chức tín dụng (TCTD), nhất là các NHTM có hoạt động tín dụng là chủ yếu đã chuyển dần sang mô hình ngân hàng hiện đại cung cấp đa dạng dịch vụ: cấp tín dụng, đầu tư tài chính, tư vấn, kinh doanh ngoại tệ…, từng bước đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Hệ thống ngân hàng hiện nay cơ bản giống hệ thống ngân hàng các nước có nền KTTT, trong đó có sự hiện diện và hoạt động của ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, góp phần hỗ trợ cho việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng như thu hút công nghệ ngân hàng hiện đại vào Việt Nam. Đặc biệt trong những năm gần đây, để thị trường tín dụng ngân hàng phát triển ổn định, hiệu quả hơn, Luật Thanh tra (2010)[80] đã được ban hành mới cùng với việc thực hiện tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng[81] với ba vấn đề trọng tâm gồm: ổn định thanh khoản cho hệ thống ngân hàng; lành mạnh hóa tình hình tài chính, xử lý nợ xấu; và tái cơ cấu tổ chức, hoạt động, quản trị hệ thống ngân hàng.

+ Thị trường chứng khoán

Quá trình thể chế hóa các quan điểm, định hướng của Đảng về phát triển và giám sát thị trường chứng khoán đã được bắt đầu từ năm 1996 bằng việc thành lập Ủy ban Chứng khoán Nhà nước[82]là cơ quan của Chính phủ chịu trách nhiệm quản lý Nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Đồng thời, Chính phủ cũng đã ban hành các quy định về chứng khoán và thị trường chứng khoán[83], xây dựng và hình thành các Trung tâm giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh, Hà Nội[84]; các quy định về phát hành, niêm yết, giao dịch, kinh doanh, đầu tư chứng khoán, dịch vụ về chứng khoán và thị trường chứng khoán, công bố thông tin, quản lý nhà nước và thanh tra giám sát về chứng khoán và thị trường chứng khoán được hoàn thiện bằng việc ban hành Luật Chứng khoán[85]. Lộ trình và phương thức phát triển thị trường chứng khoán cũng được xây dựng phù hợp với từng thời kỳ phát triển kinh tế – xã hội[86] và đặc biệt, từ năm 2012, để nâng cao hiệu quả và phát triển thị trường chứng khoán, vấn đề tái cấu trúc thị trường chứng khoán đã được nhấn mạnh[87] và để đa dạng hóa hàng hóa trên thị trường, ngày 11/3/2014 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán phái sinh Việt Nam[88]. Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định về chứng khoán phái sinh và thị trừng chứng khoán phái sinh[89].

+ Thị trường bảo hiểm

Việc phát triển thị trường bảo hiểm được đánh dấu bằng sự ra đời khung pháp lý quy định về kinh doanh bảo hiểm năm 1993[90] và sự ra đời của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam năm 1999 với mục đích tạo môi trường cạnh tranh, phát triển lành mạnh và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các thành viên tham gia. Hệ thống văn bản pháp luật về bảo hiểm đã từng bước hoàn chỉnh theo hướng ngày càng chi tiết, rõ ràng, minh bạch, cụ thể hóa các quy định đối với từng lĩnh vực bảo hiểm, phù hợp hơn với các chuẩn mực quốc tế, tạo nền tảng cho thị trường bảo hiểm Việt Nam có khả năng hội nhập với các thị trường bảo hiểm quốc tế và khu vực[91].

Luật Kinh doanh bảo hiểm[92] và các văn bản hướng dẫn[93], các quy định pháp lý về chế độ tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm[94], chế độ xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm[95] được ban hành đã tạo khuôn khổ pháp lý chung, rõ ràng và ổn định hơn cho việc phát triển và giám sát thị trường bảo hiểm. Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam trong từng giai đoạn cũng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt[96], trong đó Nhà nước có các chính sách khuyến khích người dân tham gia các loại hình bảo hiểm cũng như khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng phạm vi hoạt động bảo hiểm và tăng cường các loại hình sản phẩm bảo hiểm khác nhau. Từ năm 2012, thị trường bảo hiểm đã bắt đầu được tái cơ cấu[97] theo hướng phát triển đồng bộ, toàn diện theo nguyên tắc thị trường và trên cơ sở doanh nghiệp tự nguyện, bên cạnh đó còn thực hiện tái cấu trúc các doanh nghiệp bảo hiểm.

Sáu là, hài hòa hóa hệ thống pháp luật nhằm thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Việc hài hoà hoá hệ thống pháp luật Việt Nam với luật pháp quốc tế nhằm thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế được thể hiện qua quá trình xây dựng, ban hành và chủ động sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các văn bản pháp luật như Luật Đầu tư nước ngoài, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp,…trên cơ sở đảm bảo các nguyên tắc của KTTT, chú trọng chất lượng, hiệu quả, coi phát huy lợi thế so sánh và năng lực cạnh tranh là những yếu tố quyết định thành công. Theo đó, hệ thống pháp luật liên quan tới hội nhập đã có những điều chỉnh, từ việc chỉ quy định về mở cửa trong một số lĩnh vực sang hội nhập toàn diện, thực hiện đàm phán và ký kết các hiệp định quốc tế, thực hiện gắn kết nền kinh tế Việt Nam với kinh tế khu vực và thế giới thông qua hoạt động thương mại và đầu tư, phối hợp và hài hoà các tiêu chuẩn, chính sách, tham gia các định chế kinh tế toàn cầu và khu vực, rà soát, loại bỏ những quy định phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp, cá nhân, hàng hóa và dịch vụ trong nước với ngoài nước.

Quá trình xây dựng, hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN trong 30 năm qua cho thấy đường lối đổi mới của Đảng đã được thể chế hóa, từng bước hình thành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật với các cơ chế, chính sách ngày càng đầy đủ, đồng bộ hơn, tạo hành lang pháp lý và môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế, cho việc hình thành và phát triển nền KTTT định hướng XHCN. Tính từ 1986 đến nay đã có hàng trăm luật và pháp lệnh (kể cả các luật và pháp lệnh sửa đổi, bổ sung) đã được ban hành và đưa vào áp dụng. Nội dung pháp luật kinh tế-tài chính ngày càng phù hợp hơn với cơ chế thị trường, đáp ứng được hầu hết những đòi hỏi từ công cuộc cải cách kinh tế. Khuôn khổ luật pháp mới đã chuyển đổi hành vi của Nhà nước từ “làm cho” (làm hộ) sang “cho làm”, từ việc can thiệp trực tiếp sang tác động gián tiếp vào các hoạt động kinh tế. Công tác soạn thảo, thẩm định và ban hành các văn bản pháp luật bước đầu đã đi vào nề nếp, theo một quy trình thống nhất do luật định. Hoạt động thông tin, phổ biến pháp luật đã có chuyển biến tích cực, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu đa dạng và góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của mọi người dân. Nhờ có những nỗ lực đó mà khung luật pháp của nền KTTT đã dần được định hình và ngày càng hoàn thiện hơn.

1.2. Những vấn đề đặt ra

Thứ nhất, quá trình xây dựng thể chế KTTT định hướng XHCN còn chậm, chưa theo kịp yêu cầu của công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế. Hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách trong một số lĩnh vực còn chưa đầy đủ, đồng bộ và thống nhất[98]. Năng lực thể chế hóa và quản lý, tổ chức thực hiện của Nhà nước còn hạn chế, nhất là trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế – xã hội bức xúc. Việc ban hành một số thể chế, chính sách chưa mang tính dài hạn, nhanh lạc hậu so với thực tiễn nên phải bổ sung, sửa đổi[99]; một số chính sách chưa tính toán đầy đủ những tác động kinh tế sau ban hành nên việc triển khai gặp khó khăn[100].

Thứ hai, quá trình thể chế hóa vấn đề sở hữu còn chậm, chưa rõ ràng. Đặc biệt là lúng túng trong việc thể chế hóa sở hữu nhà nước, vấn đề sở hữu trong khu vực DNNN. Việc phân định chức năng quản lý nhà nước và quản lý của chủ sở hữu nhà nước còn chưa đủ rõ; chưa làm rõ được cơ chế, chính sách giữa nhiệm vụ kinh doanh và nhiệm vụ công ích.

Thứ ba, thể chế về phân phối còn nhiều bất cập. Trong đó việc thể chế hóa các chủ trương, đường lối về phân bổ nguồn lực phát triển trong nền kinh tế, giữa các ngành, lĩnh vực, khu vực còn nhiều bất cập, chưa sát thực tiễn và chưa phù hợp với chủ trương, đường lối; vấn đề phân phối thu nhập, nhất là tiền lương không chỉ bất cập trên phương diện tổng thể mà còn có sự khác biệt bất hợp lý lớn giữa các khu vực, lĩnh vực, chưa đáp ứng chủ trương đổi mới và cải cách chế độ tiền lương.

Thứ tư, việc thể chế hóa giá cả, nhất là ở các lĩnh vực độc quyền còn bất hợp lý, chưa tạo lập được cơ chế tính đủ chi phí vào giá một số dịch vụ công còn nhiều vướng mắc giữa vấn đề giá, an sinh xã hội và cơ chế hỗ trợ của Nhà nước đối với các đối tượng chính sách xã hội.

Thứ năm, chủ trương phát triển đồng bộ hệ thống thị trường vừa chậm, vừa bất cập dẫn đến chưa tạo lập được hệ thống này theo yêu cầu phát triển của nền kinh tế.

Việc thể chế hóa chủ trương tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập còn nhiều vướng mắc chưa được tháo gỡ, thiếu các tiêu chí, hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật làm căn cứ cho việc thực hiện. Các cơ chế, chính sách về xã hội hóa các loại hình dịch vụ công, khuyến khích các thành phần kinh tế khác tham gia cung ứng dịch vụ công mặc dù đã được đặt ra từ nhiều năm nay nhưng chưa thực sự thu hút các chủ thể trong nền kinh tế tham gia. Bên cạnh đó, thực tế đã phát sinh các hoạt động mang tính liên doanh, liên kết giữa các đơn vị sự nghiệp công lập và khu vực tư nhân (như góp vốn bằng máy móc, thiết bị và cùng khai thác, cùng hưởng lợi,…), nhưng các quy định pháp luật điều chỉnh về vấn đề này còn chưa rõ ràng.

1.3. Giải pháp hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN

Một là, cần rà soát, hoàn thiện hệ thống thể chế KTTT định hướng XHCN trên cơ sở bám sát thực tiễn đất nước, coi trọng tổng kết thực tiễn, gắn kết lý luận với thực tiễn và tập trung nghiên cứu, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận quan trọng cũng như chú trọng công tác dự báo và làm rõ các vấn đề thực tiễn trọng tâm bức xúc của công cuộc đổi mới. Từ đó hoàn thiện các chế định pháp luật, đặc biệt nhấn mạnh tính kịp thời, đầy đủ; tính minh bạch, tính khả thi, tính thị trường trong nội dung các quy định, đồng thời cần tăng cường tính dân chủ, nâng cao tiếng nói của người dân và doanh nghiệp trong các hoạt động xây dựng Luật của Quốc hội, trong quá trình xây dựng và ban hành các luật, chú trọng tới việc bảo vệ tốt quyền tài sản hợp pháp của người dân và doanh nghiệp, bao gồm cả tài sản hữu hình và vô hình; tăng cường tính nghiêm minh, hiệu quả trong thực hiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực các thể chế, chính sách trong phát triển KTTT định hướng XHCN. Ngoài ra, cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong mọi lĩnh vực nhằm chuẩn hóa quy trình thủ tục theo hướng đơn giản, gọn nhẹ, minh bạch nhằm phục vụ tốt và tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân, doanh nghiệp trong thực hiện các nghĩa vụ đối với nhà nước, giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp trong nền kinh tế.

Hai là, tiếp tục hoàn thiện thể chế về sở hữu, phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp thông qua thể chế hóa quyền tài sản; tách bạch chức năng quản lý nhà nước và quản lý của chủ sở hữu nhà nước;hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp và năng lực của các thiết chế giải quyết tranh chấp dân sự, tranh chấp kinh tế trong bảo vệ quyền sở hữu, trong đó nâng cao tính độc lập của cơ quan tư pháp nhằm không để các lợi ích nhóm can thiệp vào quá trình phân định kinh tế và tăng cường tính dân chủ của các chủ thể trong nền kinh tế.

Ba là, đổi mới thể chế về phân phối theo nguyên tắc thị trường có sự quản lý của nhà nước. Nhà nước phân bổ nguồn lực theo kế hoạch, quy hoạch và theo cơ chế thị trường. Tiếp tục rà soát để hoàn thiện pháp luật về đầu tư công, NSNN trên cơ sở phân cấp ngân sách; rà soát sửa đổi chính sách tiền lươngtheo hiệu quả gắn với vị trí công việc, hướng tới quản lý ngân sách theo kết quả; hoàn thiện quy định pháp luật về các quỹ tài chính ngoài NSNN. Nhà nước cần tập trung nhiều hơn vào hoàn thiện quy định pháp luật cũng như thực hiện cung ứng dịch vụ công ích cơ bản và cải thiện môi trường kinh doanh,…; hoàn thiện cơ chế chính sách thu NSNN đảm bảo khuyến khích đầu tư sản xuất, bảo vệ tài nguyên, động viên phù hợp các nguồn thu và phù hợp với các cam kết quốc tế.

Bốn là, hoàn thiện thể chế về giá, phí, kiểm soát độc quyền trong kinh doanh trên cơ sở thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường, đảm bảo tính đúng, tính đủ và công khai các yếu tố hình thành giá đối với giá dịch vụ công thiết yếu và có chính sách hỗ trợ phù hợp cho đối tượng chính sách, không lồng ghép các chính sách an sinh xã hội trong giá,…

Năm là, phát triển đồng bộ các loại thị trường, trong đó: (i) Ða dạng hóa các loại thị trường hàng hóa, dịch vụ theo hướng hiện đại, chú trọng phát triển thị trường dịch vụ, những thị trường mới (giải trí, trò chơi có thưởng,…) trên cơ sở đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ cho các thị trường này; (ii) Tiếp tục hoàn thiện thể chế về tiền tệ, tín dụng và ngoại hối. Từng bước mở cửa thị trường tín dụng, các dịch vụ ngân hàng phù hợp với cam kết quốc tế; (iii) Hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm tiếp tục thúc đẩy TTCK phát triển lành mạnh, hiệu quả và giữ vai trò ngày càng quan trọng trong huy động vốn trung hạn và dài hạn cho đầu tư phát triển. Phát triển đồng bộ các loại thị trường cổ phiếu, trái phiếu và thị trường chứng khoán phái sinh. Đưa các giao dịch chứng khoán tự do vào phạm vi quản lý, kiểm soát của Nhà nước. Tăng cường tính minh bạch và quản trị công ty theo thông lệ quốc tế; (iv) Phát triển đa dạng và nâng cao chất lượng các sản phẩm bảo hiểm. Tạo điều kiện phát triển các doanh nghiệp bảo hiểm thuộc các thành phần kinh tế trong nước, khuyến khích hợp tác và liên kết giữa các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Thực hiện lộ trình mở cửa thị trường bảo hiểm theo cam kết hội nhập kinh tế quốc tế; (v) Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách để các quyền về đất đai và bất động sản được vận động theo cơ chế thị trường, trở thành một nguồn vốn trong sản xuất kinh doanh; (vi) Đẩy mạnh phát triển thị trường KH&CN thông qua các chính sách tài chính (như thuế, hỗ trợ,…) nhằm khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia nghiên cứu phát triển KH&CN; (vii) Đẩy mạnh hoàn thiện cơ chế chính sách phát triển đồng bộ, liên thông thị trường lao động cả về quy mô và chất lượng lao động và cơ cấu ngành nghề.

Sáu là, xác lập cụ thể hơn vai trò chủ thể của Nhà nước trong nền KTTT định hướng XHCN để Nhà nước vừa định hướng, kiến tạo phát triển thị trường, tạo lập môi trường thuận lợi cho đầu tư, kinh doanh, khuyến khích cạnh tranh, vừa thúc đẩy hội nhập và phát triển, bảo đảm toàn dân được hưởng thành quả của sự tăng trưởng, thịnh vượng. Nhà nước không làm thay thị trường, nhưng những mặt trái của thị trường và nhất là khi những thất bại của thị trường xuất hiện, Nhà nước sẽ có những thể chế kiến tạo phát triển, các công cụ điều tiết và kiểm soát nhằm khắc phục các khuyết tật thị trường và sửa chữa chúng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới (phần I, II)
  2. Đinh Tuấn Minh & Phạm Thế Anh. (2014) Báo cáo phát triển nền KTTT Việt Nam
  3. Ban KTTW. (2015), Hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam
  4. Tô Huy Rứa và cộng sự. (2009), Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ 1986 đến nay. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
  5. GS. Võ Đình Hảo. (1993), Các công cụ tài chính trong kinh tế thị trường: những vấn đề lý luận và thực tiễn.
  6. PGS. TS. Vũ Văn Phúc. Lý luận và thực tiễn về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. NXB Chính trị quốc gia.
  7. Vũ Đình Bách. (2008), Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.
  8. Nguyễn Đình Hương. (2006), Phát triển các loại thị trường trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nhà xuất bản lý luận chính trị

 

 


[1] Nguồn: Phim tài liệu 70 năm ngành Tài chính cách mạng Việt Nam. Số liệu của IMF (8/2015) về thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam năm 2014 là 2052,8 USD.

[2] Nguồn: Chính phủ (http://baodientu.chinhphu.vn/Tin-noi-bat/Tiep-tuc-hoi-nhap-quoc-te-sau-rong/217352.vgp)

[3] Từ khi bước vào công cuộc “Đổi mới” đất nước năm 1986 đến nay, Quốc hội đã 02 lần thông qua Hiến pháp (Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013). Ngoài ra, năm 2001, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992.

[4] Pháp lệnh số 24-LCT/HĐNN ngày 25/9/1989 về Hợp đồng kinh tế của Hội đồng Nhà nước.

[5] Bộ Luật dân sự năm 2005 (Bộ Luật số 33/2005/QH11 ngày 14/6/2005) thay thế Bộ Luật dân sự năm 1995 (Bộ Luật số 44-L/CTN ngày 28/10/1995) với nhiều điểm mới. Trong đó, đã mở rộng phạm vi điều chỉnh, không chỉ bó hẹp trong các quan hệ dân sự thuần túy mà còn có các quan hệ kinh doanh, thương mại; điều chỉnh các quy định về tài sản và quyền sở hữu nhằm thúc đẩy các giao lưu dân sự phát triển, khuyến khích các chủ thể đầu tư sản xuất kinh doanh và khai thác tài sản đạt hiệu quả cao…

[6] Luật Thương mại năm 2005 (Luật số 36/2005/QH11 ngày 14/6/2005) thay thế Luật Thương mại năm 1997 (Luật số 58/L-CTN ngày 10/5/1997) nhằm mở rộng phạm vi điều chỉnh của Luật, không chỉ điều chỉnh các hoạt động mua bán hàng hoá mà còn điều chỉnh cả các hoạt động cung ứng dịch vụ và xúc tiến thương mại,…

[7] Luật Cạnh tranh năm 2004 (Luật số 27/2004/QH11 ngày 03/12/2004) ra đời nhằm khẳng định quyền cạnh tranh hợp pháp và tự do của các chủ thể trong kinh doanh, đồng thời làm rõ trách nhiệm, vai trò của Chính phủ trong quản lý, điều tiết nền kinh tế.

[8] Luật Doanh nghiệp lần đầu tiên được ban hành là Luật Doanh nghiệp số 13/1999/QH10 ngày 12/6/1999; Tiếp đó năm 2005, Quốc hội ban hành Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29/11/2005 thay thế Luật Doanh nghiệp năm 1999. Năm 2013, Quốc hội sửa đổi, bổ sung điều 170 của Luật Doanh nghiệp (Luật số 37/2013/QH13 ngày 20/6/2013 về sửa đổi, bổ sung điều 170 của Luật Doanh nghiệp). Năm 2014, Quốc hội đã ban hành Luật số 68/2014/QH12 ngày 26/11/2014 về Luật doanh nghiệp, có hiệu lực kể từ 01/7/2015. Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã kế thừa, luật hóa những quy định còn phù hợp đã và đang đi vào cuộc sống của Luật Doanh nghiệp năm 2005, đồng thời đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định mới nhằm tháo gỡ những hạn chế, bất cập của Luật Doanh nghiệp năm 2005, tiếp tục tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, phù hợp với thông lệ quốc tế.

[9] Luật Công ty năm 1990 (Luật số 47-LCT/HĐNN8 ngày 21/12/1990) được sửa đổi, bổ sung năm 1994 (Luật số 35-L/CTN ngày 22/6/1994).

[10] Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 (Luật số 48-LCT/HĐNN8 ngày 21/12/1990) được sửa đổi, bổ sung năm 1994 (Luật số 35-L/CTN ngày 22/6/1994).

[11] Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 1995 (Luật số 39-L/CTN ngày 20/4/1995) được thay thế bằng Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 (Luật số 14/2003/QH11 ngày 26/11/2003).

[12] Điều 57, Hiến pháp năm 1992 quy định: “Công dân có quyền dự do kinh doanh theo quy định của pháp luật”; Điều 33, Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”.

[13] Luật Đầu tư nước ngoài được ban hành lần đầu tiên năm 1987 (Luật số 4-HĐNN8 ngày 29/12/1987) được sửa đổi, bổ sung năm 1990 (Luật số 41-LCT/HĐNN8 ngày 30/6/1990); Luật đầu tư nước ngoài năm 1996 (Luật số 52-L/CTN ngày 12/11/1996) được sửa đổi, bổ sung năm 2000 (Luật số 18/2000/QH10 ngày 09/6/2000). Sự ra đời của Luật đầu tư nước ngoài là khâu đột phá đánh dấu hội nhập kinh tế quốc tế, tạo sự khơi thông trong thu hút, huy động các nguồn lực bên ngoài cho đầu tư phát triển…

[14] Luật Công ty năm 1990 (Luật số 47-LCT/HĐNN8 ngày 21/12/1990) được sửa đổi, bổ sung năm 1994 (Luật số 35-L/CTN ngày 22/6/1994).

[15] Luật Hợp tác xã năm 1996 (Luật số 47-L/CTN ngày 20/3/1996) được hình thành và hoàn thiện qua các lần sửa đổi năm 2003 (Luật số 18/2003/QH11 ngày 26/11/2003), 2012 (Luật số 23/2012/QH13 ngày 20/11/2012).

[16] Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005 lần đầu tiên được ban hành thay thế cho Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài năm 2000 và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước năm 1998. Năm 2014, Quốc hội ban hành Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014 thay thế Luật Đầu tư năm 2005.

[17] Luật Khuyến khích đầu tư trong nước năm 1994 được sửa đổi năm 1998 nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn vốn, tài nguyên, lao động và các tiềm năng khác của đất nước nhằm góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

[18] Luật Phá sản năm 2004 thay thế Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993, trong đó mở rộng phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng không chỉ có các doanh nghiệp mà bao gồm cả hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã,…

[19] Luật Ngân sách nhà nước lần đầu tiên được ban hành vào năm 1996 (Luật số 47-L/CTN ngày 20/3/1996), có hiệu lực thi hành từ năm 1997 và được sửa đổi, bổ sung năm 1998 (Luật 06/1998/QH10 ngày 20/5/1998 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật NSNN năm 1996, có hiệu lực thi hành từ năm 1999). Năm 2002, Quốc hội ban hành Luật NSNN mới thay thế Luật NSNN ban hành năm 1996, 1998 (Luật số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002 có hiệu lực thi hành từ 01/01/2004) và năm 2015, Quốc hội đã thông qua Luật số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015 có hiệu lực thi hành từ 01/01/2017.

[20] Luật số 49/2014/QH13 ngày 18/6/2014, có hiệu lực thi hành từ 01/01/2015. Trong đó, phạm vi điều chỉnh Luật đã bao quát được việc quản lý sử dụng các nguồn vốn đầu tư công từ ngân sách nhà nước, công trái quốc gia, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài, tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, vốn đầu tư từ nguồn thu để lại đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước, các khoản vốn vay của ngân sách địa phương để đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam và tại nước ngoài. Luật cũng đã thể chế hóa quy trình quyết định chủ trương đầu tư trên cơ sở các mục tiêu, định hướng, kế hoạch, quy hoạch và chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước; ngăn ngừa sự tùy tiện, chủ quan, duy ý chí và đơn giản trong việc quyết định chủ trương đầu tư, nâng cao trách nhiệm của người ra quyết định chủ trương đầu tư. Đồng thời, góp phần khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, lãng phí, kém hiệu quả trong đầu tư công; Ngoài ra, Luật còn quy định một số nội dung mới như đổi mới công tác thẩm định về nguồn vốn và cân đối vốn, đổi mới mạnh mẽ công tác lập kế hoạch đầu tư; chuyển từ việc lập kế hoạch ngắn hạn, hàng năm sang kế hoạch trung hạn 5 năm, phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm, chú trọng công tác theo dõi, đánh giá, kiểm tra, thanh tra kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư công; hoàn thiện quy chế phân cấp quản lý đầu tư công phân định quyền hạn đi đôi với trách nhiệm của từng cấp;…

[21] Luật số 69/2014/QH13 ngày 26/11/2014.

[22] Tức là xoá bỏ các chỉ tiêu pháp lệnh và hệ thống xét duyệt về định mức sản xuất, định mức chi tiêu cũng như cơ chế phân phối sản phẩm, phân phối lợi nhuận và cơ chế cấp vốn lưu động, vốn cố định, chính sách tiền lương…

[23] Như cổ phần hóa, giao, bán, khoán, cho thuê DNNN; thực hiện sáp nhập, giải thể, cho phá sản DNNN làm ăn thua lỗ kéo dài…

[24]Pháp lệnh sửa đổi việc tính các định mức bằng tiền trong Điều lệ thuế công thương nghiệp và Điều lệ thuế hàng hoá do Hội đồng Bộ trưởng ban hành ngày 08/11/1986; Nghị định 143-HĐBT ngày 18/11/1986 về thuế công thương nghiệp do Hội đồng Bộ trưởng ban hành, để thi hành pháp lệnh ngày 6-11-1986 và bổ sung nghị định 19-HĐBT; Chỉ thị 63-CT năm 10/3/1988 tăng cường chỉ đạo thi hành pháp lệnh sửa đổi điều lệ Thuế Công thương nghiệp, điều lệ thuế hàng hoá do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành; Nghị định 53-HĐBT năm 1989 thi hành Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh, Điều lệ về thuế công thương nghiệp và thuế hàng hoá do Hội đồng Bộ trưởng ban hành 27/5/1989,…

[25]Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh Thuế Nông nghiệp năm 1989 do Hội đồng Nhà nước ban hành; Nghị định 52-HĐBT ngày 27/5/1989 thi hành Pháp lệnh Thuế Nông nghiệp và Pháp lệnh thuế nông nghiệp sửa đổi do Hội đồng Bộ trưởng ban hành; Nghị quyết về dự án Luật thuế nông nghiệp do Quốc hội ban hành ngày 30/6/1990, trong đó đề ra việc xây dựng các dự án Luật thuế sử dụng đất và Luật thuế hoa lợi trên đất thay cho dự án Luật thuế nông nghiệp; Nghị định 390-HĐBT ngày 10/11/1990 sửa đổi điều 9 và điều 11 Nghị định 52-HĐBT Hướng dẫn Pháp lệnh thuế nông nghiệp và Pháp lệnh sửa đổi pháp lệnh Thuế Nông nghiệp

[26] Năm 1987, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hàng mậu dịch được ban hành (Luật số 5-HĐNN8 ngày 29/12/1987).

[27] Luật thuế doanh thu ban hành đầu tiên năm 1990 (Luật số 270B-NQ/HĐNN8 ngày 30/6/1990) và được sửa đổi vào các năm 1993 (Luật số 20-L/CTN ngày 05/7/1993) và năm 1995 (Luật số 43-L/CTN ngày 28/10/1995)

[28] Năm 1991 ban hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (Luật số 64-LTC/HĐNN8 ngày 26/12/1991), có hiệu lực thi hành từ 01/3/1992 thay thế Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hàng mậu dịch năm 1987. Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 1991 được sửa đổi, bổ sung vào năm 1993 (Luật số 17-L/CTN ngày 05/7/1993).

[29] Trong giai đoạn này, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt được ban hành năm 1990 (Luật số 270B-NQ/HĐNN8 ngày 08/08/1990) và được sửa đổi bổ sung vào năm 1993 (Luật số 21-L/CTN ngày 05/7/1993) và năm 1995 (Luật số 43-L/CTN ngày 28/10/1995).

[30] Thuế lợi tức ban hành năm 1990 (Luật số 270b-NQ/HĐNN8 ngày 30/6/1990) và được sửa đổi năm 1993 (Luật số 19-L/CTN ngày 06/7/1993)

[31] Luật thuế GTGT ban hành năm 1997 (Luật số 57/1997/L-CTN ngày 10/5/1997) được sửa đổi năm 2003 (Luật số 07/2003/QH11 ngày 17/6/2003)

[32] Luật thuế TNDN ban hành năm 1997 (Luật số 57-L/CTN ngày 10/5/1997) và năm 2003 (Luật số 09/2003/QH11 ngày 17/6/2003)

[33] Pháp lệnh thuế tài nguyên được ban hành đầu tiên năm 1990 (số 34-LCT/HĐNN8 ngày 30/3/1990)

[34] Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao được ban hành lần đầu tiên năm 1991 (số 50-LCT/HĐNN8 ngày 07/01/1991) sau đó ban hành mới năm 1994 (số 33-L/CTN ngày 19/5/1994)

[35] Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất lần đầu tiên ban hành năm 1994 (Luật số 35-L/CTN ngày 22/6/1994)

[36] Trong giai đoạn này, ngoài Chính phủ được phép ban hành phí, lệ phí, một số ngành, cấp cũng ban hành các quy định về phí, lệ phí với tên gọi khác nhau, mức thu quy định tuỳ tiện và không sử dụng chứng từ do Bộ Tài chính quy định nhằm giấu nguồn thu, tránh sự kiểm tra, kiểm soát, dẫn đến tiêu cực, lãng phí, làm giảm lòng tin của dân vào chính sách động viên đóng góp của Nhà nước.

[37]Quyết định 201/2004/QĐ-TTg ngày 06/12/2004 phê duyệt chương trình cải cách hệ thống thuế đến năm 2010

[38]Mục tiêu của các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần nhằm loại bỏ việc đánh thuế trùng, bên cạnh đó, Hiệp định còn tạo khuôn khổ pháp lý cho việc hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau giữa cơ quan thuế Việt Nam và các nước trong công tác quản lý thuế quốc tế nhằm ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và vào tài sản. Hiệp định tránh đánh thuế hai lần đầu tiên của chúng ta là ký kết với Autralia ngày 13/10/1992 và cho đến 15/7/2014, Việt Nam đã ký kết hiệp định này với hơn 69 quốc gia trên thế giới

[39]Đây là thỏa thuận quốc tế cam kết với ASEAN về giảm thuế nhập khẩu theo Hiệp định về chương trình ưu đãi về thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) kể từ khi Việt Nam trở thành thành viên của ASEAN ngày 28/07/1995.

[40]Đây là Chương trình thực hiện tự do hoá thương mại vào năm 2000 với mức thuế nhập khẩu là 0% theo cam kết để trở thành thành viên của Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) ngày 14/11/1998.

[41]Có hiệu lực từ ngày 01/01/2009 trên cơ sở thống nhất các văn bản luật trước đây (Luật thuế GTGT năm 1997, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT năm 2003, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế TTĐB và Luật thuế GTGT năm 2005) và đưa ra một số quy định mới nhằm phù hợp với thực tiễn nền kinh tế trong giai đoạn này.

[42]Có hiệu lực thi hành từ ngày 01/04/2009 thay thế cho Luật thuế TNDN  năm 2003; có nhiều điểm mới phù hợp với thông lệ quốc tế hơn.

[43]Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 bãi bỏ Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao trước đây, tạo khuôn khổ pháp luật vững chắc thực hiện thuế thu nhập cá nhân.

[44]Có hiệu lực từ ngày 01/01/2006, thay thế cho Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2001 để phù hợp với các cam kết quốc tế về cắt giảm thuế nhập khẩu.

[45]Có hiệu lực từ ngày 01/04/2009 được ban hành thay thế cho Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1998 và các văn bản có liên quan, tạo cơ sở pháp lý thống nhất và hoàn thiện hơn để thực hiện sắc thuế này.

[46]Có hiệu lực từ ngày 01/07/2010, thay thế cho Pháp lệnh thuế tài nguyên trước đây, đây là khuôn khổ pháp lý vững chắc để thuế tài nguyên được thực hiện.

[47]Mục tiêu của Chiến lược là: “Xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng bộ, thống nhất, công bằng, hiệu quả, phù hợp với thể chế KTTT định hướng XHCN; mức động viên hợp lý nhằm tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước và là một trong những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô có hiệu quả, hiệu lực của Đảng và Nhà nước. Xây dựng ngành thuế Việt Nam hiện đại, hiệu lực, hiệu quả; công tác quản lý thuế, phí và lệ phí thống nhất, minh bạch, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện dựa trên ba nền tảng cơ bản: thể chế chính sách thuế minh bạch, quy trình thủ tục hành chính thuế đơn giản, khoa học phù hợp với thông lệ quốc tế; nguồn nhân lực có chất lượng, liêm chính; ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, có tính liên kết, tích hợp, tự động hóa cao”.

[48] Luật Hải quan lần đầu ban hành năm 2001 (Luật số 29/2001/QH10 ngày 29/6/2001), sau đó được sửa đổi năm 2005 và ban hành mới đây nắm 2014 (Luật số 54/2014/QH13 ngày 23/6/2014)

[49] Điều chỉnh tăng mức giảm trừ gia cảnh đối với người nộp thuế từ 4 triệu đồng/tháng lên 9 triệu đồng/tháng; đối với người phụ thuộc từ 1,6 triệu đồng lên 3,6 triệu đồng tháng.

[50] Từ 01/01/2014, giảm mức thuế suất thuế TNDN từ 25% xuống 22% và từ 1/1/2016 là 20%; áp dụng mức thuế suất thấp hơn đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa; bổ sung các chính sách ưu đãi để thu hút đầu tư theo các định hướng của nhà nước.

[51] Luật thuế bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua ngày 15/11/2010; Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp được Quốc hội thông qua ngày 17/6/2010.

[52] Bộ Tài chính cũng đã kịp thời ban hành theo thẩm quyền, trình Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ ban hành và trình Chính phủ để Chính phủ trình Quốc hội ban hành một số giải pháp để tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh với nhiều giải pháp về miễn, giảm thuế TNDN, thuế GTGT và các khoản thu ngân sách như Nghị quyết số 08/2011/QH13, Nghị quyết số 29/2012/QH13, Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 10/5/2012, Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013, Nghị quyết số 61/NQ-CP ngày 21/8/2014 về sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 02/NQ-CP, Nghị quyết số 63/NQ-CP ngày 25/8/2014,…. Trong năm 2014, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ để trình Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật thuế, trong đó đã thực hiện điều chỉnh các quy định có liên quan của 5 Luật thuế khác nhau để nâng cao tính hấp dẫn của môi trường đầu tư trong nước, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh.

[53] Đối với ngành Hải quan, chỉ một số tỉnh có Cục Hải quan.

[54] Thời kỳ ổn định ngân sách 2004 – 2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành định mức phân bổ dự toán chi ngân sách thường xuyên (Quyết định 139/2003/QĐ-TTg ngày 11/7/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành định mức phân bổ dự toán chi NSNN năm 2004); Thời kỳ ổn định ngân sách 2007 – 2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ chi đầu tư phát triển bằng nguồn NSNN (Quyết định 210/2006/QĐ-TTg ngày 12/9/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ chi đầu tư phát triển bằng nguồn NSNN giai đoạn 2007-2010); trong thời kỳ này việc phân bổ ngân sách chi thường xuyên được thực hiện theo Quyết định 151/2006/QĐ-TTg ngày 29/6/2006 về việc ban hành định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên NSNN năm 2007. Sang thời kỳ ổn định ngân sách 2011-2015, việc phân bổ ngân sách chi đầu tư thực hiện theo Quyết định 60/2010/QĐ-TTg ngày 30/9/2010 ban hành các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển bằng nguồn NSNN giai đoạn 2011-2015, và phân bổ ngân sách chi thường xuyên thực hiện theo Quyết định 59/2010/QĐ-TTg ngày 30/9/2010 về việc ban hành định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên NSNN năm 2011.

[55] Giai đoạn 1986-2000 chưa có sự tách biệt giữa cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp. Nguyên nhân là do chưa làm rõ chức năng của các cơ quan hành chính, các đơn vị sự nghiệp, còn có sự đồng nhất cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp. Điều này được thể hiện rõ trong việc quy định chế độ kế toán đơn vị hành chính sự nghiệp chung. Chức năng của các cơ quan hành chính cũng chưa được làm rõ. Việc cho phép các cơ quan hành chính sự nghiệp được hình thành các bộ phận làm kinh tế cho thấy chức năng quản lý hành chính của cơ quan hành chính nhà nước và chức năng kinh doanh còn có sự lẫn lộn. Từ 2001, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã nhấn mạnh việc cần phải “phân định rõ hoạt động sự nghiệp và quản lý hành chính công để có chính sách tài chính thích hợp” nhằm sử dụng NSNN chủ động, có hiệu quả, tăng cường kiểm soát các khoản chi, chống lãng phí, thất thoát NSNN. Ngoài ra còn nhấn mạnh việc “tách cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự nghiệp”.

[56] Việc đổi mới cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công được đánh dấu bằng các văn bản: Nghị định 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu; Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập; Kết luận của Bộ Chính trị số 37-TB/TW ngày 26/5/2011 về Đề án “Đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công“; Nghị quyết số 40/NQ-CP ngày 09/8/2012 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Thông báo Kết luận của Bộ Chính trị về Đề án đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công; Kết luận số 63-KL/TW ngày 27/5/2013 về một số vấn đề cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải cách đến năm 2020;  Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 quy định cơ chế tự chủ của đoan vị sự nghiệp công lập. Ngoài ra, năm 2004, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 08/2004/QĐ-TTg ngày 15/01/2004 phê duyệt chương trình đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công giai đoạn 2004-2005. Mục tiêu của Chương trình là tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công nhằm phân phối, sử dụng nguồn lực tài chính hiệu quả; góp phần đổi mới phương thức và chất lượng hoạt động; tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính của các cơ quan, tạo cạnh trạnh lành mạnh và bình đẳng nhiều hơn trong việc cung cấp dịch vụ, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhân dân. Đồng thời tạo điều kiện cho các cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công sắp xếp, tổ chức bộ máy hợp lý, tinh giản biên chế nhà nước, thực hiện hợp đồng lao động, tăng thu nhập cho cán bộ, công chức, viên chức. Đối với các cơ quan hành chính nhà nước, cơ chế tự chủ được quy định tại các văn bản: Quyết định 192/2001/QĐ-TTg ngày 17/12/2001 về mở rộng thí điểm khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan hành chính nhà nước; Nghị định 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước; Nghị định 117/2013/NĐ-CP ngày 07/10/2013 sửa đổi Nghị định 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005.

[57]Nghị định 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường; Nghị định 59/2014/NĐ-CP ngày 16/6/2014 sửa đổi Nghị định 69/2008/NĐ-CP về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường.

[58] Quyết định 71/2010/QĐ-TTg ngày 09/11/2010 về việc ban hành quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công tư; Nghị định 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 về đầu tư theo hình thức đối tác công tư.

[59] Năm 1986, Chính phủ bãi bỏ cơ chế quy định giá bán tư liệu sản xuất nông nghiệp và giá thu mua nông sản theo giá cố định, chuyển sang cơ chế giá thoả thuận. Năm 1987, thả nổi phần lớn giá bán lẻ hàng công nghiệp tiêu dùng, trừ các mặt hàng bán theo chế độ định lượng được phục hồi sau thất bại của cải cách giá, lương, tiền năm 1985. Năm 1988,Nhà nước bãi bỏ chế độ bán theo định lượng, thả nổi hầu hết các loại giá bán lẻ, kể cả giá lương thực. Đến giữa năm 1988, trừ danh sách giá bị quản lý (gồm khoảng 40 mặt hàng cơ bản phục vụ đời sống nhân dân), các loại giá khác trên thị trường có tổ chức đã xấp xỉ ngang bằng giá trên thị trường tự do. Năm 1989, nhà nước tự do hoá buôn bán tư liệu sản xuất và thả nổi phần lớn giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất, kể cả loại nhập khẩu. Nhà nước chỉ quy định giá một số loại vật tư chiến lược như xăng dầu, phân hoá học, thép, điện, giấy, nước, cước bưu điện, giá thuê nhà ở và cước vận tải.

[60] Quyết định số 137- HĐBT ngày 27/4/1992 về quản lý giá do Hội đồng Bộ trưởng ban hành.

[61] Pháp lệnh số 40/2002/PL-UBTVQH10 ngày 26/4/2002 của UBTCQH về giá

[62] Luật số 11/2012/QH13 ngày 20/6/2012.

[63] Đảng cộng sản Việt Nam. (2010), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới (phần I), tr 66.

[64] Đó là: lương thực – thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.

[65] Nghị định 64-HĐBT ngày 10/6/1989 quy định về chế độ và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh xuất, nhập khẩu đã quy định rõ các DNNN thuộc các ngành và địa phương được phép xuất khẩu trực tiếp các sản phẩm do cơ sở sản xuất ra; phạm vi kinh doanh xuất, nhập khẩu được mở rộng; thực hiện miễn, giảm thuế cho hàng xuất khẩu,…

[66] Luật Hải quan được ban hành năm 2001 và được sửa đổi, bổ sung năm 2005, được xây dựng mới năm 2014.

[67] Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020 cũng đã được ban hành (Quyết định 448/QĐ-TTg ngày 25/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020) nhằm xác định mục tiêu, biện pháp, cách thức và giải pháp thực hiện các mục tiêu chiến lược, trong đó nâng cao hiệu quả hoạt động của hải quan, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể thực hiện xuất, nhập khẩu hàng hóa.

[68] Bộ Luật lao động được ban hành lần đầu tiên năm 1997 và sau đó đã qua nhiều lần sửa đổi năm 2002, 2006, 2007 và hiện nay đang áp dụng là Bộ luật lao động năm 2012.

[69] Luật Đất đai ban hành năm 1987 được sửa đổi năm 1998, sau đó được rà soát và hoàn thiện ban hành vào các năm 2003, 2013.

[70] Luật Xây dựng ban hành năm 2003 và có hiệu lực từ tháng 7/2004

[71] Luật Quy hoạch đô thị ban hành năm 2009

[72] Luật Đấu thầu năm 2005 được hoàn thiện năm 2013

[73] Luật KHCN năm 2000, sau đó được ban hành mới năm 2013.

[74] Bộ Luật hình sự được ban hành lần đầu tiên năm 1985, sau đó được ban hành mới năm 1999 và được sửa đổi năm 2009.

[75] Luật Sở hữu trí tuệ được ban hành năm 2005 và được sửa đổi năm 2009.

[76] Luật Chuyển giao công nghệ được ban hành năm 2006.

[77] Pháp lệnh Ngân hàng nhà nước Việt Nam được ban hành năm 1990, sau đó được thay thế bằng Luật Ngân hàng nhà nước năm 1997, được sửa đổi năm 2003 và được ban hành mới năm 2010.

[78] Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính được ban hành năm 1990, sau đó được thay thế bằng Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 được sửa đổi năm 2004 và ban hành mới năm 2010.

[79] Pháp lệnh Thanh tra được ban hành năm 1990; sau đó Pháp lệnh Thanh tra được thay thế bằng Luật Thanh tra năm 2004, và Luật Thanh tra được ban hành mới năm 2010.

[80] Luật Thanh tra (2010) đã quy định việc thực hiện giám sát thường xuyên và tiến hành các cuộc thanh tra trực tiếp về tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng, về hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác, về hoạt động ngoại hối và kinh doanh vàng thuộc chức năng quản lý Nhà nước của Ngân hàng Nhà nước, nhằm phát hiện, ngăn chặn các vi phạm; kiến nghị biện pháp bảo đảm thi hành pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng.

[81] Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 1/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 – 2015”

[82] Nghị định 75/CP ngày 28/11/1996 của Chính phủ về việc thành lập Ủy ban chứng khoán nhà nước

[83] Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 về chứng khoán và thị trường chứng khoán; Nghị định này sau đó được thay thế bằng Nghị định 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 về chứng khoán và thị trường chứng khoán.

[84] Quyết định 127/1998/QĐ-TTg ngày 11/7/1998 về việc thành lập trung tâm giao dịch chứng khoán.

[85] Luật chứng khoán được ban hành năm 2006 và được sửa đổi, bổ sung năm 2010.

[86]Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán trong từng giai đoạn cũng được xác định (Quyết định 163/2003/QĐ-TTg ngày 05/8/2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam đến năm 2010; Quyết định 252/QĐ-TTg ngày 01/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2011-2020) .

[87] Quyết định 1826/QĐ-TTg ngày 6/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Tái cấu trúc thị trường chứng khoán và doanh nghiệp bảo hiểm”.

[88] Quyết định số 336/QĐ-TTg ngày 11/3/2014.

[89] Nghị định số 42/2015/NĐ-CP ngày 05/5/2015 về chứng khoán phái sinh và thị trường chứng khoán phái sinh.

[90] Nghị định 100-CP ngày 18/12/1993 về kinh doanh bảo hiểm. Nghị định này sau đó được sửa đổi bằng Nghị định 74-CP ngày 14/6/1997 về sửa đổi Nghị định 100-CP ngày 18/12/1993 về kinh doanh bảo hiểm.

[91] Lần đầu tiên vào tháng 10/1998, Cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm Việt Nam tham gia Hội nghị các nhà quản lý bảo hiểm ASEAN (AIRM) và đến tháng 8/2001, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Hội đồng bảo hiểm các nước ASEAN (AIC); Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị AIRM lần thứ 6 và AIC lần thứ 29 tại  Hà Nội vào năm 2003 và Hội nghị AIRM lần thứ 16 và AIC lần thứ 39 tại Đà Nẵng vào năm 2013. Cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội các nhà quản lý bảo hiểm quốc tế (IAIS) vào năm 2007.

[92] Luật kinh doanh bảo hiểm được ban hành năm 2000 và được sửa đổi, bổ sung năm 2010.

[93]Gồm: Nghị định số 45/2007/NĐ-CP ngày 27/03/2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật KDBH, Nghị định 123/2011/NĐ-CP ngày 28/12/2011 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật KDBH và sửa đổi, bổ sung một số điều của NĐ số 45/2007/NĐ-CP; Thông tư 124/2012/TT-BTC ngày 30/7/2013 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 45/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 3 năm 2007 của Chính phủ và Nghị định số 123/2011/NĐ-CP ngày 28 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ.

[94]Gồm: Nghị định số 46/2007/NĐ-CP ngày 27/03/2007 quy định chế độ tài chính đối với DNBH và DNMGBH; Thông tư 125/2012/TT-BTC ngày 30/7/2013 hướng dẫn chế độ tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài.

[95] Nghị định 98/2013/NĐ-CP ngày 28/8/2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh sổ xổ.

[96]Quyết định 175/2003/QĐ-TTg ngày 29/8/2003 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2010; Quyết định 193/QĐ-TTg ngày 15/2/2012 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 2011-2020.

[97] Quyết định 1826/QĐ-TTg ngày 6/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Tái cấu trúc thị trường chứng khoán và doanh nghiệp bảo hiểm”.

[98] Ví dụ như việc ban hành về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập (Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015) có hiệu lực từ 6/4/2015 nhưng để thực hiện cơ chế giá dịch vụ đòi hỏi các định mức kinh tế – kỹ thuật áp dụng trong các lĩnh vực dịch vụ sự nghiệp công do Nhà nước quản lý phải được xây dựng sớm trước khi thực hiện lộ trình về giá theo quy định. Tuy nhiên, đến nay, qua theo dõi cho thấy việc xây dựng các định mức kinh tế – kỹ thuật áp dụng trong các lĩnh vực dịch vụ sự nghiệp công còn chậm và chưa đồng bộ.

[99] Ví dụ như việc ban hành Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 (Luật số 58/2014/QH13 ngày 20/11/2014), có hiệu lực từ 01/01/2016 nhưng ngay sau khi ban hành Luật và khi Luật chưa có hiệu lực đã vấp phải sự phản ứng của dư luận về bảo hiểm xã hội một lần. Do đó Quốc hội đã ban hành Nghị quyết 93/2015/QH13 ngày 22/6/2015 về thực hiện chính sách hưởng bảo hiểm xã hội 1 lần đối với người lao động.

[100] Ví dụ như việc ban hành Nghị định 85/2012/NĐ-CP ngày 15/10/2012 liên quan tới vấn đề viện phí hay việc ban hành Nghị định 49/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 liên quan tới học phí.

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *