Chuyên đề 1 KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ NĂM 2016 VÀ PHƯƠNG HƯỚNG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ NĂM 2017 TRÊN MỘT SỐ LĨNH VỰC HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA NGÀNH TÀI CHÍNH

MỤC LỤC

Chuyên đề 1: KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ NĂM 2016 VÀ PHƯƠNG HƯỚNG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ NĂM 2017 TRÊN MỘT SỐ LĨNH VỰC HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA NGÀNH TÀI CHÍNH[1] 

TS.CVCC. Nguyễn Việt Cường, Trường Bồi dưỡng cán bộ tài chính

1.1. Kết quả thực hiện nhiệm vụ tài chính – NSNN năm 2016

Nhiệm vụ tài chính – NSNN năm 2016 được triển khai trong bối cảnh tình hình kinh tế – xã hội tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực, song vẫn còn khó khăn, thách thức. Tăng trưởng kinh tế, thương mại toàn cầu thấp hơn dự báo; giá dầu thô và giá nhiều hàng hóa cơ bản ở mức thấp, biến đổi khí hậu diễn biễn thất thường, nhanh hơn dự báo, tác động xấu đến phát triển kinh tế – xã hội và đời sống của người dân.

Trong nước, hoạt động SXKD ở một số ngành, lĩnh vực vẫn duy trì đà tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước[2]; thị trường tài chính tiền tệ ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp[3]; thu hút và giải ngân vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng mạnh[4]… Tuy nhiên, kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội cũng xuất hiện nhiều yếu tố không thuận, từ đó ảnh hưởng đến nguồn thu của NSNN, đáng chú ý là tăng trưởng kinh tế cả năm đạt khoảng 6,21% (không đạt mục tiêu kế hoạch là 6,7%), giá dầu thô dao động ở mức thấp[5]; tình hình rét đậm, rét hại ở miền núi phía Bắc, hạn hán, xâm nhập mặn nghiêm trọng ở Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và lũ lụt ở các tỉnh miền Nam Trung Bộ, ô nhiễm môi trường biển ở một số tỉnh miền Trung; vấn đề mất vệ sinh an toàn thực phẩm, đảm bảo trật tự an toàn xã hội ở một số địa bàn còn nhiều bất cập.

Trong bối cảnh năm 2016 diễn ra Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và tổ chức bầu cử Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp; thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, sự chỉ đạo sát sao, kịp thời của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; sự nỗ lực phấn đấu cao của cả hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân cả nước; cùng với quyết tâm của toàn ngành Tài chính, nhiệm vụ tài chính – NSNN năm 2016 cơ bản đạt và vượt chỉ tiêu dự toán Quốc hội quyết định, Thủ tướng Chính phủ giao, góp phần hoàn thành thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội. Cụ thể trên các mặt chủ yếu như sau:

1.1.1. Điều hành chính sách tài khóa

a) Tập trung tổ chức chỉ đạo quyết liệt công tác thu ngân sách

Nhằm tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện phát triển SXKD, thúc đẩy tăng trưởng, bên cạnh việc chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện tốt các luật thuế và nhiệm vụ thu NSNN năm 2016, Bộ Tài chính đã tiếp tục rà soát để trình cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các chính sách về tài chính, thuế phù hợp với tình hình thực tế và thực hiện các cam kết hội nhập quốc tế, như: trình Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 11 thông qua Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (sửa đổi) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật quản lý thuế; Nghị quyết số 28/2016/QH14 năm 2016 sửa đổi, bổ sung Nghị quyết 55/2010/QH12 năm 2010 của Quốc hội về miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp; trình Quốc hội dự án Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước (sửa đổi), các dự án Nghị quyết Quốc hội về một số giải pháp về giảm thuế nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh sự phát triển doanh nghiệp; dự án Pháp lệnh án phí, lệ phí tòa án; trình Chính phủ Nghị định sửa đổi bổ sung Nghị định số 109/2013/NĐ-CP năm 2013 về xử phạt vi phạm hành chính về giá, hóa đơn, lệ phí; Nghị định về lệ phí trước bạ, Nghị định quy định chi tiết Luật phí và lệ phí…

Ngay từ đầu năm, Bộ Tài chính đã chủ động phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, cấp uỷ và chính quyền địa phương, động viên và tranh thủ sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự ủng hộ của cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, để làm tốt công tác chỉ đạo, điều hành thu NSNN. Chỉ đạo cơ quan Thuế, Hải quan chủ động, quyết liệt triển khai các giải pháp quản lý thu, chống thất thu, chuyển giá, buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế; cưỡng chế thu nợ thuế, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp.

Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan đã đề ra các giải pháp chi tiết để quán triệt, thực hiện thống nhất trong toàn hệ thống. Trên cơ sở dự toán pháp lệnh được giao, Tổng cục Thuế đã tiến hành giao chỉ tiêu phấn đấu thu nội địa năm 2016 cho Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tạo động lực để toàn ngành quyết tâm, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ chính trị. Bên cạnh đó, đã triển khai giao dự toán thu hàng quý theo đúng thời hạn, phù hợp với phát sinh kinh tế của từng địa bàn, làm căn cứ để các Cục Thuế triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ thu hàng tháng, quý phục vụ công tác chỉ đạo điều hành của Bộ, Chính phủ. Tổng cục Hải quan đã chỉ đạo các Cục Hải quan địa phương đẩy mạnh công tác quản lý thu, khai thác nguồn thu, chống thất thu, qua công tác tham vấn giá, xác định trị giá, xác định mã số tính thuế; kiểm tra sau thông quan; tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành để ngăn ngừa, kiểm tra, phát hiện các hành vi gian lận thương mại qua xuất xứ hàng hóa, xác định trọng tâm, trọng điểm các mặt hàng có dấu hiệu kim ngạch bất thường, thuế suất cao.

Từ đầu năm, cơ quan thuế các cấp đã thường xuyên kiểm tra, đối chiếu giữa tình hình thực tế với hệ thống dữ liệu của cơ quan thuế đảm bảo kiểm soát, nắm bắt, theo dõi và quản lý thuế kịp thời. Chú trọng việc rà soát thông tin NNT trên ứng dụng, kịp thời đôn đốc NNT bổ sung thông tin thay đổi gửi cơ quan thuế để cập nhật thông tin phục vụ cho công tác quản lý thuế. Tính từ đầu năm đến ngày 20/12/2016, toàn quốc có 110.270 doanh nghiệp thành lập mới, có 74.922 doanh nghiệp ngừng hoạt động SXKD, giảm 17,7% so với cùng kỳ, có 20.126 doanh nghiệp tạm nghỉ SXKD, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm 2015; có 16.153 doanh nghiệp đang tạm nghỉ kinh doanh nay quay trở lại hoạt động. Như vậy, đến thời điểm 20/12/2016, toàn quốc hiện có 570.888 doanh nghiệp đang hoạt động, tăng 10,8% so với so với cùng kỳ năm 2015. Đẩy mạnh việc giám sát, đôn đốc kê khai thuế, nhờ đó công tác quản lý, giám sát kê khai thuế ngày càng chặt chẽ và tạo được những chuyển biến tích cực. Tổng số tờ khai thuế của cả nước đạt 93% trên tổng số tờ khai phải nộp, tỷ lệ Tờ khai nộp đúng hạn/Tờ khai đã nộp đạt 96%. Số tờ khai không nộp chiếm 7% tổng số Tờ khai phải nộp và giảm 20% so với cùng kỳ năm 2015. Đối với cơ quan hải quan, đã tổ chức thực hiện kiểm soát chặt chẽ hồ sơ, giám sát chặt chẽ hàng hóa xuất khẩu, kịp thời ngăn chặn hành vi xuất khống hàng hóa nhằm mục đích chiếm đoạt tiền thuế GTGT thông qua khấu trừ, hoàn thuế. Tăng cường quản lý, giám sát chặt chẽ hàng tạm nhập – tái xuất, hàng gia công, nhập sản xuất xuất khẩu…Thường xuyên rà soát tài khoản tạm thu, tạm giữ để chuyển nộp ngân sách các khoản quá 90 ngày theo quy định.

Tổng cục Thuế và Tổng cục Hải quan thường xuyên phối hợp với các đơn vị liên quan để tăng cường kiểm tra giám sát chặt chẽ việc kê khai hải quan và kê khai thuế đối với doanh nghiệp có rủi ro cao về thuế nhằm chống các hành vi gian lận, chiếm đoạt tiền hoàn thuế từ NSNN. Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến các chính sách thuế và quản lý thuế mới đến người nộp thuế, đặc biệt là những nội dung về cải cách thủ tục hành chính, hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, qua đó tạo thuận lợi cho người nộp thuế. Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan đã tham mưu giúp Bộ Tài chính hoàn thành việc tổ chức các Hội nghị đối thoại doanh nghiệp năm 2016 giữa Bộ Tài chính với Đại sứ quán Hàn Quốc, Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam; phối hợp với Phòng Thương mại & Công nghiệp Việt Nam tổ chức Hội nghị đối thoại với doanh nghiệp. Đối với Tổng cục Thuế, thực hiện chỉ đạo của Bộ trưởng, đã tiến hành rà soát, lược bỏ các hình thức tuyên truyền lạc hậu, không hiệu quả bằng các hình thức tuyên truyền hiện đại, dễ tiếp cận và mang lại hiệu quả cao, trong đó có việc phối hợp với VTV, VOV tăng dung lượng, tần suất phát sóng, đưa tin các vấn đề về thuế để phản ánh kịp thời những hoạt động về thuế đến gần hơn với người dân và doanh nghiệp.

Về quản lý nợ thuế, Tổng cục Thuế và Tổng cục Hải quan thực hiện việc xây dựng và giao chỉ tiêu thu nợ thuế năm 2016 đến từng đơn vị, chỉ đạo các đơn vị tăng cường áp dụng các biện pháp đôn đốc thu nợ và cưỡng chế nợ thuế theo đúng quy định, quy trình quản lý thu nợ và cưỡng chế nợ thuế; Hàng tháng, xây dựng kế hoạch thu tiền thuế nợ chi tiết đối với từng người nộp thuế, từng khoản thu, sắc thuế, từng địa bàn, khu vực kinh tế, đồng thời, đề ra các biện pháp thực hiện kế hoạch có hiệu quả để đạt được chỉ tiêu. Cơ quan thuế đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan để thực hiện các biện pháp đôn đốc và cưỡng chế thu hồi đối với người nợ thuế có khoản tiền thuế nợ trên 90 ngày và đã hết thời hạn gia hạn nộp thuế. Đã thực hiện công khai thông tin người nợ thuế trên các phương tiện thông tin đại chúng và gửi danh sách các doanh nghiệp có số nợ thuế từ 30 triệu đồng trở lên để các Cục Thuế đôn đốc thu nợ và cưỡng chế nợ thuế.

Công tác thanh tra, kiểm tra tại Tổng cục Thuế và Tổng cục Hải quan được thường xuyên chú trọng: Tổ chức sắp xếp, bố trí nguồn nhân lực để tập trung tối đa cho công tác thanh tra, kiểm tra thuế. Thường xuyên nghiên cứu, đổi mới phương pháp kiểm tra, nâng cao chất lượng phân tích hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thanh, kiểm tra thuế. Bên cạnh đó, toàn hệ thống thuế đã tập trung thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh sử dụng hoá đơn bất hợp pháp; Thanh tra các doanh nghiệp giao dịch qua ngân hàng có dấu hiệu đáng ngờ; chuyển giá; doanh nghiệp lớn nhiều năm chưa được thanh tra, kiểm tra, doanh nghiệp hoàn thuế lớn; Các lĩnh vực phát sinh thuế nhà thầu nước ngoài (xuất khẩu tại chỗ, bản quyền, chuyển giao công nghệ, dịch vụ bảo hành, …); dược phẩm, thiết bị y tế; các doanh nghiệp xã hội hoá; Các doanh nghiệp có rủi ro cao về thuế (kinh doanh hàng nông sản thực phẩm, cà phê xuất khẩu qua đường biên giới đất liền…). Chú trọng sửa đổi, bổ sung quy trình thanh tra, kiểm tra thuế gắn với xây dựng các ứng dụng CNTT phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra. Đồng thời, xây dựng các tài liệu, giáo trình phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn, trao đổi nghiệp vụ nhằm nâng cao năng lực và kỹ năng cho công chức làm công tác thanh tra, kiểm tra thuế.

Năm 2016, cơ quan Thuế đã thực hiện thanh tra, kiểm tra gần 82 nghìn doanh nghiệp, qua đó xử lý tăng thu 14,5 nghìn tỷ đồng (đã thực hiện thu vào ngân sách 9,2 nghìn tỷ đồng); đã đôn đốc, cưỡng chế thu được 42 nghìn tỷ đồng tiền nợ thuế năm 2015 chuyển sang, tăng 12,1% so với năm 2015 (số dư nợ thuế tại thời điểm 31/12/2016 khoảng 72,4 nghìn tỷ đồng, giảm 2% so với thời điểm 31/12/2015); xử lý thu 6,6 nghìn tỷ đồng các khoản Kiểm toán Nhà nước kiến nghị trong quyết toán NSNN năm 2014; đồng thời, đã chuyển cơ quan công an 2.776 hồ sơ vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế. Riêng về thanh tra, kiểm tra chống chuyển giá, 11 tháng đầu năm 2016 ước thực hiện thanh tra, kiểm tra 329 doanh nghiệp có hoạt động giao dịch liên kết truy thu, truy hoàn và phạt 607,52 tỷ đồng; giảm lỗ 5.162,21 tỷ đồng; giảm khấu trừ 2,04 tỷ đồng và điều chỉnh tăng thu nhập chịu thuế 2.121,07 tỷ đồng.

Cơ quan Hải quan đã thực hiện gần 9,3 nghìn cuộc kiểm tra sau thông quan, qua đó xử lý tăng thu cho ngân sách 3,3 nghìn tỷ đồng; đã thực hiện thu hồi và xử lý 499 tỷ đồng số nợ thuế của các tờ khai phát sinh trước ngày 31/12/2015; đã bắt giữ, xử lý gần 15,4 nghìn vụ buôn lậu, tăng thu cho ngân sách 166 tỷ đồng.

Đến ngày 31/12/2016, thu cân đối NSNN ước đạt khoảng 1.094 nghìn tỷ đồng, vượt 79,6 nghìn tỷ đồng (+7,8%) so dự toán, tăng thêm 55 nghìn tỷ đồng so số báo cáo Quốc hội. Trong đó, thu NSĐP đạt 118,6% dự toán (tương ứng vượt 77,8 nghìn tỷ đồng), hầu hết các địa phương đều thu đạt và vượt dự toán được giao (58/63 địa phương); thu NSTW không kể ghi thu, ghi chi viện trợ cho các dự án, cơ bản đạt dự toán.

Kết quả thu năm 2016 do ngành Thuế quản lý ước đạt 884.399 tỷ đồng, bằng 109,3% so dự toán pháp lệnh, bằng 109,9% so với cùng kỳ, trong đó:

– Thu từ dầu thô đạt 40.168 tỷ đồng, bằng 73,7% dự toán.

– Thu nội địa ước đạt 844.214 tỷ đồng, bằng 111,8% dự toán, bằng 114,5% cùng kỳ. Trong đó:

+ Thu tiền sử dụng đất đạt 97.495 tỷ đồng, bằng 195% dự toán, bằng 143,7% cùng kỳ.

+ Thu cổ tức và Lợi nhuận còn lại đạt 74.168 tỷ đồng, bằng 134,9% dự toán, bằng 110,3% so cùng kỳ.

+ Thu nội địa không kể tiền sử dụng đất, cổ tức và Lợi nhuận còn lại đạt 672.550 tỷ đồng, bằng 103,5% dự toán, bằng 111,6% cùng kỳ.

Có 59/63 địa phương hoàn thành đạt và vượt dự toán, còn 4/63 địa phương không hoàn thành dự toán là Bà Rịa Vũng Tàu, Quảng Ngãi, Cà Mau, Kon Tum. Nếu trừ tiền SDĐ có 50/63 địa phương hoàn thành dự toán, còn 13/63 địa phương không hoàn thành dự toán là Bà Rịa Vũng Tàu, Quảng Ngãi, Kon Tum, Hà Tĩnh, Cà Mau, Vĩnh Long, Hà Nội, Lâm Đồng, Quảng Bình, Bình Dương, Cần Thơ, Điện Biên, Bắc Giang.

Số thu ngân sách của hải quan năm 2016 đã đạt 272.239 tỷ đồng, bằng 100,8% dự toán Quốc hội giao, tăng 3,8% so với năm 2015. Một số đơn vị có số thu vượt mức dự toán như Cục Hải quan Hà Nội đạt 109,9%; Cục Hải quan Quảng Ninh đạt 110,4%; Cục Hải quan Đồng Nai đạt 111,9%, Cục Hải quan Bắc Ninh đạt 119%.

Về công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả: Trước diễn biến phức tạp của tình hình hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại, để triển khai chỉ đạo của Chính phủ, Ban Chỉ đạo 389 quốc gia, lãnh đạo Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan đã chỉ đạo các đơn vị trong ngành chủ động thu thập thông tin, nắm vững địa bàn, xây dựng phương án, xác lập chuyên án đấu tranh hiệu quả. Đồng thời, làm tốt vai trò của cơ quan thường trực giúp việc Ban chỉ đạo 389 quốc gia. Với việc triển khai đồng bộ, có hiệu quả các biện pháp đã đưa ra, công tác điều tra chống buôn lậu, gian lận thương mại đã đạt được những kết quả đáng khích lệ: Từ đầu năm đến 15/11/2016, toàn lực lượng hải quan đã chủ trì, phối hợp phát hiện, bắt giữ, xử lý 18.247 vụ việc vi phạm (giảm 20,84% so với cùng kỳ năm 2015), trị giá hàng hóa vi phạm ước tính hơn 378 tỷ đồng (tăng 3,65%), thu ngân sách đạt hơn 156 tỷ đồng (tăng 36,58%); Ban hành 25 quyết định tịch thu hàng vô chủ do không xác định được chủ sở hữu; Xử lý 192/208 containerhàng hóa vi phạm. Công tác khởi tố đạt nhiều kết quả đáng khích lệ, tăng gấp nhiều lần so với năm 2015. Từ đầu năm đến 15/11/2016, cơ quan Hải quan đã khởi tố 39 vụ, tăng 44.44%, đạt 105% so với chỉ tiêu; chuyển cơ quan khác đề nghị khởi tố 91 vụ, tăng 4.6%, đạt 88% so với chỉ tiêu.

b) Quản lý chi chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả

Triển khai Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, ngay từ đầu năm, Bộ Tài chính đã đề nghị các bộ, cơ quan trung ương và địa phương điều hành chi NSNN năm 2016 chặt chẽ theo đúng dự toán được duyệt, bảo đảm sử dụng ngân sách triệt để tiết kiệm, hiệu quả, đúng chế độ quy định, lồng ghép các chính sách, xây dựng phương án tiết kiệm để thực hiện ngay từ khâu phân bổ dự toán và trong quá trình thực hiện; không ban hành các chính sách, chế độ mới làm tăng chi NSNN khi chưa có nguồn đảm bảo; rà soát sắp xếp các nhiệm vụ chi, cắt giảm tối đa các khoản chi tổ chức hội nghị, hội thảo, khánh tiết, hạn chế bố trí kinh phí đi nghiên cứu, khảo sát nước ngoài.

Trong quá trình điều hành, Bộ Tài chính tiếp tục rà soát trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền sửa đổi, bổ sung các chính sách, chế độ chi NSNN, như: trình Chính phủ ban hành Nghị định số 04/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 52/2009/NĐ-CP năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 15/2016/QĐ-TTg về mức chi phí quản lý bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế giai đoạn 2016 – 2018; Quyết định số 08/2016/QĐ-TTg quy định việc mua sắm tài sản nhà nước theo phương thức tập trung; Quyết định số 01/2016/QĐ-TTg về cơ chế, quy trình hỗ trợ kinh phí cho các địa phương để khắc phục hậu quả thiên tai…; ban hành các Thông tư số 06/2016/TT-BTC hướng dẫn việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bầu cử Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021; Thông tư số 08/2016/TT-BTC quy định về quản lý, thanh toán vốn đầu tư sử dụng nguồn NSNN; Thông tư số 20/2016/TT-BTC hướng dẫn thực hiện cơ chế tài chính về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và chi phí quản lý bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; Thông tư số 23/2016/TT-BTC hướng dẫn một số nội dung về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập; Thông tư số 109/2016/TT-BTC quy định lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí thực hiện các cuộc điều tra thống kê, tổng điều tra thống kê quốc gia; Thông tư số 152/2016/TT-BTC quy định quản lý và sử dụng kinh phí đào tạo trình độ sơ cấp và dưới 03 tháng; Thông tư số 319/2016/TT-BTC quy định về việc chuyển nguồn NSNN năm 2016 sang năm 2017…

Hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương tập trung thực hiện quyết liệt, đầy đủ các giải pháp đã đề ra theo Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán NSNN năm 2016, Nghị quyết số 60/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2016, các Nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ; Chỉ thị số 22/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính – NSNN năm 2016; điều hành quản lý chặt chẽ nguồn dự phòng các cấp, tạm giữ lại 50% dự toán chi dự phòng NSTW và NSĐP (đối với những địa phương dự kiến giảm thu) để chủ động xử lý khi nguồn thu NSNN giảm lớn; xử lý vướng mắc về thời hạn thanh toán các dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình bảo vệ và phát triển rừng, dự án thuộc các huyện nghèo, các huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao; thực hiện rà soát, báo cáo về sắp xếp lại xe ô tô công; báo cáo kết quả rà soát các cơ sở nhà, đất và phương án sắp xếp lại, xử lý quỹ nhà, đất của các bộ, ngành đã di dời đến trụ sở mới; ban hành danh mục mua sắm tập trung quốc gia và hướng dẫn quy trình mua sắm tập trung,…

Các bộ, ngành và địa phương đã nghiêm túc tổ chức triển khai các giải pháp đề ra, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán. Cơ quan tài chính và Kho bạc Nhà nước tăng cường công tác quản lý, kiểm soát chi NSNN[6], đảm bảo chặt chẽ, đúng chế độ. Nhờ đó, kỷ luật tài chính được tăng cường, hiệu quả sử dụng NSNN có tiến bộ.

Trong điều kiện cân đối NSTW hết sức khó khăn, Bộ Tài chính đã tham mưu Chính phủ xử lý, điều hành ngân sách chủ động, tích cực nên những nhiệm vụ quan trọng, cấp bách vẫn được đảm bảo thực hiện kịp thời, đầy đủ như đảm bảo kinh phí thực hiện các nhiệm vụ chính trị (kinh phí phục vụ bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp,…), thực hiện điều chỉnh tăng mức lương cơ sở lên 1,21 triệu đồng/tháng từ ngày 01/5/2016, khắc phục hậu quả hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng ở Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, hỗ trợ giống khôi phục sản xuất sau thiên tai[7]. Đã thực hiện xuất cấp trên 152,2 nghìn tấn gạo dự trữ quốc gia để cứu đói, cứu trợ cho nhân dân và hỗ trợ học sinh vùng khó khăn, xử lý sự cố môi trường biển ở một số tỉnh miền Trung.

Về thực hiện vốn đầu tư XDCB, mặc dù Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã có những chỉ đạo sát sao, liên tục, nhưng công tác phân bổ và giải ngân vốn đầu tư năm nay vẫn rất chậm. Ước đến ngày 31/12/2016 giải ngân nguồn vốn NSNN mới đạt 75,7% dự toán, vốn trái phiếu Chính phủ ước đạt 55,2% dự toán Thủ tướng Chính phủ giao (cùng kỳ năm 2015 tương ứng đạt 79% và 72% dự toán).

c) Về cân đối NSNN

Trên cơ sở kết quản thực hiện thu NSNN và rà soát, cắt giảm nhiệm vụ chi chưa thực sự cần thiết, chậm triển khai, cân đối NSTW và ngân sách chính quyền địa phương các cấp cơ bản được đảm bảo được đảm bảo. Bội chi NSNN năm 2016 được điều hành trong phạm vi dự toán Quốc hội quyết định là 254 nghìn tỷ đồng (4,95% GDP[8]).

1.1.2. Hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính

a) Công tác xây dựng thể chế

Theo kế hoạch, Bộ Tài chính được giao xây dựng 91 đề án (03 luật của Quốc hội; 02 nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; 59 nghị định của Chính phủ; 08 quyết định của Thủ tướng Chính phủ; 19 đề án khác). Ngoài ra, Bộ Tài chính còn trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thêm 28 đề án.

Trong năm, Bộ Tài chính đã trình là 119 đề án; trong đó có 62 đề án đã được ký ban hành/ hoàn thành, gồm: 01 Nghị quyết của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 07-NQ/TW về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại NSNN, quản lý nợ công để đảm bảo nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững); 02 luật (Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu sửa đổi; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật quản lý thuế);02 Nghị quyết của Quốc hội (Nghị quyết số 28/2016/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 55/2010/QH12 về miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp; Nghị quyết số 25/2016/QH14 về kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2016 – 2020); 03 Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội (Nghị quyết số 266/2016/UBTVQH14 ban hành các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên của NSNN; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí tòa án; Nghị quyết về việc ban hành Quy chế lập, thẩm tra, quyết định kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia, kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm quốc gia, kế hoạch tài chính – ngân sách nhà nước 3 năm quốc gia, dự toán NSNN, phương án phân bổ NSTW và phê chuẩn quyết toán NSNN hằng năm); 38 nghị định của Chính phủ; 17 quyết định của Thủ tướng Chính phủ; 30 đề án đang làm thủ tục để ký ban hành; soạn thảo và ban hành theo thẩm quyền 328 thông tư.

Nhìn chung, công tác xây dựng thể chế năm 2016 đã đáp ứng được yêu cầu đề ra; các chính sách, chế độ về tài chính – NSNN được sửa đổi, bổ sung, ban hành mới phù hợp với tình hình thực tế và cam kết hội nhập quốc tế, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài chính – NSNN. Trong triển khai thực hiện, đã tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến văn bản, chính sách, chế độ mới; tăng cường đối thoại, hỗ trợ và tư vấn pháp luật về thuế cho doanh nghiệp và người dân.

Về triển khai thực hiện các nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao trong năm 2016 (theo Quyết định số 42/2014/QĐ-TTg năm 2014 và Quyết định số 1642/QĐ-TTg năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ), Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 646/QĐ-BTC về quy chế theo dõi, đánh giá, báo cáo tình hình, kết quả việc thực hiện các nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao và Quyết định số 1851/QĐ-BTC về thành lập Tổ công tác của Bộ Tài chính rà soát, theo dõi các nhiệm vụ được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao. Đồng thời, chỉ đạo các đơn vị thuộc Bộ và cấp dưới tổ chức triển khai thực hiện và cập nhật đầy đủ trên Hệ thống ngay sau khi tiếp nhận chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao. Nhìn chung, trong năm 2016 Bộ Tài chính đã nghiêm túc triển khai đầy đủ, cơ bản hoàn thành các nhiệm vụ được giao, đảm bảo chất lượng, thời hạn theo quy định, đảm bảo kỷ cương, kỷ luật trong việc thực thi công vụ và các nhiệm vụ được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao.

b) Cải cách thủ tục hành chính

Bộ Tài chính đã ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 19-2016/NQ-CP của Chính phủ với 73 giải pháp cụ thể, trọng tâm là lĩnh vực thuế, hải quan (trong đó: lĩnh vực thuế 21 giải pháp, hải quan 39 giải pháp, các lĩnh vực tài chính khác 13 giải pháp) và được chi tiết thành 118 sản phẩm đầu ra; chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP năm 2016 của Chính phủ với 34 giải pháp với 46 sản phẩm đầu ra. Đồng thời, tiếp tục chỉ đạo các đơn vị thuộc Bộ và cấp dưới triển khai đồng bộ các giải pháp, nhiệm vụ đã đề ra, góp phần tích cực cải thiện môi trường kinh doanh, phát triển doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Trong năm 2016, Bộ Tài chính đã thực hiện đánh giá tác động đối với 128 TTHC tại 31 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; rà soát, ban hành 16 quyết định chuẩn hóa 908 TTHC; ban hành 29 quyết định công bố công khai các TTHC thuộc phạm vi quản lý và cập nhật vào cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC; ban hành kế hoạch triển khai Đề án 896 trong năm 2016, theo đó đã rà soát và đề xuất phương án đơn giản hóa đối với 91 TTHC, giấy tờ công dân, bãi bỏ 17 tờ khai và 16 TTHC. Đồng thời, đã trình Chính phủ để ban hành Nghị định về phương án đơn giản hóa TTHC, giấy tờ công dân theo Đề án 896 thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tài chính.

Bộ Tài chính đã hoàn thành 75/118 nhiệm vụ được giao theo Nghị quyết số 19-2016/NQ-CP (trong đó hoàn thành 100% nhiệm vụ giao năm 2016); hoàn thành 29/46 nhiệm vụ được giao theo Nghị quyết số 35/NQ-CP (trong đó hoàn thành 100% nhiệm vụ được giao năm 2016). Trong lĩnh vực thuế, đã thực hiện rà soát và ban hành 07 TTHC, bãi bỏ 92 TTHC; số TTHC trong lĩnh vực thuế đã giảm từ 385 (thời điểm ngày 31/12/2015) xuống còn 300 TTHC, đạt tỷ lệ 22,1% (yêu cầu là giảm tối thiểu 10%). Tiếp tục mở rộng hệ thống khai thuế qua mạng cho doanh nghiệp; mở rộng triển khai dịch vụ nộp thuế điện tử; hoàn thành việc cấp mã số thuế tự động; triển khai thí điểm việc hoàn thuế điện tử tại 05 Cục thuế (Hà Nội, Đồng Nai, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Bình Dương).

Tính đến 30/11/2016, Tổng cục Thuế đã thực hiện khai thuế qua mạng Internet đối với 99,7% số doanh nghiệp đang thuộc diện quản lý thuế; Đã triển khai dịch vụ nộp thuế điện tử tại 63/63 tỉnh, thành phố, số lượng doanh nghiệp đã đăng ký tham gia sử dụng dịch vụ với cơ quan thuế đạt tỷ lệ 96,7%. Số lượng doanh nghiệp thực tế sử dụng dịch vụ NTĐT đạt trên 93%, với số tiền đã nộp NSNN từ đầu năm đạt trên 404 nghìn tỷ đồng. Tiếp tục nghiên cứu để triển khai việc hoàn thuế điện tử. Nhờ những nỗ lực cải cách trong năm qua và năm 2016, theo Báo cáo môi trường kinh doanh năm 2017 vừa được WB công bố, thứ hạng nộp thuế của Việt Nam tăng 11 bậc so với BC năm 2016 (từ 178 lên thứ hạng 167, trong tổng số 190 quốc gia, vùng lãnh thổ), nếu xét trong 10 chỉ số của BC môi trường kinh doanh nói chung của Việt Nam, theo xếp hạng của WB, thì thuế là chỉ tiêu có mức độ tăng điểm nhiều nhất: từ 38.36 điểm % năm 2016 lên 49.39 điểm % năm 2017, tăng 11 điểm %.

Trong lĩnh vực hải quan, đã thực hiện thủ tục hải quan điện tử tại tất cả các đơn vị hải quan; triển khai cổng thanh toán điện tử tại 34/34 Cục hải quan; triển khai hệ thống tiếp nhận, xử lý thông tin lược khai hàng hóa điện tử (e-Manifest) tại các cảng biển; triển khai hệ thống thông quan điện tử tự động (VNACSS/VCIS), cơ bản các quy trình, thủ tục hải quan đã được tự động hóa trên phạm vi toàn quốc. Cơ chế một cửa Quốc gia đã kết nối với 10/14 bộ[9], ngoài thủ tục thông quan hàng hóa, đã thực hiện 36 TTHC thông qua Cơ chế một cửa quốc gia. Đến nay, cơ quan Hải quan đã cung cấp 181 dịch vụ công trực tuyến (trong đó mức độ 3 và 4 có 119 dịch vụ) liên quan đến TTHC hải quan…Qua đó góp phần cắt giảm chi phí, thời gian thực hiện các TTHC về XNK hàng hóa của doanh nghiệp.

Hệ thống Kho bạc Nhà nước tiếp tục mở rộng kết nối, tăng cường hoạt động thu, chi qua các ngân hàng; thí điểm triển khai kiểm soát chi, đăng ký mở tài khoản và tiếp nhận thông tin về cam kết chi qua mạng điện tử, nhằm cải cách cung cấp dịch vụ công trực tuyến, góp phần tăng cường quản lý thu, chi NSNN, cải cách thủ tục hành chính và công khai, minh bạch.

1.1.3. Đẩy mạnh tái cơ cấu đầu tư công, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước và thị trường tài chính

a) Về tái cơ cấu đầu tư công

Bộ Tài chính đã chủ động tham gia với các bộ, ngành về kế hoạch đầu tư công trung hạn gắn với kế hoạch tài chính – ngân sách giai đoạn 2016-2020; trình Thủ tướng Chính phủ kiến nghị giải pháp xử lý khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện các quy định của Luật đầu tư công, Luật xây dựng có tác động đến giải ngân vốn đầu tư; phối hợp với các bộ, ngành, địa phương triển khai các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch đầu tư công năm 2016 theo Nghị quyết số 60/NQ-CP của Chính phủ.

Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, bảo đảm việc sử dụng nguồn vốn đầu tư từ NSNN, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn ODA, vốn tín dụng đầu tư nhà nước có hiệu quả; kiểm soát chi chặt chẽ thông qua hệ thống Kho bạc Nhà nước, đảm bảo đúng quy định.

b) Về tái cơ cấu thị trường tài chính

– Đối với thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu: Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thị trường chứng khoán, như: hướng dẫn quản lý giao dịch trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương; yêu cầu các công ty đại chúng, doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa phải đăng ký, lưu ký chứng khoán tập trung và đăng ký giao dịch, niêm yết trên thị trường chứng khoán; bổ sung quy định về chế tài xử lý phạt vi phạm hành chính trong lĩnh chứng khoán tại Nghị định số 145/2016/NĐ-CP sửa đổi Nghị định số 108/2013/NĐ-CP; hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường chứng khoán phái sinh và sản phẩm covered warrant để đảm bảo đưa vào vận hành năm 2017; đồng thời, đẩy nhanh tiến độ ban hành Nghị định quy định về quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng nhằm nâng cao tính minh bạch cho thị trường.

Đẩy mạnh quá trình tái cấu trúc thị trường chứng khoán, triển khai các giải pháp nhằm cải thiện thanh khoản cho thị trường thông qua việc rút ngắn chu kỳ thanh toán, triển khai hệ thống cấp mã số trực tuyến cho nhà đầu tư nước ngoài, hướng dẫn các công ty đại chúng đăng ký nới room (nâng hạn mức đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài) theo quy định. Đồng thời, tích cực triển khai nghiên cứu các chính sách, giải pháp liên quan đến quỹ đầu tư, quỹ hưu trí tự nguyện để thu hút các dòng vốn từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước nhằm hỗ trợ cho thị trường chứng khoán và kênh dẫn vốn ngân hàng[10]. Công tác thanh tra, kiểm tra được tăng cường, xử lý kịp thời các vi phạm, tăng cường niềm tin cho nhà đầu tư.

Hoạt động thị trường ổn định, tính thanh khoản của thị trường được cải thiện so với các năm trước. Quy mô vốn hóa thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu đạt tỷ lệ khoảng 70,9% GDP (năm 2015 là 56,5% GDP). Trong đó, quy mô vốn hóa thị trường chứng khoán tăng khoảng 43% so với cuối năm 2015 và đạt tỷ lệ khoảng 43,3% GDP (năm 2015 là 32,4% GDP); tổng mức vốn huy động trên thị trường (chưa bao gồm phát hành riêng lẻ) đạt khoảng 355 nghìn tỷ đồng, tăng 18% so với năm 2015. Quy mô thị trường trái phiếu đạt khoảng 27,6% GDP (trong đó trái phiếu Chính phủ khoảng 19,06% GDP, trái phiếu Chính phủ bảo lãnh khoảng 3,59% GDP, trái phiếu chính quyền địa phương khoảng 0,61% GDP và trái phiếu doanh nghiệp khoảng 4,37% GDP).

Về TPCP: Đến ngày 7/12/2016 đã hoàn thành kế hoạch phát hành năm 2016 ở mức 281.000 tỷ đồng tương đương 99,87% kế hoạch phát hành với 90% khối lượng phát hành có kỳ hạn từ 5 năm trở lên (vượt mục tiêu do Quốc hội đề ra là 70% khối lượng phát hành TPCP có kỳ hạn từ 5 năm trở lên).

Về phát hành trái phiếu doanh nghiệp: năm 2016, tổng khối lượng phát hành TPDN là 78.000 tỷ đồng, tăng khoảng 80% so với năm 2015.

– Đối với thị trường bảo hiểm: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật để từng bước tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho sự phát triển lành mạnh và bền vững của thị trường, đáp ứng các cam kết về hội nhập quốc tế; tiếp tục thực hiện các giải pháp tái cấu trúc các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, thông qua việc tăng cường năng lực quản trị và hoạt động của doanh nghiệp, mở rộng các sản phẩm dịch vụ bảo hiểm… Đồng thời, tăng cường công tác giám sát, nâng cao năng lực tài chính các doanh nghiệp bảo hiểm thông qua 04 nhóm giải pháp: củng cố, phát triển, kiện toàn mô hình tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm; nâng cao mức độ an toàn tài chính và hiệu quả hoạt động đầu tư; đẩy mạnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm; tăng cường quản trị rủi ro doanh nghiệp bảo hiểm theo thông lệ quốc tế. Thị trường bảo hiểm đã hoàn thành toàn bộ các chỉ tiêu đề ra tại chiến lược phát triển ngành bảo hiểm đến năm 2020. Công tác tái cấu trúc doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) về cơ bản hoàn thành đúng lộ trình và đạt được kết quả tích cực: 46/47 DNBH bảo đảm khả năng thanh toán, các DNBH bảo đảm đáp ứng nhu cầu trả tiền bồi thường và chi trả quyền lợi bảo hiểm; các sản phẩm bảo hiểm tăng cả về số lượng và chất lượng, mạng lưới hoạt động, kênh phân phối được mở rộng và chuyên nghiệp hóa, chất lượng dịch vụ được nâng cao, thông tin về DNBH được công khai, minh bạch.

Năm 2016, tổng doanh thu phí bảo hiểm ước đạt 86 nghìn tỷ đồng, tăng 22,7% so với năm 2015; tổng tài sản 239,4 nghìn tỷ đồng, tăng 18,2% so với năm 2015; đầu tư trở lại nền kinh tế 186,57 nghìn tỷ đồng, tăng 16,5% so với năm 2015; chi trả quyền lợi bảo hiểm 25,87 nghìn tỷ đồng. Bảo hiểm ngày càng thể hiện vai trò là bệ đỡ của doanh nghiệp trong quá trình hội nhập và phát triển nền kinh tế thị trường.

– Đối với thị trường xổ số và trò chơi có thưởng: Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện khung pháp lý đối với các lĩnh vực kinh doanh đặt cược, casino, trò chơi điện tử có thưởng nhằm đảm bảo công khai, minh bạch và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người chơi; triển khai sản phẩm xổ số điện toán ra thị trường. Đồng thời, tăng cường công tác quản lý, giám sát thị trường, đảm bảo phát triển lành mạnh, đúng định hướng.

– Dịch vụ kế toán, kiểm toán

Doanh thu năm 2016 của các công ty dịch vụ kế toán, kiểm toán ước đạt 5,2 tỷ đồng, tăng 2% so với năm 2015 (5,13 tỷ đồng). Trong năm 2016, có 10 doanh nghiệp kiểm toán thành lập mới và có 353 Giấy chứng nhận được cấp mới cho kiểm toán viên hành nghề.

c) Về tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước

Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các đề án, chính sách về sắp xếp, đổi mới quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước; sửa đổi, bổ sung Nghị định số 151/2013/NĐ-CP năm 2013 về chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC); Nghị định thay thế Nghị định số 57/2014/NĐ-CP năm 2014 về Điều lệ tổ chức và hoạt động của SCIC; Nghị định ban hành Quy chế quản lý tài chính của Tập đoàn Điện lực Việt Nam.

Bộ Tài chính đã trình Thủ tướng Chính phủ đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2016 – 2020. Đồng thời tích cực phối hợp, đôn đốc các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước khẩn trương triển khai thực hiện tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước.

Trong năm 2016, đã có 56 doanh nghiệp được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án cổ phần hóa (trong đó có 6 tổng công ty[11]). Tổng vốn điều lệ theo phương án được phê duyệt là 24.379 tỷ đồng, trong đó nhà nước nắm giữ 11.937 tỷ đồng (bằng 48,97% vốn điều lệ), bán cho nhà đầu tư chiến lược 7.670 tỷ đồng (bằng 31,46% vốn điều lệ), bán cho người lao động 388 tỷ đồng (bằng 1,59% vốn điều lệ), tổ chức công đoàn 8 tỷ đồng (bằng 0,03% vốn điều lệ), số lượng cổ phần bán đấu giá công khai là 4.374 tỷ đồng (bằng 17,94% vốn điều lệ).

Các tập đoàn, tổng công ty đã thoái vốn 5.149 tỷ đồng, thu về 18.832 tỷ đồng[12].

1.1.4. Tăng cường quản lý thị trường, giá cả, kiểm soát lạm phát

Ngay từ đầu năm, Bộ Tài chính đã tập trung nghiên cứu, xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý giá[13]; đồng thời chủ động phối hợp với các bộ, ngành liên quan và các địa phương thực hiện quản lý, điều hành đối với các mặt hàng quan trọng, thiết yếu như: xăng dầu, sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi, cước dịch vụ vận tải, dịch vụ khám, chữa bệnh, dịch vụ giáo dục,… theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2016. Cụ thể:

a) Về điều hành giá một số hàng hóa, dịch vụ quan trọng thiết yếu

Đối với giá xăng dầu: Bộ Tài chính đã theo dõi sát diễn biến giá xăng dầu thế giới, thị trường xăng dầu trong nước; đồng thời, phối hợp chặt chẽ với Bộ Công Thương điều hành giá xăng dầu một cách phù hợp, áp dụng các biện pháp bình ổn giá thông qua các công cụ tài chính và Quỹ bình ổn giá xăng dầu nhằm góp phần ổn định thị trường, không để giá tăng quá cao, gây tác động bất lợi đến phát triển kinh tế xã hội, mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội. Trong điều hành quán triệt nguyên tắc thực hiện công khai minh bạch để mọi tầng lớp xã hội tham gia kiểm tra, giám sát.Giá xăng dầu tiếp tục điều hành theo quy định tại Nghị định số 83/2014/NĐ-CP về kinh doanh xăng dầu. Liên Bộ Công thương – Tài chính đã 24 lần điều hành giá xăng dầu, kết hợp với sử dụng Quỹ bình ổn giá.

Đối với giá điện: Đã giữ ổn định giá bán lẻ điện bình quân theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Trong năm 2016, Bộ Tài chính (Cục Quản lý giá) đã báo cáo kịp thời các nội dung liên quan đến giá điện; phối hợp với Bộ Công Thương xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật đối với giá điện (Quyết định thay thế Quyết định số 69/2016/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ …); xây dựng khung giá bán lẻ điện bình quân cho giai đoạn 2016-2020; phối hợp với Bộ Công Thương kiểm tra giá thành sản xuất kinh doanh điện năm 2015 để thực hiện công khai theo quy định.

Đối với giá sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi: Trong năm 2016, Bộ Tài chính tiếp tục chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương thực hiện biện pháp bình ổn giá sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi theo Nghị quyết số 29/NQ-CP ngày 02/5/2014 và Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 30/4/2015 của Chính phủ. Tính đến ngày 30/11/2016, đã có 910 sản phẩm sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi được công bố giá tối đa, giá đăng ký, giá kê khai trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ Tài chính và Sở Tài chính các địa phương.

Đối với giá thóc, gạo: Bộ Tài chính đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công bố giá mua thóc định hướng tại khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Căn cứ mức giá thành sản xuất lúa, các đơn vị tổ chức thu mua lúa bảo đảm mức lãi cho người nông dân.

Đối với giá cước vận tải bằng ô tô: Trong 2 tháng đầu năm 2016, trước diễn biến tiếp tục giảm của giá xăng dầu, Bộ Tài chính đã có văn bản chỉ đạo, tăng cường công tác quản lý, bình ổn thị trường, giá cả hàng hóa dịch vụ thiết yếu trong đó có giá cước vận tải bằng xe ô tô là dịch vụ chịu tác động trực tiếp của giá xăng, giá dầu. Đồng thời, phối hợp chặt chẽ với Bộ Giao thông vận tải thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành, ban hành các văn bản chỉ đạo các địa phương tăng cường công tác quản lý giá cước vận tải, thanh tra, kiểm tra và yêu cầu các đơn vị vận tải kê khai giảm giá phù hợp với diễn biến giảm của giá xăng dầu.

Theo đó, các địa phương đều có văn bản chỉ đạo điều hành về giá cước vận tải. Từ đó đến nay, mặc dù giá xăng dầu chủ yếu có xu hướng tăng (cá biệt có một vài lần giảm nhẹ) nhưng qua nắm tình hình diễn biến giá cước vận tải trên thị trường cơ bản ổn định, không có biến động lớn.

Đối với giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh: Thực hiện Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC ngày 29/10/2015 của Liên Bộ Y tế- Bộ Tài chính quy định giá dịch vụ KBCB BHYT thống nhất giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc, giá dịch vụ KBCB BHYT được điều chỉnh theo lộ trình 2 bước: bước 1 giá gồm chi phí trực tiếp và kết cấu thêm chi phí phụ cấp đặc thù; bước 2 gồm mức giá của bước 1 và kết cấu thêm chi phí tiền lương. Theo đó, từ ngày 1/3/2016, các cơ sở khám, chữa bệnh trên toàn quốc đã thực hiện mức giá của bước 1, tác động làm tăng CPI tháng 3/2016 khoảng 1,27%. Việc thực hiện mức giá bước 2 được chia làm nhiều đợt (theo tỉ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế): trong tháng 8, tháng 10 và tháng 11 triển khai tại 32 địa phương trên cả nước, qua đó tác động vào CPI tháng 8 khoảng 0,28%, tác động vào CPI tháng 10 khoảng 0,5% và tác động vào CPI tháng 11 khoảng 0,03%. Các địa phương còn lại, theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng-Trưởng ban Chỉ đạo điều hành giá, Bộ Y tế sẽ chủ trì báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định thực hiện vào thời điểm thích hợp (dự kiến để sang năm 2017) nhằm bảo đảm mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2016 dưới 5%.

Về cơ bản, việc điều hành và thực hiện giá dịch vụ KBCB BHYT theo Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC ngày 29/10/2015 trong thời gian qua là thành công, đảm bảo theo sát mục tiêu kiểm soát lạm phát, tạo điều kiện đổi mới quản lý đơn vị sự nghiệp công lập, nâng cao chất lượng dịch vụ và không gây tác động lớn đến mặt bằng giá và đời sống nhân dân.

Đối với giá dịch vụ giáo dục: Bộ Tài chính đã phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo có văn bản chỉ đạo đối với các địa phương trong việc xây dựng và cân nhắc lộ trình điều chỉnh giá dịch vụ giáo dục tại địa phương bảo đảm mục tiêu kiểm soát lạm phát. Thực hiện Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ, trong tháng 9/2016, cả nước có 53 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng học phí các cấp học năm học 2016 – 2017 làm cho chỉ số giá nhóm giáo dục bình quân 9 tháng đầu năm tăng 4,83% so cùng kỳ năm trước, đóng góp 0,28% vào mức tăng chung của CPI 9 tháng đầu năm 2016 so với cùng kỳ năm trước.

b) Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật về giá

Năm 2016, Bộ Tài chính (Cục Quản lý giá) đã phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, địa phương tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm soát thị trường giá cả; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật về quản lý thị trường, pháp luật về quản lý giá, thuế, phí. Trong đó, Cục Quản lý giá đã:

– Chủ trì tổ chức 03 đoàn công tác kiểm tra nắm tình hình triển khai thực hiện công tác quản lý và bình ổn giá dịp Tết Nguyên đán Bính Thân 2016[14]; đồng thời, tham gia đoàn công tác liên ngành (Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng nhà nước Việt Nam) làm việc tại một số địa phương[15] về công tác chuẩn bị hàng hóa phục vụ Tết.

– Phối hợp với Thanh tra Bộ triển khai 02 đoàn thanh tra đối với 02 doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối[16].

– Phối hợp với Bộ Y tế thực hiện kiểm tra tại 15 bệnh viện trung ương, tỉnh, huyện về việc triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC ngày 29/10/2016.

– Chủ trì, tổ chức triển khai 18 đoàn kiểm tra đối với các doanh nghiệp SXKD đối với 14 mặt hàng, dịch vụ[17] bao gồm: Mặt hàng vắc-xin phòng bệnh cho gia súc, gia cầm, thóc – gạo tẻ thường, phân đạm urê – NPK, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn chăn nuôi, xi măng, thép xây dựng, nước sạch, than, khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG), giá dịch vụ cảng biển, giá dịch vụ khám chữa bệnh, dịch vụ viễn thông, dịch vụ thẩm định giá, với 83 đơn vị được kiểm tra. Triển khai thanh tra việc chấp hành pháp luật về thẩm định giá đối với 02 doanh nghiệp thẩm định giá. Qua thanh tra, kiểm tra đã nhắc nhở và hướng dẫn các đơn vị thực hiện việc đăng ký giá, kê khai giá, niêm yết giá và chấp hành pháp luật về giá theo đúng quy định của pháp luật hiện hành; tiến hành lập 03 biên bản vi phạm hành chính đối với doanh nghiệp thẩm định giá theo quy định của pháp luật.

– Thường xuyên tiến hành rà soát kiểm tra giá trên cơ sở hồ sơ kê khai giá của doanh nghiệp đối với danh mục hàng hóa, dịch vụ kê khai giá tại Bộ Tài chính như than, xi măng, thép xây dựng, phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc bảo vệ thực vật, lúa gạo, sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi.

Tại địa phương, Sở Tài chính các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cũng phối hợp với Sở Công Thương, Chi cục Quản lý thị trường, Cục thuế… tăng cường kiểm tra, thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về quản lý giá, thuế, phí, đặc biệt đối với những hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thiết yếu trên địa bàn.

c) Công tác tổng hợp, phân tích, dự báo diễn biến giá thị trường và công tác thông tin tuyên truyền

Trên cơ sở theo dõi sát tình hình giá cả thị trường và báo cáo của các Sở Tài chính, các doanh nghiệp, các Hiệp hội ngành hàng và cơ quan liên quan, Bộ Tài chính (Cục Quản lý giá) đã xây dựng các báo cáo đánh giá về diễn biến cung cầu, giá cả thị trường định kỳ 15 ngày và tháng theo đúng tiến độ quy định; Đồng thời, chuẩn bị các báo cáo phục vụ phiên họp Chính phủ thường kỳ, báo cáo triển khai thực hiện Nghị quyết 01/NQ-CP, báo cáo họp Ban Chỉ đạo điều hành giá của Thủ tướng Chính phủ, báo cáo họp Tổ điều hành Kinh tế vĩ mô, Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia, Tổ điều hành Thị trường trong nước, báo cáo phân tích chỉ số giá và các báo cáo đột xuất khác phục vụ cho công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành và bình ổn giá của các cấp lãnh đạo. Nhờ vậy, đã góp phần có giải pháp kịp thời điều hành giá bảo đảm mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.

Về công tác thông tin tuyên truyền: Năm 2016, Bộ Tài chính đã thực hiện tốt công tác thông tin tuyên truyền công khai thông tin về giá nhằm tạo sự đồng thuận trong dư luận xã hội. Theo đó, các cơ chế chính sách về quản lý giá, thẩm định giá đã được tuyên truyền một cách rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng bằng nhiều hình thức khác nhau, như: tổ chức họp báo chuyên đề; trả lời phỏng vấn các cơ quan báo chí, truyền thông; đăng tải thông tin về quản lý, điều hành giá như: số dư Quỹ bình ổn giá xăng dầu, Danh mục sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi đăng ký giá, kê khai giá, danh sách doanh nghiệp thẩm định giá được cấp phép hành nghề… trên cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính; thực hiện các bài viết đăng tải trên Tạp chí Thị trường giá cả về cơ chế chính sách tài chính, giá cả; diễn biến thị trường giá cả của các mặt hàng quan trọng, thiết yếu và giải pháp điều hành giá của cơ quan chức năng, về cơ chế chính sách mới thuộc các lĩnh vực khác của ngành Tài chính như: thuế, hải quan, tài chính doanh nghiệp…

Tổ chức 03 cuộc Hội thảo, Hội nghị phục vụ công tác xây dựng, tuyên truyền văn bản QPPL, cụ thể: Hội thảo xin ý kiến dự thảo Thông tư ban hành Tiêu chuẩn thẩm định giá Bất động sản tại TP.Hồ Chí Minh ngày 28/4/2016; Hội thảo xin ý kiến dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 177/2013/NĐ-CP tại TP.Ninh Bình ngày 16-17/5/2016; Hội nghị phổ biến, triển khai Nghị định số 149/NĐ-CP và Thông tư số 233/2016/TT-BTC ngày 11/11/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 56/2014/TT-BTC; các Thông tư về giá dịch vụ (chuyển từ danh mục phí sang giá) thuộc thẩm quyền Bộ Tài chính ban hành (Hội nghị tại Hòa Bình ngày 15/12/2016).

d) Công tác xây dựng Cơ sở dữ liệu Quốc gia về giá và quản lý nhà nước về thẩm định giá

Triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về giá theo quy định của pháp luật về giá, Bộ Tài chính (Cục Quản lý giá) đã xây dựng kho dữ liệu nội bộ về giá phục vụ công tác quản lý nhà nước của Bộ cũng như bước đầu góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về giá. Hiện nay đang tiến hành sàng lọc, nhập liệu vào kho dữ liệu. Đồng thời, đã đưa vào vận hành trang tin điện tử của Trung tâm Dịch vụ Quốc gia và Dịch vụ về giá tại địa chỉ: http://trungtamquocgiagia.vn là đầu mối để các Sở Tài chính, các đơn vị, tổ chức liên hệ thực hiện việc kết nối dữ liệu với Trung tâm Dữ liệu Quốc gia về giá.

Ngày 24/10/2016, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 2309/QĐ-BTC về việc phê duyệt chủ trương đầu tư dự án “Xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về giá giai đoạn 1”. Trong thời gian tới, Bộ Tài chính (Cục Quản lý giá phối hợp với Cục Tin học và Thống kê Tài chính và các đơn vị liên quan) sẽ triển khai xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về giá giai đoạn 1 (2016-2018) trong đó tập trung xây dựng phần mềm dự báo CPI ngắn hạn, xây dựng kho dữ liệu tập trung, chuyển hóa các dữ liệu quá khứ, kết nối dữ liệu với các đơn vị trong ngành tài chính và khoảng 20 Sở Tài chính, 10 doanh nghiệp thẩm định giá… Giai đoạn 2 (2018 – 2020) sẽ mở rộng kết nối dữ liệu giá với các Bộ, ngành, các Sở Tài chính, các doanh nghiệp thẩm định giá, một số tập đoàn, tổng công ty, hiệp hội ngành hàng, siêu thị… trên phạm vi cả nước

Trong năm 2016, Bộ Tài chính tiếp tục chú trọng, tăng cường hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực thẩm định giá: tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về thẩm định giá trong đó ban hành Tiêu chuẩn Thẩm định giá Việt Nam số 11 về thẩm định giá bất động sản (Thông tư số 145/2016/TT-BTC ngày 06/10/2016); tổ chức kỳ thi thẩm định viên về giá lần thứ XI, tổ chức thường xuyên công tác đào tạo, cập nhật và bồi dưỡng kiến thức về thẩm định giá cho các thẩm định viên về giá hành nghề, cán bộ công chức làm công tác giá; cấp Giấy Chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá cho doanh nghiệp, tăng cường các hoạt động thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật về thẩm định giá; triển khai một số Hội đồng thẩm định giá tài sản nhà nước…

Các giải pháp đã triển khai mang lại kết quả tích cực, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12 tăng 4,74% so với tháng 12/2015; bình quân cả năm 2016 tăng 2,66% so với năm 2015; lạm phát cơ bản bình quân năm 2016 tăng 1,83% so với năm 2015.

1.1.5. Công tác huy động vốn; điều hành ngân quỹ và kiểm soát chi

a) Công tác huy động vốn cho NSNN và cho đầu tư phát triển

Để đảm bảo cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước (NSNN), nhiệm vụ huy động vốn năm 2016 được Quốc hội phê duyệt ở mức trên 450.000 tỷ đồng, trong đó huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ (TPCP) là 286.600 tỷ đồng (tăng khoảng 10% so với năm 2015).

Bộ Tài chính (KBNN) đã chủ động bám sát các diễn biến của thị trường, tranh thủ các điều kiện thuận lợi, tham mưu với các cấp lãnh đạo và tổ chức triển khai các giải pháp tổ chức phát hành TPCP trong nước nhằm huy động tối đa nguồn vốn cho NSNN và cho đầu tư phát triển, cụ thể như sau:

Thứ nhất: Trên cơ sở kế hoạch nhiệm vụ huy động vốn cả năm, hàng quý, KBNN đã xây dựng lịch biểu phát hành chi tiết hàng năm, kế hoạch phát hành hàng quý và năm, công bố rộng rãi trên website và các đơn vị có liên quan nhằm giúp các nhà đầu tư nắm rõ thông tin và chủ động bố trí nguồn vốn khi tham gia thị trường.

Thứ hai: Chủ động, linh hoạt trong công tác tổ chức phát hành: thường xuyên trao đổi với thành viên thị trường để đưa ra khối lượng, kỳ hạn phát hành phù hợp; Điều chỉnh tăng tần suất hoặc phát hành thêm trái phiếu để đảm bảo khối lượng vốn cho NSNN và điều hành nguồn cung trái phiếu ra thị trường đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư, đồng thời tăng khả năng thu hút vốn cho NSNN.

Thứ ba: Phối hợp chặt chẽ với các đơn vị liên quan thuộc Bộ trong công tác phát hành trái phiếu, đặc biệt trong việc mở rộng cơ sở nhà đầu tư, nâng tỷ trọng đầu tư nước ngoài từ mức 8,35% (năm 2015) lên 12,38% (năm 2016), trong đó đã phát hành được 1 khối lượng lớn trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 15, 20 và 30 năm cho các doanh nghiệp bảo hiểm.

Thứ tư: Trong phạm vi khung lãi suất Bộ Tài chính quy định, đã thường xuyên theo dõi, phân tích diễn biến tình hình thị trường để điều hành linh hoạt lãi suất phát hành TPCP vừa phù hợp với tình hình thị trường, vừa đảm bảo khả năng huy động vốn cho NSNN với chi phí hợp lý, các nhà đầu tư có thể chấp nhận được và đảm bảo phù hợp với định hướng điều hành chính sách tiền tệ trong năm 2016.

Thứ năm: Phối hợp các đơn vị công bố đầy đủ, kịp thời và minh bạch các thông tin liên quan đến công tác phát hành thanh toán trái phiếu (thông báo phát hành, kết quả phát hành, lịch biểu thanh toán….), tổ chức thanh toán gốc, lãi trái phiếu kịp thời để giữ niềm tin với các nhà đầu tư.

Với việc triển khai có hiệu quả những biện pháp trên, công tác huy động vốn thông qua phát hành TPCP năm 2016 qua KBNN đã đạt kết quả tương đối khả quan cả về khối lượng và chất lượng, cụ thể như sau:

Về khối lượng: KBNN huy động được 281.750,2 tỷ đồng, đạt 98,3% kế hoạch năm 2016, góp phần tích cực vào cân đối NSNN và bổ sung nguồn vốn cho đầu tư các công trình trọng điểm theo Nghị quyết của Quốc hội. Bên cạnh đó, để hỗ trợ vốn cho NSNN, KBNN dự kiến phát hành 30.000 tỷ đồng TPCP cho Bảo hiểm Xã hội Việt Nam và phát hành thành công tín phiếu kho bạc để điều hành ngân quỹ (vay và trả nợ trong năm) với tổng khối lượng là 49.600 tỷ đồng.

Về kỳ hạn: Năm 2016, tỷ trọng trái phiếu có kỳ hạn từ 5 năm trở lên chiếm 91% tổng khối lượng huy động, trong đó kỳ hạn dài từ 10-30 năm chiếm 24%, đảm bảo tuân thủ giới hạn về kỳ hạn trái phiếu theo Nghị quyết số 99/2015/QH13 về dự toán NSNN năm 2016 mà Quốc hội đề ra. Kỳ hạn vay bình quân năm 2016 đạt 8,77 năm, tăng 1,79 năm so với năm 2015. Nhờ đó, kỳ hạn còn lại của danh mục nợ TPCP được nâng từ mức 4,44 năm (năm 2015) lên mức lên 5,70 năm (năm 2016), giúp bền vững cơ cấu nợ công, giảm áp lực trả nợ của NSNN trong ngắn hạn theo đúng tinh thần Nghị quyết của Bộ chính trị về cơ cấu lại NSNN và nợ công giai đoạn 2016-2020.

Về lãi suất: Lãi suất phát hành TPCP năm 2016 được điều hành theo sát lãi suất thị trường, phù hợp với mặt bằng lãi suất chung, tiết kiệm chi phí vay nợ cho NSNN với mức lãi suất bình quân năm 2016 là 6,49%/năm.

So sánh với giai đoạn 2011 – 2015, để đạt được khối lượng vốn và mức kỳ hạn vay bình quân như năm 2016, lãi suất TPCP năm 2016 đã tiết kiệm hàng chục ngàn tỷ đồng cho NSNN mỗi năm, cụ thể:

Bảng 1.1. Lãi suất TPCP qua các năm

Năm 2011 2012 2013 2014 2015 2016
Lãi suất bình quân

(%/năm)

11,94 9,8 7,79 6,54 6,36 6,49
Kỳ hạn bình quân

(năm)

4,18 2,92 3,2 4,48 6,98 8,74
Lãi suất giả định tương ứng kỳ hạn năm 2016

(%/năm)

13 12,1 9,2 7,6 6,8
Chi phí tiết kiệm cho NSNN

(tỷ đồng)

18.342 15.806 7.635 3.127 873

Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác tài chính ngân sách 2016

Về cơ cấu nhà đầu tư: Cơ cấu nhà đầu tư trên thị trường được cải thiện theo đúng mục tiêu đề ra tại Lộ trình phát triển thị trường TPCP đến năm 2020, trong đó tỷ trọng nhà đầu tư nước ngoài tăng lên so với năm 2015, từ 8,35% (năm 2015) lên 12,38% (năm 2016); tỷ trọng nhà đầu tư là các công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư, công ty tài chính tăng so với năm 2015, từ 14,62% (năm 2015) lên 20,13% (năm 2016), tiến tới xây dựng thị trường theo hướng bền vững, giảm dần sự phụ thuộc của thị trường TPCP vào khối các NHTM.

Ngoài ra trong năm 2016, KBNN đã tổ chức thành công đợt hoán đổi kéo dài kỳ hạn trái phiếu, trong đó 6 mã trái phiếu từ kỳ hạn 4 – 6 năm được hoán đổi thành các trái phiếu có kỳ hạn từ 8 -30 năm, tổng khối lượng trái phiếu hoán đổi thành công là 2.765 tỷ đồng, góp phần kéo dài kỳ hạn bình quân của danh mục TPCP tại thời điểm hoán đổi từ mức 5,63 năm lên mức 5,71 năm; triển khai thực hiện Quyết định số 2411/QĐ-TTg ngày 9/12/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án chuyển đổi các khoản vay của NSNN từ BHXH Việt Nam dưới hình thức Hợp đồng vay sang hình thức TPCP với tổng khối lượng khoản vay chuyển đổi là 364.000 tỷ đồng, qua đó cơ cấu lại danh mục nhà đầu tư nắm giữ TPCP trên thị trường theo hướng tăng tỷ trọng khối công ty bảo hiểm từ 19,5% lên 43,9%, giảm tỷ trọng khối ngân hàng thương mại từ 78,4% xuống 54,6%.

Như vậy, công tác huy động vốn năm 2016 đã đạt được một số kết quả tích cực trong việc đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng gia tăng của NSNN, kéo dài kỳ hạn vay bình quân qua các năm, liên tục nâng cao kỳ hạn còn lại bình quân của danh mục nợ TPCP và tiết kiệm chi phí cho NSNN.

b) Đối với công tác điều hành ngân quỹ

Trong năm 2016, KBNN đã điều hành ngân quỹ chủ động, linh hoạt, nâng cao hiệu quả quản lý ngân quỹ. Bên cạnh các điều kiện thuận lợi như công tác huy động vốn cho NSNN và cho đầu tư phát triển đạt kết quả khả quan và diễn biến thu, chi ngân quỹ nhà nước tương đối ổn định thì tại một số thời điểm, hoạt động điều hành ngân quỹ cũng gặp khó khăn do nguồn thu ngân sách chưa được tập trung kịp thời so với nhu cầu chi, như giáp Tết nguyên đán, thời điểm tập trung một số khoản chi trả nợ lớn của ngân sách bằng ngoại tệ… Bám sát diễn biến tình hình thu, chi NSNN tại từng thời điểm, từng giai đoạn, KBNN đã phối hợp chặt chẽ với các đơn vị liên quan thuộc Bộ tổ chức công tác dự báo luồng tiền, trình Bộ các phương án và giải pháp điều hành ngân quỹ phù hợp để đảm bảo khả năng thanh khoản của hệ thống KBNN; cụ thể:

– Xây dựng phương án điều hành ngân quỹ chủ động, linh hoạt. Trên cơ sở tổ chức thống kê, dự báo dòng tiền theo ngày, tháng, quý, KBNN xây dựng các kịch bản điều hành linh hoạt, phục vụ kịp thời công tác điều hành ngân quỹ trong những thời điểm căng thẳng, đặc biệt là Quỹ ngoại tệ tập trung, nhằm đảm bảo nguồn ngoại tệ để trả nợ đầy đủ, đúng hạn.

– Chủ động, tích cực khai thác các nguồn thu để đáp ứng nhu cầu thanh toán chi trả (tranh thủ điều kiện thuận lợi của thị trường để tổ chức phát hành TPCP, phát hành tín phiếu Kho bạc hoàn trả ngay trong năm 2016 để bù đắp thiếu hụt tạm thời thanh khoản của NSNN và KBNN, huy động tối đa từ nguồn BHXH…).

– Tổ chức điều hành ngân quỹ tập trung, thống nhất, chặt chẽ và linh hoạt trong toàn hệ thống, đáp ứng đầy đủ, kịp thời các nhu cầu chi của NSNN và các đơn vị có giao dịch với KBNN.

– Thực hiện tạm ứng ngân quỹ tạm thời nhàn rỗi cho ngân sách trung ương và ngân sách cấp tỉnh theo đúng chế độ quy định và nguyên tắc đã được Lãnh đạo Bộ phê duyệt, hỗ trợ kịp thời cho ngân sách trung ương trong những thời điểm ngân sách khó khăn khi nguồn thu chưa được tập trung kịp thời; đồng thời, hỗ trợ ngân sách cấp tỉnh, thành phố đẩy nhanh tiến độ các dự án, công trình trọng điểm, các dự án có nguồn thu hoàn trả tạm ứng sớm đưa các công trình, dự án đưa vào khai thác, sử dụng mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội cho các địa phương.

Song song với hoạt động điều hành ngân quỹ nhà nước linh hoạt, kịp thời, theo lộ trình cải cách quản lý ngân quỹ hướng tới mục tiêu an toàn và hiệu quả, trong năm 2016, KBNN đã xây dựng trình cấp có thẩm quyền ban hành Nghị định số 24/2016/NĐ-CP ngày 05/4/2016 quy định chế độ quản lý ngân quỹ và các Thông tư hướng dẫn để triển khai thực hiện từ 01/01/2017, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính của Nhà nước cho các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội.

c) Đối với công tác kiểm soát chi NSNN

Năm 2016 các cơ chế chính sách liên quan đến quản lý tài chính nói chung, quản lý kiểm soát chi thường xuyên và quản lý đầu tư xây dựng cơ bản nói riêng có nhiều thay đổi, điều chỉnh theo quy định tại Luật Đầu tư công, Luật Xây dựng, Luật Ngân sách nhà nước; công tác giải phóng mặt bằng chậm, thủ tục đầu tư qua nhiều bước, v,v…, dẫn đến tiến độ giải ngân vốn đầu tư từ NSNN đạt thấp. Trước tình hình đó, Chính phủ đã ban hành hàng loạt các Chỉ thị, Nghị quyết nhằm tổ chức, điều hành quản lý chi từ ngân sách nhà nước đảm bảo chặt chẽ, tiết kiệm, đúng quy định, chống lãng phí, nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN nhằm phấn đấu đạt 100% kế hoạch vốn đầu tư công năm 2016, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn NSNN… Vì thế, vai trò, trách nhiệm trong công tác kiểm soát chi NSNN của KBNN đòi hỏi ngày càng cao; bên cạnh việc chấp hành nghiêm quy định của pháp luật hiện hành, cơ chế, chính sách đã quy định, hệ thống KBNN còn phải bám sát chỉ đạo, điều hành hàng năm của Chính phủ, Bộ Tài chính về thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Ngay từ đầu năm, hệ thống KBNN đã nỗ lực triển khai  một số giải pháp tăng cường kiểm soát chi NSNN để thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư và đáp ứng đầy đủ kịp thời nhu cầu chi ngân sách của các đơn vị. Thời gian qua, Tổng Giám đốc KBNN đã ban hành chỉ thị về tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong thực hiện nhiệm vụ tài chính – ngân sách nhà nước năm 2016 và nhiều văn bản để quán triệt, chỉ đạo hệ thống KBNN kiểm soát chi chặt chẽ nhất là các nội dung chi mua sắm tài sản; chi mua ô tô; chi thường xuyên duy trì hoạt động của các cơ quan đơn vị; các khoản chi từ nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ thuộc kế hoạch năm 2016; một số nội dung mới, cần lưu ý trong việc thực hiện các Thông tư mới của Bộ Tài chính ban hành và có hiệu lực thi hành trong năm 2016;…. Đặc biệt là các nội dung chỉ đạo hệ thống KBNN, nghiêm túc thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 22/CT-TTg, theo đó, các đơn vị KBNN cương quyết từ chối không thanh toán đối với kinh phí thường xuyên đã giao dự toán đầu năm cho các đơn vị sử dụng ngân sách nhưng đến ngày 30/6/2016 chưa phân bổ hoặc đã phân bổ nhưng chưa triển khai thực hiện, chưa được phê duyệt dự toán, chưa thực hiện bất kỳ công việc nào của công tác tổ chức đấu thầu theo quy định của Luật Đấu thầu và các văn bản hướng dẫn Luật đấu thầu (trừ các khoản được phép thực hiện theo quy định của pháp luật và trường hợp được Thủ tướng Chính phủ cho phép thực hiện). Đồng thời, thực hiện hạch toán chuyển số kinh phí chênh lệch giữa dự toán giao đầu năm và dự toán điều chỉnh giảm, để bổ sung dự phòng ngân sách các cấp.

Bên cạnh đó, hệ thống KBNN đã thực hiện tốt vai trò của mình thông qua việc xây dựng cơ chế về kiểm soát các khoản chi thường xuyên của NSNN qua KBNN, đây là một trong những quy định về nguyên tắc, hồ sơ, thủ tục, thời gian kiểm soát chi thường xuyên,…. mà Bộ Tài chính đặt ra để các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước phải tuân thủ. Đồng thời, KBNN thực hiện kiểm soát chặt chẽ các khoản chi tiêu của các đơn vị đơn vị trên cơ sở hồ sơ, tài liệu các đơn vị gửi đến. Trong năm 2016, KBNN đã trình Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 39/2016/TT-BTC ngày 01/3/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 161/2012/TT-BTC ngày 02/10/2012 của Bộ Tài chính, việc xây dựng cơ chế kiểm soát chi NSNN qua KBNN đã đảm bảo yêu cầu về cải cách hành chính theo đúng lộ trình, đề án của Chính phủ, Bộ Tài chính, đảm bảo hồ sơ, thủ tục, nội dung kiểm soát chi đơn giản, rõ ràng, minh bạch, đồng thời tăng cường trách nhiệm và tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước.

Đối với chi đầu tư, Kho bạc Nhà nước đã tích cực và có nhiều ý kiến tham gia với Bộ Tài chính trong việc xây dựng cơ chế về quản lý, kiểm soát chi vốn đầu tư XDCB theo hướng cải cách mạnh mẽ, từ việc cải cách quy trình nghiệp vụ đến nguyên tắc kiểm soát thanh toán và đặc biệt là đơn giản hóa thủ tục hành chính về hồ sơ, tài liệu thanh toán vốn đầu tư,…. Điều đó đã đáp ứng được yêu cầu và mục tiêu kiểm soát chi đảm bảo chặt chẽ, an toàn, hiệu quả, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công của nhà nước, đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương thức quản lý theo Luật Đầu tư công.

Cùng với đó, việc triển khai Nghị quyết 60/NQ-CP ngày 8/7/2016 của Chính phủ cũng được KBNN triển khai rất chủ động, khẩn trương, kịp thời ban hành công văn hướng dẫn KBNN tỉnh, thành phố thực hiện các nội dung của Nghị quyết, trong đó chú trọng các giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2016, cụ thể:

Thứ nhất, các giải pháp tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy tiến độ giải ngân:

Chỉ đạo KBNN tỉnh, thành phố chủ động rà soát, nắm vững tình hình giải ngân vốn đầu tư kế hoạch năm 2016 của từng dự án; phối hợp chặt chẽ với cơ quan tài chính các cấp, các cơ quan ban ngành và các chủ đầu tư tìm hiểu nguyên nhân vướng mắc, nhất là những dự án chưa giải ngân, dự án có tỷ lệ giải ngân thấp (dưới 30%), dự án còn vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng để tham mưu, báo cáo các cấp có thẩm quyền xử lý kịp thời.

Hàng tháng, KBNN các cấp công khai tại trụ sở về số liệu giải ngân vốn đầu tư XDCB thuộc kế hoạch năm 2016 của các chủ đầu tư, Ban quản lý dự án trên địa bàn để các chủ đầu tư, Ban quản lý dự án nắm được tình hình và có biện pháp đôn đốc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư.

Định kỳ hàng quý, KBNN các tỉnh, thành phố phối hợp với các đơn vị có liên quan tổ chức tọa đàm với chủ đầu tư để trao đổi, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải ngân vốn đầu tư nhằm đẩy nhanh tiến độ giải ngân; đồng thời chỉ đạo KBNN cấp huyện nắm bắt kịp thời khó khăn, vướng mắc của chủ đầu tư báo cáo KBNN tỉnh, thành phố. KBNN tỉnh, thành phố tổng hợp kết quả tọa đàm và vướng mắc, báo cáo UBND các tỉnh, đồng gửi KBNN  để tổng hợp, báo cáo Bộ Tài chính, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Thứ hai, về thời gian kiểm soát, thanh toán vốn đầu tư:

Chỉ đạo cán bộ kiểm soát chi nâng cao tinh thần trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ, thực hiện kiểm soát hồ sơ ngay khi chủ đầu tư, ban quản lý dự án gửi đến theo quy định; tuyệt đối không được để tồn đọng bất kỳ hồ sơ thanh toán nào tại KBNN mà không rõ lý do; đảm bảo tuân thủ thời gian kiểm soát thanh toán tối đa không quá 04 ngày làm việc cho các dự án có đủ điều kiện giải ngân.

Thứ ba, về công tác báo cáo:

Chỉ đạo các KBNN các Tỉnh, thành phố chú trọng số liệu báo cáo tình hình giải ngân vốn đầu tư công hàng tháng, nhất là các kỳ báo cáo đến ngày 30/9/2016, 30/11/2016 (theo Công điện số 2144/CĐ-TTg ngày 29/11/2016 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy nhanh tiến độ giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2016) và 31/12/2016 làm cơ sở để Bộ Tài chính tổng hợp, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét điều chỉnh kế hoạch vốn đầu tư công năm 2016 theo quy định tại Nghị quyết số 60/NQ-CP ngày 8/7/2016 của Chính phủ.

Thứ tư, tại KBNN tổ chức hội nghị toạ đàm chủ đầu tư:

KBNN đã tổ chức hội nghị tọa đàm chủ đầu tư khu vực Hà Nội và khu vực TP Hồ Chí Minh. Có một số vướng mắc được nêu ra và đã được đại diện Lãnh đạo thuộc Vụ Đầu tư, Cục Quản lý nợ và TCĐN – Bộ Tài chính và Lãnh đạo KBNN giải đáp kịp thời, làm rõ như: việc, xác nhận, giải ngân vốn ODA kế hoạch năm 2016; về các dự án khởi công mới có quyết định đầu tư sau ngày 31/03/2016; về cách tính tỷ lệ giải ngân đến thời điểm 30/9/2016 theo Nghị quyết 60/NQ-CP; về quyết toán hạng mục dự án hoàn thành.

Với sự nỗ lực cố gắng cùng với các giải pháp Kho bạc Nhà nước đã triển khai, tính đến thời điểm báo cáo (31/12/2016) vốn đầu tư XDCB giải ngân là 253.607 tỷ đồng, đạt 75,7% so với kế hoạch vốn năm 2016 nhà nước giao, tuy nhiên tỷ lệ giải ngân vẫn thấp hơn so với cùng kỳ những năm gần đây (năm 2015 giải ngân là: 266.739,8 tỷ  đồng, đạt 84,6% kế hoạch; năm 2014 giải ngân là: 264.962,4 tỷ đồng, đạt 89,6% kế hoạch).

Ước đến ngày 31/01/2017, hệ thống KBNN kiểm soát chi ước đạt 290.820,8 tỷ đồng, đạt 86,8% so với kế hoạch nhà nước giao năm 2016 (Kế hoạch nhà nước giao năm 2016 đến thời điểm báo cáo là 335.101,5 tỷ đồng) thấp hơn so với cùng kỳ năm 2015 (lũy kế vốn đầu tư giải ngân 13 tháng năm 2015 là 292.746 tỷ đồng, đạt 92,8% so với kế hoạch vốn năm 2015).

Qua số liệu báo cáo nói trên cho thấy sự chuyển biến tích cực trong công tác kiểm soát chi và giải ngân vốn đầu tư XDCB, tốc độ giải ngân vốn đầu tư từ khi thực hiện Nghị quyết số 60/NQ-CP ngày 8/7/2016 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2016 đến nay đã có sự chuyển biến tích cực, từ tháng 7 đến hết tháng 12 vốn đầu tư giải ngân qua KBNN tăng 160.216,1 tỷ đồng, chiếm 64% tổng số vốn đầu tư đã giải ngân từ đầu năm đến hết tháng 12 và bằng 177,5% tổng số vốn đầu tư đã giải ngân của 6 tháng đầu năm. Điều này có thể nhận thấy rõ các giải pháp tại Nghị quyết số 60/NQ-CP ngày 8/7/2016 của Chính phủ đã phát huy hiệu quả rõ rệt, các Bộ ngành, địa phương đã tập trung chỉ đạo thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp của Chính phủ nên đã có dấu hiệu tích cực góp phần đẩy nhanh tiến độ giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2016.

Thông qua công tác kiểm soát chi NSNN, các đơn vị KBNN đã thực từ chối thanh toán khoảng 188 tỷ đồng (chi thường xuyên 43 tỷ đồng, chi đầu tư là 145 tỷ đồng) do không đúng đối tượng, thủ tục đầu tư không đúng quy định, không có trong hợp đồng, dự toán được duyệt; đã đôn đốc, thu hồi 11,8 tỷ đồng số dư tạm ứng vốn XDCB quá hạn, tồn đọng từ năm 2003 trở về trước.

1.1.6. Công tác quản lý nợ công

Bộ Tài chính đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ trình và được Quốc hội thông qua về định hướng huy động và sử dụng nợ công giai đoạn 2016 – 20[18]. Trong quá trình điều hành, đã đảm bảo chi trả nợ đầy đủ, đúng hạn (cả gốc và lãi) trong phạm vi dự toán. Thường xuyên theo dõi đánh giá mức an toàn nợ công, nợ Chính phủ. Tăng cường quản lý, giám sát đối với nợ được Chính phủ bảo lãnh, cũng như nợ của chính quyền địa phương.

Tiếp tục triển khai các giải pháp nhằm cơ cấu lại nợ trong nước. Trong năm 2016, tập trung phát hành trái phiếu Chính phủ kỳ hạn dài (kỳ hạn trái phiếu từ 5 năm trở lên chiếm 91,1% tổng khối lượng phát hành, vượt yêu cầu đề ra theo Nghị quyết của Quốc hội là tối thiểu 70%); kỳ hạn bình quân trái phiếu phát hành là 8,77 năm (cao hơn 1,82 năm so với năm 2015), nâng kỳ hạn bình quân của danh mục trái phiếu Chính phủ đến cuối năm 2016 lên mức 5,71 năm, dài gấp 3 lần so với năm 2011 và 2 lần so với năm 2013 (thời điểm cuối năm 2011 là 1,84 năm, cuối năm 2012 là 2,03 năm, cuối năm 2013 là 2,8 năm, cuối năm 2014 là 3,1 năm và cuối năm 2015 là 4,44 năm); lãi suất trái phiếu bình quân phát hành năm 2016 là 6,49%/năm, giảm 54,5% so với năm 2011 và giảm 17% so với năm 2013(năm 2011 là 11,9%/năm; năm 2012 là 9,8%/năm, năm 2013 là 7,79%/năm; năm 2014 là 6,54%/năm và năm 2015 là 6,36%/năm). Đồng thời, thực hiện thành công việc hoán đổi trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn còn lại dưới 5 năm để tái cơ cấu danh mục nợ. Trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án chuyển đổi 364 nghìn tỷ đồng các khoản vay của NSNN từ Bảo hiểm Xã hội Việt Nam dưới hình thức hợp đồng vay sang hình thức trái phiếu Chính phủ. Qua đó, góp phần thống nhất đầu mối quản lý các khoản vay từ Bảo hiểm Xã hội, đa dạng hóa các nhà đầu tư trái phiếu Chính phủ, tăng quy mô và kéo dài kỳ hạn còn lại bình quân của danh mục trái phiếu Chính phủ, tạo thuận lợi trong việc áp dụng các giải pháp tái cơ cấu lại danh mục nợ, hướng tới mục tiêu đảm bảo an toàn và bền vững nợ công.

Tính đến cuối năm 2016, cơ cấu các khoản nợ vay trong nước/vay ngoài nước trong danh mục nợ của Chính phủ khoảng 59%/41%, tăng so với các năm trước (thời điểm cuối năm 2011 là 38,9%/61,1%; năm 2012 là 43,1%/56,9%; năm 2013 là 50%/50%, năm 2014 là 55,6%/44,4% và năm 2015 khoảng 57%/43%), phù hợp với mục tiêu đã đề ra của Chiến lược về nợ công đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Qua đó, góp phần giảm sự phụ thuộc vào các nguồn vay ngoài nước.

Ước tính đến cuối năm 2016, dư nợ công khoảng 64,73% GDP, dư nợ Chính phủ khoảng 53,62% GDP. Nợ công được quản lý, kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo trong giới hạn cho phép.

1.1.7. Quản lý thực hiện cơ chế tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập

Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương về đổi mới mạnh mẽ hơn khu vực sự nghiệp công, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP năm 2015 của Chính phủ về cơ chế tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập và Quyết định số 695/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 141/2016/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác. Đồng thời, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương khẩn trương triển khai các nhiệm vụ được phân công[19]; phối hợp với các bộ, ngành, địa phương xây dựng và quản lý định mức kinh tế – kỹ thuật đối với dịch vụ sự nghiệp công; thí điểm trao quyền tự chủ toàn diện cho một số trường đại học; thí điểm cổ phần hóa một số đơn vị sự nghiệp; đẩy mạnh xã hội hóa.

Hầu hết các địa phương đã ban hành kế hoạch hành động triển khai thực hiện Nghị định số 16/2015/NĐ-CP và Quyết định số 695/2015/QĐ-TTg; một số địa phương đã ban hành danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng NSNN, ban hành quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công và ban hành các định mức kinh tế – kỹ thuật áp dụng trong các lĩnh vực sự nghiệp công thuộc phạm vi quản lý của địa phương.

1.1.8. Công tác đảm bảo an sinh xã hội, phúc lợi xã hội và Dự trữ quốc gia

Thực hiện tốt các chính sách bảo đảm an sinh xã hội, NSNN đã thực hiện chi trả đầy đủ, kịp thời theo tiến độ các khoản kinh phí đã bố trí trong dự toán NSNN năm 2016 cho các đối tượng thụ hưởng chính sách.

Đồng thời, tập trung xử lý ngay kinh phí cho các địa phương nhằm khắc phục hậu quả mưa lũ, hạn hán và xâm nhập mặn, hỗ trợ khôi phục sản xuất sau thiên tai và xử lý sự cố về môi trường đối với một số tỉnh miền Trung, đáp ứng các nhiệm vụ đảm bảo an sinh xã hội.

Trong năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã có các quyết định xuất cấp hàng DTQG cho các địa phương để cứu đói, hỗ trợ Tết Nguyên đán và phòng chống thiên tai, dịch bệnh; tổng giá trị hàng đã xuất cấp khoảng 2.152 tỷ đồng, cụ thể:

– Bộ Tài chính xuất cấp các mặt hàng DTQG tổng trị giá 1.738 tỷ đồng; cụ thể: (i) về lương thực, xuất tổng số 150.968 tấn gạo trị giá khoảng 1.480 tỷ đồng, gồm: hơn 17.000 tấn gạo để cứu trợ Tết Nguyên đán, gần 40.000 tấn gạo cứu đói thời kỳ giáp hạt và ảnh hưởng của thiên tai; 5.000 tấn gạo viện trợ cho Cu Ba; gần 20.000 tấn gạo để cứu đói khẩn cấp cho người dân vùng biển bị ảnh hưởng do hiện tượng cá chết bất thường; hơn 68.000 tấn gạo để hỗ trợ cho học sinh trong (học kỳ II năm học 2015-2016 là hơn 33.000 tấn; học kỳ I năm học 2016-2017 là hơn 36.000 tấn) và gần 7.000 tấn hỗ trợ dự án trồng rừng; (ii) về vật tư thiết bị, đã thực hiện xuất cấp các mặt hàng vật tư thiết bị tổng trị giá khoảng 255 tỷ đồng, gồm: 27 bộ xuồng cao tốc các loại, 65 bộ máy bơm chữa cháy, 60.100 chiếc phao áo cứu sinh, 100.000 chiếc phao tròn cứu sinh, 3.050 bộ nhà bạt cứu sinh, 1.000 chiếc bè cứu sinh nhẹ, 10 bộ máy phát điện; (iii) về muối ăn, thực hiện xuất cấp 1.500 tấn muối trị giá khoảng 3 tỷ đồng cho người dân tỉnh Hà Tĩnh bị ảnh hưởng lũ lụt.

– Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện xuất cấp 110 tấn hạt giống rau, hơn 3.000 tấn hạt giống lúa, 615 tấn hạt giống ngô, hơn 498.000 liều vắc xin LMLM 2type (O+A), 2.275.772 liều vắc xin LMLM typO, 450.000 liều vắc xin dịch tả lợn, 243.000 lít thuốc sát trùng các loại, 705 tấn thuốc sát trùng tôm Chlorine để phòng chống thiên tai, dịch bệnh, khôi phục sản xuất nông nghiệp, tổng trị giá khoảng 280 tỷ đồng.

– Bộ Công an xuất cấp 09 danh mục mặt hàng chuyên ngành an ninh, trị giá khoảng 123 tỷ đồng để đảm bảo an ninh, trật tự cho Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ XII, Tết Nguyên đán, bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các ngày lễ lớn trong năm 2016.

– Bộ Y tế xuất cấp 462 thiết bị y tế dự trữ quốc gia cho các bệnh viện công lập, các đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng trị giá hơn 11 tỷ đồng để phục vụ công tác phòng và chữa bệnh.

Đến nay, số lượng hàng DTQG đã xuất cấp đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng và phân bổ đúng đối tượng; vận chuyển kịp thời đến các địa phương được cứu trợ, hỗ trợ góp phần giúp đồng bào kịp thời khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, cứu đói, hỗ trợ học sinh ở những vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, đảm bảo chăm sóc sức khỏe cho nhân dân và phục vụ tốt công tác quốc phòng, an ninh.

Ngoài ra, Bộ Tài chính đang thẩm định trình Thủ tướng Chính phủ xuất cấp không thu tiền 380.000 liều vắc xin LMLM type O; 200.000 liều vắc xin Dịch tả lợn và 40 tấn hóa chất Sodium Chlorite 20%; 10.000 lít hóa chất sát trùng Han-Iodine; 10.000 lít hóa chất sát trùng Vetvaco-Iodine  tổng trị giá hơn 10 tỷ đồng từ nguồn DTQG hỗ trợ tỉnh Bình Định, Phú Yên, Ninh Thuận để phòng chống dịch bệnh, ổn định sản xuất theo đề nghị của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; xuất cấp 1.000 tấn gạo trị giá gần 10 tỷ đồng để cứu đói nhân dân sau mưa lũ tại tỉnh Phú Yên.

1.1.9. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra tài chính – ngân sách

Thanh tra Bộ Tài chính và các đơn vị có chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc Bộ đã triển khai thực hiện thanh tra, kiểm tra, tập trung vào các lĩnh vực: quản lý thu, chi ngân sách; quản lý, sử dụng vốn đầu tư; quản lý tài chính doanh nghiệp; quản lý giá… Qua đó đã phát hiện, kiến nghị xử lý về tài chính, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, góp phần tăng cường ý thức chấp hành pháp luật của các cơ quan, đơn vị, cá nhân và doanh nghiệp, phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tăng cường kỷ cương, kỷ luật tài chính.

Trong năm 2016, đã thực hiện khoảng 95 nghìn cuộc thanh tra, kiểm tra[20]; thực hiện kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế 930 nghìn hồ sơ. Qua đó, đã phát hiện và kiến nghị xử lý về tài chính trên 35 nghìn tỷ đồng (đã thực hiện kiến nghị khoảng 17,9 nghìn tỷ đồng); trong đó: kiến nghị thu nộp ngân sách 26,7 nghìn tỷ đồng; giảm trừ dự toán kinh phí, giảm trừ cấp phát kinh phí 696,4 tỷ đồng; giảm trừ thanh quyết toán, không thanh toán kinh phí 293,6 tỷ đồng; xử lý tài chính khác 7,36 nghìn tỷ đồng…

Công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả đã triển khai đồng bộ; tăng cường phối hợp chặt chẽ các lực lượng chức năng,nắm địa bàn, đẩy mạnh thực hiện các biện pháp nghiệp vụ kiểm soát hải quan, xác lập đấu tranh thành công nhiều chuyên án, bắt giữ, xử lý nhiều vụ việc buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, góp phần bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ nền sản xuất hàng hóa trong nước, bảo vệ môi trường, sức khỏe người dân, chống thất thu ngân sách nhà nước. Đến tháng 12/2016, đã bắt giữ, xử lý gần 15,4 nghìn vụ buôn lậu, gian lận thương mại, với trị giá hàng hóa vi phạm 417 tỷ đồng, qua đó xử lý tăng thu cho ngân sách 166 tỷ đồng; cơ quan Hải quan đã khởi tố 48 vụ và chuyển các cơ quan khác khởi tố 95 vụ; ban hành 25 quyết định tịch thu hàng hóa vô chủ do không xác định được chủ sở hữu, xử lý 192 container hàng hóa vi phạm.

Đồng thời, thực hiện vai trò Thường trực Ban chỉ đạo 389 quốc gia, Bộ Tài chính đã tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và phối hợp với các bộ, ngành, địa phương triển khai nhiều giải pháp đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, chuyển giá và hàng giả; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, đấu tranh chống sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu trái phép phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản giả, kém chất lượng, không rõ nguồn gốc và chất cấm dùng trong thức ăn chăn nuôi, chế biến thực phẩm; chống buôn lậu thuốc lá; kiểm tra C/O đối với mặt hàng sữa thành phẩm từ Singapore và phôi thép từ Trung Quốc; kiểm soát mặt hàng thịt trâu đông lạnh nhập khẩu từ Ấn Độ,…

1.1.10. Về công tác hợp tác quốc tế và tài chính đối ngoại

Tích cực tham gia các hoạt động hợp tác tài chính khu vực, quốc tế (tham dự hội nghị Bộ trưởng Tài chính ASEAN lần thứ 20 và hội nghị các Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc Ngân hàng trung ương lần thứ 2 tại Lào; hội nghị Bộ trưởng Tài chính ASEM lần thứ 12;hội nghị Bộ trưởng Tài chính APEC lần thứ 23 tại Peru.

Chủ động phối hợp với các bộ, ngành liên quan để hoàn tất quá trình ký kết Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), kết thúc đàm phán trong khuôn khổ Hiệp định Việt Nam – Liên minh Châu Âu; tiếp tục tham gia đàm phán nội dung thuế quan, dịch vụ tài chính trong các Hiệp định FTA đang đàm phán, gồm: Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Hồng Kông (AHKFTA), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Israel (VIFTA), Hiệp định thương mại Việt Nam – Cuba. Đồng thời, thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm tăng cường thu hút đầu tư trong nước, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm phát triển sản xuất, kinh doanh. Hoàn thiện về chính sách và thể chế quản lý vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA); tăng cường năng lực thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi góp phần bổ sung nguồn vốn phục vụ các mục tiêu tăng trưởng và phục hồi kinh tế, đảm bảo giải ngân kịp thời các khoản vốn ODA và vay ưu đãi của Chính phủ[21].

Đánh giá chung, trong năm 2016, toàn ngành Tài chính đã chủ động đề xuất, tập trung phấn đấu thực hiện nghiêm và đồng bộ các giải pháp tài chính – NSNN mà Quốc hội, Chính phủ đã đề ra; điều hành quyết liệt thu, chi, giữ bội chi NSNN trong phạm vi Quốc hội cho phép, kỷ cương, kỷ luật tài chính – ngân sách được tăng cường. Quản lý tích cực nợ công theo hướng từng bước cơ cấu lại, nâng cao tính bền vững. Công tác quản lý, điều hành giá cả đã góp phần tích cực thực hiện kiểm soát lạm phát. Chủ động hội nhập, tích cực tham gia các hoạt động hợp tác tài chính khu vực và quốc tế. Các chính sách bảo đảm an sinh xã hội được triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời, tạo niềm tin của xã hội vào sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ.

Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố thuận lợi, còn phát sinh nhiều khó khăn, thách thức; đáng chú ý là tiến độ thu NSNN, đặc biệt là thu ngân sách trung ương đạt thấp, do giá dầu giảm và các tác động bất lợi khi tham gia các FTAs; trong điều hành phát sinh nhiều nhu cầu chi ngân sách rất lớn cả ngân sách trung ương và ngân sách địa phương để khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, đảm bảo quốc phòng, an ninh trong tình hình mới…

Trong điều hành, vẫn còn những tồn tại, hạn chế cần khắc phục, như:

(i) Công tác xây dựng thể chế, chính sách đã có nhiều cố gắng, song vẫn còn một số trường hợp chưa đảm bảo tiến độ;

(ii) Công tác quản lý thu NSNN ở một số địa bàn, lĩnh vực chưa quyết liệt, chưa theo sát tình hình thực tiễn, diễn biến hoạt động SXKD của doanh nghiệp; nợ đọng thuế có khả năng thu còn lớn;

(iii) Giải ngân vốn đầu tư phát triển còn chậm;

(iv) Việc phân bổ, sử dụng vốn vay còn dàn trải, hiệu quả đầu tư một số chương trình, dự án thấp. Tình trạng chi sai quy định, vượt tiêu chuẩn định mức vẫn còn xảy ra ở một số đơn vị;

(v) Tiến độ tái cơ cấu, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và thoái vốn đầu tư còn chậm so với yêu cầu đề ra.

1.2. Mục tiêu, giải pháp thực hiện nhiệm vụ Tài chính – Ngân sách năm 2017

1.2.1. Dự báo bối cảnh năm 2017

Năm 2017 dự báo tình hình tiếp tục có chuyển biến tích cực, kinh tế vĩ mô ổn định với mức tăng trưởngkhoảng 6,7%, tổng kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 6 – 7%, tốc độ tăng giá tiêu dùng bình quân khoảng 4%, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội khoảng 31,5% GDP… Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức cả từ môi trường quốc tế và nội tại của nền kinh tế. Các yếu tố tác động không thuận của hội nhập quốc tế, sự thích ứng của doanh nghiệp còn chậm, quá trình tái cơ cấu nền kinh tế còn khó khăn, chi phí lớn; diễn biến phức tạp, bất thường của biến đổi khí hậu, thời tiết, thiên tai; nguy cơ dịch bệnh bùng phát; biến động khó lường của thị trường tài chính, tiền tệ, thương mại thế giới, dự báo sẽ có tác động bất lợi đến sự phát triển kinh tế – xã hội và việc thực hiện các nhiệm vụ tài chính – NSNN năm 2017.

Đặc biệt, năm 2017 là năm then chốt thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2016-2020; là năm đầu triển khai các Nghị quyết và chủ trương lớn của Đảng, Quốc hội như: Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016 – 2020; Chủ trương, giải pháp tái cơ cấu NSNN, quản lý nợ công để đảm bảo nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững; Kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2016 – 2020; Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 – 2020. Do đó, đòi hỏi phải quyết tâm, nỗ lực phấn đấu của toàn ngành Tài chính nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ tài chính – NSNN đã đề ra.

1.2.2. Mục tiêu tổng quát

Huy động tối đa các nguồn lực tài chính của Nhà nước; quản lý, sử dụng triệt để tiết kiệm, hiệu quả, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội; từng bước cơ cấu lại NSNN, thực hiện các giải pháp xử lý nợ công theo hướng an toàn, bền vững; đẩy nhanh cải cách khu vực sự nghiệp công, tinh giản biên chế; ưu tiên đảm bảo các chính sách an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh; tăng cường cải cách thủ tục hành chính.

1.2.3. Nhiệm vụ tài chính – NSNN năm 2017

a) Về thu NSNN:

Trên cơ sở kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2017 và dự báo bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước, Chính phủ đã trình Quốc hội thông qua dự toán thu cân đối NSNN năm 2017 là 1.212,18 nghìn tỷ đồng.Trong đó:

(i) Dự toán thu nội địa 990,28 nghìn tỷ đồng;

(ii) Dự toán thu dầu thô 38,3 nghìn tỷ đồng (trên cơ sở giá dầu khoảng 50 USD/thùng);

(iii) Dự toán thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu 180 nghìn tỷ đồng (trên cơ sở số thu 285 nghìn tỷ đồng, hoàn thuế giá trị gia tăng 105 nghìn tỷ đồng);

(iv) Thu viện trợ 3,6 nghìn tỷ đồng.

Căn cứ dự toán thu NSNN đã được Quốc hội thông qua, Thủ tướng Chính phủ giao, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương triển khai giao nhiệm vụ thu ngân sách cho các đơn vị trực thuộc và chính quyền cấp dưới; bên cạnh việc đảm bảo đúng quy định của Luật NSNN và không thấp hơn so với dự toán được giao, cần có những giải pháp phù hợp, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ thu NSNN được giao. Phấn đấu thu đạt và vượt mức dự toán NSNN năm 2017; đồng thời kiểm soát chặt chẽ việc hoàn thuế, đảm bảo trong phạm vi dự toán được giao.

b) Về chi NSNN:

Dự toán chi NSNN năm 2017 là 1.390,48 nghìn tỷ đồng. Trong đó:

(i) Dự toán chi đầu tư phát triển NSNN là 357,15 nghìn tỷ đồng;

(ii) Dự toán chi thường xuyên NSNN là 896,28 nghìn tỷ đồng, ưu tiên bố trí các nhiệm vụ quan trọng của quốc phòng, an ninh và các chính sách an sinh xã hội đã ban hành; triệt để tiết kiệm chi thường xuyên; rà soát các lĩnh vực, nhiệm vụ chi để bố trí có trọng tâm, trọng điểm và kết hợp với triển khai cơ chế hoạt động tự chủ của đơn vị sự nghiệp gắn với lộ trình thực hiện tính giá dịch vụ sự nghiệp công;

(iii) Dự toán chi trả nợ lãi là 98,9 nghìn tỷ đồng, đảm bảo trả đủ, đúng hạn các khoản nợ lãi vay;

(iv) Dự toán chi cải cách tiền lương, tinh giản biên chế 6,6 nghìn tỷ đồng; các bộ, cơ quan trung ương và các địa phương chủ động bố trí dự toán NSNN năm 2017 được giao để thực hiện.

Đồng thời, thực hiện quy định của Luật Ngân sách nhà nước năm 2015, từ năm 2017, chi trả nợ trong cân đối NSNN chỉ bao gồm chi trả nợ lãi, số chi trả nợ gốc bố trí ngoài cân đối và được tính trong tổng nhu cầu huy động (trường hợp trả nợ bố trí từ nguồn vay của NSNN). Chính phủ đã trình Quốc hội quyết định tổng nhiệm vụ chi trả nợ gốc của NSNN năm 2017 là 163,84 nghìn tỷ đồng; trong đó chi trả nợ gốc của NSTW là 144 nghìn tỷ đồng được bố trí từ nguồn vay; chi trả nợ gốc của NSĐP là 19,84 nghìn tỷ đồng, được bố trí trả từ nguồn bội thu, tiết kiệm chi NSĐP 7,3 nghìn tỷ đồng, từ nguồn vay của NSĐP 12,53 nghìn tỷ đồng.

c) Bội chi NSNN:

Thực hiện Nghị quyết của Đảng, Quốc hội yêu cầu giảm dần bội chi NSNN. Đồng thời, bội chi NSNN năm 2017 được tính theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước năm 2015, bao gồm cả bội chi NSTW và bội chi NSĐP, trong đó bội chi NSTW bao gồm cả trái phiếu Chính phủ và không bao gồm chi trả nợ gốc. Chính phủ đã trình Quốc hội thông qua bội chi NSNN năm 2017 mức 3,5% GDP, số tuyệt đối là 178,3 nghìn tỷ đồng; trong đó bội chi NSTW mức 3,38% GDP, tương ứng 172,3 nghìn tỷ đồng; bội chi NSĐP mức 0,12%GDP, tương ứng 6 nghìn tỷ đồng.

d) Về huy động vốn:

Tổng nhiệm vụ huy động của NSNN năm 2017 để bù đắp bội chi và chi trả nợ gốc khoảng 340,15 nghìn tỷ đồng; trong đó huy động bù đắp bội chi 183,62 nghìn tỷ đồng (Trong đó: để bù đắp bội chi NSTW 172,3 nghìn tỷ đồng; huy động bù đắp bội chi của các địa phương được phép bội chi là 11,32 nghìn tỷ đồng (sau khi bù trừ số bội thu của các địa phương có bội thu khoảng 5,32 nghìn tỷ đồng, thì tổng thể bội chi NSĐP là 6 nghìn tỷ đồng)); vay để trả nợ gốc 156,53 nghìn tỷ đồng. Bộ Tài chính đang xây dựng kế hoạch để triển khai ngaytừ đầu năm.

1.2.4. Các giải pháp để thực hiện nhiệm vụ tài chính – NSNN năm 2017

Một là, tập trung tổ chức triển khai thực hiện tốt Luật Ngân sách nhà nước năm 2015; các Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch Phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2016-2020, Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016 – 2020, Kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2016 – 2020, Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 – 2020:

(1) Các bộ, cơ quan trung ương, địa phương phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính, bám sát các yêu cầu, mục tiêu, định hướng lớn đã đề ra; đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế; cơ cấu lại thu, chi ngân sách; quản lý, kiểm soát chặt chẽ nợ công để đảm bảo nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững; cơ cấu lại và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công; siết chặt kỷ cương, kỷ luật tài chính.

Hai là, thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ, phối hợp đồng bộ với chính sách tiền tệ nhằm hỗ trợ phát triển sản xuất – kinh doanh, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đã đề ra:

(2) Tổ chức điều hành dự toán NSNN năm 2017 tích cực, chủ động, chặt chẽ, tăng cường kỷ luật tài chính – ngân sách; thực hiện dự toán NSNN đúng quy định của pháp luật.

Kiên quyết cắt giảm những khoản chi đã có trong dự toán đến ngày 30/6/2017 chưa phân bổ hoặc đã phân bổ nhưng chưa triển khai thực hiện, trừ trường hợp đặc biệt được Thủ tướng Chính phủ quyết định. Chủ động hướng dẫn và báo cáo cấp có thẩm quyền kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong triển khai kế hoạch đầu tư công năm 2017. Quản lý chặt chẽ, đúng quy định và hạn chế các khoản chi chuyển nguồn NSNN; hạn chế tối đa việc ứng trước dự toán NSNN năm sau. Không sử dụng NSNN để cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, xử lý nợ xấu hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước.

(3) Kiểm soát chặt chẽ bội chi NSNN, bao gồm cả các khoản bội chi của NSĐP.Trong điều hành phấn đấu tăng thu, tiết kiệm chi, để giảm bội chi NSNN. Tăng cường phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng Nhà nước trong việc phát hành trái phiếu Chính phủ, điều hành ngân quỹ và cân đối ngoại tệ, đảm bảo nguồn đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ chi NSNN theo dự toán.

(4) Kiểm soát chặt chẽ nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài của quốc gia trong giới hạn cho phép; hạn chế tối đa cấp bảo lãnh Chính phủ cho các khoản vay mới; bố trí nguồn trả nợ đầy đủ, đúng hạn; không chuyển vốn vay về cho vay lại, bảo lãnh Chính phủ thành vốn cấp phát NSNN. Thực hiện đánh giá đầy đủ tác động lên nợ công và khả năng trả nợ trong trung hạn trước khi thực hiện các khoản vay mới.

(5) Tiếp tục thực hiện các giải pháp cơ cấu lại danh mục nợ công theo hướng an toàn, bền vững. Trong năm 2017 chủ động phát hành trái phiếu Chính phủ kỳ hạn dài, trong đó kỳ hạn từ 5 năm trở lên phải đảm bảo tối thiểu 70% tổng khối lượng phát hành.

Ba là, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài chính, trọng tâm là lĩnh vực thuế, hải quan, góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, khuyến khích khởi nghiệp, phát triển doanh nghiệp, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh:

(6) Tiếp tục tổ chức thực hiện Nghị quyết số 30c/NQ-CP của Chính phủ về chương trình cải cách tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020; xây dựng và triển khai các chương trình, kế hoạch nhiệm vụ năm 2017 về cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính.

Tập trung triển khai các nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra về cải thiện môi trường kinh doanh, phát triển doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia theo Nghị quyết số 19-2016/NQ-CP, Nghị quyết số 35/NQ-CP và Chính phủ điện tử theo Nghị quyết số 36a/NQ-CP của Chính phủ, góp phần thu hẹp khoảng cách năng lực cạnh tranh quốc gia với các nước ASEAN-4.

Mở rộng triển khai hoàn thuế điện tử trên phạm vi toàn quốc; tăng cường phối hợp thu với ngân hàng; phấn đấu thực hiện các dịch vụ công trực tuyến với mức độ cao hơn. Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để những cải cách thủ tục hành chính đi vào thực tế, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, người nộp thuế.

Bốn là, triển khai quyết liệt công tác thu NSNN, quyết tâm thu đạt và vượt dự toán Quốc hội quyết định:

(7) Tổ chức thực hiện tốt các Luật thuế và nhiệm vụ thu NSNN năm 2017 theo Nghị quyết của Quốc hội. Hạn chế tối đa việc đề xuất, ban hành các chính sách mới làm giảm thu NSNN, trừ trường hợp cắt giảm thuế để thực hiện cam kết quốc tế hoặc xử lý những vấn đề cấp bách, đảm bảo phù hợp với thực tế phát sinh. Tiếp tục theo dõi chặt chẽ biến động thị trường tài chính, tiền tệ, thương mại thế giới; chủ động rà soát, đánh giá đầy đủ tác động của việc tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTAs) đến thu NSNN để có giải pháp chủ động trong điều hành.

(8) Các bộ, cơ quan trung ương và địa phương triển khai giao nhiệm vụ thu ngân sách cho các đơn vị trực thuộc và chính quyền cấp dưới, đảm bảo không thấp hơn so với dự toán được giao.

Trong điều hành, các Bộ, ngành, cấp ủy, chính quyền địa phương quan tâm chỉ đạo các cơ quan, đơn vị có liên quan phối hợp chặt chẽ với cơ quan thuế, hải quan tăng cường công tác thu, thực hiện các giải pháp phù hợp để đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản phát sinh. Tăng cường chống thất thu; triển khai các giải pháp ngăn chặn các hành vi buôn lậu, chuyển giá, gian lận thương mại, sản xuất, kinh doanh hàng giả. Quyết liệt xử lý, cưỡng chế, thu hồi nợ thuế theo quy định của pháp luật, giảm nợ đọng thuế, định kỳ công khai các doanh nghiệp nợ thuế. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế,phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp kê khai không đúng, gian lận thuế, trốn thuế. Tăng cường kiểm tra sau thông quan; tập trung kiểm tra các doanh nghiệp, lĩnh vực, mặt hàng trọng điểm, có độ rủi ro cao.

Đồng thời, kiểm soát chặt chẽ việc hoàn thuế, đảm bảo trong phạm vi dự toán được giao.

Năm là, tổ chức điều hành, quản lý chi NSNN chặt chẽ, tiết kiệm, đúng quy định, chống lãng phí; nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN; chỉ đề xuất ban hành chính sách làm tăng chi NSNN khi thật sự cần thiết và có nguồn đảm bảo:

(9) Thực hiện phân bổ, giao dự toán chi đầu tư XDCB theo đúng quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư công và Nghị quyết Quốc hội và tập trung triển khai thực hiện ngay từ những ngày đầu năm.

Các bộ, cơ quan trung ương, địa phương chủ động báo cáo cấp có thẩm quyền các khó khăn, vướng mắc (nếu có) để kịp thời xử lý. Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát đầu tư; nâng cao hiệu quả đầu tư, chống thất thoát, lãng phí, tham nhũng; không để phát sinh nợ đọng XDCB mới.

 (10) Quản lý chặt chẽ, chi trong cân đối NSNN đối với các nguồn thu phí sử dụng đường bộ thu qua đầu phương tiện ô tô, phí đảm bảo hàng hải, thu từ hoạt động xổ số kiến thiết, nguồn vốn trái phiếu Chính phủ theo đúng quy định của Luật Ngân sách nhà nước và Nghị quyết Quốc hội. Điều hành chi trong phạm vi dự toán chi được giao và tiến độ một số nguồn thu gắn liền với dự toán chi đầu tư phát triển (thu tiền sử dụng đất, xổ số kiến thiết,…).

(11) Các địa phương bố trí chi trả nợ lãi trong chi cân đối NSĐP; chi trả nợ gốc ngoài chi cân đối NSĐP, được bố trí từ nguồn vay, bội thu NSĐP cấp tỉnh, kết dư NSĐP cấp tỉnh và nguồn tăng thu, tiết kiệm chi theo quy định. Đảm bảo bố trí đủ vốn từ NSĐP cho các dự án, chương trình được NSTW hỗ trợ một phần để thực hiện các mục tiêu dự án, chương trình.

(12) Tiết kiệm triệt để các khoản chi thường xuyên. Từng bộ, cơ quan trung ương và địa phươngchủ động rà soát, sắp xếp các nhiệm vụ chi; lồng ghép các chính sách, tiết kiệm triệt để ngay từ khâu phân bổ dự toán và cả trong quá trình thực hiện; giảm tối đa và công khai các khoản chi hội nghị, hội thảo, khánh tiết, lễ hội, động thổ, khởi công, khánh thành công trình; hạn chế bố trí kinh phí đi nghiên cứu, khảo sát nước ngoài; hạn chế mua sắm ô tô công và trang thiết bị đắt tiền; mở rộng thực hiện khoán xe ô tô công đảm bảo hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm. Tổ chức triển khai mua sắm tài sản nhà nước theo phương thức tập trung theo quy định.

Thực hiện nghiêm chủ trương tinh giản biên chế cán bộ công chức, viên chức trong năm 2017.

(13) Thực hiện điều chỉnh mức lương cơ sở từ 1,21 triệu đồng/tháng lên 1,3 triệu đồng/tháng, điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công tăng bằng mức tăng lương cơ sở, thực hiện từ ngày 01/7/2017.

Các bộ, cơ quan trung ương, địa phương trên cơ sở dự toán NSNN được giao chủ động cân đối nguồn thực hiện điều chỉnh mức lương cơ sở. Các địa phương tiếp tục thực hiện cơ chế tạo nguồn tiền lương trong năm 2017 theo chế độ.

NSTW đảm bảo kinh phí điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội (đối tượng do NSNN đảm bảo) và trợ cấp ưu đãi người có công. Đối với những địa phương ngân sách khó khăn, sau khi thực hiện cơ chế tạo nguồn cải cách tiền lương mà vẫn không cân đối được nguồn, NSTW hỗ trợ một phần kinh phí tiền lương tăng thêm năm 2017.

 (14) Trong điều hành, các cơ quan, đơn vị phân bổ, sắp xếp các nhiệm vụ và chi trong phạm vi dự toán được giao; hạn chế tối đa việc bổ sung ngoài dự toán và ứng trước dự toán năm sau.

Các địa phương chủ động sử dụng dự phòng, dự trữ và các nguồn lực hợp pháp của địa phương để xử lý các nhiệm vụ chi phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh và các nhiệm vụ chi quan trọng, cấp bách, đột xuất phát sinh theo quy định.

Sáu, tăng cường công tác quản lý giá, thị trường, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô:

(15) Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về giá; tập trung hoàn thiện các cơ chế quản lý và mức giá đối với các dịch vụ sự nghiệp công chuyển từ danh mục phí sang quản lý theo cơ chế giá theo quy định của Luật phí, lệ phí năm 2015 và Nghị định số 149/2016/NĐ-CP của Chính phủ.

(16) Tiếp tục thực hiện quản lý, điều hành giá các mặt hàng quan trọng, Nhà nước còn định giá, mặt hàng bình ổn giá (xăng dầu, khí, điện, sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi, dịch vụ sự nghiệp công,…) theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2017. Các bộ, cơ quan trung ương, địa phương phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính để quyết định thời điểm, mức điều chỉnh, hạn chế tác động lớn đến sản xuất và đời sống nhân dân, đảm bảo hài hòa lợi ích của người tiêu dùng, doanh nghiệp và Nhà nước.

(17) Làm tốt công tác theo dõi, phân tích, dự báo thông tin thị trường để kịp thời đề xuất các giải pháp điều hành vĩ mô. Kiểm soát chặt chẽ việc kê khai giá của doanh nghiệp đối với các mặt hàng bình ổn giá, mặt hàng thuộc danh mục kê khai giá, các hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá, hàng hóa, dịch vụ được mua sắm từ nguồn NSNN; hàng hóa, dịch vụ công ích, dịch vụ sự nghiệp công.

Tăng cường kiểm tra, thanh tra, kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giá. Công khai thông tin về giá, điều hành giá để tạo sự đồng thuận trong xã hội.

Bảy là, đẩy mạnh tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước; phát triển đồng bộ các loại hình thị trường tài chính:

(18) Tăng cường quản lý tài chính doanh nghiệp, đẩy mạnh tái cấu trúc, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Tập trung triển khai phương án sắp xếp doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2016 – 2020; chủ động xây dựng phương án và tiếp tục thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp không thuộc diện Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối hoặc không nắm giữ cổ phần, vốn góp.

(19) Tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước theo hướng tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu, những địa bàn quan trọng; đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn tại những doanh nghiệp Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần chi phối theo nguyên tắc thị trường; rà soát, xử lý dứt điểm các doanh nghiệp nhà nước thua lỗ; xem xét, thực hiện phá sản doanh nghiệp nhà nước theo quy định của pháp luật về phá sản doanh nghiệp.

Thường xuyên kiểm tra, giám sát, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, hạn chế, yếu kém, nâng cao hiệu quả hoạt động, đặc biệt là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Tăng cường công tác cán bộ, kiện toàn cán bộ lãnh đạo và nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp. Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng, tách chức năng chủ sở hữu tài sản, vốn nhà nước và chức năng quản lý nhà nước, chức năng quản trị kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước.

(20) Tiếp tục triển khai chiến lược phát triển thị trường chứng khoán đến năm 2020; phát huy có hiệu quả kênh huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp; đưa thị trường chứng khoán trở thành kênh dẫn vốn trung và dài hạn chủ đạo của nền kinh tế, thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, hỗ trợ công tác cổ phần hóa và xử lý nợ xấu.

Phát triển đa dạng hóa các loại hình nhà đầu tư, đặc biệt đẩy mạnh thu hút nhà đầu tư nước ngoài thông qua cải cách các chính sách về thuế, phí giao dịch; phát triển hệ thống quỹ đầu tư chứng khoán, quỹ hưu trí tự nguyện nhằm hình thành cơ sở nhà đầu tư vốn dài hạn trên thị trường; xây dựng chính sách phát triển hệ thống nhà tạo lập thị trường trên thị trường trái phiếu Chính phủ với đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo thông lệ quốc tế.

(21) Phát triển và nâng cao chất lượng các sản phẩm bảo hiểm; tăng cường kiểm tra, giám sát các doanh nghiệp bảo hiểm; khuyến khích tăng vốn để mở rộng quy mô và nâng cao năng lực tài chính.

(22) Tiếp tục hoàn thiện thể chế chính sách đối với hoạt động đặt cược, casino; tái cơ cấu thị trường xổ số, trò chơi điện tử có thưởng theo hướng hiện đại, góp phần thu hút du lịch, tăng nguồn thu cho NSNN, đảm bảo trật tự và an toàn xã hội.

Tám là, đẩy mạnh đổi mới cơ chế tài chính đơn vị sự nghiệp công, giá dịch vụ công:

(23) Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện cơ chế hoạt động tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong từng lĩnh vực gắn với thúc đẩy lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp công đã đề ra.

Các bộ, cơ quan trung ương, địa phương tập trung hoàn thành việc xây dựng, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng NSNN thuộc lĩnh vực quản lý; quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập cung ứng dịch vụ sự nghiệp công, xây dựng định mức kinh tế – kỹ thuật áp dụng trong các dịch vụ sự nghiệp công do nhà nước quản lý.

(24) Tiếp tục thí điểm cổ phần hóa các đơn vị sự nghiệp công có đủ điều kiện. Từng bước chuyển phương thức hỗ trợ trực tiếp của Nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp công lập sang cơ chế đặt hàng; đồng thời, Nhà nước có chính sách hỗ trợ cho các đối tượng chính sách khi điều chỉnh tăng giá dịch vụ công.

Chín là, tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, đẩy mạnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí:

(25) Các bộ, cơ quan, địa phương thực hiện nghiêm kỷ luật tài chính – NSNN, đảm bảo các khoản thu, chi ngân sách phải được dự toán; không giải ngân nguồn vốn vay ngoài nước vượt kế hoạch được Thủ tướng Chính phủ giao; quản lý chặt chẽ và hạn chế tối đa việc chuyển nguồn ngân sách sang năm sau. Tăng cường kiểm tra, giám sát và công khai, minh bạch việc sử dụng NSNN, nhất là các lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, lãng phí. Tổ chức thực hiện tốt Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

(26) Chỉ đạo thực hiện nghiêm các kết luận thanh tra và việc xử lý sau thanh, kiểm tra, kiểm toán đối với những trường hợp vi phạm, gây lãng phí tiền, tài sản nhà nước, tài nguyên thiên nhiên. Yêu cầu hệ thống Kho bạc Nhà nước tăng cường kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ việc chi tiêu, đảm bảo đúng chính sách, chế độ quy định, nhất là các khoản chi đầu tư XDCB, chi cho bộ máy quản lý nhà nước, sự nghiệp công, chi mua sắm phương tiện, trang thiết bị đắt tiền.

Mười là, chủ động hợp tác, hội nhập tài chính quốc tế:

(27) Tích cực tham gia các hoạt động hợp tác tài chính khu vực ASEAN, APEC… Thực hiện đồng bộ các giải pháp hội nhập và hợp tác tài chính quốc tế nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp, gián tiếp từ nước ngoài, thu hút có hiệu quả nguồn vốn ODA và các nguồn vốn trung và dài hạn phục vụ phát triển sản xuất – kinh doanh, thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế.

(28) Tiếp tục điều chỉnh thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt theo các cam kết thuế quan trong các FTAs đã ký kết; đàm phán thuế quan và dịch vụ tài chính trong các Hiệp định FTAs đang đàm phán; đồng thời đàm phán gói cam kết Vòng VIII về dịch vụ tài chính ASEAN.

Mười một là, điều hành ngân sách trong dịp Tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017 và xử lý tiếp các nhiệm vụ của năm 2016:

(29) Tập trung chỉ đạo, điều hành đảm bảo hoạt động SXKD trước và sau Tết diễn ra bình thường; theo dõi chặt chẽ tình hình biến động giá cả, thị trường; điều hành cung ứng và luân chuyển hàng hoá để đáp ứng nhu cầu; kiểm soát giá cả trong dịp Tết; kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quy định pháp luật về giá, gây biến động giá bất thường, nhất là giá các mặt hàng thiết yếu thuộc danh mục bình ổn giá, danh mục phải đăng ký giá, các mặt hàng quan trọng.

(30) Triển khai quyết liệt nhiệm vụ thu ngân sách; điều hành ngân sách trên địa bàn (bao gồm ngân sách cấp tỉnh, cấp huyện và xã) đảm bảo nguồn chi trả lương, chính sách an sinh xã hội và các nhiệm vụ chính trị quan trọng.

(31) Xử lý chuyển nguồn NSNN năm 2016 sang năm 2017 theo đúng quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Nghị quyết của Quốc hội, Nghị quyết của Chính phủ và Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính. Sử dụng nguồn tăng thu NSĐP năm 2016 theo đúng quy định; sau khi dành nguồn cải cách tiền lương theo quy định, được sử dụng để xử lý các nhu cầu cấp bách phát sinh, trong đó ưu tiên hoàn trả các khoản vay, nợ XDCB và chuyển nguồn năm sau để chủ động điều hành ngân sách./.

———————-TÀI LIỆU THAM KHẢO——————————-

  1. Các Báo cáo tổng kết công tác tài chính ngân sách 2016 tại Hội nghị ngành Tài chính.
  2. Số liệu cập nhật từ các Tổng cục, Vụ, Cục thuộc Bộ Tài chính.

[1] Số liệu tổng hợp đến 20 tháng 12 năm 2016.

[2] Như: Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tăng 7,5%; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 10,5%;kim ngạch xuất khẩu tăng 8,6%; số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng 16,2% so với năm 2015…

[3]Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12 tăng 4,74% so với tháng 12/2015; bình quân cả năm tăng 2,66% so với năm 2015; lạm phát cơ bản bình quân cả năm tăng 1,83% so với năm 2015.

[4]Thu hút vốn FDI ước tăng 7,1%, vốn giải ngân tăng 9% so với năm 2015.

[5] Giá dầu xây dựng dự toán NSNN năm 2016 là 60 USD/thùng. Những tháng đầu năm, giá dầu thế giới có thời điểm đã giảm xuống dưới 30 USD/thùng và hiện đang giao động khoảng 52 – 54 USD/thùng, bình quân cả năm khoảng 44 USD/thùng.

[6] Ước tính năm 2016, hệ thống KBNNthực hiện kiểm soát chi khoảng 741,4 nghìn tỷ đồng chi thường xuyên của NSNN; phát hiện 28,8 nghìn khoản chi chưa chấp hành đúng thủ tục, chế độ quy định, từ chối thanh toán khoảng 42 tỷ đồng; thông qua công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư từ chối thanh toán khoảng 136 tỷ đồng do chủ đầu tư đề nghị thanh toán không đúng đối tượng, thủ tục đầu tư không đúng quy định…

[7] Dự phòng NSTW đã cấp bổ sung và tạm ứng khoảng 3 nghìn tỷ đồng cho các địa phương chi phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn, hỗ trợ giống và khôi phục sản xuất sau thiên tai.

[8] So GDP kế hoạch. So với GDP thực tế thực hiện, thì bội chi NSNN ở mức 5,64%.

[9]Gồm: Bộ Công thương, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan), Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Y tế, Bộ Quốc phòng. Cổng thông tin một cửa quốc gia đã xử lý 204 nghìn bộ hồ sơ với sự tham gia của 8,2 nghìn doanh nghiệp.

[10] Kết quả: (i) Cho đến nay, thị trường có 30 quỹ đầu tư chứng khoán, trong đó có 18 quỹ mở, 8 quỹ thành viên, 02 quỹ ETF, 01 quỹ đóng và 01 quỹ đầu tư bất động sản. (ii) Cơ sở các nhà đầu tư trên thị trường tiếp tục có sự cải thiện, số lượng tài khoản nhà đầu tư (tính đến cuối tháng 11/2016) đạt 1,67 triệu tài khoản (tăng 6,5% so với cuối năm 2015), trong đó, số lượng nhà đầu tư tổ chức nước ngoài tăng 9%, số lượng nhà đầu tư tổ chức trong nước tăng 9%.

[11] Gồm: 02 TCT thuộc Bộ Công Thương là TCT Máy và Thiết bị công nghiệp, TCT Máy động lực và máy nông nghiệp; 01 TCT thuộc Bộ Xây dựng là Tổng công ty Tư vấn xây dựng VN; 01 TCT thuộc Bộ Quốc phòng là TCT 36; 02 TCT thuộc Bộ NN&PTNT là TCT Lâm nghiệp và TCT Vật tư nông nghiệp.

[12]Các tập đoàn, tổng công ty đã thoái vốn tại 5 lĩnh vực nhạy cảm là 490 tỷ đồng, thu về 450 tỷ đồng; thoái vốn đầu tư ngoài 5 lĩnh vực nhạy cảm là 1.578 tỷ đồng, thu về 2.273 tỷ đồng. SCIC đã bán vốn nhà nước với giá trị 3.081 tỷ đồng, thu về 16.109 tỷ đồng.

[13]Như: Nghị định số 149/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 177/2013/NĐ-CP quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều Luật giá; Thông tư số 233/2016/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 56/2014/TT-BTC; ban hành 12 Thông tư về giá đối với 12 loại phí chuyển sang cơ chế giá thuộc thẩm quyền của Bộ Tài chính…

[14]Hải Phòng, Hải Dương, Nam Định, Thái Nguyên, Phú Thọ, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Dương, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Trà Vinh.

[15] Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Quảng Ninh, Cà Mau, Bạc Liêu, Bắc Kạn, Cao Bằng, Đắk Lắk, Gia Lai.

[16]Quyết định thanh tra số 56,57/QĐ-TTr ngày 19/5/2016 của Thanh tra Bộ Tài chính.

[17] Quyết định kiểm tra số 532,533,534/QĐ-BTC ngày 22/3/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc kiểm tra chấp hành pháp luật về giá năm 2016.

[18]Tại Nghị quyết số 25/2016/QH14 ngày 09/11/2016 về kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2016 -2020.

[19] Như: trình Chính phủ ban hành Nghị định số 54/2016/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ của tổ chức khoa học và công nghệ công lập; trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 171/QĐ-TTg phê duyệt mạng lưới tổ chức khoa học và công nghệ đến năm 2020, định hướng đến năm 2030…

[20] Trong đó: Thanh tra Bộ Tài chính thực hiện 47 cuộc thanh tra, kiểm tra, kiến nghị xử lý tài chính 16,74 nghìn tỷ đồng; Tổng cục Thuế thực hiện gần 82 nghìn cuộc thanh tra, kiểm tra tại doanh nghiệp và kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế khoảng 854 nghìn hồ sơ; qua đó kiến nghị xử lý 14,5 nghìn tỷ đồng; Tổng cục Hải quan thực hiện 9,68 nghìn cuộc thanh tra, kiểm tra nội bộ và kiểm tra sau thông quan, kiến nghị xử lý vi phạm 3,35 nghìn tỷ đồng; KBNN thực hiện 1,1 nghìn cuộc thanh tra, kiểm tra, kiến nghị xử lý 1,8 tỷ đồng; Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thực hiện 87 cuộc thanh tra, kiểm tra, ban hành 20 Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, thu vào NSNN 5,6 tỷ đồng.

[21]Đã đàm phán, ký kết 34 Hiệp định vay với tổng trị giá quy đổi khoảng 5,2 tỷ USD, gấp 1,5 lần so với cùng kỳ năm 2015;đã giải ngân khoảng 3,2 tỷ USD.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *