Chuyên đề 1: KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM NĂM 2013 VÀ CÁC TÁC ĐỘNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ

Chuyên đề 1: KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM NĂM 2013 VÀ CÁC TÁC ĐỘNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ

 Thsĩ. Phạm Xuân Tuyên

Trường Bồi dưỡng cán bộ tài chính – Bộ Tài chính     

Chính sách tài khóa là các chính sách của chính phủ nhằm tác động lên định hướng phát triển của nền kinh tế thông qua những thay đổi trong chi tiêu chính phủ và thuế khóa. Hai công cụ chính của chính sách tài khóa là chi tiêu của chính phủ và hệ thống thuế. Chính hai công cụ này tác động đến nền kinh tế, đồng thời nó cũng là kết quả của chính sự phát triển kinh tế của mỗi nước trong từng thời kỳ. Bởi vậy, trong thế giới ngày nay, không một quốc gia nào phát triển mà tách rời với sự biến động của nền kinh tế thế giới, đặc biệt là sự biến động của nền kinh tế các cường quốc phát triển hàng đầu. Điều đó có nghĩa, sự biến động thăng giáng của kinh tế thế giới và của nền kinh tế trong  nước hàng năm đặt mỗi quốc gia vào thế bắt buộc phải có chính sách tài khóa phù hợp. Việt Nam cũng như các nước khác, không phải là một trường hợp ngoại lệ, chính sách tài khóa năm 2013 của Việt Nam cũng chịu tác động lớn của kinh tế thế giới và kinh tế trong nước dồn tụ từ những năm tháng  quá khứ và ngay cả trong năm 2013.

1.1. Tình hình kinh tế thế giới năm 2013

Với một nền kinh tế chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế có sự quản lý của nhà nước, Việt Nam hội nhập nhanh với kinh tế khu vực và thế giới. Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế có độ mở khá lớn, kinh tế thế giới tác động đến kinh tế nước ta chủ yếu thông qua các hoạt động thương mại và hoạt động đầu tư, hỗ trợ vốn.

Năm 2013, trong bối cảnh kinh thế thế giới vẫn còn nhiều bất ổn và biến động phức tạp. Bên cạnh có một vài dấu hiệu tích cực cho thấy các hoạt động kinh tế đang phục hồi trở lại sau suy thoái, tốc độ tăng trưởng thực tế toàn cầu ước khoảng 3%, thì nền kinh tế toàn cầu nhìn chung phát triển chưa vững chắc, nhất là đối với các nền kinh tế phát triển –  những nước có quan hệ thương mại và đầu tư lớn, ảnh hưởng tác động không nhỏ đến nền kinh tế và chính sách tài khóa của Việt Nam trong dài hạn cũng như trong năm 2013, cụ thể:

Kinh tế EU

Liên minh châu Âu (the European Union, gọi tắt là EU, hiện bao gồm 27 nước thành viên: Pháp, Đức, Italia, Bỉ, Hà Lan, Lúc-xăm-bua, Anh, Ai Len, Đan Mạch, Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Áo, Thụy Điển, Phần Lan, Séc, Hung-ga-ri, Ba Lan, Slô-va-kia, Slô-ve-nia, Lít-va, Lát-vi-a, Exờ-tô-nia, Man-ta, Síp, Bun-ga-ri và Ru-ma-ni) sau rất nhiều cố gắng, từ quý II/2013, khu vực đồng euro (Eurozone) mới có dấu hiệu tăng trưởng trở lại, chấm dứt giai đoạn trì trệ kéo dài suốt 6 quý liên tiếp trước đó. Tuy vậy, kinh tế EU vẫn chiếm nhiều mảng tối, tính chung cho cả năm 2013 và cho toàn bộ khu vực Eurozone, kinh tế vẫn tiếp tục suy giảm ở mức 0,6%, ngang với năm 2012. Nguyên nhân, do:

– Nhiều nước trong khu vực vẫn còn bị ảnh hưởng của giai đoạn trì trệ và tỷ lệ thất nghiệp vẫn còn ở mức cao. Sản xuất công nghiệp, không bao gồm xây dựng, của khu vực Eurozone nói riêng, tuy có tăng trưởng trong nửa sau năm 2013 nhưng vẫn rất bấp bênh. Tuy nhiên, so với năm 2012 thì kết quả khả quan hơn đối với một số nhóm hàng. So với tháng 10/2012, sản xuất hàng hóa trung gian trong tháng 10/2013 đã tăng 1,6% ở khu vực Eurozone. Trong số các nước phát triển chủ chốt, vấn đề thất nghiệp của Eurozone nan giải hơn rất nhiều, làm cản trở quá trình phục hồi kinh tế của khu vực. Đến tháng 11/2013, tỷ lệ thất nghiệp khu vực Eurozone vẫn ở mức 12,1%.

– Chưa có được sự tiến bộ trong quá trình tái cân bằng kinh tế bên ngoài, tức liên quan đến tài khoản vãng lai. Với những nước có thặng dư thương mại như Đức cũng khó giảm được thặng dư bởi cầu trong nước bị kìm hãm. Còn với những nước có thâm hụt, sự cải thiện tình trạng thâm hụt nếu may mắn có được, cũng chủ yếu là do sức ép thị trường và cầu trong nước giảm. Do đó, tái cân bằng bên ngoài chưa có tác động tích cực đến sản xuất trong nước và đặc biệt là tiêu dùng nội địa. Tuy vậy, cần ghi nhận rằng đây vẫn là khu vực luôn đạt thặng dư trong cán cân thương mại suốt nhiều năm qua. Nếu tính chung cho cả EU, năm 2013, thặng dư trong cán cân thương mại của khu vực này ước đạt 295,1 tỷ USD – tăng đáng kể so với mức 227 tỷ USD năm 2012, năng lực kinh tế của EU là không nhỏ.

– Sự phân tán của thị trường tài chính và yếu kém của hệ thống ngân hàng, đặc biệt ở các nước ngoại vi, đã làm hạn chế tác động của chính sách tiền tệ của ECB.

Chính với những nét “sáng – tối” đó của nền kinh tế các nước thuộc khối  EU mà năm 2013, EU tiếp tục duy trì vị trí là thị trường xuất khẩu số một của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu đạt 24,33 tỷ USD, tăng 19,84% so với năm 2012 (20,32 tỷ USD), với những mặt hàng chủ yếu như: giày dép đạt khoảng 2,9 tỷ USD, dệt may đạt 2,6 tỷ USD, điện thoại và linh kiện đạt 8,07 tỷ USD, cà phê đạt 1,06 tỷ USD, hải sản đạt 1,1 tỷ USD, máy vi tính và linh kiện đạt 2,2 tỷ USD, gỗ và các sản phẩm từ gỗ đạt 608 triệu USD. Đây là những sản phẩm hàng hóa chủ yếu được sản xuất bởi các ngành nông – lâm – thủy sản và công nghiệp nhẹ, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân; giá trị nhập khẩu của Việt Nam từ EU đạt 9,45 tỷ USD, tăng 7,52% với năm 2012 (8,79 tỷ USD), với những mặt hàng nhập khẩu chính như: máy móc và thiết bị đạt 2,2 tỷ USD, dược phẩm đạt 898 triệu USD, sữa và sản phẩm sữa đạt 263 triệu USD, sản phẩm hoá chất đạt 356 triệu USD, phương tiện vận tải đạt 1,16 tỷ USD. Đây chủ yếu là những mặt hàng tư liệu phục vụ sản xuất, hoặc hàng hóa tiêu dùng mà trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất được nhưng còn thiếu hoặc chất lượng chưa cao.

Bên cạnh quan hệ thương mại hai chiều thì hoạt động thu hút đầu tư từ nhóm các nước này chỉ duy trì ở mức khiêm tốn do còn có những khó khăn riêng tại một số nước trong khối. Năm 2013, các nước EU chỉ cung cấp vốn ODA cho Việt Nam khoảng 965 triệu USD, trong đó, Pháp là nhà tài trợ lớn nhất trong khối này với gần 340 triệu USD; dòng vốn FDI từ khu vực này vẫn tiếp tục đổ vào Việt Nam nhưng cũng chỉ dừng lại ở mức khiêm tốn: 93 dự án đầu tư mới với số vốn đăng ký đầu tư gần 849 triệu USD, trong đó đầu tư mới 676 triệu USD, tăng bổ sung 172 triệu USD, trong đó, các nước Hà Lan, Đức, Anh là những nước có số dự án và mức vốn đầu tư cao nhất.

Kinh tế Hoa kỳ

Mỹ liên tục được xếp hạng là nền kinh tế quốc dân lớn nhất thế giới trong suốt một thế kỷ qua. Đây là một trong số những quốc gia thịnh vượng nhất thế giới với cơ sở hạ tầng vô cùng phát triển, năng suất cao và tài nguyên thiên nhiên dồi dào, 1/3 triệu phú và 40% tỷ phú trên thế giới có quốc tịch Mỹ. Lĩnh vực sản xuất chính của Mỹ bao gồm dầu khí, điện tử, khai thác mỏ, thép, chế biến thực phẩm, hàng không vũ trụ và công nghệ thông tin. Mỹ được coi là nhà sản xuất dầu lửa lớn thứ ba thế giới và là nhà sản xuất khí đốt tự nhiên lớn nhất. Mỹ cũng được mệnh danh là một trong những thị trường tài chính lớn và có tầm ảnh hưởng toàn cầu. Hơn một nửa dự trữ ngoại tệ trên thế giới là USD, trái ngược với đồng euro. Ngoài ra, hơn 1/4 trong số 500 công ty lớn nhất thế giới đặt trụ sở tại nước này.

Năm 2013, ngay từ ngày đầu năm, nước Mỹ đã làm cú vượt “vách đá tài chính” (“Vách đá tài chính” – chương trình tự động tăng thuế và cắt giảm chi tiêu trị giá hơn 600 tỷ USD bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1/1/2013) sau khi hai Viện trong Quốc hội đạt được thỏa thuận sau gần một năm chia rẽ đảng phái và sau hơn hai tháng đàm phán ròng rã tưởng chừng đã thất bại. Tiếp đó, căng thẳng đảng phái kéo dài dẫn tới hậu quả nghiêm trọng là ngân sách tài khóa 2013 bị tự động cắt giảm 85,4 tỷ USD từ đầu tháng 3, gây khó khăn hơn cho sự phục hồi của nền kinh tế.  Đến đầu tháng 10, một bộ phận công sở liên bang phải đóng cửa lần đầu tiên trong 17 năm, hàng trăm nghìn nhân viên phải nghỉ không lương trong khi quốc gia bị đẩy tới bờ vực vỡ nợ do Bộ Tài chính không còn được quyền vay tiền để chi tiêu. Khó khăn lắm, cuối cùng Quốc hội đạt được thỏa thuận vào phút chót (ngày 17/10) về ngân sách tạm thời và gia hạn quyền vay mượn, tránh được nguy cơ vỡ nợ và mở cửa công sở liên bang trở lại.

Tuy vậy, đến sau quý II/2013, kinh tế Mỹ đã làm một cú bứt phá trên lộ trình tăng trưởng và càng về cuối năm sức bật lại càng mạnh mẽ, một kết quả ngoài mong đợi. Quý I/2013 kinh tế Mỹ tăng trưởng 1,1%; quý II/2013 tăng trưởng 2,5%; quý III/2014 tăng trưởng 4,1%, cao hơn mức dự báo tăng 3,6% trước đó và là mức cao nhất trong gần hai năm qua; quý IV/2013 tăng trưởng 3,2%. Nhìn vào sự thăng giáng của tỷ lệ tăng trường kinh tế các quý trong năm, cho thấy tăng trưởng kinh tế năm 2013 của Mỹ chưa vững chắc, còn hàm chứa không ít rủi ro. Sự thăng trầm đó của nền kinh tế Mỹ chịu sự tác động rất lớn của các yếu tố trong và ngoài nước, có thể chỉ ra ba nhóm yếu tố chính yếu sau:

– Sự phục hồi của thị trường bất động sản và những cải thiện trong khu vực chế tạo đã góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế Mỹ năm 2013. Tính chung cho cả năm 2013, thị trường nhà đất Mỹ ước tăng 29% so với năm 2012, mức tăng cao nhất kể từ năm 2008. Chỉ số sản xuất chế tạo (MPI) đã đạt 57,6 – mức cao nhất kể từ tháng 9/2011. Đặc biệt, tháng 11/2013 là tháng thứ 6 liên tiếp có sự gia tăng nhanh trong sản xuất hàng chế tạo.

–  Sản xuất gia tăng đã tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu. Theo đó, xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của Mỹ đã gia tăng trong hầu hết các tháng năm 2013. Kết quả là cán cân thương mại đã dần được cải thiện, tuy thâm hụt vẫn còn ở mức khá cao, ước tính là 451,5 tỷ USD năm 2013 (so với 681,3 tỷ USD năm 2008). Sự gia tăng kim ngạch xuất khẩu của Mỹ chủ yếu là do gia tăng xuất khẩu nguyên phụ liệu, linh kiện công nghiệp, hàng tiêu dùng, thực phẩm, các loại hạt và đồ uống.

– Nhân tố bên ngoài quan trọng nhất tác động lên tăng trưởng kinh tế Mỹ trong năm 2013 là sự suy giảm tăng trưởng của các nền kinh tế mới nổi. Theo tính toán của IMF, nhóm các thị trường đang lên và các nước đang phát triển năm 2013 sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP ở mức 4,5%, thấp hơn mức 4,9% năm 2012, và thấp đáng kể so với mức 6,2% của năm 2011. Trong đó, số liệu tăng trưởng tương ứng của Trung Quốc là 7,6% so với 7,7% và 9,2%, của Ấn Độ là 3,8% so với 3,2% và 6,3%, của Braxin là 2,5% so với 0,9% và 2,7%.

Tất cả điều đó dẫn đến kết quả trong quan hệ thương mại với Hoa Kỳ, năm 2013, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam và Hoa Kỳ đạt 29,1 tỷ USD, trong đó, xuất khẩu đạt gần 23,9 tỷ USD với các mặt hàng chủ yếu như: sản phẩm dệt may 8,612 tỷ USD; giày dép các loại 2,631 tỷ USD; gỗ và sản phẩm từ gỗ 1,982 tỷ USD; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện 1,474 tỷ USD; hàng thủy sản 1,463 tỷ USD;  Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng 1,010 tỷ USD; Túi xách, ví, vali mũ và ô dù 836 triệu USD. Nhập khẩu đạt 5,23 tỷ USD, mức xuất siêu của Việt Nam sang thị trường này đạt con số kỷ lục 18,6 tỷ USD. Trong quan hệ đầu tư và hỗ trợ vốn phát triển cho Việt Nam, năm 2013, đã có 33 dự án từ Hoa kỳ đăng ký đầu tư trực tiếp vào Việt Nam với tổng số vốn đăng ký 55,4 triệu USD; vốn ODA thu hút từ Mỹ đến cuối năm  2012 đạt 1,11 tỷ USD là một trong 12 đối tác tài trợ cho Việt Nam đạt mức trên 1 tỷ USD.

Kinh tế Trung Quốc

Tính đến năm 2012, Trung Quốc đã là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới về GDP danh nghĩa. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Trung Quốc năm 2011 đạt 7.298 nghìn tỉ đô la Mỹ, GDP bình quân đầu người đạt 5.417 đô la Mỹ, bằng khoảng 1/9 GDP bình quân đầu người của Mỹ (48.328 USD) và cao gấp 4 lần GDP bình quân đầu người của Việt Nam (1.374 USD). Nếu tính theo sức mua tương đương, GDP của Trung Quốc đạt 11.299 nghìn tỉ đô la Mỹ, GDP đầu người tương đương là 8.382 đô la Mỹ. Đến cuối năm 2012, Tổng GDP của Trung Quốc đã đạt được mức 9.000 tỷ USD.

Đảng Cộng sản Trung Quốc gọi nền kinh tế của Trung Quốc là kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc. Bắt đầu từ cuối năm 1978 các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã tiến hành cải tổ nền kinh tế từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung kiểu Xô viết sang nền kinh tế hướng thị trường hơn nhưng vẫn trong khuôn khổ kiểm soát của Đảng. Theo mục tiêu này, chính quyền đã chuyển sang cơ chế khoán trong nông nghiệp thay cho hình thức hợp tác xã, tăng quyền hành đối với cán bộ địa phương và lãnh đạo các nhà máy trong công nghiệp, cho phép hoạt động đối với một loạt các doanh nghiệp cỡ nhỏ trong các ngành dịch vụ và sản xuất nhỏ, và mở cửa nền kinh tế cho ngoại thương và đầu tư nước ngoài. Các chính sách kiểm soát giá cả cũng được nới lỏng. Kết quả là nền kinh tế Hoa Lục đã chuyển từ một nền kinh tế mệnh lệnh sang hình thức kinh tế hỗn hợp, dung hòa cả khuynh hướng tư sản lẫn vô sản.

Chính phủ không còn nhấn mạnh đến sự công bằng mà chú trọng việc tăng thu nhập cũng như sức tiêu thụ cá nhân đồng thời áp dụng những hệ thống quản lý mới để tăng năng suất. Chính phủ cũng tập trung vào ngoại thương như một động cơ chính cho tăng trưởng kinh tế, theo đó 5 đặc khu kinh tế (ĐKKT) đã được thành lập với luật lệ đầu tư được nới lỏng để thu hút vốn nước ngoài. Kết quả là từ năm 1978, nền kinh tế của Trung Quốc đã tăng trưởng gần 100 lần và là nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Theo IMF, tốc độ trưởng GDP bình quân hàng năm của Trung Quốc từ 2001 đến 2010 là 10,5% và nền kinh tế Trung Quốc được dự báo sẽ tiếp tục tăng trưởng ở con số ấn tượng 9,5% từ 2011 đến 2015. Từ năm 2007 đến 2011, tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc ngang bằng tốc độ tăng trưởng của tất cả các quốc gia trong nhóm G7 gộp lại.

Thành công của Trung Quốc đạt được là nhờ sự phát triển vượt bậc của lĩnh vực sản xuất. Sự phát triển của kinh tế Trung Quốc là nhờ sự kết hợp của nhiều yếu tố như giá lao động rẻ, cơ sở hạ tầng tốt, năng suất lao động cao, khả năng quản lý kinh tế tốt, chính sách kinh tế ưu đãi và thuận lợi, và một đồng nội tệ được hạ thấp so với giá trị thực nhằm tăng sức cạnh tranh của hàng hóa Trung Quốc trên thị trường xuất khẩu. Trung Quốc dẫn đầu kinh tế thế giới về sản lượng công nghiệp, khai thác mỏ và các kim loại khác, sản phẩm tiêu dùng, thiết bị viễn thông, vệ tinh và ô tô. Đây cũng được coi là nhà sản xuất đi đầu về gạo, lúa mì, cá, ngô, cotton và lạc. Nước này cũng là nhà nhập khẩu hàng hóa lớn thứ hai trên thế giới.

Năm 2013 được coi là “năm đầu của cải cách mới”, chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế sang mô hình mà người tiêu dùng và khu vực tư nhân đóng vai trò quan trọng, thay vì các khoản đầu tư công lớn và dàn trải. Trung Quốc đã thúc đẩy cải cách các lĩnh vực then chốt và ngành nghề then chốt, theo đó chuyển đổi chức năng của chính phủ, mở rộng phạm vi thí điểm từ thu thuế kinh doanh sang thu thuế giá trị gia tăng, thực thi chế độ thuế có lợi cho sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, nới lỏng kiểm soát lãi suất cho vay của tổ chức tài chính, thúc đẩy vốn trong nhân dân đổ vào ngành tài chính, cải cách chế độ phát hành cổ phiếu mới, ban hành biện pháp mới cải cách giá sản phẩm tài nguyên…

Mặc dù môi trường phát triển của Trung Quốc không mấy thuận lợi, như “con thuyền đi ngược dòng nước”. Các nhân tố như nhu cầu tiêu dùng giảm do khủng hoảng toàn cầu và chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch tiếp tục ảnh hưởng nghiêm trọng đến tăng trưởng ngoại thương của Trung Quốc. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế bao gồm: năng suất dư thừa do đầu tư quá mức, gánh nặng nợ nần quá cao của chính quyền địa phương, giá thành sức lao động tăng quá nhanh, thị trường bất động sản quá nóng…., song với các biện pháp căn bản nói trên, năm 2013, kinh tế Trung Quốc tăng trưởng 7,7%, chỉ số giá tiêu dùng được kiểm soát ở mức khá thấp. Tuy vậy,  mức tăng trưởng  trong  quý 4/2013 ở mức 7,7%, chậm lại so với mức 7,8% trong quý 3/2013 (Quý I/2013 và quý 2/2013 tăng trưởng lần lượt 7,7% và 7, 5%), mức tăng trưởng cả năm 2013 tăng chậm nhất trong 14 năm qua, tăng trưởng các quý tuy ở mức cao nhưng không ỗn định, phần nào làm dấy lên lo ngại về sức mạnh của nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới.

Với những thuận lợi và khó khăn nội tại chưa dễ khắc phục của mình, nhưng quan hệ thương mại và đầu tư của Trung quốc với Việt Nam vẫn được liệt vào nước có quan hệ ở mức cao. Trong quan hệ thương mại với Việt Nam, Trung Quốc tiếp tục là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam với tổng kim ngạch XNK đạt 50,21 tỉ USD, tăng 22% so với năm 2012. Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Quốc đạt 13,1 tỷ USD, tăng 2,1% (269 triệu USD). Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch nhập khẩu từ thị trường này năm 2013 ước tính đạt 36,8 tỷ USD, tăng 26,7% (tương đương 7,8 tỷ USD), đây là thị trường nhập siêu lớn nhất của Việt Nam với mức 23,7 tỷ USD. Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng từ Trung Quốc tăng so với năm 2012: Máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng tăng 25,5% (1,2 tỷ USD); điện thoại các loại và linh kiện tăng 73,6% (2,3 tỷ USD); máy vi tinh sản phẩm điện từ và linh kiện tăng 36,8% (1,1 tỷ USD). Trong hoạt động đầu tư, Trung quốc là nước có FDI  đứng thứ 4 trong số các nước đầu tư trực tiếp tại Việt Nam  trong năm 2013, với 89 dự án đăng ký đầu tư có tổng số vốn đạt 2.276,6 triệu USD.

Kinh tế Nhật Bản

Nhật Bản là nước rất nghèo nàn về tài nguyên ngoại trừ gỗ và hải sản, trong khi dân số thì quá đông, phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh, nhưng với các chính sách phù hợp, kinh tế Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi (19451954) phát triển cao độ (19551973) làm thế giới phải kinh ngạc. Người ta gọi đó là “Thần kì Nhật Bản”. Từ 1974 đến nay tốc độ phát triển tuy chậm lại, song Nhật Bản tiếp tục là một nước có nền kinh tế lớn đứng thứ ba trên thế giới (chỉ đứng sau Hoa Kỳ và Trung Quốc). GDP trên đầu người là 36.218 USD (1989). Cán cân thương mại dư thừa và dự trữ ngoại tệ đứng hàng đầu thế giới, nên nguồn vốn đầu tư  ra nước ngoài rất lớn, là nước cho vay, viện trợ tái thiết và phát triển lớn nhất thế giới.

Dịch vụ ngân hàngbảo hiểmbất động sản, bán lẻ, giao thông, viễn thông tất cả đều là ngành công nghiệp lớn của Nhật Bản, Nhật Bản có năng lực rất lớn về công nghiệp, và đây là trụ sở của nhiều nhà sản xuất công nghệ tiên tiến bậc nhất thế giới về các sản phẩm xe có động cơ, trang thiết bị điện tử, công cụ máy móc, thép, phi kim loại, công nghiệp tàu thủy, hóa học, dệt may, thức ăn chế biến. Đây cũng là nơi đặt trụ sở của các tập đoàn đa quốc gia và nhiều mặt hàng thương mại trong lĩnh vực công nghệ và máy móc. Xây dựng từ lâu đã trở thành một trong những nền công nghiệp lớn nhất của Nhật Bản.

Dấu hiệu tăng trưởng có phần chững lại vào những năm 1990, trung bình 1.7%  chủ yếu do những tác động của việc đầu tư không hiệu quả và do dư chấn của bong bóng bất động sản vào những năm 1980 đã làm cho các cơ sở sản xuất và kinh doanh mất một thời gian dài tái cơ cấu về nợ quá hạn, vốn tư bản và lực lượng lao động. Tháng 11/2007, nền kinh tế Nhật đã chấm dứt đà tăng trưởng kéo dài liên tục nhiều năm kể từ chiến tranh thế giới thứ 2 và chính thức suy thoái vào năm 2008 với mức lãi suất ngân hàng trung ương hạ đến mức 0% vào đầu năm 2009. Không giống như tình hình ở các nước phương Tây, khu vực tài chính Nhật không chịu ảnh hưởng mạnh từ cuộc Khủng hoảng cho vay thế chấp nhưng do đối mặt với sự sụt giảm mạnh về khối lượng đầu tư cũng như nhu cầu trước các mặt hàng xuất khẩu chủ chốt của Nhật ở nước ngoài vào cuối năm 2008, đã đẩy nước này nhanh hơn vào vòng suy thoái. Tình trạng nợ công quá lớn (chiếm 170%GDP) và tỉ lệ dân số có tuổi quá cao là hai vấn đề đầy thách thức với Nhật Bản về dài hạn. Hiện tại những tranh cãi xung quanh vai trò và hiệu quả của các chính sách vực dậy nền kinh tế là mối quan tâm lớn của người dân lẫn chính phủ nước này.

Trong quý I và quý II của năm 2013, kinh tế tại các khu vực trên đất nước “đang trên đà phục hồi với tốc độ vừa phải” với hai nhân tố quan trọng là xuất khẩu và tiêu dùng trong nước đều tăng. Có 7/11 khu vực tại Nhật Bản phát triển khả quan. Trong số những khu vực phát triển khả quan hơn dự đoán có khu vực kinh tế lớn nhất nước Kanto, nơi có Thủ đô Tokyo. Kể từ khi ông Abe nhậm chức Thủ tướng  Nhật Bản tháng 12/2012, chủ trương tung ra các gói kích thích tài khóa nhằm tái thiết kinh tế và nới lỏng tiền tệ ở cường độ mạnh, hòa với chủ trương đó, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) luôn hậu thuẫn chính sách duy trì đồng yên yếu, giúp sản phẩm của Nhật Bản có tính cạnh tranh cao hơn trên thị trường quốc tế. Tuy vậy, mức tăng trưởng trong quý 4/2013 giảm so mức tăng 1,1% đạt được ở quý 3/2013 (Quý II/2013 kinh tế nhật bản tăng 0,9% so với cùng kì năm 2012), kinh tế Nhật đã giảm tốc thêm một bước. Sự giảm tốc của nền kinh tế Nhật có thể sẽ làm gia tăng những hoài nghi xung quanh nỗ lực chấn hưng kinh tế  thông qua chương trình phục hồi tăng trưởng dựa trên bơm tiền vào nền kinh tế và tăng đầu tư công, với kỳ vọng đưa đất nước thoát khỏi hàng thập kỷ trì trệ. Trong năm 2013, do nợ công đang ở mức cao, chính phủ Nhật đang thực hiện chính sách “thắt lưng, buộc bụng”, tăng trưởng kinh tế Nhật được thúc đẩy chủ yếu bằng chi tiêu dùng của người dân, nhưng trong quý 4, tốc độ tăng trưởng tiêu dùng của người Nhật đã giảm xuống. Chi tiêu của các hộ gia đình trong quý chỉ tăng 0,5%, so với mức dự báo tăng 0,7%. Sự suy giảm tốc độ tăng trưởng GPD quý 4 của Nhật một phần là do nhập khẩu tăng. Nước Nhật đang phụ thuộc vào hàng hóa sản xuất ở nước ngoài đối với những sản phẩm mà người tiêu dùng Nhật mua. Bất chấp đồng Yên yếu, các công ty Nhật cũng không quay lại để sản xuất trong nước. Có thể nói, mặc dù nỗ lực chống giảm phát, kinh tế Nhật Bản vẫn tăng trưởng chưa vững chắc, trong khi đó lạm phát lại đang có xu thế gia tăng do ảnh hưởng của chương trình nới lỏng tiền tệ quy mô lớn. Lạm phát tháng 9/2013 ở mức 1% (tăng 0,4% so với tháng 6/2013), đạt mức tăng mạnh nhất kể từ năm 2008, do giá năng lượng và hàng hóa nhập khẩu tăng sau khi đồng Yên yếu đi.

Trong điều kiện đó, quan hệ thương mại với Việt Nam, Nhật Bản vẫn luôn là thị trường thương mại quan trọng, chiếm tỷ trọng lên đến 10% trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với tất cả các thị trường trên thế giới. Năm 2013, tổng kim ngạch hai chiều giữa Việt Nam và Nhật Bản xếp thứ 4 trong tất cả các thị trường mà Việt Nam xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa; trong đó, xếp thứ 2 về xuất khẩu và xếp thứ 3 về nhập khẩu. Kim ngạch thương mại hai chiều đạt 25,163 tỷ USD, trong đó, xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản đạt 13,581 tỷ USD (tăng 4% so với năm 2012), bao gồm: hàng dệt may, dầu thô, máy móc thiết bị dụng cụ & phụ tùng, hàng thủy sản, gỗ & sản phẩm gỗ, sản phẩm từ chất dẻo, máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện,…; nhập khẩu đạt 11,582 tỷ USD (giảm 0,2% so với năm 2012), bao gồm: máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng, máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện, sắt thép và sản phẩm từ sắt thép, nguyên phụ liệu ngành dệt may da giày, sản phẩm từ chất dẻo. Trong quan hệ đầu tư và Hỗ trợ vốn đầu tư phát triển, Nhật Bản là quốc gia viện trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam, chiếm khoảng 30% tổng số vốn của các nhà tài trợ. Tính từ năm 1992 đến hết tài khóa 2012 (31/3/2013), Nhật Bản đã cam kết khoảng 2.118 tỷ Yên (khoảng 24 tỷ USD theo tỷ giá hiện nay) vốn vay ODA cho Việt Nam. Năm tài khóa 2011 (kết thúc vào ngày 31/3/2012), Nhật Bản cung cấp cho Việt Nam khoản ODA vốn vay là 208,097 tỷ yên, tương đương 2,8 tỷ USD, mức cao nhất từ trước đến nay, năm tài khóa 2012, là 203 tỷ yên (khoảng 2,03 tỷ USD). Tổng số tiền viện trợ phát triển (ODA) mà Nhật Bản dành cho Việt Nam trong năm 2013 là 1,64 tỷ USD (xấp xỉ 200 tỷ Yên). Lũy kế tính đến ngày 20/12/2013, Nhật Bản có 2.166 dự án FDI còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký 34,764 tỷ USD, đứng 1/101 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Nhật Bản tiếp tục dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm trong năm 2013 là 5,682 tỷ USD, chiếm 27,3% tổng vốn đầu tư đăng ký tại Việt Nam (từ 2009-2012 cam kết hỗ trợ .

Kinh tế ASEAN

Năm 2013, các nước ASEAN chịu tác động dự trữ liên bang Mỹ rút khỏi chính sách nới lỏng định lượng, nhiều dòng tiền nóng rút khỏi các nước Đông Nam Á, trở về Mỹ, thị trường chứng khoán các nước Đông Nam Á bị tác động mạnh, đồng Ru-bi In-đô-nê-xi-a, đồng Bạt Thái Lan và đô-la Xin-ga-po đều sụt giá mạnh so với đồng đô-la Mỹ. Tốc độ tăng trưởng chậm lại của kinh tế In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Thái Lan, 3 nền kinh tế lớn nhất khu vực có sự phục hồi nhẹ hoặc giảm sút (Ma-lai-xi-a quý I, II/2013 tăng trưởng ở mức 4,1% và 4,3% do việc làm ổn định và duy trì tăng lương; Kinh tế In-đô-nê-xi-a quý I, II/2013 tăng trưởng ở mức 6,0% và 5,8%; Kinh tế Thái Lan quý I, II/2013 tăng trưởng ở mức 5,4% và 2,8% do nhu cầu trong nước và xuất khẩu giảm), tỷ lệ tăng trưởng kinh tế năm 2013 của 10 nước ASEAN đã từ 5,6% của năm 2012 giảm xuống khoảng 4,9%, thấp hơn 5,4% dự đoán trước đây. Do xuất khẩu sụt giảm và tốc độ đầu tư chậm lại, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế năm 2013 của In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a và Thái Lan lần lượt giảm đến 5,7%, 4,3% và 3,8%. Kinh tế toàn cầu phục hồi chậm chạp dẫn đến nhu cầu của thị trường quốc tế giảm xuống đối với hàng hóa khối lượng lớn như dầu cọ và cao su của 3 nước này sụt giảm, xuất khẩu than đá, quặng đồng In-đô-nê-xi-a, gạo Thái Lan cũng như sản phẩm điện tử của Xin-ga-po và Ma-lai-xi-a cũng giảm xuống. Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2013 của Lào, Cam-pu-chia, Phi-li-pin, Mi-an-ma lần lượt đạt 7,6%, 7,2%, 7, 6%, 5%, Xin-ga-po và Bru-nây lần lượt là 2,6% và 1,5%.

Đầu tư bất động sản của các nước ASEAN trải qua tăng trưởng khá nhanh trong một năm trước, năm 2013 đã xuất hiện sụt giảm rõ rệt. Tốc độ tăng trưởng đầu tư của In-đô-nê-xi-a đã từ 9% tăng trưởng bình quân trong 3 năm qua sụt xuống còn 5,2%, tốc độ tăng trưởng đầu tư của Thái Lan từ 13,3% năm 2012 sụt giảm đến 5,1%. Thặng dư tài khoản vãng lai của các nước ASEAN cũng giảm xuống, tỷ trọng tổng thặng dư tài khoản vãng lai trong GDP từ 7,1% năm 2009 xuống còn 2%. 6 tháng đầu năm 2013, tỷ trọng thâm hụt tài khoản vãng lai trong GDP In-đô-nê-xi-a mở rộng đến 3,5%, tài khoản vãng lai Thái Lan xuất hiện thâm hụt, thặng dư tài khoản vãng lai Ma-lai-xi-a cũng giảm với mức lớn.

Tỷ lệ lạm phát tại các nước ASAN-5 có xu hướng tăng, giảm không bình thường. Tại In-đô-nê-xi-a, do chính phủ cắt giảm trợ giá nhiên liệu kể từ ngày 15/6, lạm phát năm 2013 tăng mạnh từ mức 7,5% lên mức 9,5%. Trong khi đó, áp lực lạm phát có xu hướng giảm tại các nước Thái Lan, Philipines và duy trì ổn định tại Ma-lai-xi-a

Năm 2013, kinh tế các nước ASEAN dự kiến tăng nhẹ so với năm 2012 và vẫn cao hơn rất nhiều so tăng trưởng kinh tế thế giới. Thương mại nội khối ASEAN dự kiến vẫn khả quan nhưng thương mại nội khối của Việt Nam với các nước trong khu vực năm 2013 lại đang chững lại. Xuất nhập khẩu của Việt Nam sang ASEAN năm 2013 đạt tốc độ tăng trưởng dương nhưng thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng của năm 2012. Cụ thể, tốc độ tăng xuất nhập khẩu của Việt Nam với ASEAN qua các năm là: 19,4% năm 2010; 28,8% năm 2011; 9,4% năm 2012 thì đến năm 2013 chỉ còn là 3,5%. Trong đó, xuất khẩu sang thị trường này năm 2013 là 18,47 tỷ USD, tăng 4,4% và nhập khẩu là 21,64 tỷ USD, tăng 2,7% so với năm 2012. Về hàng hoá xuất khẩu sang ASEAN: mặc dù hai nhóm hàng điện thoại, máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện có kim ngạch 4,42 tỷ USD và tăng khá ấn tượng 47,2% (tương ứng tăng 1,42 tỷ USD) nhưng Việt Nam lại đang mất dần thị trường truyền thống này đối với một số loại hàng hoá như gạo (giảm 51,3%), dầu thô (giảm 14,4%)… Đặc biệt là thị trường Philippin, Inđônêxia từ chỗ là thị trường lớn nhất nhì nhập khẩu gạo của Việt Nam thì đến năm 2013 số lượng nhập khẩu đã giảm mạnh (Philippin giảm nhập khẩu từ 1,11 triệu tấn xuống còn hơn 500 nghìn tấn, Inđônêxia giảm từ 930 nghìn tấn xuống còn 150 nghìn tấn). Về hàng hóa nhập khẩu từ ASEAN: Các mặt hàng chính nhập khẩu từ thị trường này là máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện: 3,74 tỷ USD, tăng 49,1%; xăng dầu các loại: 2,72 tỷ USD, giảm 39,2%; máy móc thiết bị dụng cụ & phụ tùng: 1,46 tỷ USD, tăng 11,8%; chất dẻo nguyên liệu: 1,14 tỷ USD, tăng 2,5%….Trong lĩnh vực đầu tư và hỗ trợ phát triển cho Việt Nam, trong năm 2013, các nước có tiềm lực tài chính lớn trong khối ASEAN như Singapo, Thái Lan, Inđonêxia đã đầu tư trực tiếp vào Việt Nam trên 150 dự án với tổng số vốn gẩn 5 tỷ USD.

Kinh tế Hàn Quốc

Kinh tế Hàn Quốc lớn thứ 4 châu Á sau Trung Quốc, Nhật, Ấn Độ và đứng thứ 13 thế giới với GDP năm 2012 là hơn 1.151,3 tỷ USD (so với gần 2.164 tỷ của 10 nước ASEAN cộng lại). Tăng trưởng kinh tế Hàn Quốc năm 2013 dự kiến 3%. Hiện Hàn Quốc là cường quốc thương mại lớn thứ 8 thế giới với tổng kim ngạch trên 1.070 tỷ USD (2012), là nước xuất khẩu lớn thứ 7 thế giới (548 tỷ USD năm 2012), xuất siêu 28,5 tỷ USD năm 2012. Dự trữ ngoại tệ đạt 327.400 tỷ USD (tháng 2/2013). Thế mạnh của công nghệ/công nghiệp Hàn Quốc là các ngành: điện tử, ôtô, hoá chất, đóng tàu (lớn nhất thế giới với các công ty đa quốc gia như Hyundai và Samsung Heavy Industries), thép (với POSCO là nhà sản xuất thép lớn thứ 3 thế giới), sợi, quần áo, da giày, chế biến thức ăn. Hàn Quốc đang đẩy mạnh phát triển các ngành công nghệ cao (hạt nhân, điện tử, tin học, sinh học, vật liệu mới, năng lượng mới, công nghệ xanh – sạch…) và đi đầu thực hiện mô hình mới về tăng trưởng qua chiến lược phát triển xanh. Tăng trưởng GDP quý II/2013 của nước này đạt 1,1%, đánh dấu mức tăng trưởng nhanh nhất  9 quý trước đó và vượt dự báo 0,8% của các chuyên gia. Kinh tế Hàn Quốc tiếp tục tăng trưởng nhờ chính phủ tăng chi tiêu và nhờ biện pháp nới lỏng tiền tệ của ngân hàng trung ương nhằm kích thích tiêu dùng và hỗ trợ xuất khẩu.Trong quý II, chi tiêu chính phủ của Hàn Quốc tăng 2,4% so với quý trước đó, tiêu dùng nội địa cũng tăng 0,6% sau khi giảm 0,4% quý I. Xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 1,5%, tuy nhiên, chậm hơn so với mức tăng 3% trong quý I do đồng yên giảm 25% so đồng  won trong vòng 12 tháng qua làm giảm cạnh tranh của hàng hóa Hàn Quốc. Quý III/2013, GDP của Hàn Quốc tăng 1,1% so với quý trước. So với cùng kỳ năm ngoái, GDP của Hàn Quốc quý III/2013 tăng 3,3% sau khi đạt mức tăng trưởng 2,3% quý II/2013. Xuất khẩu giảm, nhưng đầu tư cho sản xuất lại tăng, nhu cầu tiêu dùng cá nhân vẫn duy trì nhịp tăng trưởng và đầu tư cho xây dựng cũng tăng. Ngân hàng Hàn Quốc hồi đầu tháng 10/2013 dự đoán, GDP của Hàn Quốc năm 2013 sẽ đạt tăng trưởng 2,8%. Tăng trưởng  của nền kinh tế dựa vào xuất khẩu, tập trung vào hàng điện tử, ô tô, tàu biển, máy móc, hóa dầu và rô-bốt. Các sản phẩm của Hàn Quốc rất được ưa chuộng tại các nước phát triển, như Hoa Kỳ, các quốc gia Châu Âu và Nhật Bản. Một điểm yếu của Hàn Quốc trong trung hạn là quá trình lão hóa của dân cư nước này, ảnh hưởng đến nhu cầu nội địa và những hiệu năng của kinh tế Hàn Quốc.

Trong quan hệ thương mại với Việt Nam, năm 2013, tổng kim ngạch buôn bán hai chiều giữa Việt Nam-Hàn Quốc đạt 27,3 tỷ USD (tăng 29,5% so với kết quả của năm 2012). Trong đó, tổng trị giá hàng hóa các công ty Việt Nam nhập khẩu hàng hóa xuất xứ từ Hàn Quốc là 20,7 tỷ USD (tăng ấn tượng 33,3% so với năm 2012 và chiếm 15,7% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ tất cả các quốc gia, vùng lãnh thổ). Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là nhóm mặt hàng được các doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất trong năm 2013 với trị giá đạt 5,1 tỷ USD (tăng mạnh 54,7% so với 1 năm trước đó và chiếm 24,6% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam trong năm 2013). Các nhóm mặt hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng, vải các loại, điện thoại các loại và linh kiện… là một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu vào Việt Nam khá cao, chiếm hơn 50% tổng kim ngạch nhập khẩu vào Việt Nam của các mặt hàng có xuất xứ từ Hàn Quốc trong năm 2013.

Ở chiều ngược lại, tổng kim ngạch xuất khẩu của các công ty Việt Nam sang thị trường Hàn Quốc trong năm 2013 đạt 6,6 tỷ USD (tăng 18,9% so với một năm trước đó và chiếm 24,3% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam). Hàn Quốc là thị trường tiêu thụ quan trọng đối với các sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như: hàng dệt may (đạt 1,6 tỷ USD, tăng mạnh 53,5% so với năm 2012); dầu thô (đạt 724 triệu USD, giảm 9,3% so với năm 2012); hàng thủy sản đạt 512 triệu USD …

Trong năm 2013, Hàn Quốc đứng vị trí thứ 3 về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam, với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 4,293 tỷ USD, chiếm 19,9% tổng vốn đầu tư đăng ký. Hàn quốc cũng là nước hỗ trợ phát triển chính thức cho Việt Nam tương đối lớn, cam kết hỗ trợ trong năm 2013 là 1,2 tỷ USD (từ 2009-2012, cam kết hỗ trợ 2,33 tỷ USD).

1.2. Kinh tế Việt Nam năm 2013

Mục tiêu tổng quát của phát triển kinh tế – xã hội năm 2013 đã được Quốc hội khóa 13 thông qua là: “Tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô; lạm phát thấp hơn, tăng trưởng cao hơn năm 2012. Đẩy mạnh thực hiện ba đột phá chiến lược gắn với tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội. Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế. Tăng cường quốc phòng, an ninh và bảo đảm ổn định chính trị – xã hội. Tạo nền tảng phát triển vững chắc hơn cho những năm tiếp theo“. Tuy vậy, năm 2013, Kinh thế thế giới vẫn còn nhiều bất ổn và biến động phức tạp; Ở trong nước, các khó khăn, bất cập chưa được giải quyết gây áp lực lớn cho sản xuất kinh doanh. Trước tình hình đó, ngay từ đầu năm, Chính phủ đã kịp thời ban hành hai Nghị quyết quan trọng là Nghị quyết số 01/NQ-CP về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2013 và Nghị quyết số 02/NQ-CP về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu. Trong năm, Thủ tướng chính phủ đã ban hành nhiều chỉ thị, quyết định liên quan đến hoạt động điều hành tài chính và phát triển kinh tế. Có thể nói, để thực hiện tốt các mục tiêu và chỉ tiêu chủ yếu của năm, Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt các ngành, địa phương thực hiện tích cực và đồng bộ các giải pháp, chủ động khắc phục khó khăn để từng bước ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh. Nhờ đó, kinh tế năm 2013 đã đạt được kết quả tương đối toàn diện:

– Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2013 ước tính tăng 5,42% so với năm 2012, trong đó quý I tăng 4,76%; quý II tăng 5,00%; quý III tăng 5,54%; quý IV tăng 6,04%. Mức tăng trưởng năm nay tuy thấp hơn mục tiêu tăng 5,5% đề ra nhưng cao hơn mức tăng 5,25% của năm 2012 và có tín hiệu phục hồi. Trong mức tăng 5,42% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,67%, xấp xỉ mức tăng năm trước, đóng góp 0,48 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,43%, thấp hơn mức tăng 5,75% của năm trước, đóng góp 2,09 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 6,56%, cao hơn mức tăng 5,9% của năm 2012, đóng góp 2,85 điểm phần trăm.

– Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2013 theo giá so sánh 2010 ước tính đạt 801,2 nghìn tỷ đồng, tăng 2,95% so với năm 2012, bao gồm: Nông nghiệp đạt 602,3 nghìn tỷ đồng, tăng 2,47%; lâm nghiệp đạt 22,4 nghìn tỷ đồng, tăng 6,04%; thuỷ sản đạt 176,5 nghìn tỷ đồng, tăng 4,22%.

– Sản xuất công nghiệp năm 2013 có dấu hiệu phục hồi, nhất là ngành công nghiệp chế biến chế tạo với tỷ trọng lớn trong toàn ngành công nghiệp đã có sự chuyển biến rõ nét qua các quý. Chỉ số tồn kho, chỉ số tiêu thụ diễn biến theo xu hướng tích cực. Tính chung cả năm, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP)  tăng 5,9% so với năm trước, cao hơn mức tăng năm 2012 (4,8%), trong đó quí I tăng 5%; quí II tăng 5,5%; quí III tăng 5,4% và quí IV tăng 8%. Trong mức tăng chung của toàn ngành năm nay, ngành chế biến, chế tạo đóng góp 5,3 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện đóng góp 0,6 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai thác làm giảm 0,1 điểm phần trăm. Một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất tăng cao trong cả năm 2013 so với năm 2012 là: Dệt tăng 21,8%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 15,3%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) tăng 14,4%; sản xuất xe có động cơ tăng 13,5%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 11,6%; sản xuất trang phục tăng 10,4%; sản xuất thiết bị điện tăng 9,6%; khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 9,5%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 9%. Một số ngành có mức tăng khá là: Sản xuất đồ uống tăng 8,8%; sản xuất và phân phối điện tăng 8,5%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và quang học tăng 7,7%.

– Giá trị sản xuất xây dựng năm 2013 theo giá hiện hành ước tính đạt 770,4 nghìn tỷ đồng, bao gồm: Khu vực Nhà nước đạt 92,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 12%; khu vực ngoài Nhà nước 644,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 83,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 33,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 4,4%. Giá trị sản xuất xây dựng năm 2013 chia theo loại công trình như sau: Công trình nhà ở đạt 333,3 nghìn tỷ đồng; công trình nhà không để ở đạt 128,2 nghìn tỷ đồng; công trình kỹ thuật dân dụng đạt 219,4 nghìn tỷ đồng; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 89,5 nghìn tỷ đồng.

– Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2013 của khu vực kinh tế nhà nước đạt 258,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 9,9% và giảm 8,6% so với năm 2012; kinh tế ngoài nhà nước đạt 2269,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 86,7% và tăng 15,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 89,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 3,4% và tăng 32,8%. Xét theo ngành kinh doanh, kinh doanh thương nghiệp đạt 2009,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 76,7% tổng mức và tăng 12,2%; khách sạn nhà hàng đạt 315,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,1% và tăng 15,2%; dịch vụ đạt 268,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,3% và tăng 13,3%; du lịch đạt 24,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,9% và tăng 3,5%.

– Vận tải hành khách ước tính đạt 2.950,1 triệu lượt khách, tăng 6,3% và 123,1 tỷ lượt khách.km, tăng 5,4% so với năm 2012, bao gồm: Vận tải Trung ương đạt 33,3 triệu lượt khách, tăng 5,9% và 30 tỷ lượt khách.km, tăng 9%; vận tải địa phương đạt 2916,9 triệu lượt khách, tăng 6,3% và 93,1 tỷ lượt khách.km, tăng 4,3%.

– Vận tải hàng hóa năm 2013 ước tính đạt 1.011,1 triệu tấn, tăng 5,4% và 208,5 tỷ tấn.km, giảm 0,4% so với năm trước, bao gồm: Vận tải trong nước đạt 980,3 triệu tấn, tăng 5,7% và 91,2 tỷ tấn.km, tăng 5,2%; vận tải ngoài nước đạt 30,8 triệu tấn, giảm 4,4% và 117,3 tỷ tấn.km, giảm 4,3%.

– Khách quốc tế đến nước ta năm 2013 ước tính đạt 7.572,4 nghìn lượt người, tăng 10,6% so với năm trước, trong đó: khách đến với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng đạt 4.640,9 nghìn lượt người, tăng 12,2%; đến vì công việc 1.266,9 nghìn lượt người, tăng 8,7%; thăm thân nhân đạt 1259,6 nghìn lượt người, tăng 9,4%.

– Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2013 theo giá hiện hành ước tính đạt 1091,1 nghìn tỷ đồng, tăng 8% so với năm trước và bằng 30,4% GDP. Trong vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2013, vốn khu vực Nhà nước đạt 440,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 40,4% tổng vốn và tăng 8,4% so với năm trước; khu vực ngoài Nhà nước 410,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 37,6% và tăng 6,6%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 240,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 22% và tăng 9,9%.

– Tính đến ngày 12/12/2013, tổng phương tiện thanh toán tăng 14,64%; huy động vốn tăng 15,61%; tăng trưởng tín dụng tăng 8,83% so với cuối năm 2012 và dự kiến sẽ cao hơn mức tăng của năm 2012 nhưng vẫn thấp hơn mức kế hoạch đặt ra là khoảng 12%; thanh khoản của hệ thống ngân hàng thương mại được cải thiện, đảm bảo khả năng thanh toán và chi trả của hệ thống; tỷ giá ngoại tệ ổn định, dự trữ ngoại hối tăng cao.

– Tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường năm 2013 ước tính đạt 44,4 nghìn tỷ đồng, tăng 7,6% so với năm 2012, trong đó doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ đạt 24 nghìn tỷ đồng, tăng 5%; doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ đạt 20,4 nghìn tỷ đồng, tăng 11%.

– Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2013 tăng 6,6% so với bình quân năm 2012, thấp hơn nhiều so với mức tăng 9,21% của năm 2012. Trong năm nay, CPI tăng cao vào quý I và quý III với mức tăng bình quân tháng là 0,8%; quý II và quý IV, CPI tương đối ổn định và tăng ở mức thấp với mức tăng bình quân tháng là 0,4%. Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2013 tăng 0,57% so với năm trước; chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng công nghiệp năm nay tăng 5,25% so với năm trước; chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu dùng cho sản xuất năm 2013 tăng 3,05% so với năm 2012; chỉ số giá cước vận tải năm 2013 tăng 6,48% so với năm trước, trong đó giá cước vận tải hành khách tăng 7,38%; vận tải hàng hóa tăng 4,91%. Chỉ số giá tiêu dùng tăng nhưng vẫn tăng thấp nhất trong 10 năm trở lại đây, do: 17 tỉnh, thành phố điều chỉnh giá dịch vụ y tế làm cho CPI của nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 18,97% so với tháng 12 năm trước, đóng góp vào chỉ số chung cả nước gần 1,1%; các địa phương tiếp tục thực hiện lộ trình tăng học phí làm làm CPI nhóm giáo dục tăng 11,71%, đóng góp vào chỉ số chung cả nước tăng khoảng gần 0,7%; giá xăng dầu được điều chỉnh tăng/giảm và cả năm tăng 2,18%, góp vào CPI chung cả nước mức tăng 0,08%; giá điện điều chỉnh tăng 10%, đóng góp vào CPI chung khoảng 0,25%. Bên cạnh đó, giá gas cả năm tăng gần 5%, đóng góp vào CPI cả nước với mức tăng 0,08%; Nhu cầu hàng hóa tiêu dùng của dân cư và tiêu dùng cho sản xuất tăng vào dịp cuối năm; Ảnh hưởng của thiên tai, mưa bão; Mức cầu trong dân yếu.

Bên cạnh những kết quả đạt được, kinh tế nước ta vẫn còn những bất cập: lạm phát ở mức an toàn nhưng còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ; tốc độ phục hồi của sản xuất kinh doanh trong nước còn chậm; sức cầu của nền kinh tế yếu; khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp thấp; hàng tồn kho tuy giảm nhưng vẫn ở mức cao;….cụ thể:

– Sau sút giảm liên tục 3 năm liên tục từ 2010- 2012 (2010: 6,42%; 2011: 6,24; 2012: 5,25), nền kinh tế bắt đầu tăng trở lại, song mức tăng không nhiều và mức độ đóng góp cho tăng trưởng từ khu vực sản xuất Nông – Lâm- Ngư nghiệp, Công nghiệp và Xây dựng không lớn. Điều đó cho thấy tăng trưởng kinh tế trong năm vẫn còn hàm chứa không ít rủi ro, phụ thuộc vào tăng trưởng của khu vực dịch vụ, chưa thật sự vững chắc.

Bảng 1.1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 2008-2013

Chỉ tiêu

2008

2009

2010

2011

2012

2013

Tốc độ tăng trưởng GDP theo giá cố định (%/năm)

5,66

5,4

6,42

6,24

5,25

5,42

Tốc độ tăng trưởng Nông – Lâm – Thủy sản (%/năm)

4,69

1,91

3,29

4,02

2,68

2,67

Tốc độ tăng trưởng Công nghiệp – Xây dựng (%/năm)

4,13

5,98

7,17

6,68

5,75

5,43

Tốc độ tăng trưởng dịch vụ (%/năm)

7,55

6,55

7,19

6,83

5,99

6,56

Nguồn: từ báo cáo tình hình kinh tế – xã hội hàng năm của TCTK

– Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2013 bị ảnh hưởng lớn của thời tiết nắng hạn kéo dài đầu năm và tình trạng xâm nhập mặn diễn ra ở nhiều địa phương phía Nam làm hàng trăm nghìn ha lúa, hoa màu và cây công nghiệp bị ngập úng, dẫn đến năng suất nhiều loại cây trồng giảm so với năm trước. Bên cạnh đó, thị trường tiêu thụ sản phẩm cả trong và ngoài nước bị thu hẹp; giá bán nhiều sản phẩm, nhất là sản phẩm chăn nuôi, thủy sản ở mức thấp trong khi giá vật tư, nguyên liệu đầu vào tiếp tục tăng cao, gây nhiều khó khăn cho phát triển chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản; dịch bệnh trên gia súc, gia cầm vẫn xảy ra rải rác ở khắp các địa phương gây tâm lý lo ngại cho người nuôi. Do đó giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt mức thấp hơn năm trước, tỷ lệ đóng góp của ngành này trong tổng GDP của cả nước sút giảm so với các năm trước đó.

Bảng 1.2. Cơ cấu GDP tính theo ngành kinh tế

Chỉ tiêu

2008

2009

2010

2011

2012

2013

Tổng GDP (%)

100

100

100

100

100

100

Nông – Lâm- Thủy sản (%)

20,41

19,17

18,89

20,08

19,67

18,39

Công nghiệp- Xây dựng (%)

37,08

37,39

38,23

37,90

38,63

38,30

Dịch vụ (%)

42,51

43,44

42,88

42,02

41,70

43,31

Nguồn: từ báo cáo tình hình kinh tế – xã hội hàng năm của TCTK

– Hoạt động của ngành xây dựng trong năm vẫn còn những tồn tại và gặp khó khăn như: Chủ đầu tư thực hiện không đúng quy trình, thủ tục gây chậm chễ trong thanh toán công trình dẫn đến nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ thiếu vốn, không đủ sức cạnh tranh. Tiến độ giải ngân của một số dự án, công trình mặc dù có chuyển biến nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Thời tiết diễn biến phức tạp với mưa lớn kéo dài tại nhiều vùng trên cả nước ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng công trình.

– Tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 76.955 doanh nghiệp, tăng 10,1% so với năm 2012 với tổng vốn đăng ký là 398,7 nghìn tỷ đồng, giảm 14,7%. Số doanh nghiệp gặp khó khăn phải giải thể hoặc ngừng hoạt động năm nay là 60.737 doanh nghiệp, tăng 11,9% so với năm trước, trong đó số doanh nghiệp đã giải thể là 9.818 doanh nghiệp, tăng 4,9%; số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động là 10.803 doanh nghiệp, tăng 35,7%; số doanh nghiệp ngừng hoạt động nhưng không đăng ký là 40.116 doanh nghiệp, tăng 8,6%. Các doanh nghiệp hoạt động lĩnh vực thương mại, dịch vụ và xuất khẩu liên tục đối mặt với nhiều thách thức gây ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất kinh doanh. Hoạt động bán lẻ chậm lại trên tất cả các kênh truyền thống cũng như siêu thị.Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2013 ước tính đạt 2.618 nghìn tỷ đồng, tăng 12,6% so với năm 2012 và là mức tăng thấp nhất trong vòng bốn năm trở lại đây.

– Hàng hóa ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tồn kho còn ở mức cao. Tại thời điểm 01/12/2013, chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,2% so với cùng thời điểm năm 2012 (Cùng kỳ năm 2011 là 23%; năm 2012 là 20,1%): Tỷ lệ tồn kho tháng Một là 70%, tháng Hai là 93,5%; tháng Ba là 73,4%, tháng Tư là 74%, tháng Năm là 71%, tháng Sáu là 71,4%, tháng Bảy là 70%, tháng Tám là 70,7%; tháng Chín là 74%; tháng Mười là 72,4%; tháng Mười Một là 71,1%, bình quân 11 tháng là 73,7%). Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 127,5%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng  96,4%; sản xuất kim loại tăng 45,9%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 32,7%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 27,6%.

– Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2013 ước tính là 2,2%, trong đó khu vực thành thị là 3,58%; khu vực nông thôn là 1,58% (Số liệu của năm 2012 tương ứng là: 1,96%; 3,21%; 1,39%). Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi năm 2013 ước tính 2,77%, trong đó khu vực thành thị là 1,48%; khu vực nông thôn là 3,35% (Số liệu của năm 2012 tương ứng là: 2,74%; 1,56%; 3,27%).

Với tình hình kinh tế thế giới và trong nước như trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến các cân đối chủ yếu của nước ta trong năm, đặc biệt cân đối thu chi ngân sách, cán cân thương mại và mức độ thu hút vốn đầu tư. Cụ thể:

– Năm 2013, đến ngày 31/12/2013 tổng thu NSNN (bao gồm cả các khoản ghi thu NSNN) thực hiện đạt 100,4% dự toán, tăng 3,6% so với báo cáo Quốc hội, phần lớn các địa phương, kể cả các địa phương trọng điểm thu, ước thu đạt và vượt dự toán. Nhờ vậy, trong điều hành đã đáp ứng các nhiệm vụ chi NSNN quan trọng, đồng thời dành nguồn để xử lý các nhiệm vụ cấp thiết phát sinh như khắc phục hậu quả thiên tai, bão lũ, bảo đảm an sinh xã hội, thanh toán nợ khối lượng đầu tư XDCB, điều hành bội chi NSNN thấp hơn mức Quốc hội cho phép điều chỉnh (5,3% GDP). Tổng chi ngân sách Nhà nước đạt 100,8 % dự toán năm. Cả năm thu, chi ngân sách về cơ bản đạt dự toán. Tuy vậy, cân đối Thu- Chi ngân sách nhà nước các quý trong năm khá khó khăn, chật vật: gần hết quý I, tổng thu ngân sách ước tính đạt 136,3 nghìn tỷ đồng (bằng 16,7% dự toán năm), tổng chi ngân sách Nhà nước ước tính đạt 171,9 nghìn tỷ đồng (bằng 17,6% dự toán năm); gần hết quý II, tổng thu ngân sách ước tính đạt 324,4 nghìn tỷ đồng(bằng 39,8% dự toán năm), tổng chi ngân sách Nhà nước ước tính đạt 409,1 nghìn tỷ đồng (bằng 41,8% dự toán năm); đến 15/9/2013, tổng thu ngân sách ước tính đạt 509,7 nghìn tỷ đồng (bằng 62,5% dự toán năm), tổng chi ngân sách Nhà nước ước tính đạt 640,4 nghìn tỷ đồng, bằng 65,5% dự toán năm; gần cuối quý IV, tổng thu ngân sách Nhà nước  ước tính đạt 790,8 nghìn tỷ đồng (bằng 96,9% dự toán năm, tổng chi ngân sách Nhà nước năm 2013 ước tính đạt 986,2 nghìn tỷ đồng (bằng 100,8% dự toán năm). Tổng thu ngân sách nhà nước có xu hướng giảm mạnh hơn so với chi ngân sách, mà nguyên nhân chủ yếu do doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn về vốn, sản phẩm tồn kho tiêu thụ chậm dẫn đến thua lỗ, nợ đọng thuế, trốn thuế làm hụt thu và một số khoản chi chưa hợp lý gây lãng phí.

Bảng 1.3. Thu chi ngân sách các quý trong năm

Đến gần hết

Tổng thu NSNN

Tổng chi NSNN

Tổng số

(Ngàn tỷ đồng)

% so với dự toán cả năm

Tổng số

(Ngàn tỷ đồng)

% so với dự toán cả năm

Quý I

136,3

16,7

171,9

17,6

Quý II

324,4

39,8

409,1

41,8

Quý III

509,7

62,5

640,4

65,5

Quý IV

790,8

96,9

986,2

100,8

Nguồn: từ báo cáo tình hình kinh tế – xã hội hàng quý trong năm của TCTK

– Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 132,2 tỷ USD, tăng 15,4% so với năm 2012. (Kim ngạch xuất khẩu năm 2011 tăng 34,2%; năm 2012 tăng 18,2%). Trong năm 2013, kim ngạch xuất khẩu khu vực kinh tế trong nước đạt 43,8 tỷ USD, tăng 3,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (gồm cả dầu thô) đạt 88,4 tỷ USD, tăng 22,4%. Nếu không kể dầu thô thì kim ngạch hàng hoá xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài năm nay đạt 81,2 tỷ USD, tăng 26,8% so với năm trước. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2013 tăng 18,2%. Tỷ trọng nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản đạt 58,6 tỷ USD, tăng 21,5% và chiếm 44,3% (Năm 2012 đạt 48,2 tỷ USD và chiếm 42,1%); Nhóm công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp đạt 50,3 tỷ USD, tăng 16,3% và chiếm 38,1% (Năm 2012 đạt 43,3 tỷ USD và chiếm 37,8%); Nhóm hàng nông, lâm sản đạt 16,5 tỷ USD, giảm 1,9% và chiếm 12,5% (Năm 2012 đạt 16,8 tỷ USD và chiếm 14,7%); Nhóm hàng thuỷ sản đạt 6,7 tỷ USD, tăng 10,6% và chiếm 5,1% (Năm 2012 đạt 6,1 tỷ USD và chiếm 5,3%). Tuy kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tăng so với năm trước, nhưng một số mặt hàng xuất bán với giá thấp. Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá năm 2013 giảm 2,41% so với năm trước  (Năm 2012 giảm 0,54% so với năm 2011), trong đó chỉ số giá xuất khẩu của một số mặt hàng giảm mạnh là: Cao su giảm 18,96%; than giảm 15,68%; sản phẩm từ cao su giảm 14,13%. Chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá năm nay giảm 2,36% so với năm trước (Năm 2012 giảm 0,33% so với 2011), trong đó chỉ số giá nhập khẩu của một số mặt hàng giảm nhiều là: Cao su giảm 21,15%; phân bón giảm 17,83%; sắt thép giảm 10,48%. Xuất khẩu chủ yếu tập tung vào 6 tháng cuối năm (53,1% tổng giá trị xuất khẩu cả năm)

Bảng 1.4. Tình hình xuất khẩu năm 2013

Đến gần hết 

Tổng thu XNK cả năm

Tổng số (Tỷ USD )

Tỷ trọng so với cả năm (%)

Quý I

29,7

22,5

Quý II

32,3

24.4

Quý III

34,5

26,1

Quý IV

35,7

27,0

Cộng

132,2

100

Nguồn: từ báo cáo tình hình kinh tế – xã hội hàng quý trong năm của TCTK

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu cả năm đạt 131,3 tỷ USD, tăng 15,4% so với năm trước (Kim ngạch nhập khẩu năm 2011 tăng 25,8%; năm 2012 tăng 6,6%). Trong đó, kim ngạch nhập khẩu khu vực kinh tế trong nước đạt 56,8 tỷ USD, tăng 5,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 74,5 tỷ USD, tăng 24,2%. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu trong năm  tăng 18,3% so với năm 2012. Nhóm tư liệu sản xuất ước tính đạt 120,8 tỷ USD, chiếm tỷ trọng cao nhất với 92%, tăng so với mức 90,9% của năm 2012, chủ yếu do tỷ trọng nhóm hàng máy, móc thiết bị, dụng cụ, phương tiện vận tải chiếm 36,7%, tăng so với mức 35,3%; phụ tùng và nhiên vật liệu chiếm 55,3%, giảm so với mức 55,6% của năm 2012. Nhóm hàng tiêu dùng đạt 10,5 tỷ USD, chiếm 8%, giảm so với mức 9% của năm 2012.

Bảng 1.5. Tình hình xuất siêu năm 2013

 

Xuất khẩu (Tỷ USD)

Nhập khẩu (Tỷ USD)

Xuất siêu(Tỷ USD)

Quý I

29,7

29,2

0,5

Quý II

32,3

34,2

-1,9

Quý III

34,5

33,2

1,3

Quý IV

35,7

34,7

1,0

Cộng

132,2

131,3

0,9

Nguồn: từ báo cáo tình hình kinh tế – xã hội hàng quý trong năm của TCTK

Nhập khẩu ¾ quý trong năm thấp hơn kim ngạch Xuất khẩu, tính chung cả năm xuất siêu gần 900 triêu USD. Đây là năm thứ 2 liên tiếp tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt trên 200 tỷ USD và Việt Nam đã có Xuất siêu. Tuy rằng mức độ xuất siêu chưa lớn và chưa vững chắc, chủ yếu từ khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài. Nếu tính chung cả xuất nhập khẩu dịch vụ thì nước ta còn nhập siêu 1,8 tỷ USD (Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ đạt 10,5 tỷ USD, tăng 9,1% so với năm 2012, trong đó dịch vụ du lịch đạt 7,5 tỷ USD, tăng 9,9%; dịch vụ vận tải 2,2 tỷ USD, tăng 5,8%. Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ đạt 13,2 tỷ USD, tăng 5,4% so với năm 2012, trong đó dịch vụ vận tải đạt 9,1 tỷ USD, tăng 4,6%; dịch vụ du lịch đạt 2 tỷ USD, tăng 10,5%. Nhập siêu dịch vụ 2,7 tỷ USD, giảm 12,9% so với năm 2012 và bằng 25,7% tổng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ năm 2012).

Thu hút đầu tư toàn xã hội trong năm lớn, đạt 1.090.9 ngàn tỷ đồng (xấp xỉ 30,4% GDP), nhưng đầu tư từ khu vực nhà nước đang chiếm tỷ lệ lớn, kế đến là  đầu tư từ khu vực ngoài nhà nước.

 Bảng 1.6. Thu hút đầu tư toàn xã hội năm 2013

 

Quý 1

Quý 2

Quý 3

Quý 4

Tổng cộng

 

(Ngàn tỷ đồng)

(Ngàn tỷ đồng)

(Ngàn tỷ đồng)

(Ngàn tỷ đồng)

Ngàn tỷ đồng

Chiếm tỷ lệ (%)

Khu vực Nhà nước

74,8

91,3

131,2

143,0

440,3

40,36%

Khu vực ngoài Nhà nước

74,8

93,4

111,8

130,5

410,5

37,63%

Khu vực FDI

53,0

61,3

64,3

61,5

240,1

22,01%

Tổng số

202,6

246,0

307,3

335,0

1090,9

100%

Nguồn: từ báo cáo tình hình kinh tế – xã hội hàng quý trong năm của TCTK

Năm 2013, các dòng chảy vốn đầu tư trực tiếp và ODA vào Việt Nam đạt được kết quả tương đối tốt, nhưng chủ yếu tập trung vào những tháng cuối năm và chưa tương xứng với nhu cầu và tiềm năng huy động của nền kinh tế, cụ thể:

 –  Vốn ODA: Năm 2013, tổng mức ODA cam kết trong năm khoảng 7 tỷ USD, tăng 18,5% so với năm trước, giải ngân đạt 4,5 tỷ USD, đưa  tổng vốn ODA cam kết hỗ trợ Việt Nam chạm ngưỡng 80 tỷ USD; trong đó, dự kiến vốn giải ngân là 58 tỷ USD.

– Vốn FDI, năm 2013, cả nước có 1.530 dự án mới được cấp Giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký là 14,48 tỷ USD, tăng 66,8% so với cùng kỳ năm 2012 và 590 lượt dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 7,86 tỷ USD, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm 2012. Tính chung trong năm, tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 22,35 tỷ USD, tăng 35,9% so với cùng kỳ năm 2012; Đưa số dự án đầu tư FDI đạt xấp xỉ 15.000 dự án, với tổng vốn đăng ký khoảng 220 tỷ USD, vốn thực hiện khoảng 110 tỷ USD.

Có thể nói, năm 2013, các cân đối lớn vẫn đảm bảo nhưng tại nhiều thời điểm trong năm thiếu vững chắc, thách thức việc thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ của nền Kinh tế- Xã hội đã được quốc hội đề ra. Vì vậy, chính sách tài khóa năm 2013 đòi hỏi phải được thiết lập để đảm bảo thực hiện được các mục tiêu đó. Ngay từ đầu năm, Chính Phủ đã ban hành các Nghị quyết số 01/NQ-CP và 02/NQ-CP ngày 07/1/2013; tiếp theo, Thủ tướng chính phủ đã ban hành các chỉ thị số 09/CT-TTg  ngày 24/5/2013 về việc tăng cường chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính – ngân sách nhà nước năm 2013; và tiếp theo Chỉ thị 1792/CT-TTg ngày 15 tháng 10 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ, Chỉ thị số 27/CT-TTg ngày 10 tháng 10 năm 2012 về những giải pháp chủ yếu khắc phục tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản tại các địa phương, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 14/CT-TTg  ngày 28/6/2013 về tăng cường quản lý đầu tư và xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nước, trái phiếu chính phủ. Điều đó cho thấy sự biến đổi khó lường của kinh tế thế giới và kinh tế trong nước đã có sự ảnh hưởng tác động không nhỏ đến chính sách tài khóa của Việt Nam. Cụ thể:

Thứ nhất, về chính sách thu ngân sách nhà nước:

– Thực hiện chính sách ưu đãi nhiều hơn cho doanh nghiệp, tập trung tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, giải quyết hàng tồn kho, xử lý hiệu quả nợ xấu, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa; tiếp tục cho phép miễn, giảm, gia hạn một số khoản thu ngân sách, cả năm, đã xử lý miễn, giảm, giãn thời hạn nộp khoảng 16.600 tỷ đồng tiền thuế và thu ngân sách, góp phần hỗ trợ tích cực hoạt động sản xuất kinh doanh;

– Sửa đổi, bổ sung Luật thuế TNDN, Luật thuế GTGT theo hướng giảm tỷ lệ động viên, tăng cường tính công khai minh bạch; cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế và hải quan tiếp tục được đẩy mạnh, giảm thời gian kê khai và nộp thuế cho các doanh nghiệp.

–  Rà soát, nắm chắc đối tượng, nguồn thu ngân sách, phấn đấu thu ở các lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn có khả năng tăng thu để bù đắp các phần giảm thu do thực hiện chính sách miễn, giảm, giãn thời hạn nộp thuế. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế, kết hợp với thanh tra, kiểm tra thực hiện pháp luật về giá. Kiểm soát việc kê khai thuế, quyết toán thuế của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, bảo đảm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thuế, phí, lệ phí và thu khác vào ngân sách nhà nước. Thực hiện đầy đủ, thu kịp thời các khoản thu theo kết luận, kiến nghị của cơ quan Kiểm toán Nhà nước, Thanh tra và các cơ quan bảo vệ pháp luật khác; 

–  Quản lý chặt chẽ công tác hoàn thuế, bảo đảm đúng đối tượng, đúng chế độ quy định, công khai, minh bạch; Phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan thu, cơ quan tài chính và các lực lượng chức năng trong công tác quản lý thu, chống thất thu và xử lý nợ đọng, chống gian lận thương mại, chống buôn lậu, chống chuyển giá; thực hiện thu vào NSNN các khoản đặc thù theo Nghị quyết của Quốc hội như: cổ tức DNNN và phần lợi nhuận còn lại sau khi trích nộp các quỹ theo quy định của pháp luật của các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ; thu NSNN 75% tiền lãi dầu, khí nước chủ nhà được chia từ liên doanh Vietsovpetro và các hợp đồng phân chia sản phẩm dầu khí, tiền đọc, sử dụng tài liệu dầu khí phát sinh năm 2013…

Thứ hai, về chính sách chi ngân sách nhà nước:

– Đối với chi thường xuyên:

+ Rà soát, sắp xếp lại các nhiệm vụ chi thường xuyên; thực hiện tiết kiệm thêm 10% dự toán chi thường xuyên còn lại của những tháng cuối năm (không bao gồm các khoản: chi tiền lương, phụ cấp theo lương, các khoản chi cho con người theo chế độ; tiết kiệm 10% chi thường xuyên để tạo nguồn cải cách tiền lương theo dự toán đầu năm và tiết kiệm 10% chi thường xuyên tăng thêm đang giữ lại ở các cấp ngân sách).

+ Cắt giảm hoặc lùi thời gian thực hiện các nhiệm vụ chi chưa thực sự cấp thiết, các khoản chi mua sắm trang thiết bị, xe ô tô; hạn chế tối đa tổ chức hội nghị, hội thảo quốc gia, lễ khởi công, khánh thành, công bố quyết định; tiết kiệm tối thiểu 20% chi phí điện, nước, điện thoại, văn phòng phẩm, xăng dầu; tiết kiệm tối thiểu 30% dự toán kinh phí đã phân bổ cho các nhiệm vụ chi tổ chức lễ hội, tiếp khách, hội nghị, hội thảo, đi công tác trong và ngoài nước,… 

+ Khắc phục tình trạng chồng chéo, lãng phí, không hiệu quả trong việc triển khai và bố trí kinh phí thực hiện các chương trình, dự án, nhiệm vụ; không bổ sung các đề án, chương trình, ban hành các chính sách mới hoặc nâng định mức làm tăng chi ngân sách nhà nước khi chưa xác định được nguồn đảm bảo. Đảm bảo nguồn thực hiện các chế độ, chính sách đã ban hành và an sinh xã hội.

– Về chi đầu tư phát triển:

+ Kiểm soát chặt chẽ việc lập, thẩm định, phê duyệt các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước và trái phiếu chính phủ. Các công trình chậm triển khai hoặc triển khai không hiệu quả, phân bổ vốn sai thì điều chuyển hoặc thu hồi vốn đâu tư; điều chỉnh tăng vốn đầu tư so với quyết định đầu tư ban đầu thì người quyết định điều chính phải xác định rõ nguồn vốn và bố trí được vốn; thực hiện chuyển đổi hình thức đầu tư các dự án, công trình có đủ điều kiện.

+  Tăng cường công tác quản lý nhằm giảm tối đa nợ đọng xây dựng cơ bản: tổ chức kiểm điểm, xác định rõ trách nhiệm của từng cấp, từng cơ quan (gắn với trách nhiệm cá nhân) trong việc để phát sinh nợ đọng xây dựng cơ bản; tự cân đối các nguồn vốn để xử lý dứt điểm tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản. Các dự án đã được quyết định đầu tư phải thực hiện theo mức vốn kế hoạch đã giao.Không yêu cầu doanh nghiệp ứng vốn thực hiện dự án khi chưa được bố trí vốn, dẫn đến hậu quả phát sinh nợ đọng xây dựng cơ bản. Chỉ được tổ chức lựa chọn nhà thầu đối với các gói thầu đã được bố trí vốn. Đối với các gói thầu đã hoàn thành và bàn giao đưa vào sử dụng, tổ chức nghiệm thu và thanh quyết toán theo đúng hợp đồng đã ký, tránh tình trạng nợ đọng, chiếm dụng vốn của nhà thầu. Lập và điều chỉnh kế hoạch đấu thầu theo tiến độ, kế hoạch vốn được phân bổ của từng dự án; Không sử dụng vốn vay ngân sách địa phương để bố trí cho các dự án khởi công mới khi chưa xác định hoặc thẩm định được nguồn vốn để hoàn trả. Không bố trí vốn ngân sách trung ương cho các dự án khởi công mới chưa được thẩm định nguồn vốn.

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

—————————-

1. Nghị quyết 01/NQ-CP  và NQ 02/NQ-CP ngày 07/1/2013;

2. Chỉ thi số 09/CT-TTg ngày 24/5/2013 và Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 28/6/2013;

3. Wikipedia các nước Trung quốc, Nhật bản, Hàn quốc, Hoa kỳ, ASEAN, EU;

4. Báo cáo tình hình kinh tế xã hội các quý I, II, III, IV của Tổng cục Thống kê;

5. Các Thông cáo báo chí của Bộ Tài chính;

6. Các Báo cáo Thống kê của tổng cục Hải quan;

 

 

 

 

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *