Chuyên đề 1: KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ NĂM 2015 VÀ PHƯƠNG HƯỚNG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ NĂM 2016 TRÊN MỘT SỐ LĨNH VỰC HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA NGÀNH TÀI CHÍNH

MỤC LỤC

Chuyên đề 1: KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ NĂM 2015 VÀ PHƯƠNG HƯỚNG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ NĂM 2016 TRÊN MỘT SỐ LĨNH VỰC HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA NGÀNH TÀI CHÍNH

(Tổng hợp từ các Báo cáo tại Hội nghị tổng kết ngành Tài chính năm 2015)

 TS. Nguyễn Việt Cường

Trường Bồi dưỡng cán bộ tài chính

 1.1. Kết quả chung thực hiện nhiệm vụ NSNN năm 2015 và phương hướng thực hiện nhiệm vụ quản lý NSNN năm 2016

1.1.1. Tình hình thực hiện NSNN năm 2015

Năm 2015 nền kinh tế tiếp tục chuyển biến tích cực, tăng trưởng kinh tế ước đạt 6,68%, vượt mục tiêu đề ra (6,2%); lạm phát thấp (chỉ số giá tiêu dùng bình quân tăng 0,63% so với bình quân năm 2014); tín dụng tăng trưởng khá; sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng trưởng… Tuy nhiên, tình hình vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, nhất là giá dầu thế giới giảm sâu và khó dự báo, làm giảm thu NSTW; thị trường tiền tệ thế giới biến động phức tạp, gây áp lực lên tỷ giá.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chỉ đạo sát sao, kịp thời của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; cùng với sự phối hợp chặt chẽ, vào cuộc quyết liệt, có hiệu quả của các cấp, các ngành và địa phương, nỗ lực phấn đấu của cộng đồng doanh nghiệp, kết quả thực hiện nhiệm vụ NSNN năm 2015 là tích cực. Cụ thể:

1.1.1.1. Về thu NSNN

Ngay từ đầu năm 2015, trước tình hình giá dầu thô thế giới giảm mạnh, làm giảm thu NSNN, Bộ Tài chính đã chủ động tính toán, xây dựng các kịch bản điều hành, đảm bảo cân đối NSNN theo các mức giá dầu dự kiến (40, 50, 60 USD/thùng); tham mưu với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các giải pháp điều hành tài chính – NSNN nhằm tập trung tháo gỡ khó khăn cho SXKD, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện phấn đấu tăng thu nội địa và XNK để bù đắp số giảm thu từ dầu thô; đồng thời tổ chức theo dõi chặt chẽ tình hình để có điều chỉnh phù hợp trong quá trình tổ chức thực hiện.

Nhờ kinh tế phát triển, kết hợp với các giải pháp quyết liệt, phù hợp và quyết tâm, nỗ lực cao của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và ủng hộ của nhân dân, nhiệm vụ thu ngân sách năm 2015 đã hoàn thành vượt mức dự toán Quốc hội quyết định. Tổng thu NSNN đạt 996,87 nghìn tỷ đồng, tăng 85,77 nghìn tỷ đồng (9,4%) so dự toán; trong đó thu NSTW cơ bản đạt dự toán, không phải sử dụng đến khoản 10.000 tỷ đồng thu thoái vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp mà Quốc hội đã cho phép để xử lý số giảm thu NSTW; giữ bội chi NSNN trong phạm vi dự toán Quốc hội quyết định đầu năm, đảm bảo cân đối ngân sách các cấp chính quyền địa phương.

1.1.1.2. Về chi NSNN

Quán triệt chủ trương thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ, quản lý và sử dụng kinh phí NSNN tiết kiệm, hiệu quả; các bộ, ngành, địa phương, đơn vị sử dụng NSNN được yêu cầu rà soát, quản lý chặt chẽ các khoản chi, bảo đảm trong phạm vi dự toán đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, theo đúng chế độ quy định; triệt để tiết kiệm chi thường xuyên, không mua xe ô tô công, giảm tối đa các khoản chi khánh tiết, hội nghị, hội thảo, lễ hội,…; thực hiện nghiêm, có hiệu quả các biện pháp chống thất thoát, lãng phí, tham nhũng.

Tổng chi NSNN năm 2015 đạt 1.262,87 nghìn tỷ đồng, bằng 110,1% so với dự toán đầu năm. Trong đó, khoản chi tăng đáng kể là chi đầu tư phát triển ước đạt 236,8 nghìn tỷ đồng, bằng 121,5% so dự toán đầu năm.

Bội chi NSNN năm 2015 là 256 nghìn tỷ đồng (bằng 5,71% GDP), trong phạm vi dự toán điều chỉnh.

Trong tổ chức thực hiện, cơ quan tài chính các cấp và KBNN đã tăng cường công tác kiểm soát chi NSNN, đảm bảo chặt chẽ, đúng mục đích, chất lượng, hiệu quả. Ước tính năm 2015, hệ thống KBNN thực hiện kiểm soát chi 736.580 tỷ đồng chi thường xuyên của NSNN, đã phát hiện gần 29 nghìn khoản chi chưa chấp hành đúng thủ tục, chế độ quy định; thông qua công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư đã từ chối thanh toán 95 tỷ đồng do chủ đầu tư đề nghị thanh toán sai danh mục, dự án có quyết định đầu tư phê duyệt sau ngày 31/10/2014. Đồng thời, đã thực hiện cắt giảm trên 4.143 tỷ đồng dự toán chi thường xuyên của các đơn vị, cơ quan trung ương và dự phòng NSTW năm 2015 để đảm bảo cân đối NSTW.

Đánh giá chung, nhiệm vụ tài chính – NSNN năm 2015 về cơ bản đã hoàn thành toàn diện trên tất cả các lĩnh vực công tác. Công tác quản lý thu, điều hành chi được thực hiện chủ động, sát với tình hình thực tiễn, kỷ luật tài chính – ngân sách được tăng cường và có chuyển biến tích cực. Kết quả thu NSNN vượt dự toán và cao hơn số đánh giá trình Quốc hội, góp phần đảm bảo cân đối NSTW trong điều kiện có nhiều tác động không thuận từ môi trường thế giới đến nguồn thu NSTW, đặc biệt là việc giá dầu thô giảm sâu.

1.1.2. Kế hoạch và giải pháp điều hành dự toán NSNN năm 2016

Dự toán NSNN năm 2016 Quốc hội thông qua với tổng thu NSNN là 1.014,5 nghìn tỷ đồng, tổng chi NSNN là 1.273,2 nghìn tỷ đồng, bội chi NSNN 254 nghìn tỷ đồng (4,95% GDP). Căn cứ nhiệm vụ thu, chi NSNN năm 2016 được Thủ tướng Chính phủ giao và Bộ Tài chính thông báo, các bộ, cơ quan trung ương đã khẩn trương thực hiện việc phân bổ, giao dự toán NSNN năm 2016 đến các chủ đầu tư, các đơn vị sử dụng NSNN; HĐND các địa phương đã họp quyết định nhiệm vụ KT – XH và dự toán NSNN năm 2016.

Năm 2016 dự báo tình hình tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực hơn so với năm 2015, tăng trưởng kinh tế khoảng 6,7%, lạm phát dưới 5%, tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 10%… Tuy nhiên, vẫn còn tiềm ẩn nhiều khó khăn, thách thức, nhất là những biến động phức tạp, khó lường trên thị trường tài chính, tiền tệ thế giới và giá dầu thô tiếp tục giảm sâu, dự báo có tác động không thuận đến sự phát triển kinh tế và cân đối thu, chi NSNN năm 2016. Để chủ động ứng phó với việc giảm thu NSNN do giá dầu thô giảm, giữ vững cân đối NSNN năm 2016, Bộ Tài chính đã xây dựng các kịch bản điều hành NSNN theo từng mức giá dầu, trong đó có cả mức giá 30 và thậm chí dưới 30 USD/thùng, từ đó đưa ra những giải pháp xử lý cụ thể. Do tỷ trọng thu trực tiếp và gián tiếp liên quan đến dầu thô không lớn (khoảng 10% tổng thu NSNN); đồng thời, từ kinh nghiệm điều hành năm 2015 cho thấy việc giá xăng dầu giảm cũng có tác động tích cực đến phát triển kinh tế, tạo thêm nguồn thu cho NSNN. Vì vậy, số giảm thu do biến động giá dầu thô có thể bù đắp được từ số phấn đấu tăng thu nội địa và XNK.

Để hoàn thành nhiệm vụ tài chính – NSNN năm 2016, Bộ Tài chính xác định cần vào cuộc một cách chủ động, quyết liệt ngay từ những ngày đầu, tháng đầu của năm. Tập trung triển khai đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp tài chính – ngân sách đã được đề ra trong Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán NSNN năm 2016, trong đó: (i) chú trọng tăng cường quản lý thu NSNN, phấn đấu tăng thu từ nội địa và thu từ hoạt động XNK để bù đắp tối đa cho số giảm thu do tác động của dầu thô; (ii) quản lý, điều hành chi chặt chẽ, triệt để tiết kiệm chi thường xuyên; (iii) tiếp tục rà soát, xây dựng và hoàn thiện thể chế, hệ thống pháp luật về thuế, hải quan, ngân sách, quản lý tài chính doanh nghiệp, thị trường vốn, thị trường chứng khoán, bảo hiểm, dịch vụ kế toán, kiểm toán…; đẩy mạnh cải cách hành chính, góp phần đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu nền kinh tế và tháo gỡ khó khăn, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thúc đẩy phát triển SXKD, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao hơn năm 2015; (iv) điều hành bội chi NSNN trong phạm vi được Quốc hội quyết định; quản lý, kiểm soát chặt chẽ nợ công; (v) tiếp tục tăng cường kỷ cương, kỷ luật tài chính, tăng cường công khai, minh bạch,…

1.2. Kết quả thực hiện nhiệm vụ thu thuế năm 2015 và phương hướng thực hiện nhiệm vụ thu của ngành thuế năm 2016.

1.2.1. Đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ thu NSNN, chống thất thu, cải cách thủ tục hành chính thuế năm 2015

1.2.1.1. Về công tác quản lý thu, chống thất thu NSNN

(1) Trên cơ sở chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ, dự toán pháp lệnh được giao, Tổng cục Thuế đã tiến hành giao chỉ tiêu phấn đấu thu nội địa năm 2015 cho Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tạo động lực để toàn ngành quyết tâm, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ chính trị. Bên cạnh đó, đã triển khai giao dự toán thu hàng quý theo đúng thời hạn, phù hợp với phát sinh kinh tế của từng địa bàn, làm căn cứ để các Cục Thuế triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ thu hàng tháng, quý phục vụ công tác chỉ đạo điều hành của Bộ, Chính phủ.

(2) Đẩy mạnh việc kiểm kê, rà soát mã số thuế luôn được cơ quan thuế các cấp quan tâm và chú trọng đảm bảo kiểm soát, nắm bắt kịp thời đối tượng nộp thuế, để đưa vào diện theo dõi, quản lý thuế. Chú trọng việc rà soát thông tin người nộp thuế trên ứng dụng, kịp thời đôn đốc người nộp thuế bổ sung thông tin thay đổi gửi cơ quan thuế để cập nhật thông tin phục vụ cho công tác quản lý, theo dõi. Tính từ đầu năm đến ngày 30/11/2015, toàn quốc có 88.532 DN thành lập mới, tăng 27,1% so với cùng kỳ; có 78.175 DN ngừng hoạt động SXKD, tăng 14,6% so với cùng kỳ (trong đó: số DN giải thể, phá sản là 19.696 DN, chiếm 25,2% và bỏ địa điểm kinh doanh là 40.509 DN, chiếm 52,4%)[1], có 19.771 DN tạm nghỉ sản xuất kinh doanh, bằng 98% so với cùng kỳ năm 2014. Như vậy, đến thời điểm 30/11/2015, toàn quốc hiện có 517.112 DN đang hoạt động, tăng 6,05% so với so với cùng kỳ năm 2014. Trong đó: DNNN là 4.776 DN (chiếm tỷ trọng 0,9%); Doanh nghiệp ĐTNN là 12.523 DN (chiếm tỷ trọng 2,4%); Doanh nghiệp NQD là 499.813 DN (chiếm tỷ trọng 96,7%). Đẩy mạnh việc giám sát, đôn đốc kê khai thuế, nhờ đó công tác quản lý, giám sát kê khai thuế ngày càng chặt chẽ và tạo được những chuyển biến tích cực. Tổng số tờ khai thuế của cả nước đạt 91% trên tổng số tờ khai phải nộp, tỷ lệ tờ khai nộp đúng hạn trên tổng số tờ khai đã nộp đạt 93%. Số tờ khai không nộp chiếm 9% tổng số tờ khai phải nộp và giảm 30% so với cùng kỳ năm 2014.

(3) Xây dựng và giao chỉ tiêu thu nợ thuế năm 2015 đến từng đơn vị, chỉ đạo các đơn vị tăng cường áp dụng các biện pháp đôn đốc thu nợ và cưỡng chế nợ thuế theo đúng quy định, quy trình quản lý thu nợ và cưỡng chế nợ thuế; Hàng tháng, xây dựng kế hoạch thu tiền thuế nợ chi tiết đối với từng người nộp thuế, từng khoản thu, sắc thuế, từng địa bàn, khu vực kinh tế, đồng thời, đề ra các biện pháp thực hiện kế hoạch có hiệu quả để đạt được chỉ tiêu. Cơ quan thuế đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan (Kho bạc nhà nước, Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng, toà án, công an) để thực hiện các biện pháp đôn đốc và cưỡng chế thu hồi đối với người nợ thuế có khoản tiền thuế nợ trên 90 ngày và đã hết thời hạn gia hạn nộp thuế. Đặc biệt, đã thực hiện công khai thông tin người nợ thuế trên các phương tiện thông tin đại chúng. Nhờ đó, ước thực hiện 11 tháng, Tổng cục Thuế đã thu được hơn 39.100 tỷ đồng nợ đọng thuế của năm 2014 chuyển sang, tăng 27,1% so với cùng kỳ, bằng 102,9% chỉ tiêu thu nợ, trong đó bằng biện pháp quản lý nợ là gần 31.400 tỷ đồng; bằng biện pháp cưỡng chế nợ thuế là 7.700 tỷ đồng.

(4) Tổ chức sắp xếp, bố trí nguồn nhân lực để tập trung tối đa cho công tác thanh tra, kiểm tra thuế. Cùng với thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra, việc tổng hợp phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi thủ đoạn gian lận và chiếm đoạt tiền thuế cũng được chú trọng. Thường xuyên nghiên cứu, đổi mới phương pháp kiểm tra, nâng cao chất lượng phân tích hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thanh, kiểm tra thuế. Bên cạnh đó, toàn hệ thống thuế đã tập trung thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh sử dụng hoá đơn bất hợp pháp; Thanh tra các doanh nghiệp giao dịch qua ngân hàng có dấu hiệu đáng ngờ; chuyển giá; doanh nghiệp lớn nhiều năm chưa được thanh tra, kiểm tra, doanh nghiệp hoàn thuế lớn; Các lĩnh vực phát sinh thuế nhà thầu nước ngoài (xuất khẩu tại chỗ, bản quyền, chuyển giao công nghệ, dịch vụ bảo hành, …); dược phẩm, thiết bị y tế; các doanh nghiệp xã hội hoá; Các doanh nghiệp có rủi ro cao về thuế (kinh doanh hàng nông sản thực phẩm, cà phê xuất khẩu qua đường biên giới đất liền…). Chú trọng sửa đổi, bổ sung quy trình thanh tra, kiểm tra thuế gắn với xây dựng các ứng dụng CNTT phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra. Đồng thời, xây dựng các tài liệu, giáo trình phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn, trao đổi nghiệp vụ nhằm nâng cao năng lực cho công chức làm công tác thanh tra, kiểm tra thuế.

Qua tổng hợp báo cáo, trong 11 tháng đầu năm 2015 cơ quan thuế đã thanh tra, kiểm tra được 68.001 doanh nghiệp, đạt 83,5% kế hoạch năm 2015, bằng 108,5% cùng kỳ năm 2014; với tổng số thuế tăng thu qua thanh tra, kiểm tra là 10.246,8 tỷ đồng, bằng 97% cùng kỳ năm 2014; giảm khấu trừ là 1.167,5 tỷ đồng, bằng 111,97% so với cùng kỳ năm 2014; tổng số giảm lỗ là 19.593,2 tỷ đồng, bằng 99,4% cùng kỳ năm 2014; số tiền thuế nộp vào ngân sách là 6.982,3 tỷ đồng, đạt 68% số thuế tăng thu qua thanh tra, kiểm tra và bằng 90,2% so với cùng kỳ năm 2014.[2] Riêng về thanh tra, kiểm tra chống chuyển giá, năm 2015 ước thực hiện thanh tra, kiểm tra 2.421 DN lỗ, có dấu hiệu chuyển giá và có hoạt động giao dịch liên kết, giảm lỗ 4.437,6 tỷ đồng; truy thu, truy hoàn và phạt 508,1 tỷ đồng; giảm khấu trừ là 190,1 tỷ đồng.

Đồng thời, tăng cường công tác phối hợp với cơ quan công an trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm gian lận, trốn thuế, cụ thể, tính đến tháng 11 năm 2015, cơ quan thuế đã chuyển cơ quan công an 1.616  hồ sơ, trong đó gồm các nội dung: vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế, dấu hiệu trốn thuế; đề nghị phối hợp đôn đốc nợ đọng thuế ; có dấu hiệu chiếm đoạt tiền hoàn thuế; tăng cường xử lý các đơn vị sử dụng hóa đơn bất hợp pháp… Theo đó, cơ quan Công an đã xử lý hình sự 18 vụ, kiến nghị thu thu hồi 8,9 tỷ đồng. Bắt giữ, tạm giữ 15 đối tượng có dấu hiệu trốn thuế, vi phạm pháp luật về thuế, chiếm đoạt tiền hoàn thuế. Khởi tố 20 bị can có dấu hiệu vi phạm về thuế, trốn thuế; Cơ quan thuế đã xử lý 124 vụ, số tiền kiến nghị thu hồi là 7,6 tỷ đồng; số tiền đã thu hồi là 6,9 tỷ đồng.

(5) Tổng cục Thuế thường xuyên phối hợp với các đơn vị liên quan để tăng cường kiểm tra giám sát chặt chẽ việc kê khai thuế đối với doanh nghiệp có rủi ro cao về thuế nhằm chống các hành vi gian lận, chiếm đoạt tiền hoàn thuế từ NSNN. Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến các chính sách thuế và quản lý thuế mới đến người nộp thuế, đặc biệt là những nội dung về cải cách thủ tục hành chính, hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, qua đó tạo thuận lợi cho người nộp thuế.

Với việc triển khai quyết liệt các giải pháp nêu trên, kết quả thu NSNN năm 2015 ước[3] đạt 748.000 tỷ đồng, bằng 102,2% dự toán (tương ứng vượt 16.400 tỷ đồng), bằng 109,5% so với cùng kỳ năm 2014. Trong đó:

a) Thu dầu thô: ước thu đạt 61.000 tỷ đồng, bằng 65,6% dự toán (tương ứng giảm 32.000 tỷ đồng), bằng 61% so với thực hiện năm 2014, chủ yếu do giá dầu bình quân giảm, ước đạt 56,5 USD/thùng, giảm 43,5 USD/thùng so với giá dự toán.

b) Thu nội địa: ước đạt 687.000 tỷ đồng, bằng 107,6% dự toán (tương ứng vượt 48.400 tỷ đồng), tăng 17,9% so với thực hiện năm 2014. Bao gồm:

– Tiền sử dụng đất: ước thu đạt 57.000 tỷ đồng, bằng 146,2% dự toán (tương ứng tăng 18.000 tỷ đồng), tăng 29,6% so với thực hiện năm 2014, chủ yếu do thị trường bất động sản có sự khởi sắc.

– Thu cổ tức và lợi nhuận còn lại: ước đạt 53.000 tỷ đồng, bằng 125,9% dự toán (tương ứng vượt 10.900 tỷ đồng), tăng 23,8% so với thực hiện năm 2014, chủ yếu các doanh nghiệp kê khai, nộp số lợi nhuận còn lại quyết toán năm 2014 chuyển qua (trong đó Viettel nộp 8.000 tỷ đồng).

  – Thu nội địa không kể tiền sử dụng đất, cổ tức và lợi nhuận còn lại: ước đạt 577.000 tỷ đồng, bằng 105,1% dự toán (tương ứng tăng 19.500 tỷ đồng), tăng 16,3% so với thực hiện năm 2014. Số vượt thu so với dự toán, chủ yếu từ khoản thu thuế bảo vệ môi trường khoảng 13.200 tỷ đồng do thực hiện Nghị quyết số 888a/2015/UBTVQH13; lệ phí trước bạ khoảng 4.660 tỷ đồng do thị trường ô tô, bất động sản khởi sắc; Các khoản thu còn lại khá sát so với dự toán (chỉ vượt khoảng 1.600 tỷ đồng).

(Theo báo cáo ngành thuế gần đây nhất – tháng 3/2016, năm 2015 cơ quan quản lý thuế thu đạt 806.378 tỷ đồng, bằng 110,2% dự toán (tương ứng vượt 74.778 tỷ đồng), bằng 117,7% so với thực hiện năm 2014. Trong đó, do giá dầu giảm “sốc” trong năm 2015 đã khiến nguồn thu từ dầu thô “hụt” nặng, chỉ đạt 67.510 tỷ đồng, bằng 72,6% dự toán. Số thu hụt từ dầu thô tương ứng hụt 25.490 tỷ đồng.

Tuy nhiên, do thu nội địa đạt 738.868 tỷ đồng, bằng 115,7% dự toán (tương ứng vượt 100.268 tỷ đồng), tăng 26,2% so với thực hiện năm 2014, đã giúp ngành thuế “về đích” trong thu ngân sách năm 2015.

Trong số 63 địa phương hoàn thành dự toán pháp lệnh, duy nhất có 2 địa phương không hoàn thành là Quảng Ngãi và Bà Rịa -Vũng Tàu. Có 59/63 địa phương có mức tăng trưởng so với cùng kỳ, còn 4/63 địa phương thấp hơn so với cùng kỳ là Gia Lai, Bạc Liêu, Kon Tum, Đắc Nông).

1.2.1.2. Về công tác cải cách thủ tục hành chính tạo thuận lợi cho NNT

Sau khi triển khai thực hiện Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 18/3/2014 đạt kết quả, bước sang năm 2015, Tổng cục Thuế tiếp tục chỉ đạo các đơn vị trong toàn ngành bên cạnh chú trọng thực hiện quản lý thu, chống thất thu NSNN, tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, hỗ trợ và tháo gỡ khó khăn cho người dân và doanh nghiệp. Đồng thời, chủ động nắm bắt nội dung của Nghị quyết mới của Chính phủ (Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 12/3/2015), Tổng cục Thuế đã ban quyết định số 415/QĐ-TCT ngày 20/3/2015 phê duyệt chương trình hành động về đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tăng cường quản lý thuế và đảm bảo kỷ luật, kỷ cương nội ngành, đồng hành cùng doanh nghiệp.

Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/02/2015 hướng dẫn thi hành Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/2/2015 hướng dẫn một Luật sửa nhiều Luật nội dung về thuế GTGT, hóa đơn, thuế tài nguyên và quản lý thuế. Theo tính toán, việc sửa đổi TTHC tại Thông tư số 26/2015/TT-BTC nêu trên đã giảm thêm được 10 giờ nữa liên quan đến nội dung đơn giản hoá thủ tục về kê khai, khấu trừ thuế GTGT của doanh nghiệp; Ngoài ra Bộ cũng đã ban hành Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 hướng dẫn thi hành Nghị định số 12/2015/NĐ-CP (nội dung về thuế TNDN). Theo tính toán, việc sửa đổi hoặc bãi bỏ các thủ tục kê khai thuế TNDN theo Thông tư này sẽ giảm trên 30 giờ cho người nộp thuế. Cùng với việc sửa đổi cơ chế, chính sách, hiện nay Tổng cục Thuế đã và đang triển khai ứng dụng CNTT quản lý thuế tập trung (TMS) cho các Cục Thuế; đồng thời mở rộng áp dụng nộp thuế điện tử trên phạm vi cả nước, giải pháp này sẽ giảm được trên 10 giờ nộp thuế cho doanh nghiệp. Như vậy, với các giải pháp đã triển khai thực hiện nêu trên, số giờ nộp thuế sẽ giảm tiếp được khoảng trên 50 giờ (năm 2014 đã giảm được 370 giờ); do đó, sẽ đạt và vượt được mục tiêu mà Nghị quyết số 19/NQ-CP của Chính phủ đã đặt ra về việc giảm số giờ nộp thuế đối với người nộp thuế xuống dưới 121,5 giờ trong năm 2015.

Tập trung rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy trình, quy chế để nhanh chóng đưa các nội dung cải cách thủ tục hành chính thuế đi vào cuộc sống, đã thành lập Ban Chỉ đạo và 07 Tổ soạn thảo quy trình nghiệp vụ để rà soát tổng thể các quy trình, quy chế về quản lý thuế và chuyên môn nghiệp vụ liên quan và công khai minh bạch quy trình, quy chế để người nộp thuế biết và theo dõi, giám sát. Kết quả đã rà soát đối với 70 quy trình, quy chế (có 60 quy trình, quy chế hiện có và 10 quy trình, quy chế đang xây dựng mới lần đầu), trong đó có 30 quy trình, quy chế liên quan trực tiếp đến người nộp thuế. Tính đến ngày 10/12/2015 Tổng cục Thuế đã ban hành quyết định sửa đổi, bổ sung 37 quy trình, quy chế.

Thực hiện yêu cầu về việc rà soát giảm tối thiểu 10% số TTHC thuế, đơn giản hóa tối thiểu 20% TTHC, Tổng cục Thuế đã thực hiện rà soát các TTHC lĩnh vực thuế để đơn giản hóa và cắt giảm. Tính đến 30/10/2015, Tổng cục Thuế đã trình Bộ cắt giảm 63 TTHC, đơn giản hoá 50 TTHC, như vậy sau khi rà soát, đến thời điểm báo cáo, lĩnh vực thuế còn 393 TTHC (thời điểm 30/6/2015 là 443 TTHC). Tính đến 10/12/2015 đã thực hiện khai thuế qua mạng Internet đối với 98,95% số doanh nghiệp đang thuộc diện quản lý thuế; nhiều Cục Thuế đã tổ chức tốt công tác triển khai và có số lượng lớn doanh nghiệp trên địa bàn thực hiện khai thuế qua mạng đạt tỷ lệ 100%. Đồng thời, đã ký kết thoả thuận với 43 ngân hàng thương mại để triển khai nộp thuế điện tử tại 63 địa phương trong cả nước, tính đến ngày 10/12/2015 đã có hơn 90,22% doanh nghiệp đăng ký tham gia nộp thuế điện tử với số tiền đã nộp vào NSNN từ đầu năm 2015 đến 10/12/2015 là hơn 91.000 tỷ đồng.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được nêu trên, công tác quản lý thuế, chống thất thu, cải cách TTHC thuế năm 2015 vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như sau:

– Công tác tuyên truyền, hỗ trợ, hướng dẫn chính sách thuế cho doanh nghiệp, người dân ở một số Cục Thuế, Chi cục Thuế chưa đạt hiệu quả cao.

– Các biện pháp cưỡng chế thuế đã triển khai nhưng hiệu quả chưa cao và các quy định về cưỡng chế thuế còn bất cập so với thực tế; Số thuế nợ đọng tăng cao.

Ở một số nơi vẫn còn tình trạng thất thu ngân sách, nhất là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, trong đó tập trung những lĩnh vực như: xây dựng cơ bản, khai thác tài nguyên, khoáng sản, kinh doanh phương tiện vận tải tư nhân, kinh doanh vật liệu xây dựng, xe máy, khách sạn, nhà hàng ăn uống, cho thuê tài sản,…

– Công tác cải cách thủ tục hành chính thuế bên cạnh những kết quả tích cực, quan trọng đạt được vẫn còn một số hạn chế trong giải đáp vướng mắc của người nộp thuế về chính sách, thủ tục thuế. Thủ tục hành chính tuy được công khai, nhưng số lượng thủ tục còn lớn, phức tạp làm ảnh hưởng đến thời gian của NNT.

1.2.2. Nhiệm vụ và biện pháp quản lý thu, chống thất thu NSNN, và cải cách thủ tục hành chính thuế năm 2016

1.2.2.1. Nhiệm vụ

 (1) Thực hiện tốt nhiệm vụ thu NSNN năm 2016, đảm bảo hoàn thành vượt mức cao nhất số thu nội địa theo dự toán pháp lệnh đã được Quốc hội, Chính phủ giao cho cơ quan thuế quản lý (dự toán pháp lệnh năm 2016 là 839.500 tỷ đồng, trong đó dầu thô là 54.500 tỷ đồng; thu nội địa là 785.000 tỷ đồng (bao gồm cả 30.000 tỷ đồng thu từ tiền bán bớt phần vốn Nhà nước tại một số doanh nghiệp).

(2) Triển khai thực hiện kịp thời, hiệu quả các Nghị quyết của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, phấn đấu tăng trưởng kinh tế cao hơn năm 2015, chú trọng cải thiện chất lượng tăng trưởng, bảo đảm phát triển bền vững. Đẩy mạnh thực hiện các đột phá chiến lược, tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh.

(3) Rà soát để tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và tháo gỡ những khó khăn, khắc phục những hạn chế, rào cản làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển của doanh nghiệp, từ đó góp phần đẩy mạnh hội nhập và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp, cải thiện môi trường kinh doanh và tăng cường thu hút đầu tư, tạo đà kích thích tăng trưởng kinh tế.

(4) Đẩy mạnh tiến trình cải cách hiện đại hoá công tác thuế theo đúng lộ trình đã được Thủ tướng Chính phủ giao.

(5) Tăng cường kỷ luật kỷ cương nội ngành, thực hiện tốt chương trình phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong cơ quan thuế, hải quan các cấp.

1.2.2.2. Giải pháp trọng tâm năm 2016

(1) Chỉ đạo các Cục Thuế tham mưu cho UBND các tỉnh, thành phố tiếp tục triển khai thực hiện kịp thời các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ đã đề ra; kịp thời tháo gỡ, giải quyết được các khó khăn, vướng mắc trong sản xuất kinh doanh; Tổ chức triển khai thực hiện tốt có hiệu quả các Luật về thuế, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt sửa đổi, bổ sung.

(2) Thường xuyên theo dõi diễn biến tình hình thu, nắm chắc các nguồn thu và số lượng người nộp thuế trên địa bàn. Chú trọng công tác phân tích, đánh giá và dự báo nguồn thu, đặc biệt phân tích cụ thể nguyên nhân tác động làm tăng, giảm nguồn thu theo từng địa bàn, từng lĩnh vực thu, từ đó tổng hợp báo cáo kịp thời kết quả thu và dự báo thu hàng tháng, hàng quý sát đúng với thực tế phát sinh. Đồng thời, xác định cụ thể các nguồn thu còn tiềm năng, các lĩnh vực, loại thuế còn thất thu để kịp thời đề xuất các giải pháp quản lý hiệu quả, kiến nghị với UBND chỉ đạo các ngành, các cấp ở địa phương cùng phối hợp thực hiện.

(3) Xây dựng chương trình hành động để triển khai thực hiện ngay từ đầu năm 2016 đối với Nghị quyết số 36a/NQ-CP 14/10/2015 về triển khai Chính phủ điện tử, trọng tâm là tổ chức triển khai thực hiện hóa đơn điện tử trên phạm vi toàn quốc; trong đó cơ quan thuế hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ thực hiện hóa đơn điện tử có xác thực của cơ quan thuế; tiếp tục triển khai dịch vụ nộp thuế qua mạng, hoàn thuế điện tử và phối hợp với các cơ quan liên quan để triển khai dịch vụ nộp thuế đất đai, lệ phí trước bạ, hộ cá nhân qua mạng.

(4) Tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2015 – 2016, trong đó phấn đấu đạt mức ASEAN-4 về cải cách hành chính đối với 03 nhóm chỉ tiêu mới là: Kiểm tra trước hoàn thuế; thực hiện quản lý rủi ro trong thanh tra, kiểm tra thuế; thời gian và kết quả xử lý những khiếu nại về thuế.

(5) Tăng cường công tác tuyên truyền, hỗ trợ đối với người nộp thuế, hướng dẫn người nộp thuế thực hiện kê khai thuế đúng quy định, tiếp tục đổi mới các hình thức tuyên truyền, hỗ trợ, tư vấn pháp luật về thuế cho cộng đồng xã hội, đặc biệt là dịch vụ hỗ trợ các tổ chức, cá nhân nộp thuế để nâng cao sự hiểu biết và tính tuân thủ pháp luật thuế, lên án mạnh mẽ các hành vi trốn thuế, gian lận thuế, chây ỳ không thực hiện tốt nghĩa vụ thuế, tạo sự đồng thuận và ủng hộ của nhân dân trong công tác chống trốn lậu thuế.

(6) Tổ chức hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện nghĩa vụ kê khai thuế của các tổ chức, cá nhân nhằm đạt mục tiêu tỷ lệ hồ sơ khai thuế đúng hạn 100% so số cần phải kê khai nghĩa vụ thuế theo chế độ quy định; Tổ chức giao nhiệm vụ, kiểm tra đôn đốc để thực hiện mục tiêu kiểm tra 100% hồ sơ khai thuế tại cơ quan thuế nhằm phát hiện, xử lý kịp thời các trường hợp kê khai không đúng, không đủ số thuế phải nộp; Thường xuyên phối hợp, định kỳ thực hiện đối chiếu với cơ quan đăng ký kinh doanh và chính quyền sở tại để quản lý theo dõi, giám sát chặt chẽ người nộp thuế.

(7) Đẩy mạnh thực hiện thanh tra, kiểm tra thuế theo phương pháp quản lý rủi ro, dựa trên cơ sở thu thập, phân tích thông tin về người nộp thuế, phấn đấu thanh tra, kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế đạt tối thiểu 18% số lượng doanh nghiệp thuộc diện quản lý thuế. Phấn đấu tăng thu qua thanh tra, kiểm tra trên 13.000 tỷ đồng; số nộp ngân sách trên 10.000 tỷ đồng. Đồng thời, tổ chức thanh tra, kiểm tra chuyên sâu theo từng ngành, từng lĩnh vực trọng điểm và các mặt hàng nhạy cảm, tập trung vào các lĩnh vực còn thất thu, đẩy mạnh công tác thanh tra hoạt động giao dịch liên kết, thương mại điện tử và các lĩnh vực ngân hàng, dự án đất đai, kinh doanh bất động sản, kinh doanh dược phẩm,… Tăng cường phối hợp với các Bộ ngành liên quan: Bộ Công an, Ngân hàng Nhà nước,… chống gian lận chiếm đoạt tiền hoàn thuế. Đôn đốc thực hiện kịp thời kết quả thanh tra, kiểm tra vào NSNN.

(8) Tăng cường công tác đốc thu nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế nhằm hạn chế nợ mới phát sinh bằng các biện pháp như: Tiếp tục thực hiện công khai thông tin các doanh nghiệp chây ì nợ thuế trên các phương tiện thông tin đại chúng; Thực hiện giao chỉ tiêu thu nợ thuế cụ thể cho từng đơn vị phấn đấu thực hiện; ban hành 100% thông báo tiền thuế nợ và tiền phạt chậm nộp đối với những tổ chức, cá nhân nợ thuế, 100% thông báo sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế nợ thuế đối với những tổ chức, cá nhân có nợ trên 90 ngày và kiên quyết thực hiện áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với những tổ chức, cá nhân cố tình chây ỳ không thực hiện nộp thuế vào ngân sách nhà nước theo quy định. Phấn đấu đến cuối năm 2016 số nợ thuế ở mức dưới 5% tổng thu ngân sách.

(9) Căn cứ Nghị quyết của Ban Cán sự Đảng Bộ Tài chính quy định về điều động, luân phiên, luân chuyển và chuyển đổi vị trí công tác đối với công chức của đơn vị; căn cứ quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính về thực hiện phân cấp quản lý cán bộ cấp, thủ trưởng cơ quan thuế các cấp thường xuyên rà soát quy chế làm việc, quy trình tiếp nhận và xử lý văn bản tại đơn vị mình để kịp thời sửa đổi, bổ sung và bố trí phân công chức đảm bảo phù hợp, nhằm thực hiện cải cách TTHC tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người nộp thuế và tăng cường trách nhiệm của công chức, viên chức. Cơ quan quản lý cấp trên thường xuyên kiểm tra, giám sát việc tiếp nhận và xử lý kiến nghị, vướng mắc của NNT và cơ quản lý cấp dưới, đồng thời xem kết quả kiểm tra, giám sát là một trong các tiêu chí để đánh giá, xếp loại, bình xét thi đua đối với tập thể, cá nhân.

1.3. Kết quả thực hiện nhiệm vụ ngành Hải quan năm 2015 và phương hướng thực hiện nhiệm vụ của ngành Hải quan năm 2016.

1.3.1. Tình hình năm 2015

1.3.1.1. Kết quả thu năm 2015 qua hệ thống Hải quan

Năm 2015, ngành Hải quan được Quốc hội, Chính phủ và Bộ Tài chính giao dự toán thu NSNN là 260.000 tỷ đồng, tăng 2,4% so với thực hiện năm 2014 (260.000/253.864 tỷ đồng). Bình quân mỗi tháng phải thu 21.667 tỷ đồng.

Dự toán năm 2015 được xây dựng trên cơ sở GDP: 6,2%, CPI: 5%, kim ngạch xuất khẩu tăng 10%, kim ngạch nhập khẩu tăng 16%, giá dầu thô 100USD/thùng, tỷ giá 21.500 đồng/USD.

Kết quả thu NSNN qua hệ thống Hải quan:

– Thu NSNN 11 tháng năm 2015 đạt 232.683 tỷ đồng, bằng 89,5% dự toán, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm 2014 (229.391 tỷ đồng).

Nguyên nhân:

Năm 2015, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa cả nước đạt 327,76  tỷ USD, tăng 10% so với năm 2014, trong đó xuất hàng hóa đạt 162,11 tỷ USD, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước và nhập khẩu hàng hóa là 165,65 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước. Cán cân thương mại hàng hóa cả nước thâm hụt 3,54 tỷ USD (tương đương khoảng 2,2% kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước) và ngược lại so với xu hướng thặng dư 2,37 tỷ của năm trước.

Như vậy, so với năm đầu tiên thực hiện kế hoạch 5 năm, kim ngạch xuất nhập khẩu đã tăng hơn 124 tỷ USD (từ 203,7 tỷ năm 2011 lên 327,76 tỷ USD năm 2015) nhưng xét về tốc độ tăng thì năm 2015 có tốc độ tăng thấp nhất cả giai đoạn và thấp hơn nhiều so với mức tăng bình quân 15,8%/năm giai đoạn 2011-2015.

Biểu đồ 1.1. Diễn biến kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa và cán cân thương mại giai đoạn 2006-2015

 

Trong đó, kim ngạch của một số mặt hàng có số thu chủ yếu tăng như ô tô nguyên chiếc tăng 13.028 tỷ đồng, linh kiện ô tô tăng 4.592 tỷ đồng; sắt thép tăng 1.380 tỷ đồng; máy móc thiết bị tăng 5.705 tỷ đồng so với cùng kỳ năm 2014. Nhưng một số mặt hàng có số thu giảm mạnh như: dầu thô XK giảm 3.885 tỷ đồng; xăng dầu NK giảm 13.130 tỷ đồng…. Mặt khác, do tác động của các cam kết FTA, làm giảm thu NSNN 11 tháng đầu năm khoảng 8.500 tỷ đồng.

1.3.1.2. Công tác quản lý thu, chống thất thu NSNN năm 2015

Để đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ thu NSNN năm 2015, ngay từ những tháng đầu năm, Tổng cục Hải quan đã tích cực chỉ đạo các đơn vị thuộc và trực thuộc nghiêm túc thực hiện thu NSNN và các biện pháp chống thất thu NSNN:

(1) Triển khai các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện nhiệm vụ thu NSNN năm 2015 theo Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 03/1/2015 của Chính phủ, Chỉ thị số 06/CT-TTg ngày 21/4/2015 của Thủ tướng Chính phủ, công văn chỉ đạo của Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan ban hành các văn bản: Chỉ thị số 217/CT-TCHQ ngày 13/1/2015, Quyết định số 260/QĐ-TCHQ ngày 30/01/2015, công văn số 6471/TCHQ-TXNK ngày 16/7/2015, Chỉ thị số 8369/CT-TCHQ ngày 15/9/2015, công văn số 9226/TCHQ-TXNK ngày 6/10/2015….

​(2) Tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu:

Thực hiện Thông tư số 126/2014/TT-BTC ngày 28/8/2014 của Bộ Tài chính, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc nộp thuế, góp phần đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm thời gian thông quan hàng hóa, giảm thời gian và chi phí cho hải quan và doanh nghiệp không phát sinh nợ thuế sau khi doanh nghiệp đã nộp tiền. Tính riêng thời điểm từ khi Cổng thanh toán điện tử hải quan nhận được thông tin ngân hàng chuyển tiền thanh toán tiền thuế cho đến khi xác nhận hoàn thành nghĩa vụ về thuế để thông quan hàng hóa tối đa 5 giây (Cổng thanh toán điện tử hải quan và hệ thống kế toán thuế xử lý online). Doanh nghiệp có thể nộp tiền tại nhiều điểm khác nhau, trong và ngoài giờ hành chính, nộp vào ngày nghỉ, được sử dụng các dịch vụ thanh toán hiện đại do ngân hàng cung cấp (qua internet, ATM, thư bảo lãnh…).

Tiếp tục triển khai, mở rộng kết nối với các Ngân hàng thương mại trong nước và chi nhánh các ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam để tạo thuận lợi tối đa cho việc thu và nộp thuế. Đến thời điểm hiện tại, Tổng cục Hải quan đã ký kết thỏa thuận phối hợp thu với 27 ngân hàng thương mại, số thu qua ngân hàng chiếm khoảng 63,5% trong tổng số thu toàn ngành.

Tập trung tháo gỡ kịp thời khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, giải quyết thủ tục hành chính nhanh chóng, thuận lợi cho tổ chức, cá nhân, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia tại Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ.

Tăng cường tuyên truyền, hỗ trợ tư vấn pháp luật về hải quan cho cộng đồng doanh nghiệp và người dân để nâng cao tính tuân thủ trong thực thi pháp luật thuế.

(3) Tăng cường công tác quản lý thu NSNN, thu hồi nợ thuế:

– Theo dõi, phân tích sát tình hình thu nộp NSNN, tổ chức rà soát toàn bộ nguồn thu, phát hiện kịp thời các địa bàn, lĩnh vực, mặt hàng, loại hình kinh doanh còn thất thu để có biện pháp quản lý thu phù hợp.

– Đôn đốc, kiểm tra thường xuyên công tác quản lý nợ, tình hình thu hồi nợ thuế tại các Cục Hải quan tỉnh, thành phố theo Quyết định số 260/QĐ-TCHQ ngày 30/1/2015 (1.323,5 tỷ đồng).

Quản lý chặt chẽ nợ mới phát sinh, rà soát, phân loại đúng các khoản nợ, từ đó có kế hoạch thu hồi nợ cụ thể theo hướng dẫn tại công văn số 865/TCHQ-TXNK ngày 30/01/2015; công văn số 6298/TCHQ-TXNK ngày 09/07/2015; 7570/TCHQ-TXNK ngày 19/08/2015; công văn số 8110/TCHQ-TXNK ngày 07/9/2015.

Phối hợp với các đơn vị liên quan để thực hiện thu hồi nợ đọng thuế theo quy định tại Điều 53,54,55 và 56 Luật quản lý thuế. Đối với các khoản nợ thuộc đối tượng được xoá theo quy định tại Điều 136 Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 và Thông tư số 179/2013/TT-BTC nhanh chóng hoàn thiện hồ sơ trình các cấp.

* Tình hình nợ thuế:

– Nợ thuế chuyên thu đến 30/11/2013 khoảng 4.688,8 tỷ đồng, giảm khoảng 258,6 tỷ đồng so với 31/12/2014 (tương đương 5,23%).

Tỷ trọng nợ thuế chuyên thu so với số thu NSNN năm 2015 khoảng 1,803% (2.688,8/260.000 tỷ đồng), giảm so với 31/12/2014 khoảng 0,15%.

(4) Đẩy mạnh công tác chống thất thu qua tham vấn giá, tăng cường kiểm soát giá nhập khẩu đã được quy định tại cơ sở dữ liệu giá, loại hàng hóa xác định mức thuế; tăng cường kiểm tra xuất xứ hàng hóa, công tác kiểm tra sau thông quan, cơ chế phối hợp liên ngành để ngăn ngừa, kiểm tra, phát hiện các hành vi gian lận thương mại qua xuất xứ hàng hóa, xác định trọng tâm, trọng điểm các mặt hàng có dấu hiệu kim ngạch bất thường, thuế suất cao…

(5) Xây dựng và ban hành quy trình quản lý rủi ro, danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác thu thập và xử lý thông tin, quy chế trao đổi, cung cấp thông tin với Tổng cục Thuế bộ tiêu chí rủi ro xác định doanh nghiệp trọng điểm, áp dụng thống nhất cơ chế quản lý doanh nghiệp.

(6) Tăng cường kiểm tra giám sát đối với một số mặt hàng, loại hình còn nhiều bất cập, kiểm soát hiệu quả đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập – tái xuất, hàng gửi kho ngoại quan, hàng hóa XNK vào khu phi thuế quan… Chủ động kiểm tra, phát hiện các vấn đề nổi cộm, nhậy cảm (hàng bách hóa Trung Quốc, thiết bị y tế đã qua sử dụng…) để đưa ra cảnh báo, biện pháp khắc phục kịp thời hạn chế việc lợi dụng chính sách.

(7) Tăng cường công tác kiểm tra sau thông quan: đẩy mạnh KTSTQ tại trụ sở người khai hải quan, tập trung trọng điểm vào các doanh nghiệp, lĩnh vực, mặt hàng có rủi ro cao; triển khai kiểm tra theo các chuyên đề có dấu hiệu gian lận, trốn thuế trên phạm vi toàn quốc, phát hiện, ngăn chặn kịp thời các sai sót và các hành vi gian lận, trốn thuế.

Tính đến ngày 03/12/2015, toàn Ngành đã thực hiện kiểm tra sau thông quan 2.917 cuộc, quyết định truy thu hơn 1.801,8 tỷ đồng (trong đó kiểm tra tại trụ sở người khai hải quan là 1.168 cuộc), đã thực thu vào ngân sách nhà nước 1.702,8 tỷ đồng, đạt 92% chỉ tiêu được giao, tăng hơn 53,34% so với số thực thu năm 2014.

(8) Tăng cường công tác chống buôn lậu: Triển khai nghiêm túc, quyết liệt và đồng bộ các biện pháp chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, gian lận thương mại, hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng đối với những mặt hàng và trên các tuyến trọng điểm và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật, từ đó dự báo tình hình hoạt động buôn lậu, mặt hàng, đối tượng trọng điểm, phương thức, thủ đoạn buôn lậu mới, những lĩnh vực nhậy cảm…

(9) Tăng cường xây dựng đội ngũ cán bộ công chức: tiếp tục duy trì kỷ cương, kỷ luật trong thực thi nhiệm vụ; nâng cao liêm chính Hải quan, hoàn thiện cơ chế quản lý, đào tạo, tập huấn chuyên sâu cho các bộ công chức Hải quan để phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm.

(10) Tăng cường thanh tra, kiểm tra, chấn chỉnh và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về thu NSNN theo kế hoạch tại Quyết định 253/QĐ-TCHQ, Quyết định số 254/QĐ-TCHQ ngày 29/01/2015 về kế hoạch thanh tra chuyên ngành năm 2015. Tổ chức thực hiện nghiêm chính sách tài khóa và các kết luận, kiến nghị của cơ quan kiểm toán, thanh tra theo Chỉ thị 04/CT-BTC ngày 20/12/2011 của Bộ Tài chính về việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương; Chỉ thị 05/CT-BTC ngày 24/12/2011 của Bộ Tài chính về việc thực hiện nghiêm chính sách tài khóa, kết luận, kiến nghị, thanh tra, kiểm toán.

1.3.1.3. Công tác cải cách thủ tục hành chính

(1) Về cải cách thủ tục thu nộp thuế:

Để tiếp tục triển khai cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thu NSNN, Tổng cục Hải quan đã trình Bộ ký Thông tư số 184/2015/TT-BTC thay thế Thông tư số 126/2014/TT-BTC phù hợp với Luật Hải quan sửa đổi, thực hiện kê khai điện tử qua mạng.

Cơ quan hải quan được sử dụng thông tin bảo lãnh tiền thuế qua cổng thanh toán điện tử hải quan thay cho Thư bảo lãnh tiền thuế bằng giấy.

Thực hiện thu phí, lệ phí của các Bộ, ngành tham gia cơ chế một cửa quốc gia, góp phần giảm thời gian thông quan hàng hóa cho doanh nghiệp thay vì đến từng cơ quan chức năng liên quan để xác nhận đã nộp phí, lệ phí cho hàng hóa xuất nhập khẩu như trước đây.

(2) Kết nối, hoàn thuế giá trị gia tăng, quy trình miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, không thu thuế, xét giảm thuế:

Tổng cục Hải quan đã xây dựng được hệ thống quản lý thông tin hoàn thuế GTGT đối với hàng hóa của người nước ngoài mua tại Việt Nam mang theo khi xuất cảnh để phục vụ cho việc hoàn thuế GTGT điện tử theo Thông tư 72/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định về hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa của người nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài mang theo khi xuất cảnh.

Quy trình miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, không thu thuế, xét giảm thuế điện tử theo hướng dẫn tại Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 Bộ Tài chính với mục tiêu người nộp thuế gửi dữ liệu đến cơ quan hải quan, cơ quan hải quan tiếp nhận và xử lý dữ liệu qua hệ thống và thực hiện các nghiệp vụ trên hệ thống dữ liệu của cơ quan hải quan với Kho bạc Nhà nước, cơ quan thuế và các cơ quan có liên quan.

(3) Rà soát đơn giản thủ tục hành chính:

Triển khai thực hiện Kế hoạch CCHC năm 2015 theo Quyết định số 81/QĐ-TCHQ ngày 13/01/2015; Công văn số 756/TCHQ-PC ngày 28/01/2015, công văn số 6041/TCHQ-PC ngày 01/7/2015 về việc triển khai thực hiện Chỉ số cải cách hành chính của ngành Hải quan.

Đơn giản hóa đối với 11 thủ tục hành chính liên quan đến quản lý biên giới trong xuất cảnh, nhập cảnh tại cửa khẩu cảng biển và cửa khẩu biên giới đất liền thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tài chính.

1.3.2. Nhiệm vụ trọng tâm năm 2016 của Ngành hải quan:

Năm 2016 có ý nghĩa quan trọng, là năm đầu tiên thực hiện Kế hoạch cải cách, phát triển hiện đại hóa giai đoạn 2016-2020, ngành Hải quan tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao, đặc biệt là 4 nhóm nhiệm vụ trọng tâm gồm:

– Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa hải quan tạo thuận lợi cho hoạt động XNK;

– Phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ thu NSNN: 270 000 tỷ đồng;

– Tăng cường công tác kiểm soát hải quan;

– Tiếp tục xây dựng lực lượng Hải quan trong sạch, vững mạnh.

1.4. Kết quả công tác huy động vốn, tình hình nợ công năm 2015 và  định hướng huy động vốn, bảo đảm an toàn nợ công năm 2016

1.4.1. Công tác huy động vốn năm 2015

(1) Huy động vốn vay của Chính phủ

a) Về huy động vốn vay trong nước:

Nhiệm vụ huy động vốn trong nước năm 2015 đã được Quốc hội, Chính phủ giao để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước, đầu tư và sử dụng cho các mục tiêu khác theo quy định là 400 nghìn tỷ đồng. Trong đó: huy động vốn trái phiếu Chính phủ (TPCP) năm 2015 là 250 nghìn tỷ đồng và phần còn lại dự kiến huy động từ các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi, như: tạm ứng từ nguồn tồn ngân kho bạc, vay từ Bảo hiểm Xã hội,  SCIC, Quỹ tích luỹ trả nợ và một số nguồn vay trong nước dài hạn khác theo quy định của pháp luật.

Trong điều kiện thị trường tài chính tiền tệ biến động cùng với các cơ chế chính sách không thuận lợi cho công tác phát hành trái phiếu, ngay từ đầu năm, KBNN đã chủ động thực hiện nhiều biện pháp, giải pháp tích cực để đảm bảo huy động tối đa nguồn vốn cho ngân sách nhà nước và đầu tư phát triển. Đến thời điểm 30/12/2015, tổng khối lượng huy động đạt 256.223,3 tỷ đồng, đạt 100% kế hoạch cả năm

Kết quả huy động năm 2015 đã có những cải thiện đáng kể, góp phần tăng cường hiệu quả đối với công tác quản lý nợ nói chung và góp phần phát triển thị trường trái phiếu chính phủ Việt Nam nói riêng, cụ thể:

– Tiếp tục triển khai nhiều giải pháp quyết liệt để phát triển thị trường vốn bao gồm: hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, phát triển cơ sở hạ tầng của thị trường, phát triển đa dạng các sản phẩm trên thị trường và từng bước mở rộng cơ sở nhà đầu tư. Cơ chế, quy định về phát hành, thanh toán trái phiếu được đổi mới cho phép phát hành thêm trái phiếu sau phiên đấu thầu, phát hành trái phiếu long – short coupon để cơ cấu dòng tiền trả nợ hợp lý, rút ngắn thời gian đăng ký, lưu ký (giảm từ 3 ngày xuống còn 2 ngày sau khi đấu thầu) nhằm tăng tính thanh khoản cho trái  phiếu trên thị trường.

– Chủ động xây dựng kế hoạch, lịch biểu và khối lượng trái phiếu Chính phủ phát hành; công bố đầy đủ, rõ ràng, hướng tới các thông lệ quốc tế nhằm tăng cường minh bạch thông tin, qua đó giúp các nhà đầu tư có đủ thông tin để bố trí vốn tham gia thị trường; trái phiếu phát hành định kỳ, thường xuyên, hình thành lãi suất tham chiếu hiệu quả cho thị trường vốn.

– Lãi suất phát hành TPCP được điều hành chặt chẽ nhằm tiết kiệm chi phí vay nợ cho ngân sách nhà nước; lãi suất phát hành bình quân tính đến hết tháng 11/2015 là 6,07% năm, thấp hơn mức lãi suất phát hành bình quân năm 2014 là 47 điểm cơ bản (mức lãi suất 2014 là 6,54% năm) trong khi kỳ hạn trái phiếu phát hành năm 2015 chiếm gần 90% là TPCP từ 5 năm trở lên.

– Thực hiện các Nghị quyết số 75/2014/QH13 và Nghị quyết số 78/2014/QH13 của Quốc hội, từ đầu năm đến giữa tháng 11/2015, Bộ Tài chính chỉ phát hành TPCP kỳ hạn từ 3 năm trở lên, do vậy kỳ hạn trung bình của trái phiếu Chính phủ phát hành năm 2015 đạt khoảng 6,98 năm, dài hơn so với kỳ hạn trung bình của TPCP phát hành năm 2014 (là 4,84 năm) và năm 2013 (là 3,2 năm); khối lượng trái phiếu kỳ hạn 5-10 năm tăng nhanh so với năm trước, chiếm khoảng 70% khối lượng phát hành, góp phần cơ cấu lại danh mục nợ công, giảm áp lực về trả nợ gốc của ngân sách trong ngắn hạn, đảm bảo an toàn nợ công và an ninh tài chính quốc gia.

Sau khi được Quốc hội thông qua Nghị quyết cho phép đa dạng hóa kỳ hạn trái phiếu trong năm 2015-2016, đảm bảo trái phiếu có kỳ hạn từ 3 năm đến dưới 5 năm chiếm tối đa 30% tổng khối lượng trái phiếu phát hành, Bộ Tài chính đã phát hành TPCP kỳ hạn 3 năm, nhằm đảm bảo khối lượng vốn huy động theo kế hoạch đề ra.

TT

Chỉ tiêu

2013

2014

Từ 1/1/2015
đến 31/12/2015

A

Cơ cấu (%)

100,0%

100,0%

100,0%

1

 Dưới 3 năm

50,4%

24,4%

0,0%

2

 3 năm

27,2%

29,5%

25,17%

3

Từ 5-10 năm

20,1%

40,0%

40,8%

4

Từ 15-20 năm

2,3%

6,1%

6,1%

B

Kỳ hạn bình quân (năm)

3,2

4,84

6,98

C

Lãi suất bình quân (%/năm)

7,79

6,54

6,07

 

Ngoài ra, để đảm bảo huy động vốn cho đầu tư phát triển đã thực hiện nâng tỷ trọng đầu tư vào TPCP, cho ngân sách nhà nước vay của Quỹ bảo hiểm xã hội từ 80% lên 95%, góp phần cải thiện danh mục tổng thể nợ trong nước của Chính phủ.

b) Về huy động, phân bổ sử dụng vốn vay nước ngoài:

Trong bối cảnh Việt Nam đã trở thành nước thu nhập trung bình, nguồn vốn ODA ngày càng giảm dần, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ đạo đẩy mạnh việc đàm phán, ký kết và giải ngân nguồn vốn ODA nhằm tận dụng tối đa nguồn lực này cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội. Cụ thể:

Về đàm phán, ký kết các Hiệp định vay: Trong năm 2015, đã đàm phán, ký kết 43 Hiệp định vay ODA, vay ưu đãi từ các đối tác phát triển với tổng giá trị đạt trên 4.000 triệu USD, gồm: vay theo điều kiện ODA là 3.450 triệu USD, chiếm 86% và vay theo điều kiện ưu đãi là 550 triệu USD, chiếm 14%.

Trong số vốn vay đã đàm phán, ký kết nói trên, phần sử dụng để cấp phát cho các chương trình, dự án đầu tư không có khả năng hoàn vốn thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước là 2.040 triệu USD, chiếm 51%; vay về cho vay lại 1.960 triệu USD, chiếm 49% tổng số ký vay. Như vậy, tỷ lệ vay về sử dụng để cho vay lại năm 2015 có xu hướng tăng, góp phần giảm áp lực lên nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ theo tinh thần Chỉ thị 02/CT-TTg ngày 14/2/2015 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng nợ công.

Việc phân bổ, sử dụng vốn vay ODA, ưu đãi nước ngoài theo các Hiệp định đã ký trong năm 2015, bao gồm: các Bộ, ngành 2.800 triệu USD, chiếm 75% (ngành điện 705 triệu USD; giao thông vận tải 490 triệu USD; nông nghiệp và phát triển nông thôn 368 triệu USD; ngành y tế 287 triệu USD….) và các địa phương 1.200 triệu USD, chiếm 25% tổng số vốn ký vay (trong đó, thành phố HCM 574 triệu USD; Đồng Nai 164 triệu USD; Hà Nội 53 triệu USD…), góp phần hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội các ngành, lĩnh vực, vùng lãnh thổ.

Về thực hiện giải ngân vay ODA, ưu đãi nước ngoài năm 2015: ước đạt khoảng 5.200 triệu USD tương đương 114 nghìn tỷ đồng, trong đó cấp phát ước đạt 78 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 69%, cho vay lại ước đạt 36 nghìn tỷ đồng, chiếm 31%. Đặc biệt, cấp phát cho các dự án xây dựng cơ bản tăng mạnh so với dự toán 2015 (dự toán đầu năm 20 nghìn tỷ đồng) và đã trình Quốc hội cho phép bổ sung thêm 30 nghìn tỷ đồng (theo Nghị quyết số 99/2015/QH13 ngày 11/11/2015) khiến bội chi ngân sách Nhà nước năm 2015 tăng lên khoảng 5,67%.

Nếu phân theo nhà tài trợ, giải ngân vốn ODA, vay ưu đãi nước ngoài từ Nhật Bản chiếm 31%; Ngân hàng Thế giới (WB) chiếm 25%; Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) chiếm 24% và phần còn lại là từ các nhà tài trợ khác. Như vậy, các đối tác như WB, ADB và Nhật Bản vẫn tiếp tục là các nhà tài trợ chính cung cấp nguồn vốn vay ODA, vay ưu đãi cho Việt Nam.

(2) Tình hình cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ

Năm 2015, Bộ Tài chính đã thẩm định và báo cáo Thủ tướng Chính phủ bảo lãnh cho 6 chương trình, dự án đầu tư trong các lĩnh vực điện (03 dự án), mua máy bay (02 chương trình đang thực hiện), giao thông (01 dự án) với tổng trị giá là 3.270 triệu USD, tăng 34% so với năm 2014. Tổng trị giá giải ngân của các dự án bảo lãnh 2.600 triệu USD, trả nợ gốc 1.100 triệu USD và số rút vốn ròng các dự án bảo lãnh vay nước ngoài dự kiến là 1.500 triệu USD. Như vậy, số rút vốn ròng trong năm 2015 thấp hơn so với năm 2014 do một số dự án chuyển đổi chủ đầu tư nên việc rút vốn chậm hơn so dự kiến (EVN).

1.4.2. Tình hình nợ công

(1) Tình hình và cơ cấu nợ công

Tính đến ngày 31.12.2015, số nợ công của Việt Nam đã ở mức 62,2%. Trong đó, nợ Chính phủ ở mức 50,3% (vượt giới hạn cho phép là 0,3% GDP), nợ nước ngoài của quốc gia ở mức 43,1% GDP, nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ ở mức 16,0% tổng thu ngân sách nhà nước.

– Cơ cấu dư nợ công bao gồm nợ Chính phủ chiếm 80,3%, nợ được Chính phủ bảo lãnh chiếm 18,2% và nợ chính quyền địa phương chiếm 1,5%.

– Đối với nợ Chính phủ, nợ trong nước chiếm khoảng 58% và nợ nước ngoài chiếm 42% tổng nợ Chính phủ, phù hợp với định hướng chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia.

– Đối với nợ nước ngoài của Chính phủ, khoảng 94% danh mục nợ là các khoản vay ODA, vay ưu đãi có kỳ hạn dài, lãi suất ưu đãi và quy mô huy động tương đối ổn định.

– Các khoản vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài, đặc biệt sau khi Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình thấp vào năm 2010, đã có sự thay đổi đáng kể về điều kiện vay theo hướng giảm kỳ hạn từ 10-15 năm, chi phí phí huy động vốn tăng gấp đôi so với trước đây. Nhiều khoản vay ODA có điều kiện ràng buộc từ bên ngoài, làm chi phí đầu vào cao, ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư và khả năng trả nợ trong các trường hợp các dự án được vay lại nguồn vốn vay ODA của Chính phủ.

– Đã chủ động kế hoạch và bố trí trả nợ đầy đủ, đúng hạn, bảo đảm an toàn tài chính quốc gia; tỷ lệ trả nợ trực tiếp của Chính phủ từ nguồn NSNN khoảng 13-14% so với tổng thu ngân sách nhà nước hàng năm và nằm trong giới hạn cho phép (không quá 25% tổng thu NSNN).

(2) Đánh giá kết quả công tác quản lý nợ công:

Hệ thống thể chế chính sách quản lý nợ công tiếp tục được nghiên cứu, xây dựng, ban hành bổ sung và hoàn thiện, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về nợ công.

Năm 2015, Bộ Tài chính đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 02/CT-TTg ngày 14/2/2015 về tăng cường quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng nợ công; thực hiện tổng kết, đánh giá và báo cáo Thủ tướng Chính phủ 6 năm thi hành Luật Quản lý nợ công; Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 34/2015/QĐ-TTg ngày 14/8/2015 sửa đổi Quyết định số 44/2011/QĐ-TTg ngày 18/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó quy định chặt chẽ hơn về các dự án được ưu tiên xem xét cấp bảo lãnh trong giai đoạn tới. Bên cạnh đó, theo thẩm quyền, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 139/2015/TT-BTC ngày 3/9/2015 hướng dẫn việc bảo đảm tiền vay cho khoản vay lại vốn vay nước ngoài của Chính phủ, góp phần tăng cường hiệu quả quản lý các khoản vay về cho vay lại.

– Tiếp tục chú trọng việc nghiên cứu, xây dựng và báo cáo các cơ quan nhà nước có liên quan về tình hình nợ công; xây dựng đề án phát hành trái phiếu Chính phủ ra thị trường vốn quốc tế trung hạn nhằm tăng cường huy động vốn vay dài hạn để tái cơ cấu các khoản nợ ngắn hạn; báo cáo giám sát nợ, công khai thông tin về nợ công, qua đó đã tạo được kênh thông tin quan trọng phục vụ cho việc chỉ đạo, điều hành, phân tích, đánh giá, nghiên cứu về vấn đề nợ công của các tổ chức, cá nhân.

– Tăng cường giám sát, quản lý rủi ro về nợ công được chú trọng, chặt chẽ, hiệu quả và thường xuyên hơn ở tất cả các cấp từ Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài chính và các cơ quan chuyên ngành có liên quan.

– Việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán nợ công được đẩy mạnh, từng bước nâng cao kỷ cương, kỷ luật trong việc thực hiện công tác quản lý nhà nước đối với nợ công theo quy định của pháp luật.

(3) Các vấn đề đặt ra trong công tác quản lý nợ công:

– Mặc dù chỉ số nợ công vẫn trong tầm kiểm soát, vấn đề đặt ra là tốc độ nợ công đang tăng nhanh (bình quân 20%/năm trong giai đoạn 2011-2015) xuất phát chủ yếu từ áp lực gia tăng nguồn vốn cho đầu tư phát triển.

– Khối lượng huy động vốn trong nước tăng nhanh, vượt khả năng cung về vốn trung và dài hạn trên thị trường trong nước. Mặc dù có những bước phát triển đáng kể, quy mô thị trường TPCP vẫn còn nhỏ chỉ bằng 14% GDP và bằng 63% quy mô thị trường trái phiếu Việt Nam (trong khi quy mô thị trường TPCP của các nước trong khu vực vào khoảng 40% -70% GDP) nên khó có thể tiếp tục tăng quy mô huy động vốn trong nước trong các năm tới.

– Trước tình hình thị trường tài chính trong nước và thế giới có nhiều biến động bất lợi, lãi suất phát hành trái phiếu Chính phủ phải điều chỉnh tăng dần từ giữa năm 2015 để đáp ứng yêu cầu huy động vốn cho ngân sách nhà nước. Mặc dù vậy vẫn có nhiều phiên phát hành TPCP không thành công hoặc khối lượng phát hành đạt thấp. Lãi suất trái phiếu Chính phủ tăng không những làm tăng chi phí huy động vốn của ngân sách nhà nước mà còn ảnh hưởng tới lãi suất trên thị trường tiền tệ và thị trường tài chính nói chung, đồng thời còn tác động đến tâm lý nhà đầu tư do sự biến động của thị trường.

– Thiếu lãi suất chuẩn cho các trái phiếu kỳ hạn ngắn trên thị trường, làm ảnh hưởng đến lãi suất trên thị trường tiền tệ và thị trường tài chính do dừng phát hành trái phiếu Chính phủ kỳ hạn dưới 5 năm từ cuối năm 2014.

– Chi phí vay nước ngoài có xu hướng tăng lên: điều kiện vay từ các đối tác phát triển sẽ giảm dần tính ưu đãi do Việt Nam có thể sẽ tốt nghiệp IDA vào nửa cuối năm 2017. Cụ thể, ngay sau khi tốt nghiệp, Việt Nam sẽ không còn được vay từ nguồn IDA và chỉ còn được tiếp cận với nguồn vốn IBRD và OCR (với điều kiện vay đắt hơn, sát với thị trường hơn), điều này dẫn tới chi phí huy động vốn tăng lên.

– Cùng với việc Việt Nam tốt nghiệp IDA, Ngân hàng thế giới sẽ áp dụng điều khoản trả nợ nhanh với các khoản nợ Chính phủ. Điều này sẽ ảnh hưởng ngay tới nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ. Cụ thể, Việt Nam sẽ phải tăng gấp đôi nghĩa vụ trả nợ gốc cho WB mỗi năm hoặc trường hợp giữ nguyên mức trả gốc như cũ thì sẽ phải trả thêm lãi suất cho khoản vay, tăng thêm khoảng 1,4%/năm. Điều này ảnh hưởng lớn đến việc bố trí nguồn trả nợ của NSNN và làm thay đổi dòng tiền nhận nợ của các khoản vay IDA về cho vay lại đến các doanh nghiệp.

– Hệ thống các công cụ quản lý và kiểm soát tình trạng nợ công còn thiếu; đặc biệt chưa hình thành các cơ chế và các công cụ để giảm thiểu rủi ro, cũng như chủ động điều chỉnh cơ cấu (kỳ hạn, lãi suất, đồng tiền…) của nợ công trong quá trình hoạt động.

– Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về nợ công chưa cao, chế tài xử lý chưa nghiêm, vẫn còn tình trạng các chủ dự án, các bộ, ngành, địa phương chưa chấp hành đầy đủ các quy định về đầu tư xây dựng cơ bản, chi tiêu nguồn vốn từ ngân sách nhà nước và yêu cầu quản lý nợ công.

– Công tác quản lý nợ công còn phân tán, thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa các Bộ, ngành và địa phương gây khó khăn cho việc thống nhất quản lý nợ công, chủ động trả nợ, giám sát và kiểm soát rủi ro các chỉ tiêu an toàn nợ công theo quy định của pháp luật.

1.4.3. Định hướng, giải pháp bảo đảm an toàn nợ công

Về nợ công, Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan đã và đang thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 02/CT-TTg ngày 14/02/2015 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng nợ công, với các giải pháp đồng bộ như sau:

– Quản lý chặt chẽ nợ công, nhất là các khoản vay mới. Nợ công chỉ sử dụng cho đầu tư phát triển, xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế xã hội quan trọng, thiết yếu theo quy hoạch. Có chế tài tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa, đầu tư công và quản lý nợ công; từng bước giảm tỷ lệ vốn đầu tư của nhà nước, tăng xã hội hóa.

– Việc vay nợ phải tuân thủ chương trình quản lý nợ trung hạn, gắn kết chặt chẽ với kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, kế hoạch tài chính và đầu tư công trung hạn 5 năm đã được phê duyệt. Bố trí sử dụng các nguồn vốn vay phải đáp ứng được các mục tiêu, yêu cầu và quán triệt đầy đủ các nguyên tắc quản lý nợ công, đảm bảo các giới hạn trần nợ cho phép.

– Đánh giá tác động lên nợ công của các chương trình, dự án sử dụng vốn vay của Chính phủ, vốn vay được Chính phủ bảo lãnh và vốn vay của chính quyền địa phương trước khâu phê duyệt chủ trương đầu tư.

– Tiếp tục cơ cấu lại nợ công theo hướng tăng tỷ trọng vốn vay dài hạn để giảm áp lực trả nợ trong ngắn hạn. Đẩy mạnh triển khai các nghiệp vụ quản lý và xử lý rủi ro đối với danh mục nợ công. Tăng tính thanh khoản và thúc đẩy phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ.

– Quản lý chặt chẽ các khoản vay có bảo lãnh của Chính phủ theo hướng siết chặt điều kiện cấp bảo lãnh, không mở rộng diện, chọn lọc có mục tiêu ưu tiên, tiến tới thu hẹp bảo lãnh Chính phủ và kiểm soát việc bảo đảm trả nợ đối với các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh.

– Ưu tiên bố trí dự toán chi trả nợ mức hợp lý trong cân đối NSNN hàng năm. Đồng thời, trong điều hành, trường hợp có tăng thu ngân sách cần ưu tiên để dành tăng chi trả nợ.

Để thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp trên, Bộ Tài chính tiếp tục chủ động phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương có liên quan triển khai một số nhiệm vụ chủ yếu trong năm 2016 như sau:

a) Tổ chức thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội:

Tại Nghị quyết số 99/2015/QH13 ngày 11/11/2015 về  dự toán NSNN năm 2016, nhiệm vụ huy động vốn năm 2016 là 357 nghìn tỷ đồng, bao gồm: vay bù đắp bội chi NSNN là 254 nghìn tỷ đồng, bằng 4,95% GDP; phát hành trái phiếu cho đầu tư là 60 nghìn tỷ đồng; vay nước ngoài của Chính phủ về cho vay lại 43 nghìn tỷ đồng. Ngoài ra, còn phải thực hiện huy động từ các nguồn vốn vay trong và ngoài nước để đảo các khoản nợ đến hạn năm 2016 do bố trí trong dự toán NSNN chưa đáp ứng được.

Tổ chức triển khai có hiệu quả nhiệm vụ huy động vốn vay cho bù đắp bội chi và đầu tư và thực hiện đa dạng hóa kỳ hạn trái phiếu Chính phủ (chỉ phát hành trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn từ 3 năm đến dưới 5 năm với tỷ lệ không quá 30% tổng khối lượng trái phiếu Chính phủ phát hành, 70% đảm bảo có kỳ hạn từ 5 năm trở lên) . Ngoài ra, thực hiện việc phát hành trái phiếu Chính phủ ra thị trường vốn quốc tế để cơ cấu lại nợ trong nước của Chính phủ, trên cơ sở so sánh, phân tích, bảo đảm có lợi cho quốc gia.

b) Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về quản lý nợ công:

– Sửa đổi Luật quản lý nợ công cho phù hợp với tình hình mới cũng như khắc phục những điểm còn vướng mắc của Luật. 

– Sửa đổi Nghị định số 15/2011/NĐ-CP ngày 16 tháng 02 năm 2011 về cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ để  phù hợp với yêu cầu thực tế của quản lý theo hướng bổ sung các công cụ để giám sát chặt chẽ vốn vay và thu hồi nợ ứng trả, phân định trách nhiệm rõ ràng, nâng cao vai trò và trách nhiệm của doanh nghiệp và chủ sở hữu, quy định rõ hơn các điều kiện cấp bảo lãnh.

– Trình Chính phủ ban hành Nghị định về cho vay lại chính quyền địa phương nhằm tăng cường trách nhiệm của địa phương trong việc sử dụng vốn vay, giúp các cơ quan quản lý của địa phương chủ động giám sát dự án, quyết định việc sử dụng vốn, tránh lãng phí và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

– Nghiên cứu sửa đổi một số văn bản hướng dẫn thực hiện Luật quản lý nợ công như Nghị định 78/2010/NĐ-CP về cho vay lại nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ; Nghị định 01/2011/NĐ-CP về phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương.

– Triển khai thực hiện đề án tăng cường cho vay lại nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ theo phương thức cơ quan cho vay lại rủi ro tín dụng nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư; tăng cường trách nhiệm, chủ động tính toán quy mô dự án, mức vốn vay phù hợp với năng lực trả nợ của các đơn vị sử dụng vốn vay; giảm chi phí quản lý; hạn chế điều chỉnh tăng quy mô, tổng mức đầu tư, qua đó kiềm chế gia tăng nợ công.

c) Tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng nợ công

– Tiếp tục rà soát chương trình, dự án đưa vào danh mục ưu tiên vận động vốn ODA theo điều kiện áp dụng khi tốt nghiệp IDA của WB để có phân tích, đánh giá và cân nhắc lựa chọn chương trình, dự án phù hợp, đảm bảo khả năng trả nợ của ngân sách nhà nước; thông báo cho các đơn vị sử dụng vốn IDA việc áp dụng điều khoản trả nợ nhanh, theo đó vốn vay IDA sẽ phải trả nợ gốc với mức tăng gấp hai lần (thời gian trả nợ giảm còn một nửa) so với trước đây hoặc chịu lãi suất tăng thêm khoảng 1,4%/năm so với lãi suất ban đầu để các cơ quan có phân tích, đánh giá, cân nhắc lựa chọn dự án phù hợp và đảm bảo khả năng trả nợ.

– Đẩy mạnh phương thức huy động vốn vay hỗ trợ ngân sách bằng tiền, việc sử dụng vốn hoàn toàn thực hiện theo ưu tiên đầu tư của phía Việt Nam, áp dụng các thủ tục của Việt Nam.

– Nghiên cứu, xây dựng phương án kêu gọi các nước lớn, có quan hệ với Việt Nam như Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc, EU… tiếp tục tài trợ ODA cho Việt Nam sau khi Việt Nam bước sang giai đoạn tốt nghiệp IDA. Tiếp tục nghiên cứu, trao đổi với các nhà tài trợ khác về các điều khoản áp dụng khi Việt Nam bước sang giai đoạn tốt nghiệp IDA.

– Thẩm định chặt chẽ, đánh giá tác động của các khoản vay mới (chương trình, dự án sử dụng vốn vay của Chính phủ, vốn vay được Chính phủ bảo lãnh và vốn vay của chính quyền địa phương) lên nợ công, đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định và đảm bảo khả năng trả nợ vốn vay, nhất là các khoản trả nợ trực tiếp của Chính phủ. Hướng dẫn và tổ chức thực hiện đăng ký các khoản vay của các Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp, đảm bảo trong giới hạn quy định.

– Giám sát chặt chẽ việc thực hiện các nghĩa vụ của người bảo lãnh theo cam kết. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan cho vay lại để thu hồi đẩy đủ các khoản nghĩa vụ gốc, lãi và chi phí về Quỹ tích lũy trả nợ. Đảm bảo bền vững và cân đối của Quỹ.

– Tăng cường công tác dự báo nhu cầu và khả năng vận động, ký kết và giải ngân vốn ODA theo từng nguồn vốn, nhà tài trợ trong giai đoạn trung hạn (2016-2020), có tính đến tác động của việc tốt nghiệp IDA để làm cơ sở xác lập, tính toán các nghĩa vụ nợ phát sinh và cân đối nguồn trả nợ khi Việt Nam chính thức bước sang giai đoạn tốt nghiệp IDA.

1.5. Kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2015 và phương hướng thực hiện nhiệm vụ dự trữ quốc gia[4]

1.5.1. Kết quả xuất cấp hàng DTQG năm 2015

Từ đầu năm 2015 đến 15/12/2015, Thủ tướng Chính phủ đã có các Quyết định xuất cấp hàng DTQG cho các địa phương để cứu trợ, hỗ trợ cho nhân dân; tổng giá trị hàng đã xuất cấp khoảng 1.357 tỷ đồng, cụ thể:

Bộ Tài chính:

+ Về lương thực: xuất tổng số khoảng 107.540 tấn gạo, trị giá khoảng 1.006 tỷ đồng; trong đó: 32.954 tấn gạo cứu trợ cho nhân dân dịp Tết Nguyên đán và cứu đói thời kỳ giáp hạt; 5.469 tấn hỗ trợ các dự án trồng rừng và 69.117 tấn gạo hỗ trợ cho học sinh vùng khó khăn theo Quyết định số 36/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

+ Về vật tư: đã xuất tổng số 56,1 tỷ đồng, gồm: 100 bộ nhà bạt loại 24,5 m2, 02 bộ xuồng DT2 hỗ trợ cho nhân dân Quảng Ninh khắc phục hậu quả mưa lũ cuối tháng 7/2015, 01 bộ xuồng DT2 hỗ trợ tỉnh Bắc Giang phục vụ công tác phòng chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn, trị giá khoảng 3,7 tỷ đồng và xuất cấp mặt hàng nhà bạt các loại cho các địa phương phục vụ công tác phòng chống lụt bão, cứu hộ, cứu nạn, trị giá khoảng 52,37 tỷ đồng.

Ngoài ra, đầu năm 2015, thực hiện Quyết định số 2406/QĐ-TTg ngày 31/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ; các đơn vị trực thuộc Tổng cục DTNN hoàn thành việc xuất cấp vật tư cứu hộ cứu nạn cho Ủy ban Quốc gia tìm kiếm cứu nạn, gồm: 3.806 bộ nhà bạt cứu sinh các loại; 60 bộ xuồng các loại; 100.000 chiếc phao áo cứu sinh; 52.000 chiếc phao tròn cứu sinh; 1.300 chiếc bè cứu sinh nhẹ và 200 bộ thiết bị chữa cháy rừng kịp thời hỗ trợ, phân bổ cho các bộ, ngành và địa phương phục vụ công tác phòng chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn năm 2015.  

– Bộ Nông nghiệp và PTNT xuất hàng tổng trị giá khoảng 265,5 tỷ đồng để đáp ứng yêu cầu phòng chống thiên tai, dịch bệnh, gồm: 10.000 liều vắc xin LMLM 3typ, 140.000 liều vắc xin LMLM 2typ, 200.000 liều vắc xin LMLM typO, 1.150.000 liều vắc xin dịch tả lợn; 131.500 lít thuốc sát trùng Benkocid, 70 tấn hóa chất chlorite 20%; 425 tấn hóa chất chlorine 65%, 10.000 lít hóa chất sát trùng vetvaco-Iodine, 53.000 lít hóa chất Han-Iodine, 4.159,4 tấn hạt giống lúa, 566,6 tấn hạt giống ngô và 86,45 tấn hạt giống rau;

– Bộ Y tế xuất 11 danh mục trang thiết bị y tế để trang bị cho các đơn vị phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe cán bộ, chiến sỹ và ngư dân bám biển; tổng trị giá xuất cấp khoảng 3,2 tỷ đồng.

– Đài tiếng nói Việt Nam: xuất 01 xe thu thanh lưu động, trị giá khoảng 4,9 tỷ đồng để thực hiện nhiệm vụ phát thanh tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước cho bà con nhân dân tại vùng sâu, vùng xa.

Ngoài ra, hiện nay, Bộ Tài chính đang phối hợp với Bộ Y tế và các cơ quan có liên quan trình Thủ tướng Chính phủ cho phép xuất cấp 15 danh mục trang thiết bị y tế DTQG với số lượng là 462 thiết bị, trị giá khoảng 11,5 tỷ đồng để trang bị cấp cho các bệnh viện còn gặp nhiều khó khăn về kinh phí và các quân binh chủng thuộc Bộ Quốc phòng phục vụ nhiệm vụ khám chữa bệnh cho chiến sỹ, nhân dân vùng biên giới, hải đảo và các vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn.

1.5.2. Đánh giá hiệu quả của công tác xuất cấp hàng DTQG 

1. Đối với việc hỗ trợ hàng DTQG cho nhân dân các địa phương trong dịp Tết nguyên đán, thời điểm giáp hạt, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh. Việc triển khai thực hiện xuất cấp hàng DTQG để hỗ trợ, cứu trợ cho các địa phương gặp khó khăn trong các tình huống cấp bách là một trong những nhiệm vụ thường xuyên của ngành DTQG. Mặc dù số hàng DTQG đến với mỗi người dân không nhiều nhưng đã động viên họ vượt qua thời điểm khó khăn, ổn định đời sống phát triển sản xuất; góp phần bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo đảm sự ổn định cho phát triển kinh tế – xã hội và tăng thêm niềm tin tưởng của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, của Chính phủ.

2. Đối với việc xuất gạo DTQG hỗ trợ cho học sinh tại các trường ở khu vực có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn: Ngày 18/6/2013 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 36/2013/QĐ-TTg về Chính sách hỗ trợ gạo cho học sinh tại các trường ở khu vực có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn (hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/9/2013). Theo đó; trong năm học 2013-2014 đã xuất cấp 58.336 tấn gạo hỗ trợ cho 430.000 học sinh tại 46 tỉnh, thành; năm học 2014-2015 xuất cấp 67.741 tấn gạo, hỗ trợ cho 480.000 học sinh tại 49 tỉnh, thành; học kỳ I năm học 2015-2016 đã xuất cấp 40.228 tấn hỗ trợ cho 537.640 học sinh tại 48 tỉnh, thành. 

Việc các em học sinh dân tộc thiểu số được hỗ trợ gạo, có lương thực đủ ăn trong thời gian theo học là một trong những yếu tố quan trọng, quyết định giúp cho số lượng học sinh theo học ngày càng tăng cao (mỗi năm tăng thêm khoảng 50.000 học sinh).

3. Nguồn lực DTQG hỗ trợ thực hiện Dự án trồng rừng:

– Dự án Đầu tư bảo vệ và phát triển rừng tại 68 xã thuộc 4 huyện vùng cao núi đá, tỉnh Hà Giang trong giai đoạn 2008-2015, trong đó thì ngoài nguồn kinh phí từ chương trình 661, từ ngân sách đầu tư, từ vốn tự có, Thủ tướng Chính phủ quyết định hỗ trợ cho 4 huyện vùng cao núi đá tỉnh Hà Giang số lượng 12.896 tấn gạo (trong thời gian 07 năm) từ nguồn DTQG để thực hiện Dự án. Việc tiếp nhận gạo từ nguồn DTQG thực hiện theo kế hoạch phân bổ hàng năm của UBND tỉnh và được chia thành nhiều đợt trong năm; đến nay, Tổng cục DTNN đã hoàn thành việc xuất cấp gạo cho Dự án, đảm bảo đáp ứng nhiệm vụ đề ra và được địa phương đánh giá cao.

– Dự án hỗ trợ gạo cho huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa: ngày 04/4/2013 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 552/QĐ-TTg về việc xuất cấp (không thu tiền) 3.000 tấn gạo/năm với thời gian là 6 năm từ nguồn DTQG cho tỉnh Thanh Hóa để hỗ trợ cho đồng bào dân tộc thiểu số (không bao gồm các hộ nghèo đã được hưởng hỗ trợ theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP) trên địa bàn huyện Mường Lát tự nguyện trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng trong thời gian chưa tự túc được lương thực giai đoạn 2013-2018. Theo đó, đồng bào dân tộc thiểu số tham gia trồng rừng, mỗi tháng sẽ được hỗ trợ 10 kg gạo/khẩu/tháng; sau khi kết thúc thời gian thực hiện Dự án, người dân sẽ được hưởng lợi toàn bộ giá trị rừng cây do gia đình trồng. Kết quả, Tổng cục đã giao Cục Dự trữ nhà nước khu vực Thanh Hóa xuất năm 2013 là 1.082 tấn; năm 2014 là 2.455 tấn và năm 2015 gần 3.000 tấn.

– Dự án hỗ trợ gạo cho huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, thực hiện Quyết định số 823/QĐ-TTg ngày 30/5/2014 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ lương thực cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang số lượng 5.481 tấn gạo thực hiện Dự án trồng rừng tại huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2014-2018 theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Năm 2014 đã xuất cấp cho tỉnh Bắc Giang 436 tấn; năm 2015 xuất gần 1.000 tấn gạo.

4. Đối với công tác bảo vệ an ninh quốc phòng, việc hỗ trợ trang thiết bị DTQG cho các quân binh chủng, đã góp phần  phục vụ công tác đảm bảo an toàn cho đại hội Đảng các cấp và các ngày lễ lớn trong năm cũng như đảm bảo trật tự, an toàn xã hội; việc hỗ trợ vật tư, thiết bị cứu hộ, cứu nạn cho nhân dân, ngư dân các địa phương ven biển đã củng cố lực lượng ngư dân bám biển; không những chỉ phát triển kinh tế mà còn góp phần giữ vững chủ quyền, biển đảo của Tổ quốc.

5. Đối với công tác chăm sóc sức khỏe, nâng cao trình độ dân trí, nhận thức cho nhân dân; việc hỗ trợ các trang thiết bị y tế kịp thời đã góp phần đẩy lùi dịch bệnh phát sinh, lan rộng; tăng cường công tác chăm sóc sức khỏe cho cán bộ, chiến sỹ. Đồng thời, việc xuất cấp trang thiết bị xe phát thanh lưu động đã nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước cho bà con nhân dân tại vùng sâu, vùng xa, tạo niềm tin của nhân dân đối với Đảng, nhà nước. 

1.5.3. Định hướng hoạt động của ngành Dự trữ Nhà nước năm 2016

Các bộ, ngành cần tăng cường chỉ đạo các cơ quan, đơn vị được giao quản lý, bảo quản hàng DTQG phối hợp chặt chẽ với các cấp chính quyền địa phương để kịp thời rà soát, báo cáo cấp có thẩm quyền cho phép xuất cấp hàng DTQG và khẩn trương tổ chức triển khai thực hiện công tác xuất hàng DTQG hỗ trợ các địa phương trong các tình huống bị ảnh hưởng của thiên tai, bão lụt, hạn hán, mất mùa, khống chế dịch bệnh; hỗ trợ cho đồng bào dân tộc thiểu số tham gia nhận khoán, khoanh nuôi bảo vệ và phát triển rừng; hỗ trợ cho học sinh các địa phương vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn; trên cơ sở bảo đảm đúng pháp luật, tiết kiệm, hiệu quả, đúng đối tượng, đúng mục đích.

– Tăng cường bố trí nguồn lực cho DTQG, đảm bảo đủ số lượng, bố trí trên các địa bàn chiến lược, các khu vực thường xuyên xảy ra thiên tai, dịch bệnh để sẵn sàng, chủ động đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

– Tăng cường tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về DTQG, trong đó chú trọng nâng cao nhận thức của các cấp các ngành đối với công tác DTQG, đẩy mạnh công tác xã hội hóa trong lĩnh vực DTQG. Tại các bộ, ngành, địa phương còn có nhận thức về dự trữ chưa đúng, có quan điểm cho rằng trong nền kinh tế thị trường không nhất thiết phải dự trữ hàng hóa mà chỉ dự phòng bằng tiền là mua được hàng hóa. Tuy nhiên, thực tiễn đã chứng minh: khi có biến động thì không mua được hàng để cứu trợ. Đây là vấn đề cần phải được quan tâm lãnh đạo của các cấp, các ngành.

– Tăng quy mô dự trữ nhà nước để đảm bảo nhu cầu thực tiễn: Hiện nay, quy mô DTQG ngày càng có xu hướng giảm, dự kiến đến cuối năm 2015, tổng mức DTQG chỉ chiếm khoảng 0,21% GDP, rất thấp so với mục tiêu Chiến lược phát triển DTQG đến năm 2020 đã đề ra đến năm 2015 tổng mức GDP đạt 0,8-1% GDP và đến năm 2020 đạt khoảng 1,5% GDP. Với tổng mức DTQG như hiện nay thì việc chủ động đáp ứng yêu cầu đột xuất cấp bách về khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, đảm bảo an ninh, quốc phòng còn hạn chế, nhất là khi thiên tai, dịch bệnh diễn ra trên diện rộng và tình hình an ninh quốc phòng diễn biến phức tạp, nhất là tình hình biển Đông, hải đảo hiện nay.

– Rà soát, xây dựng cơ chế, chính sách về DTQG để bảo đảm tính pháp lý đồng bộ, kịp thời tham mưu cho các cấp có thẩm quyền lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị kịp thời triển khai thực hiện nhiệm vụ.

Ngoài việc triển khai, chỉ đạo các đơn vị thực hiện tốt các mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội, thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành để tiếp cận các chính sách mới, các chương trình mục tiêu để kịp thời tham mưu trình Chính phủ sử dụng nguồn lực DTQG ngày càng hiệu quả hơn.

– Thường xuyên kiểm tra công tác xuất cấp, giao nhận hàng DTQG nhằm đảm bảo hàng DTQG được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả, chất lượng.

– Thực hiện chế độ báo cáo tình hình quản lý, phân phối, sử dụng hàng DTQG theo vụ việc và định kỳ hàng năm.

– Thường xuyên tổng kết, đánh giá hiệu quả đối việc xuất cấp hàng DTQG; trên cơ sở nghiên cứu kỹ cơ chế chính sách hiện hành và kinh nghiệm thực tế của các đơn vị đã triển khai, khẩn trương tiếp cận và phối hợp chặt chẽ cùng các cấp chính quyền địa phương nắm bắt nhu cầu, các chương trình mục tiêu để xây dựng, báo cáo Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo quy định Nhà nước hiện hành.

1.6. Kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2015 và phương hướng thực hiện nhiệm vụ tái cấu trúc thị trường chứng khoán, bảo hiểm

Ngày 06/12/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1826/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Tái cấu trúc thị trường chứng khoán (TTCK) và doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH)”. Qua 3 năm thực hiện tiến trình tái cơ cấu, năm 2015 đã đạt được những kết quả quan trọng; cụ thể như sau:

1.6.1. Tái cấu trúc TTCK

1.6.1.1. Việc xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phục vụ công tác tái cấu trúc thị trường

Bộ Tài chính đã ban hành và trình cấp có thẩm quyền ban hành nhiều đề án, cơ chế chính sách và văn bản pháp lý như sau:

– Nghị định số 42/2015/NĐ-CP về thị trường chứng khoán phái sinh và Nghị định số 60/2015/NĐ-CP sửa đổi Nghị định số 58/2012/NĐ-CP hướng dẫn Luật Chứng khoán;

– 06 Thông tư về tổ chức và quản lý giao dịch chứng khoán công ty đại chúng chưa niêm yết; đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán; hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên thị TTCK; công bố thông tin trên TTCK; chào bán chứng khoán ra công chúng, mua lại cổ phiếu, bán cổ phiếu quỹ và chào mua công khai cổ phiếu; đăng ký giao dịch chứng khoán trên hệ thống giao dịch UpCom.

Ngoài ra, 05 Thông tư khác về niêm yết, quản trị công ty, tổ chức và hoạt động của CTCK… về cơ bản hoàn tất để ban hành trong tháng 12/2015.

1.6.1.2. Các giải pháp thực hiện và công tác chỉ đạo điều hành

(1) Tái cấu trúc cơ sở hàng hóa

a) Đối với thị trường cổ phiếu

– Tiếp tục nâng cao chất lượng hàng hóa trên thị trường cổ phiếu theo hướng tăng cường tính minh bạch và chất lượng quản trị công ty: BTC đã ban hành Thông tư số 155/2015/TT-BTC thay thế Thông tư số 52/2012/TT-BTC hướng dẫn hoạt động công bố thông tin trên TTCK.  Hiện BTC đã hoàn thiện dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 121/2012/TT-BTC hướng dẫn về quản trị công ty theo hướng tiếp cận dần với các thông lệ quốc tế và phù hợp với Luật Doanh nghiệp mới; đồng thời triển khai việc thành lập Viện quản trị công ty.

– Nhằm tăng cường hàng hóa cho thị trường; gắn cổ phần hóa với niêm yết, đăng ký giao dịch trên TTCK; giúp bảo vệ nhà đầu tư: BTC tiếp tục đôn đốc và hướng dẫn triển khai Quyết định số 51/2014/QĐ-TTg; Đồng thời đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 60/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2012/NĐ-CP yêu cầu các công ty đại chúng, các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) cổ phần hóa buộc phải đăng ký, lưu ký chứng khoán tập trung và đăng ký giao dịch, niêm yết trên TTCK. BTC đã tích cực triển khai công tác hướng dẫn việc thực hiện Nghị định số 60/2015/NĐ-CP. Theo đó, Thông tư hướng dẫn việc chào bán chứng khoán ra công chúng, mua lại cổ phiếu, bán cổ phiếu quỹ và chào mua công khai cổ phiếu đã được BTC ban hành ngày 26/10/2015 (Thông tư số 162/2015/TT-BTC); Thông tư hướng dẫn về đăng ký giao dịch chứng khoán trên hệ thống giao dịch UpCom đã được BTC ban hành ngày 13/11/2015 (Thông tư số 180/2015/TT-BTC) và Thông tư hướng dẫn chi tiết một số điều về niêm yết chứng khoán đã được hoàn thiện để ban hành.

– Từng bước hoàn thiện các văn bản hướng dẫn áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS), chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) và chuẩn mực kiểm toán đối với công ty đại chúng. Xây dựng Thông tư hướng dẫn kế toán áp dụng đối với quỹ mở, quỹ ETF, quỹ đầu tư BĐS, công ty chứng khoán (CTCK) và sau đó sẽ mở rộng đối với công ty đại chúng.

b) Đối với thị trường trái phiếu

–  Năm 2015, khuôn khổ pháp lý cho hoạt động thị trường Trái phiếu Chính phủ (TPCP) được tiếp tục hoàn thiện ở một cấp độ mới, BTC đã ban hành các Thông tư hướng dẫn Nghị định số 01/2011/NĐ-CP về phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương để phù hợp với sự phát triển thị trường và thông lệ quốc tế thay thế cho các Thông tư trước đây; Mặt khác, Đề án tổ chức quản lý thị trường trái phiếu Doanh nghiệp cũng được tích cực triển khai.

– Hạ tầng giao dịch và các sản phẩm cũng ngày càng được hoàn thiện để thu hút nhà đầu tư tham gia thị trường: (1)Trên thị trường sơ cấp: Hoàn thiện hệ thống cho phép tổ chức phiên đấu thầu phụ, làm tròn lô trái phiếu trúng thầu, mở rộng loại trái phiếu đấu thầu, sẵn sàng phát hành và giao dịch trái phiếu long/short coupon; rút ngắn thời gian từ khi đấu thầu lên niêm yết và giao dịch đối với trái phiếu Kho Bạc Nhà nước từ T+3 xuống còn T+2… Chuẩn bị đưa vào đấu thầu và giao dịch trái phiếu không trả lãi định kỳ (zero coupon bond) từ quý I/2016 và nghiên cứu phương án để tổ chức đầu thầu, giao dịch trái phiếu có lãi suất thả nổi từ cuối năm 2016, phù hợp với quy định tại các văn bản mới trên và Lộ trình phát triển thị trường trái phiếu, Đề án tái cấu trúc TTCK đã đề ra. (2) Trên thị trường thứ cấp: Chính thức vận hành chỉ số trái phiếu từ ngày 05/1/2015 và cùng với đường cong lợi suất TPCP; Triển khai hệ thống giao dịch TPCP trực tuyến từ ngày 8/5/2015, góp phần hiện đại hóa phương thức giao dịch, tạo điều kiện cho nhà đầu tư trong nước và quốc tế tiếp cận, tham gia thị trường TPCP thuận lợi, nhanh chóng.

Kết quả: Đến thời điểm 30/12/2015, tổng khối lượng huy động đạt 256.223,3 tỷ đồng. Trong năm 2015, kỳ hạn trái phiếu được nâng lên (đa phần trái phiếu có kỳ hạn từ 5 năm trở lên). Từ cuối tháng 11/2015 đã phát hành trái phiếu kỳ hạn 3 năm để đa dạng hóa các loại kỳ hạn và tăng khả năng huy động vốn.

Trên thị trường thứ cấp, hoạt động giao dịch diễn ra khá sôi động với giá trị giao dịch bình quân phiên đạt 3.865 tỷ đồng tăng 5% so với năm 2014. Những cải tiến về công nghệ, phương thức và kết quả giao dịch trên thị trường thứ cấp đã góp phần tác động tích cực lên thị trường sơ cấp.

c) Đối với chứng khoán phái sinh (CKPS) và các sản phẩm khác

– Nghị định về TTCK phái sinh đã được Chính phủ ban hành tại Nghị định số 42/2015/NĐ-CP ngày 5/5/2015. Bên cạnh đó, Thông tư hướng dẫn Nghị định về TTCK phái sinh cũng đang được hoàn thiện để chuẩn bị ban hành (Bộ Tài chính đã tổ chức 06 Hội thảo về CKPS và TTCKPS tại TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hà Nội); Phương án về tổ chức giao dịch TTCKPS cũng đang gấp rút triển khai để chuẩn bị cho việc vận hành thị trường vào năm sau. Hiện nay, BTC đang tiến hành triển khai công tác tuyên truyền, đào tạo nhằm giúp công tác triển khai và vận hành TTCKPS trong thời gian tới đạt hiệu quả cao, thuận lợi và an toàn.

– Tích cực triển khai công tác phát triển các sản phẩm mới trên thị trường. Nghiên cứu xây dựng Thông tư hướng dẫn phát hành và giao dịch sản phẩm Covered Warrant niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán (SGDCK) để ban hành năm 2016.

(2) Tái cấu trúc cơ sở nhà đầu tư

Năm 2015, BTC tiếp tục triển khai các giải pháp nhằm phát triển hệ thống nhà đầu tư có tổ chức, các quỹ đầu tư và tích cực triển khai các giải pháp nhằm thu hút vốn đầu tư trong nước, nước ngoài:

– Nâng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) tại các công ty đại chúng; giảm thủ tục hành chính và triển khai cấp mã số trực tuyến cho NĐTNN: Chính phủ ban hành Nghị định số 60/2015/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2012/NĐ-CP theo đó đã gỡ bỏ hạn chế tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại các doanh nghiệp đại chúng (trừ các công ty kinh doanh có điều kiện mà pháp luật hoặc các điều ước quốc tế quy định giới hạn tỷ lệ sở hữu NĐTNN). Đồng thời, tích cực thực hiện công tác hướng dẫn triển khai Nghị định số 60/2015/NĐ-CP (gửi công văn hướng dẫn các công ty đại chúng; tổ chức hội thảo giới thiệu, tập huấn; BTC ban hành Thông tư số 123/2015/TT-BTC thay thế Thông tư số 213/2012/TT-BTC hướng dẫn hoạt động nhà đầu tư nước ngoài trên TTCK với nhiều nội dung cải cách tạo thuận lợi tối đa cho nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào TTCK Việt Nam; hoàn thiện dự thảo và chuẩn bị ký ban hành Thông tư thay thế Thông tư số 74/2011/TT-BTC nhằm tháo gỡ một số vướng mắc cho NĐTNN và cho phép giao dịch một số loại hình giao dịch mới…). Triển khai hệ thống cấp mã số trực tuyến cho NĐTNN (áp dụng từ 01/1/2016).

– Nghiên cứu, xây dựng dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 183/2011/TT-BTC ngày 16/11/2011 hướng dẫn việc thành lập và quản lý quỹ mở.

– Từng bước áp dụng các thông lệ và chuẩn mực quốc tế đối với các hoạt động thanh toán và giao dịch chứng khoán, đã điều chỉnh chu kỳ thanh toán cổ phiếu và chứng chỉ quỹ từ T+3 xuống T+2 (triển khai áp dụng từ 01/01/2016).

– Trong năm 2015, BTC tích cực chủ động tổ chức các cuộc xúc tiến đầu tư, tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá doanh nghiệp niêm yết và TTCK Việt Nam đối với tổ chức trung gian tài chính và các nhà đầu tư lớn, đồng thời thực hiện các giải pháp nâng hạng TTCK, thu hút vốn đầu tư nước ngoài (như tại Nhật Bản, Hoa Kỳ).

–  Công tác tái cấu trúc các quỹ đầu tư chứng khoán tích cực được triển khai thực hiện. Hiện nay, BTC đã hoàn thiện Thông tư hướng dẫn kế toán áp dụng đối với quỹ ETF, quỹ đầu tư bất động sản và đang rà soát để ban hành.

Kết quả:

+  Cho đến nay, có 29 quỹ đầu tư chứng khoán, trong đó có 17 quỹ mở và 02 quỹ ETF, 10 quỹ thành viên.

+ Cơ sở các nhà đầu tư trên thị trường tiếp tục có sự cải thiện, số lượng tài khoản nhà đầu tư (tính đến Tháng 10/2015) đạt 1,506 triệu tài khoản (tăng 7,5% so với năm 2014), trong đó, so với năm 2014, số lượng nhà đầu tư tổ chức nước ngoài tăng 16,6%, số lượng nhà đầu tư tổ chức trong nước tăng 10,2%.

(3) Tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng khoán (TCKDCK)

Các mục tiêu cơ bản của tái cấu trúc tổ chức kinh doanh chứng khoán đã đạt được, từng bước thu hẹp số lượng, nâng cao chất lượng hoạt động qua việc tăng cường năng lực tài chính, quản trị công ty, quản trị rủi ro; củng cố hoạt động; cơ cấu lại tổ chức, nhân sự, cụ thể như sau:

– Hoàn thiện cơ chế chính sách nhằm tạo cơ sở pháp lý và đẩy nhanh việc tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng khoán:

+ BTC tiến hành sửa đổi Thông tư số 210/2012/TT-BTC để tiếp tục đẩy nhanh tái cấu trúc các công ty chứng khoán theo hướng thu hẹp số lượng và nâng cao chất lượng của các tổ chức này (dự thảo hiện đã lấy ý kiến thành viên thị trường lần thứ hai); Thông tư thay thế Quyết định số 15/2008/QĐ-BTC ngày 27/3/2008 và Thông tư số 147/2012/TT-BTC ngày 10/9/2012 về việc ban hành quy chế hành nghề chứng khoán.

+ Nghiên cứu việc thành lập và hoạt động quỹ bảo vệ nhà đầu tư; sửa đổi quy chế giao dịch ký quỹ; phối hợp với các đơn vị liên quan nghiên cứu triển khai mô hình công ty tài chính chứng khoán.

– Tập trung tăng cường hướng dẫn, hỗ trợ các công ty chứng khoán thực hiện hợp nhất, sáp nhập.

Trên cơ sở báo cáo tỷ lệ an toàn tài chính và báo cáo tài chính định kỳ của các TCKDCK, Bộ Tài chính thực hiện giám sát, yêu cầu TCKDCK, công ty kiểm toán giải trình, thực hiện phân loại TCKDCK và áp dụng các biện pháp xử lý theo quy định. Kết quả thực hiện cụ thể như sau:

Đối với các công ty chứng khoán.

Tính đến nay đã thực hiện tái cấu trúc được 24 CTCK,  số lượng CTCK còn lại hoạt động bình thường là 81 công ty, giảm được khoảng 23% tổng số CTCK.

Đối với các công ty quản lý quỹ (CTQLQ)

Có 02 công ty quản lý quỹ đã hoàn thành công tác tái cấu trúc và đã hoạt động bình thường trở lại. Ngoài ra, 02 công ty quản lý quỹ thuộc diện cảnh báo do không đáp ứng tỷ lệ an toàn tài chính đến nay về cơ bản đã khắc phục và trở lại hoạt động bình thường. Số lượng và tình trạng hoạt động của các công ty quản lý quỹ như sau:

Hoạt động bình thường: 43 công ty;

Chấm dứt hoạt động: 1;

Tạm ngừng hoạt động: 3;

Kiểm soát đặc biệt: 1.

(4) Tái cấu trúc thị trường giao dịch chứng khoán (Sở Giao dịch Chứng khoán và Trung tâm Lưu ký Chứng khoán)

– Chỉ đạo Trung tâm lưu ký Chứng khoán xây dựng mô hình thanh toán theo cơ chế bù trừ đối tác trung tâm (CCP) và triển khai hệ thống vay và cho vay chứng khoán (SBL) phục vụ cho việc thanh toán, bù trừ các sản phẩm phái sinh; phối hợp Ngân hàng Nhà nước triển khai đề án chuyển chức năng thanh toán tiền trái phiếu Chính phủ từ ngân hàng thương mại sang Ngân hàng Nhà nước.

– Triển khai gói thầu 04, phối hợp với các đơn vị liên quan rà soát yêu cầu nghiệp vụ và tham gia đóng góp ý kiến đối với yêu cầu về dữ liệu dùng chung.

– Tiếp tục hoàn thiện cấu trúc giao dịch và sản phẩm của các Sở Giao dịch chứng khoán; nghiên cứu xây dựng bộ chỉ số mới, chỉ số trái phiếu, hệ thống các loại lệnh giao dịch…

– Tiếp tục hoàn thiện Đề án hợp nhất 2 Sở giao dịch chứng khoán.

1.6.1.3. Các giải pháp phát triển và tái cấu trúc TTCK

(1) Về khuôn khổ pháp lý nói chung:

– Tích cực triển khai Nghị định số 60/2015/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung Nghị định số 58/2012/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán.

– Tiếp tục hoàn thiện Đề án thành lập Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam.

– Xây dựng Nghị định sửa đổi Nghị định số 108/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán nhằm bổ sung các chế tài cho các hành vi và đối tượng mới.

– Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật nhằm đẩy nhanh tiến trình tái cấu trúc và phát triển TTCK, phục vụ hiệu quả tái cấu trúc nền kinh tế và các cam kết quốc tế như cam kết WTO và TPP.

(2) Tái cấu trúc cơ sở hàng hóa:

* Thị trường cổ phiếu

– Nâng cao chất lượng các công ty niêm yết qua việc tăng quy mô của các công ty niêm yết, tăng tỷ lệ cổ phiếu chuyển nhượng tự do, nâng cao tỷ lệ sở hữu của NĐTNN tại các doanh nghiệp niêm yết theo cam kết WTO.

– Tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hóa DNNN, thoái vốn ngoài ngành theo kế hoạch, đặc biệt là cổ phần hóa các DNNN quy mô lớn; Đồng thời, triển khai đồng loạt các giải pháp để thúc đẩy các DNNN cổ phần hóa lên niêm yết, đăng ký giao dịch trên TTCK theo quy định: Tuyên truyền, hướng dẫn các DNNN cổ phần hóa và phát triển thị trường UPCoM để thu hút các doanh nghiệp lên đăng ký giao dịch.

– Tăng cường kiểm tra, giám sát về tính minh bạch các thông tin trong Báo cáo tài chính của các công ty đại chúng. Nghiên cứu ban hành các chuẩn mực kế toán về Công cụ tài chính, giá trị hợp lý tiếp cận với chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS.

* Thị trường trái phiếu

– Hoàn thiện Đề án tổ chức quản lý thị trường trái phiếu doanh nghiệp.

– Nghiên cứu, xây dựng hệ thống nhằm phục vụ cho việc triển khai đấu thầu và giao dịch trái phiếu các sản phẩm trái phiếu mới: Trái phiếu không trả lãi định kỳ; trái phiếu thả nổi lãi suất (sau khi Thông tư thay thế Thông tư số 17/2012/TT-BTC về phát hành trái phiếu được ban hành).

* Phát triển sản phẩm mới:

– Tiếp tục xây dựng cơ sở hạ tầng cho thị trường chứng khoán phái sinh; xây dựng các mẫu hợp đồng và tăng cường tăng cường phối hợp với các cơ quan thông tin truyền thông nhằm tuyên truyền, đào tạo công chúng đầu tư, đào tạo người hành nghề đối với các sản phẩm chứng khoán phái sinh.

– Phát triển sản phẩm covered warrant, chứng chỉ lưu ký toàn cầu GDR, các bộ chỉ số chứng khoán mới…

– Tiếp tục xây dựng bộ chỉ số chung cho toàn TTCK; xây dựng tiêu chí phân ngành thống nhất tại 2 Sở Giao dịch Chứng khoán theo thông lệ quốc tế.

(3) Thúc đẩy tái cấu trúc hệ thống tổ chức kinh doanh chứng khoán

– Tiếp tục hợp nhất, giải thể, phá sản các CTCK yếu kém, thua lỗ dựa trên nền tảng các chỉ tiêu an toàn tài chính. Xem xét nâng cao tiêu chí thành viên của Sở Giao dịch Chứng khoán nhằm xử lý những CTCK yếu kém.

– Tạo điều kiện hỗ trợ tổ chức kinh doanh chứng khoán trong nước kinh doanh chứng khoán ở nước ngoài theo hình thức lập văn phòng đại diện hoặc chi nhánh tại nước ngoài.

– Tăng cường rà soát, đánh giá, phân loại CTCK, CTQLQ và thực hiện kiểm tra, giám sát CTCK, CTQLQ định kỳ năm 2016 trên cơ sở phân loại.

– Tiếp tục kiểm soát chặt chẽ vấn đề cho vay ký quỹ, đầu tư vào thị trường tài chính, bất động sản, vấn đề liên thông vốn với ngân hàng, vấn đề tách bạch tài khoản của tổ chức kinh doanh chứng khoán.

– Xây dựng các chuẩn mực đạo đức đối với các thành viên trong TTCK nói chung và ngành quản lý tài sản nói riêng nhằm nâng cao sự tin cậy đối với nhà đầu tư. Nâng cao tiêu chuẩn, áp dụng các chứng chỉ tài chính quốc tế đối với người hành nghề quản lý tài sản, đầu tư, kiểm toán nhằm nâng cao chất lượng, uy tín và sự minh bạch của thị trường tài chính.

(4) Tái cấu trúc cơ sở nhà đầu tư

Phát triển nhà đầu tư có tổ chức:

– Tiếp tục phát triển các loại hình quỹ như quỹ ETF, quỹ đầu tư bất động sản REITs, quỹ hưu trí.

– Tiếp tục phối hợp với các đơn vị, bộ ban ngành trong việc xây dựng các quỹ hưu trí bổ sung, quỹ hưu trí tự nguyện nhằm thiết lập hệ thống an sinh xã hội; thiết lập tổ chức định mức tín nhiệm.

 Thu hút nhà đầu tư nước ngoài:

– Tiếp tục thực hiện giải pháp nhằm nâng hạng TTCK Việt Nam từ nhóm các thị trường chứng khoán cận biên lên nhóm các thị trường chứng khoán đang phát triển trên bảng MSCI.

– Xây dựng hệ thống các quỹ bảo hiểm, quỹ hưu trí tự nguyện, quỹ hưu trí bổ sung, thiết lập tổ chức định mức tín nhiệm.

– Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, hoàn thiện hệ thống cấp mã số online cho NĐTNN;

– Hoàn thiện cơ chế thuế áp dụng cho lĩnh vực chứng khoán theo thông lệ quốc tế nhằm khuyến khích đầu tư lâu dài.

– Tích cực chủ động tổ chức các cuộc xúc tiến đầu tư, tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá doanh nghiệp niêm yết và TTCK Việt Nam đối với tổ chức trung gian tài chính và các nhà đầu tư lớn.

– Tích cực khuyến khích, hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện đăng ký tăng tỷ lệ sở hữu của NĐTNN theo Nghị định số 60/2015/NĐ-CP.

Nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường:

Áp dụng một số loại lệnh giao dịch mới nhằm giúp nhà đầu tư có thêm lựa chọn trong hoạt động giao dịch; cho phép nhà đầu tư mua bán trong ngày góp phần tăng thanh khoản cho thị trường.

(5) Hiện đại hóa tổ chức TTCK

– Hiện đại hóa tổ chức thị trường giao dịch, hệ thống bù trừ, thanh toán: (i) thực hiện hợp nhất 2 Sở Giao dịch Chứng khoán hiện tại nhằm nâng cao hiệu quả, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư; (ii) nâng cao hệ thống hạ tầng công nghệ, tăng cường khả năng kết nối khu vực; (iii) phát triển mới hệ thống giao dịch, hệ thống thanh toán bù trừ; (iv) tiếp tục hoàn thiện hệ thống giám sát, công bố thông tin; (v) chuyển giao chức năng thanh toán tiền sang Ngân hàng Nhà nước theo thông lệ; (vi) tiếp tục hoàn thiện chức năng DVP của Trung tâm lưu ký theo chuẩn mực quốc tế; (vii) phát triển chức năng CCP cho Trung tâm lưu ký phục vụ giao dịch chứng khoán phái sinh, tiến tới cho các giao dịch khác.

– Đẩy nhanh tiến độ hoàn thành Đề án chuyển thanh toán tiền giao dịch trái phiếu từ ngân hàng thương mại về Ngân hàng Nhà nước;

1.6.2. Tái cấu trúc thị trường bảo hiểm 2015 và định hướng 2016

1.6.2.1. Tình hình thị trường bảo hiểm năm 2015

Tính đến nay, thị trường bảo hiểm Việt Nam có 47 DNBH (không kể doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và tái bảo hiểm). Trong đó, lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ có 29 doanh nghiệp và 01 chi nhánh DNBH phi nhân thọ nước ngoài; lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ có 17 doanh nghiệp.

Trong năm 2015, thị trường bảo hiểm vẫn tiếp tục duy trì mức độ tăng trưởng khá tích cực. Kết quả cụ thể như sau:

– Doanh thu phí bảo hiểm: Tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường ước đạt 68.024 tỷ đồng, tăng 21,43% so với cùng kỳ năm 2014. Doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 31.374 tỷ đồng (tăng 14%); doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ ước đạt 36.650 tỷ đồng (tăng 29,5%).

– Đầu tư trở lại nền kinh tế: Tổng số tiền đầu tư của các DNBH ước đạt 152.543 tỷ đồng, trong đó các DNBH phi nhân thọ đạt khoảng 33.406 tỷ đồng; các DNBH nhân thọ đạt khoảng 119.137 tỷ đồng.

– Tổng tài sản: Tổng tài sản toàn thị trường ước đạt 201.141 tỷ đồng. Trong đó, các DNBH phi nhân thọ là 69.473 tỷ đồng, các DNBH nhân thọ là 131.668 tỷ đồng.

– Tổng nguồn vốn chủ sở hữu: Tổng nguồn vốn chủ sở hữu toàn thị trường ước đạt 42.388 tỷ đồng, trong đó các DNBH phi nhân thọ là 19.072 tỷ đồng, các DNBH nhân thọ là 23.316 tỷ đồng.

– Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Tổng số tiền thực bồi thường và trả tiền bảo hiểm ước là 21.160 tỷ đồng. Trong đó các DNBH phi nhân thọ ước là 13.177 tỷ đồng, các DNBH nhân thọ ước là 7.983 tỷ đồng

1.6.2.2. Các giải pháp phát triển thị trường

Trong năm 2015, Bộ Tài chính đã triển khai nhiều giải pháp nhằm phát triển thị trường bảo hiểm, cụ thể như sau:

(1) Về chính sách chế độ

BTC đã tiếp tục hoàn thiện chế độ chính sách trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, tạo thuận lợi cho sự phát triển của thị trường bảo hiểm, cụ thể:

– Đã trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết về bảo hiểm trong hoạt động đầu tư xây dựng; Nghị định thay thế các Nghị định về kinh doanh bảo hiểm (Nghị định số 45/2007/NĐ-CP; Nghị định số 46/2007/NĐ-CP; Nghị định số 123/2013/NĐ-CP, Nghị định số 68/2014/NĐ-CP);

– Ban hành một số văn bản pháp luật nhằm khuyến khích phát triển sản phẩm mới: bảo hiểm thủy sản (Thông tư số 97/2014/TT-BTC ngày 23/6/2015 sửa đổi Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư số 115/2014/TT-BTC của BTC hướng dẫn thực hiện chính sách bảo hiểm và tiếp tục bám sát tình hình triển khai tại từng địa phương để có giải pháp kịp thời); bảo hiểm hưu trí tự nguyện (Thông tư  số 130/2015/TT-BTC ngày 25/8/2015 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 115/203/TT-BTC ngày 20/8/2013 của BTC hướng dẫn bảo hiểm hưu trí và quỹ hưu trí tự nguyện);

– Tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho doanh nghiệp thông qua việc đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ một số quy định trong các văn bản pháp luật có liên quan như: bổ sung quy định về tội danh “gian lận bảo hiểm” tại Bộ Luật Hình sự được Quốc hội thông qua ngày 27/11/2015, bỏ Chương “Hợp đồng bảo hiểm” ra khỏi Bộ Luật Dân sự được Quốc hội thông qua ngày 24/11/2015; bổ sung phí giám sát bảo hiểm tại Luật phí và lệ phí được Quốc hội thông qua ngày 25/11/2015.

(2) Về công tác quản lý, giám sát

– Đối với các nhiệm vụ đột xuất:

Trong năm 2015 đã chủ động, thường xuyên bám sát thực tế, kịp thời phối hợp với các DNBH bồi thường nhanh chóng trong các sự kiện cấp bách, đột xuất trong thời gian qua đã góp phần khẳng định vai trò, ý nghĩa của bảo hiểm, quyết tâm của Chính phủ trong việc đảm bảo môi trường đầu tư an toàn và thuận lợi cho các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài. Điển hình, vụ tai nạn sập giàn giáo đặc biệt nghiêm trọng tại công trường cảng nước Sơn Dương thuộc Khu kinh tế Formosa Vũng Áng, Hà Tĩnh làm 13 người chết và 29 người bị thương ngày 25/3/2015, các DNBH thực hiện chi trả số tiền bồi thường bảo hiểm là 650 triệu đồng.

– Đối với nhiệm vụ quản lý, giám sát thường xuyên:

Công tác quản lý, giám sát thường xuyên được BTC triển khai chủ động, tích cực, sát sao với nhiều phương pháp, cách thức đổi mới và hiệu quả, trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa giám sát từ xa (phân tích báo cáo tài chính định kỳ quý, năm), trao đổi, làm việc trực tiếp và kiểm tra tại chỗ. Trong năm đã tiến hành 06 cuộc thanh tra và 13 cuộc kiểm tra các DNBH và DNMGBH. Qua thanh tra, kiểm tra đã kịp thời phát hiện các sai phạm và kiến nghị, xử lý các vấn đề sau thanh tra nhằm giữ vững sự phát triển lành mạnh của thị trường bảo hiểm.

1.6.2.3. Về tình hình tái cấu trúc các DNBH

Căn cứ Quyết định số 1826/QĐ-TTg, trong thời gian qua, Bộ Tài chính đã chỉ đạo tiến hành một bước tiến trình cơ cấu các DNBH, kết quả cụ thể như sau:

(1) Về kết quả phân loại DNBH

Trên cơ sở các tiêu chí quy định tại Quyết định số 1826/QĐ-TTg, Thông tư số 195/2014/TT-BTC và căn cứ báo cáo tài chính của DNBH, tính đến nay, trên thị trường bảo hiểm có:

– 9 DNBH phi nhân thọ, 16 DNBH nhân thọ thuộc nhóm 1;

– 19 DNBH phi nhân thọ thuộc nhóm 2;

– 01 DNBH phi nhân thọ thuộc nhóm 3;

– Không có DNBH nào thuộc nhóm 4.

 Đối với từng nhóm doanh nghiệp được phân loại, BTC đã thực hiện các giải pháp phù hợp với quy định pháp luật.

(2) Tình hình thực hiện các giải pháp tái cấu trúc DNBH

Trong năm 2015, BTC tiếp tục thực hiện các giải pháp tái cấu trúc DNBH theo quy định tại Quyết định số 1826/QĐ-TTg. Cụ thể như sau:

a) Nâng cao mức độ an toàn tài chính và hiệu quả hoạt động đầu tư của các DNBH

– Yêu cầu 03 DNBH phi nhân thọ bổ sung vốn điều lệ; 01 DNBH phi nhân thọ có giải pháp nâng cao biên khả năng thanh toán.

Trong năm 2015, có 13 DNBH hoàn thành tăng vốn điều lệ (trong đó có 05 DNBH nhân thọ, 08 DNBH phi nhân thọ) với tổng số tiền là 2.852 tỷ đồng (trong đó DNBH nhân thọ tăng 1.096 tỷ đồng, DNBH phi nhân thọ tăng 1.756 tỷ đồng).

b) Đẩy mạnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm

Trong năm 2015, BTC đã chỉ đạo các DNBH triển khai nhiều biện pháp nhằm thúc đẩy hoạt động khai thác tại các mảng thị trường tiềm năng, cải thiện và nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc khách hàng, tăng cường hiệu quả kinh doanh của các DNBH. Cụ thể:

– Chấp thuận đăng ký điều chỉnh Quy tắc, điều khoản và biểu phí bảo hiểm vật chất xe cơ giới của các DNBH phi nhân thọ.

– Phê chuẩn 16 sản phẩm bảo hiểm sức khỏe của các DNBH phi nhân thọ và 46 sản phẩm mới của các DNBH nhân thọ; sửa đổi, bổ sung quy tắc, điều khoản của 18 sản phẩm của các DNBH nhân thọ.

c) Tăng cường công tác quản trị của DNBH

– Tiếp tục theo dõi, giám sát việc thoái vốn của các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước tại các DNBH theo Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 09/7/2012 của Chính phủ về chủ trương thoái vốn đầu tư không thuộc ngành nghề kinh doanh chính của các Tập đoàn, Tổng công ty, trong đó có lĩnh vực bảo hiểm. Theo đó, việc thoái vốn đầu tư của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước tại các doanh nghiệp bảo hiểm cổ phần vẫn đang được tiếp tục triển khai. Đến nay, có 01 Tập đoàn (Tập đoàn Than – Khoáng sản) đã hoàn thành và 01 Tập đoàn (Tập đoàn Điện lực) đang thực hiện việc thoái vốn tại DNBH theo quy định. Các DNBH còn lại đang xây dựng kế hoạch để giảm vốn của các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước theo quy định. Việc thoái vốn được thực hiện theo quy định, không ảnh hưởng đến công tác quản trị DNBH.

– Yêu cầu các DNBH tiến hành rà soát và đã đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật về tiêu chuẩn người quản trị điều hành. Trong năm 2015, Bộ Tài chính đã chấp thuận 20 đề nghị thay đổi nhân sự của các DNBH phi nhân thọ và 10 đề nghị thay đổi nhân sự của các DNBH nhân thọ.

d) Mở rộng, phát triển và nâng cao chất lượng sản phẩm bảo hiểm

Trong năm 2015, BTC tiếp tục đẩy mạnh công tác nghiên cứu xây dựng cơ chế chính sách, khuyến khích các DNBH triển khai các sản phẩm bảo hiểm mới nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng, góp phần phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội và đảm bảo an sinh xã hội, cụ thể như sau:

– Bảo hiểm hưu trí

Ngày 25/8/2015, BTC ban hành Thông tư số 130/2015/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Thông tư số 115/2013/TT-BTC ngày 20/8/2013 của BTC hướng dẫn bảo hiểm hưu trí và quỹ hưu trí tự nguyện. Đến nay, Bộ Tài chính đã cấp phép cho 06 DNBH nhân thọ triển khai bảo hiểm hưu trí. Căn cứ vào báo cáo kế hoạch kinh doanh của các doanh nghiệp, tính đến hết năm 2015, doanh thu phí ước đạt 278,85 tỷ đồng, chiếm 0,76% tổng doanh thu phí, trong đó doanh thu phí bảo hiểm khai thác mới năm 2015 ước đạt 199,76 tỷ đồng chiếm 1,6% doanh thu phí khai thác mới.

– Bảo hiểm liên kết đầu tư

+ Bảo hiểm liên kết chung: Bắt đầu được triển khai năm 2007, đến nay đã có 13/17 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ triển khai sản phẩm bảo hiểm này với doanh thu phí ước đạt 13.021 tỷ đồng và số lượng hợp đồng có hiệu lực ước đạt 1,65 triệu hợp đồng. Trong năm 2015, doanh thu phí bảo hiểm mới ước đạt 5.503 tỷ đồng (tăng 44,37% so với cùng kỳ năm 2014), số hợp đồng khai thác mới ước đạt 442.910 hợp đồng.

+ Bảo hiểm liên kết đơn vị: Năm 2007, BTC ra Quyết định số 102/2007/QĐ-BTC hướng dẫn triển khai bảo hiểm liên kết đơn vị. Ngày 15/8/2012, BTC đã ban hành Thông tư số 135/2012/TT-BTC thay thế cho Quyết định số 102/2007/QĐ-BTC. Đây là sản phẩm mang tính chất đầu tư, gắn với rủi ro cao. Hiện nay đã có 03 DNBH nhân thọ triển khai sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị là Manulife và Prudential. Tính đến hết năm 2015, doanh thu phí bảo hiểm ước đạt 230,59 tỷ đồng, số hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực là 12.201 hợp đồng. Trong đó, doanh thu phí bảo hiểm khai thác mới ước đạt 100,86 tỷ đồng, tổng số hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực là 1.901 hợp đồng.

– Bảo hiểm vi mô

Thực hiện Quyết định số 2195/QĐ-TTg ngày 06/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án xây dựng và phát triển hệ thống tài chính vi mô tại Việt Nam đến năm 2020 và ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo Chính phủ, BTC ký công văn hướng dẫn triển khai thí điểm bảo hiểm vi mô đối với Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam và Trung tâm hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực tài chính cộng đồng (CFRC) thuộc hội Khuyến học Việt Nam. Bên cạnh đó, BTC đã phối hợp với các tổ chức triển khai bảo hiểm vi mô làm việc với bên mua bảo hiểm và các tổ chức cung cấp bảo hiểm vi mô tại các địa phương nhằm cung cấp bảo hiểm vi mô tốt nhất cho người nghèo, người có thu nhập thấp tại mọi địa bàn. Hiện tại, BTC đang xem xét ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn triển khai bảo hiểm vi mô thông qua các tổ chức chính trị xã hội.

Tính đến cuối năm 2015, doanh thu phí bảo hiểm ước đạt 34 tỷ đồng, số hợp đồng có hiệu lực ước đạt hơn 86.382 hợp đồng.

– Bảo hiểm nông nghiệp:

Ngày 01/3/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 315/QĐ-TTg về việc thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011-2013. Sau khi kết thúc thời gian thực hiện thí điểm, BTC đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện.

Ngày 13/8/2015, BTC đã có Tờ trình số 121/TTr-BTC trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định tiếp tục thí điểm bảo hiểm nông nghiệp, theo đó: (i) Tiếp tục thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp đối với cây lúa, vật nuôi tại các tỉnh, thành phố theo Quyết định số 315/QĐ-TTg (ii) Mở rộng bảo hiểm trâu, bò cho các huyện tại tỉnh Hà Giang (iii) Dừng triển khai bảo hiểm thủy sản (tôm, cá).

– Bảo hiểm thủy sản: 

Việc triển khai chính sách bảo hiểm theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP đã góp phần khuyến khích khai thác hải sản xa bờ nhằm hỗ trợ ngư dân vươn khơi bám biển, bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đến tháng 10/2015, có 26/28 tỉnh, thành phố phát sinh doanh thu phí bảo hiểm (02 địa phương chưa phát sinh doanh thu phí là do số lượng tàu cá không nhiều là Ninh Bình và TP. Hồ Chí Minh) với tổng số tiền bảo hiểm là 20.319 tỷ đồng; tổng số phí bảo hiểm là 194,7 tỷ đồng; tổng số tàu tham gia bảo hiểm là 9.378 tàu; tổng số lượng thuyền viên được bảo hiểm là 83.614 thuyền viên; đã phát sinh một số vụ bồi thường với số tiền là 12,7 tỷ đồng.

e) Tiếp tục chỉ đạo tái cấu trúc Công ty cổ phần bảo hiểm Viễn Đông (VASS)

Qua công tác quản lý, giám sát, ngay sau khi phát hiện biên khả năng thanh toán (KNTT) của VASS thấp hơn biên khả năng thanh toán tối thiểu (tháng 9/2011), Bộ Tài chính yêu cầu Công ty lập phương án khôi phục khả năng thanh toán, củng cố tổ chức và hoạt động, tăng vốn điều lệ. Đến nay, việc tái cấu trúc đã đạt được một số kết quả bước đầu như: tăng vốn điều lệ lên 300 tỷ đồng theo quy định của pháp luật, công tác tổ chức bộ máy được tăng cường, mạng lưới hoạt động được kiểm soát chặt chẽ hơn, phạm vi khai thác sản phẩm bảo hiểm thu hẹp chỉ tập trung vào 2 nghiệp vụ chính có mức độ rủi ro thấp là bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm xe cơ giới. Doanh thu phí bảo hiểm gốc năm 2015 của Công ty tăng 2,8 lần so với cùng kỳ năm 2014, đạt 1.240 tỷ đồng. Hiện nay, BTC đang tiếp tục làm việc trực tiếp tại VASS để hướng dẫn Công ty xây dựng phương án tái cấu trúc tổng thể, có lộ trình chi tiết, định kỳ hàng quý báo cáo BTC kết quả thực hiện.

1.6.2.4. Giải pháp tiếp tục thực hiện tái cấu trúc DNBH

(1) Công tác xây dựng chế độ chính sách:

– Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện dự thảo, trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết về bảo hiểm trong hoạt động đầu tư xây dựng.

– Trình Thủ tướng Chính phủ kế hoạch xây dựng Nghị định thay thế Nghị định số 45/2007/NĐ-CP, Nghị định số 46/2007/NĐ-CP, Nghị định số 123/2013/NĐ-CP.

– Tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện chính sách bảo hiểm thủy sản theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP, bao gồm rà soát, đánh giá, hoàn thiện chính sách; bám sát thực tế triển khai.

– Chuẩn bị các điều kiện cần thiết tiếp tục triển khai thực hiện thí điểm chính sách bảo hiểm nông nghiệp; nghiên cứu, xây dựng phương án hoàn thiện bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới, chính sách bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc, và nghiên cứu xây dựng chính sách bảo hiểm thiên tai, bảo hiểm năng lượng nguyên tử…

(2) Công tác quản lý, giám sát thị trường

– Tiếp tục chỉ đạo, hướng dẫn công tác giải quyết bồi thường bảo hiểm góp phần bảo vệ môi trường đầu tư và quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư, người tham gia bảo hiểm. Tăng cường hiện đại hóa, đổi mới phương thức, hiệu quả quản lý, giám sát, tập trung các vấn đề tuân thủ pháp luật, quản trị doanh nghiệp, quản lý tài chính, tăng cường các hình thức trao đổi, đối thoại với doanh nghiệp.

– Tiếp tục tổ chức các cuộc thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch đã được phê duyệt, theo đó đa dạng hóa hoạt động kiểm tra, gắn chặt với công tác giám sát thường xuyên và  tập trung vào những nội dung quan trọng. Đẩy mạnh hơn nữa công tác xử lý sau thanh tra, kiểm tra nhằm đảm bảo tuân thủ pháp luật và hỗ trợ DNBH phát triển hoạt động kinh doanh lành mạnh, đúng pháp luật.

(3) Mở rộng, phát triển và nâng cao chất lượng sản phẩm bảo hiểm, tập trung vào các nội dung

– Tiếp tục triển khai bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm vi mô, bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm thủy sản…

– Tiếp tục theo dõi, chỉ đạo, giám sát DNBH rà soát, quán triệt việc tuân thủ pháp luật kinh doanh bảo hiểm.

(4) Tiếp tục tăng cường công tác quản lý, giám sát DNBH

– Giám sát DNBH rà soát, quán triệt việc tuân thủ pháp luật kinh doanh bảo hiểm và tăng cường công tác quản trị doanh nghiệp;

– Tiếp tục tập trung chỉ đạo việc tái cấu trúc Công ty cổ phần bảo hiểm Viễn Đông; theo dõi thường xuyên về tình hình các DNBH có biên khả năng thanh toán thấp. Đồng thời, thường xuyên giám sát, đôn đốc các DNBH triển khai thực hiện việc tự đánh giá, xếp loại theo Thông tư số 195/2014/TT-BTC hướng dẫn đánh giá, xếp loại DNBH;

1.7. Kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2015 và phương hướng thực hiện nhiệm vụ về cổ phần hóa, tái cơ cấu DNNN năm 2016

1.7.1. Tình hình tái cơ cấu DNNN năm 2015

Trong giai đoạn 2011 – 2015 đặc biệt là năm 2015, các cơ chế chính sách về cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước đã được tập trung ban hành đầy đủ, đồng bộ và được điều chỉnh, bổ sung để phù hợp với thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp và tình hình thị trường, giúp doanh nghiệp hoàn thành Đề án tái cơ cấu được cấp có thẩm quyền phê duyệt (trọng tâm là cổ phần hóa, thoái vốn đầu tư ngoài ngành), tập trung vốn đầu tư vào lĩnh vực, ngành kinh doanh chính, tránh đầu tư dàn trải, không hiệu quả, hạn chế thất thoái vốn và tài sản nhà nước, cụ thể:

1.7.1.1. Về cơ chế chính sách

a) Các cơ chế, chính sách chung đã ban hành trong năm 2015:

– Nghị định số 87/2015/NĐ-CP ngày 6/10/2015 về giám sát đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp; giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông tin tài chính của doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước.

– Nghị định số 91/2015/NĐ-CP ngày 13/10/2015 về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp.

– Đối với việc hướng dẫn Nghị định số 118/2014/NĐ-CP ngày 17/12/2014 của Chính phủ quy định về sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả các công ty nông, lâm nghiệp, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 51/2015/TT-BTC ngày 17/4/2015 hướng dẫn về xử lý tài chính khi sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp và Thông tư số 52/2015/TT-BTC ngày 17/4/2015 hướng dẫn một số chính sách tài chính đặc thù đối với công ty nông, lâm nghiệp sau khi hoàn thành sắp xếp, đổi mới. Bộ Tài chính đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Thông tư liên tịch số 17/2015/TTLT-BNNPTNT-BTC ngày 22/4/2015 hướng dẫn phương pháp xác định giá trị rừng trồng, vườn cây để sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty nông, lâm nghiệp.

b) Các cơ chế, chính sách về cổ phần hoá và thoái vốn:

– Quyết định số 22/2015/QĐ-TTg ngày 22/6/2015 về việc chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần.

– Quyết định số 41/2015/QĐ-TTg  ngày 15/9/2015 về việc bán cổ phần theo lô. 

– Nghị định số 116/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần.

1.7.1.2. Tình hình thực hiện sắp xếp, cổ phần hóa DNNN

– Kế hoạch giai đoạn 2011 – 2015: dự kiến cổ phần hóa 538 doanh nghiệp, riêng giai đoạn 2014 – 2015 cổ phần hóa 432 doanh nghiệp.

– Thực hiện:

+ Từ năm 2011 đến 2013 cổ phần hóa 106 doanh nghiệp,

+ Năm 2014: cổ phần hóa 143 doanh nghiệp,

+ Năm 2015: cổ phần hóa được 210 doanh nghiệp.

+ Lũy kế giai đoạn 2011 đến ngày 31/12/2015 , cả nước đã cổ phần hóa (CPH) được 459 doanh nghiệp, đạt khoảng 90% kế hoạch.

1.7.1.3. Tình hình thoái vốn đầu tư ngoài ngành

Năm 2015, lũy kế từ đầu năm đến cuối tháng 11/2015, các đơn vị đã thoái được 4.975.107 triệu đồng, thu về 4.636.071 triệu đồng, trong đó:

– Lĩnh vực chứng khoán thoái được 156.416 triệu đồng, thu về 144.573 triệu đồng (TCT Hàng hải, TCT Xi măng thoái thấp hơn giá trị đầu tư).

– Lĩnh vực ngân hàng tài chính là 1.603.013 triệu đồng, thu về 852.247 triệu đồng (TCT Thuốc lá thoái thấp hơn giá trị đầu tư; TĐ Dầu khí thoái 800.000 triệu đồng và TCT Lương thực miền Nam thoái 1.364 triệu đồng với giá 0 đồng theo chỉ đạo của NHNN).

– Lĩnh vực bảo hiểm thoái được 111.711 triệu đồng, thu về 135.130 triệu đồng.

– Lĩnh vực bất động sản thoái được 2.930.039 triệu đồng, thu về 3.330.191 triệu đồng.

– Các Quỹ đầu tư thoái được 173.929 triệu đồng, thu về 173.929 triệu đồng.

Số vốn đầu tư vào 5 lĩnh vực nhạy cảm cần phải thoái tiếp là 15.678.456 triệu đồng (do một số đơn vị điều chỉnh lại đề án tái cơ cấu theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ nên số phải thoái giảm 1.730.985 triệu đồng[5]), trong đó: lĩnh vực chứng khoán là 118.196 triệu đồng, lĩnh vực ngân hàng tài chính là 8.722.665 triệu đồng, lĩnh vực bảo hiểm là 546.495 triệu đồng, lĩnh vực bất động sản là 6.078.949 triệu đồng, quỹ đầu tư là 212.152 triệu đồng.

1.7.1.4. Nhận xét, đánh giá:

Về cơ bản, thời gian qua các Tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, doanh nghiệp nhà nước đã tích cực triển khai Đề án tái cơ cấu theo tinh thần Quyết định số 929/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Các cơ chế chính sách về tái cơ cấu, sắp xếp, cổ phần hóa DNNN tiếp tục được hoàn thiện theo hướng tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp thực hiện. Trên cơ sở các đề án đã được phê duyệt, các tập đoàn, tổng công ty đã tiến hành rà soát, phân loại, xác định danh mục ngành nghề, phạm vi kinh doanh chính, ngành nghề có liên quan và xây dựng kế hoạch cổ phần hóa; một số tập đoàn và tổng công ty đã xây dựng, ban hành mới hoặc hoàn thiện hệ thống quy chế quản trị nội bộ, sắp xếp lại cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý, điều hành nhằm tinh giảm biên chế, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, quá trình tái cơ cấu, tiến độ cổ phần hóa DNNN và thoái vốn đầu tư ngoài ngành vào 5 lĩnh vực nhạy cảm trong thời gian qua còn chậm so với kế hoạch đề ra vì một số nguyên nhân sau:

– Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới và những khó khăn của kinh tế trong nước, ảnh hưởng đến thị trường tài chính, thị trường chứng khoán làm cho nhu cầu sụt giảm, do đó kế hoạch bán cổ phần ra công chúng của các doanh nghiệp cổ phần hóa không đạt được kế hoạch đề ra, tỷ lệ bán thành công thấp, nhiều doanh nghiệp sau IPO vẫn còn số lượng vốn nhà nước lớn, trong khi đó doanh nghiệp phải thoái một lượng vốn lớn trong khoảng thời gian nhất định vì vậy ảnh hưởng đến tiến độ thoái vốn của doanh nghiệp.

– Một số Bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước chưa chỉ đạo quyết liệt và tích cực tổ chức triển khai phương án sắp xếp, cổ phần hóa và thoái vốn.

– Nhận thức của một bộ phận cán bộ ở các cấp, các ngành và các doanh nghiệp về chủ trương tái cơ cấu doanh nghiệp tuy đã có chuyển biến nhưng chưa hiểu đúng ý nghĩa quan trọng của việc tái cơ cấu doanh nghiệp đối với phát triển kinh tế – xã hội; còn tư tưởng e ngại, lo lắng về vị trí và vai trò lãnh đạo sau cổ phần hóa.

– Đối tượng sắp xếp, cổ phần hóa hiện nay hầu hết là các doanh nghiệp có quy mô lớn, phạm vi hoạt động rộng, kinh doanh đa ngành nghề, tài chính phức tạp nên cần có nhiều thời gian chuẩn bị, xử lý. Mặt khác, việc thực hiện cổ phần hóa, tái cơ cấu và thoái vốn nhà nước đối với các doanh nghiệp có quy mô vốn lớn cần sự tham gia của nhiều nhà đầu tư lớn, có tiềm lực tài chính và năng lực quản trị, đầu tư tốt nên cần nhiều thời gian để chuẩn bị.

1.7.2. Giải pháp trong thời gian tới

(1). Đối với Bộ Tài chính: Tiếp tục theo dõi, giám sát quá trình thực hiện các Đề án tái cơ cấu, sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Kịp thời xử lý các vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai Đề án tái cơ cấu, sắp xếp, cổ phần hóa các DNNN (nếu có).

(2). Bộ Tài chính trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương:

(2.1). Tiếp tục quyết liệt để hoàn thành công tác cổ phần hóa, thoái vốn đối với các đơn vị chưa hoàn thành theo kế hoạch năm 2015.

(2.2). Tập trung nghiên cứu xây dựng các Đề án, chính sách về sắp xếp, đổi mới quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động DNNN (gồm cả công ty nông lâm nghiệp). Trong đó tập trung ban hành: tiêu chí phân loại DNNN cho phù hợp với giai đoạn tới (Quyết định của Thủ tướng Chính phủ thay thế Quyết định số 37/2014/QĐ-TTg ngày 18/7/2014 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành tiêu chí, danh mục phân loại doanh nghiệp nhà nước); hướng dẫn các Tập đoàn, Tổng công ty, DNNN ban hành Điều lệ và Quy chế tài chính phù hợp với Luật Doanh nghiệp và Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh; hướng dẫn các hình thức sắp xếp khác phù hợp với hệ thống Luật mới ban hành như cơ chế bán toàn bộ doanh nghiệp, bán một phần vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp để chuyển thành Công ty TNHH hai thành viên trở lên, sáp nhập, hợp nhất, chia tách DNNN.

(2.3). Trên cơ sở tiêu chí phân loại mới ban hành (thay thế Quyết định số 37/2014/QĐ-TTg ngày 18/7/2014), tập trung hoàn thành trình Thủ tướng phê duyệt phương án sắp xếp, đổi mới DNNN để triển khai ngay từ đầu năm 2016.

(2.4). Tiếp tục quán triệt, thực hiện kế hoạch, lộ trình tái cơ cấu DNNN, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung chỉ đạo hoàn thành theo đúng Đề án đã được phê duyệt. Xử lý nghiêm đối với Lãnh đạo doanh nghiệp không thực hiện đúng hoặc thực hiện không có hiệu quả tái cơ cấu và nhiệm vụ được giao trong quản lý, điều hành doanh nghiệp.

(2.5). Tiếp tục rà soát bán phần vốn Nhà nước trong các doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ. Bộ Tài chính thực hiện quản lý, giám sát nguồn Quỹ HTSX và PTDN để tập trung nguồn thu từ quá trình cổ phần hóa và thoái vốn để đầu tư các công trình trọng điểm của Nhà nước.

(2.6). Tiếp tục đẩy mạnh việc tái cơ cấu và nâng cao chất lượng quản trị và hiệu quả hoạt động của DNNN. Tiếp tục hoàn thiện các quy chế, quy định nội bộ theo quy định tại Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp. Triển khai công tác đánh giá giám sát DNNN theo quy định tại Nghị định số 87/2015/NĐ-CP.

(2.7). Đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý của chủ sở hữu nhà nước, tiếp tục kiện toàn bộ máy, tổ chức thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu theo hướng phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của các cấp, ngành và đơn vị có liên quan.

(2.8). Nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát DNNN. Đẩy nhanh việc minh bạch, công khai hóa thông tin về hoạt động của DNNN. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát đối với hoạt động của các TĐ, TCT nhà nước, gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả tổ chức tái cơ cấu DNNN. Hình thành cơ quan quản lý, giám sát tài chính doanh nghiệp thuộc Bộ Tài chính để tăng cường công tác giám sát các doanh nghiệp có vốn nhà nước.

1.8. Kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2015 và phương hướng thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tài chính

1.8.1. Tình hình hội nhập và hợp tác tài chính năm 2015

Hiện nay bối cảnh nền kinh tế thế giới đang có nhiều biến động phức tạp: thứ nhất, vai trò của các nước mới nổi và đang phát triển đặc biệt là Trung Quốc ngày càng tăng; thứ hai, xung đột mâu thuẫn xảy ra ở nhiều nơi đặc biệt là căng thẳng trên Biển Đông, cuộc khủng hoảng và cuộc chiến chống Nhà nước Hồi giáo IS ở Trung Đông, cấm vận của phương Tây với Nga; thứ ba, trọng tâm tăng trưởng của các nền kinh tế thay đổi theo hướng bền vững hơn và cân bằng hơn; thứ tư, bên cạnh các mối quan hệ song phương truyền thống thì xu hướng hợp tác quốc tế chú trọng hơn đến hợp tác đa phương. Trong khi đó, xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa vẫn đang tiếp diễn, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế ngày càng gia tăng khiến cho những biến động của một nước này sẽ có tác động lớn tới nhiều nước khác. Đứng trước bối cảnh kinh tế thế giới thay đổi như vậy thì vai trò của công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng được nâng cao, gắn với các yêu cầu ngày càng cao, nhất là khi Cộng đồng kinh tế ASEAN được chính thức hình thành vào tháng 11 năm 2015.

Năm 2015, trong công tác hội nhập kinh tế quốc tế, Bộ Tài chính đã tích cực triển khai thực thi cam kết cắt giảm thuế quan, cam kết mở cửa thị trường dịch vụ trong các khuôn khổ hội nhập song phương và đa phương, đồng thời chủ động xây dựng phương án để kết thúc đàm phán các Hiệp định thương mại tự do quan trọng như TPP, Việt Nam-Liên minh châu Âu, đánh dấu mốc hội nhập sâu và rộng của Việt Nam với các đối tác thương mại chính trên thế giới. Lĩnh vực hợp tác tài chính cũng đạt được những thành tựu đáng ghi nhận thông qua việc khai thác tối đa và có chọn lọc những kết quả hợp tác tài chính khu vực; hợp tác với các chính phủ và tổ chức quốc tế; tăng cường thu hút, vận động và sử dụng hiệu quả những nguồn lực hỗ trợ từ bên ngoài để phục vụ cho quá trình cải cách tái cơ cấu nền kinh tế, hiện đại hóa ngành tài chính, hoàn thiện thể chế và chính sách tài chính, cải cách thủ tục hành chính và tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ tài chính của Việt Nam.

Triển khai Chỉ thị 15/CT-TTg ngày 07/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục triển khai Nghị quyết 22/NQ-BCT, Việt Nam đã tích cực, chủ động trong đàm phán và ký kết các Hiệp định thương mại tự do mới với các đối tác. Tính đến hết năm 2015, Việt Nam đã ký kết 10 Hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và đa phương, bao gồm Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc (ACFTA), ASEAN-Hàn Quốc (AKFTA), ASEAN-Nhật Bản (AJCEP), Việt Nam-Nhật Bản (VJEPA), ASEAN-Úc-Niudilân (AANZFTA), ASEAN-Ấn Độ (AIFTA), Việt Nam-Chi lê (VCFTA), Việt Nam-Hàn Quốc (VKFTA) và Việt Nam-Liên minh kinh tế Á Âu (VNEAEUFTA).

Hai Hiệp định quan trọng với đối tác EU và Hoa Kỳ đã tuyên bố kết thúc là Hiệp định Việt Nam- EU (ngày 02/12/2015) và Hiệp định TPP (ngày 05/10/2015). Đây là các FTA thế hệ mới với diện cam kết rộng và mức cam kết sâu. Ngoài cam kết về tự do hóa thương mại hàng hóa và dịch vụ, các nước tham gia còn cam kết trên nhiều lĩnh vực khác như mua sắm chính phủ, lao động, môi trường, sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp nhà nước, đầu tư… Việc kết thúc đàm phán 2 Hiệp định này đánh dấu mốc hội nhập quan trọng của Việt Nam kể từ khi gia nhập WTO, và được đánh giá là động lực để thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, tăng cường thương mại hai chiều giữa Việt Nam với EU và Hoa Kỳ, cải thiện thể chế chính sách…

Các Hiệp định vẫn đang đàm phán bao gồm: (i) FTA Việt Nam-Khối EFTA (Thụy Sỹ, Nauy, Ai-xơ-len và Lích-ten-xtanh), (ii) Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực giữa ASEAN với 6 nước đối tác (RCEP), và (iii) FTA ASEAN-Hồng Kông. Ngoài lợi ích kinh tế, các FTA với các đối tác này cũng góp phần làm phong phú thêm quan hệ thương mại và chính trị của Việt Nam với các nước.

Xét về thương mại hàng hóa, theo số liệu XNK của Tổng cục Hải quan, các đối tác FTA của Việt Nam đều là các đối tác thương mại quan trọng, thể hiện ở giá trị thương mại lớn và tỉ trọng cao trên tổng số liệu thương mại với thế giới của Việt Nam hàng năm. Thương mại của Việt Nam với các đối tác đã và đang đàm phán luôn chiếm trên 80% tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam. Trong 10 tháng năm 2015 quan hệ thương mại với các đối tác FTA theo tỉ trọng như sau: Trung Quốc đứng đầu chiếm 20,1% tổng kim ngạch thương mại hai chiều của Việt Nam với thế giới, tiếp đó là ASEAN 12,8%; Hoa Kỳ 12,7%; EU 12,5%, Hàn Quốc 11,3%, Nhật Bản 8,7%…

1.8.1.1. Về thuế nhập khẩu

Năm 2015 Bộ Tài chính tiếp tục thực hiện lộ trình cắt giảm thuế nhập khẩu trong khuôn khổ 8 FTA đã có hiệu lực theo các Thông tư ban hành Biểu thuế ưu đãi đặc biệt cho giai đoạn 2015-2018, cụ thể là Thông tư số 162/2013/TT-BTC ngày 15/11/2013 ban hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt Việt Nam-Chi lê, Thông tư số 165/2014/TT-BTC, 166/2014/TT-BTC, 167/2014/TT-BTC, 168/2014/TT-BTC, 169/2014/TT-BTC ngày 14/11/2014 ban hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt ASEAN, ASEAN-Trung Quốc, ASEAN-Hàn Quốc, ASEAN-Úc-Niu-Di lân, ASEAN-Ấn Độ giai đoạn 2015-2018, Thông tư số 24/2015/TT-BTC, 25/2015/TT-BTC ngày 14/02/2015 ban hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt ASEAN-Nhật Bản, Việt Nam-Nhật Bản giai đoạn 2015-2019, Thông tư số 44/2015/TT-BTC ngày 30/3/2015 sửa đổi mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt đối với một số nhóm mặt hàng trong Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt ASEAN-Hàn Quốc giai đoạn 2015-2018.

Bộ Tài chính cũng tích cực trao đổi, lắng nghe ý kiến của doanh nghiệp liên quan đến các Biểu thuế FTA đang thực hiện để kịp thời điều chỉnh chính sách phù hợp với nhu cầu doanh nghiệp, ngành hàng trong nước nhưng vẫn đảm bảo được cam kết của Việt Nam với các đối tác FTA.

Đối với 2 FTA vừa ký kết, Hiệp định Việt Nam-Hàn Quốc sẽ có hiệu lực từ ngày 20/12/2015 và Hiệp định Việt Nam-Liên minh kinh tế Á Âu dự kiến có hiệu lực từ 01/01/2016 phụ thuộc vào quy trình nội bộ trong nước của các bên. Tuy nhiên, Bộ Tài chính đã chủ động xây dựng lộ trình giảm thuế, lấy ý kiến doanh nghiệp và các bộ ngành liên quan để có thể ban hành Thông tư ban hành biểu thuế đúng thời điểm khi Hiệp định có hiệu lực.  

Trong hầu hết các FTA mà ta đã ký kết thì mức độ tự do hóa về thuế nhập khẩu trung bình khoảng 90% số dòng thuế, trừ Hiệp định ASEAN (ATIGA) là Hiệp định nội khối với mức cam kết tự do hóa xấp xỉ 98%.  Về lộ trình, FTA hoàn thành lộ trình sớm nhất là ATIGA (2018), tiếp đó là ACFTA (2020) và AKFTA (2021). Năm 2015 mức độ tự do hóa thuế quan của Việt Nam với các đối tác FTA đã ở mức khá cao: trong ATIGA đạt khoảng 93%, ASEAN-Trung Quốc 84% số dòng thuế về 0%, ASEAN-Hàn Quốc 78% và ASEAN-Nhật Bản 62%. Theo đó, nhiều mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu lớn từ ASEAN, Trung Quốc và Hàn Quốc được hưởng thuế 0% từ năm 2015 như sắt thép, phân bón, sản phẩm điện tử, xe tải, đồ điện gia dụng, máy móc thiết bị…

Cam kết về thuế nhập khẩu trong 2 khuôn khổ FTA thế hệ mới là TPP và Việt Nam-EU có tỉ lệ tự do hóa cao hơn với lộ trình ngắn hơn, hướng tới cam kết xóa bỏ thuế quan đối với 100% số dòng thuế, cụ thể như sau:

Với EU, Việt Nam cam kết sẽ xóa bỏ thuế quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực với 48,5% số dòng thuế, tương đương 64,5% kim ngạch nhập khẩu từ EU, và sau 10 năm là khoảng 99% số dòng thuế, tương đương 99,8% kim ngạch nhập khẩu từ EU. Đối với số dòng thuế còn lại, Việt Nam sẽ có lộ trình trên 10 năm hoặc dành ưu đãi cho EU trên cơ sở hạn ngạnh thuế quan của WTO.

Trong TPP, Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế đối với khoảng 66% số dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực và xóa bỏ đối với 86,5% số dòng thuế sau 3 năm Hiệp định có hiệu lực. Các mặt hàng còn lại sẽ có lộ trình giảm thuế cơ bản từ 4-10 năm. Một số mặt hàng đặc biệt nhạy cảm, Việt Nam cam kết lộ trình trên 10 năm hoặc hạn ngạch thuế quan.

Như vậy, cho đến nay phạm vi đối tác FTA của Việt Nam đã khá rộng và toàn diện, trong 3-5 năm tới sẽ chạm đến các dấu mốc quan trọng của nhiều Hiệp định và dần tiến đến tự do hóa thuế quan hầu hết các mặt hàng nhập khẩu với các đối tác thương mại chính. Với việc ký kết 2 Hiệp định và tuyên bố kết thúc 2 Hiệp định quan trọng TPP và Việt Nam-EU, năm 2015 đã phác ra một bức tranh rõ ràng về khả năng tiếp cận thị trường ngày càng tăng của hàng ngoại nhập và bức tranh thương mại của Việt Nam trong các năm tới đây.

1.8.1.2. Về thuế xuất khẩu

Đối với thuế xuất khẩu, với WTO và các FTA đã ký kết, Việt Nam không có nghĩa vụ phải xóa bỏ thuế XK. Duy nhất ta chỉ cam kết đối với nhóm hàng sắt thép, phế liệu kim loại sẽ được giảm thuế sau 5 năm gia nhập WTO đến mức 17% và 22%, thực hiện từ 2007.

Trong các FTA thế hệ mới với đặc thù là đàm phán với các nước phát triển nên các nước đều ủng hộ quan điểm xóa bỏ thuế xuất khẩu vì cho rằng thuế xuất khẩu là một hình thức trợ cấp cho sản xuất trong nước, gây bóp méo thương mại quốc tế. Trên tinh thần đó, Bộ Tài chính đã chủ động xây dựng phương án cam kết về thuế xuất khẩu với EU và các nước TPP nhằm phù hợp với xu hướng quốc tế đồng thời vẫn đảm bảo nguồn thu NSNN, cụ thể như sau:

Đối với EU, Việt Nam cam kết xóa bỏ phần lớn thuế xuất khẩu với hàng xuất khẩu sang EU với lộ trình dài nhất là 15 năm. Những mặt hàng quan trọng còn lại sẽ tiếp tục được duy trì thuế xuất khẩu và áp dụng một mức trần thuế suất thuế xuất khẩu: (i) 546 mặt hàng sẽ xóa bỏ thuế XK với lộ trình 5-7-10-12-15 năm, trong đó có quặng titan và tinh quặng titan; (ii) 57 mặt hàng sẽ áp dụng mức thuế suất thuế XK 10-20% đối với nhóm mặt hàng khoáng sản, quặng kim loại, than đá, vàng và vàng trang sức.

Trong TPP: (i) Việt Nam bảo lưu đối với khoảng 70 mặt hàng thuế xuất khẩu sẽ có mức thuế suất từ 2-40%, trong đó quan trọng nhất là bảo lưu được đối với nhóm than đá, dầu mỏ và một số nhóm khoáng sản khác; (ii) các mặt hàng còn lại có lộ trình xóa bỏ thuế xuất khẩu ngay hoặc trong vòng 5/7/10/15 năm.

1.8.1.3. Về tự do hóa dịch vụ tài chính và các ngành dịch vụ khác thuộc quản lý của Bộ Tài chính

(1) Dịch vụ bảo hiểm và chứng khoán

Cam kết về dịch vụ bảo hiểm và chứng khoán của Việt Nam đã ở mức tự do hóa cao trong WTO, ta chỉ bảo lưu một số ít các hạn chế về mở cửa thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài như: chưa cho phép thành lập chi nhánh bảo hiểm nhân thọ của doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, chưa cho phép cung cấp dịch vụ qua biên giới đối với dịch vụ nhượng tái bảo hiểm…

Việc gia nhập WTO tạo cơ hội cho việc phát triển nhiều sản phẩm mới và thu hút các nhà đầu tư chuyên nghiệp, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán. Lĩnh vực bảo hiểm cũng đã thu hút được 30 doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (tính đến tháng 11/2015) và nhiều nhà đầu tư chiến lược nước ngoài đầu tư vào các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước, góp phần nâng cao năng lực tài chính, năng lực quản trị điều hành, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ bảo hiểm. Các dịch vụ bảo hiểm đã được đa dạng hóa, bao quát hầu hết các loại hình tài sản của mọi thành phần kinh tế, mọi ngành kinh tế.    

Trong các FTA đã ký kết, Việt Nam không mở cửa thêm dịch vụ bảo hiểm và chứng khoán so với cam kết WTO. Tuy nhiên, các đối tác phát triển như EU và Hoa Kỳ thường có nền dịch vụ phát triển và đưa ra yêu cầu cao về mở cửa thị trường cũng như các quy định mang tính nguyên tắc nhằm ràng buộc chặt chẽ hơn nữa trách nhiệm của các nước thành viên với nhà đầu tư nước ngoài. Trong khi đó,  quy mô thị trường chứng khoán và bảo hiểm của Việt Nam còn hạn chế, vì vậy Bộ Tài chính đã xây dựng phương án và tham gia đàm phán với EU và TPP trên nguyên tắc thận trọng, có bước đi phù hợp. Cam kết về dịch vụ trong các FTA thế hệ mới có một số điểm mới sau:

– Về phương thức cam kết: trước đây trong WTO và các FTA đã ký kết Việt Nam cam kết các ngành dịch vụ theo phương thức của GATS/WTO theo phương thức “chọn cho” (chỉ mở cửa lĩnh vực nào thì mới đưa ra trong biểu cam kết), tuy nhiên TPP yêu cầu cam kết theo phương thức “chọn bỏ” (lĩnh vực nào không nêu ra thì mặc nhiên là mở cửa hoàn toàn, không có bảo lưu nào) cũng dẫn đến những vấn đề thực thi sau này khi chính sách ban hành không được vượt ra khỏi những biện pháp “không tương thích” (NCM) mà mỗi nước đã bảo lưu trong TPP.

– Các cam kết mang tính nguyên tắc: ngoài các cam kết mang tính nguyên tắc của WTO thì TPP và EU đưa ra một số nội dung mới, trong đó có: 

+ Quy định cho phép nhà đầu tư nước ngoài kiện chính phủ (ISDS);

+ Cơ chế “ratchet” (chỉ tiến không lùi) ràng buộc các nước thành viên khi tiến hành sửa đổi các biện pháp bảo lưu thì việc sửa đổi và mức độ sửa đổi sẽ tự động trở thành nghĩa vụ ràng buộc mức độ tự do hóa thị trường của nước thành viên đó.

– Cam kết mới về mở cửa thị trường:

+ Mở cửa chi nhánh tái bảo hiểm

+ Nghĩa vụ cấp phép dịch vụ tài chính mới cho bất kì nước thành viên TPP/EVFTA nào;

+ Dành đối xử quốc gia cho các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán nước ngoài đối với một số dịch vụ như xử lý dữ liệu tài chính qua biên giới; dịch vụ tư vấn và các dịch vụ phụ trợ qua biên giới liên quan tới giao dịch tài khoản tự doanh hoặc tài khoản của khách hàng;

+ Mở cửa dịch vụ quản lý danh mục đầu tư qua biên giới.

(2) Dịch vụ khác thuộc quản lý của Bộ Tài chính

Dịch vụ kế toán kiểm toán và dịch vụ thuế theo cam kết WTO cũng đã ở mức tự do hóa rất cao, góp phần thúc đẩy phát triển thị trường, tăng cường minh bạch hóa quản trị doanh nghiệp và cải thiện môi trường đầu tư của Việt Nam. Các chuẩn mực kế toán kiểm toán của Việt Nam hiện nay đều được xây dựng trên cơ sở tiệm cận và phù hợp với các tiêu chuẩn kế toán kiểm toán quốc tế, các công ty kiểm toán hàng đầu thế giới như Big 4 và nhiều hãng kiểm toán nước ngoài đã có đại diện tại Việt Nam. 

Trong ASEAN, với mong muốn xây dựng một Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau đa phương cho các dịch vụ kế toán, kiểm toán để thúc đẩy việc trao đổi thông tin và chuyên môn, kinh nghiệm và các thông lệ tốt nhất phù hợp với nhu cầu cụ thể của các nước thành viên ASEAN và tạo thuận lợi cho việc di chuyển giữa các nước thành viên ASEAN của các chuyên gia cung cấp các dịch vụ kế toán, kiểm toán; Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về dịch vụ kế toán, kiểm toán trong ASEAN (MRA) đã được ký kết bên lề Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN (AEM) lần thứ 46 vào tháng 8/2014. Bộ Tài chính đang xây dựng kế hoạch triển khai như xây dựng biểu mẫu hồ sơ, quy trình thủ tục, báo cáo đánh giá tiêu chuẩn ứng viên, thiết lập Ủy ban giám sát…

Đối với các dịch vụ như thẩm định giá, xổ số, trò chơi có thưởng…, Việt Nam không cam kết mở cửa trong WTO cũng như các khuôn khổ hội nhập sau này, kể cả với TPP và EU. 

1.8.1.4. Tích cực phối hợp với các Bộ ngành để xây dựng phương án đàm phán các lĩnh vực khác có liên quan

Ngoài các lĩnh vực do Bộ Tài chính chủ trì, Bộ Tài chính cũng tích cực tham gia ý kiến đối với phương án đàm phán các nội dung khác có liên quan như Doanh nghiệp nhà nước, Mua sắm chính phủ, Đầu tư… để có thể phản ánh được đầy đủ về thực tế trong nước cũng như nhu cầu bảo lưu của Việt Nam trong các lĩnh vực này.

1.8.1.5. Kịp thời tuyên truyền đến doanh nghiệp và người dân về tiến trình hội nhập của Việt Nam trong lĩnh vực tài chính

Trong năm 2015, với nhiều dấu mốc quan trọng về hội nhập kinh tế quốc tế như ký kết 2 Hiệp định và tuyên bố kết thúc 2 Hiệp định FTA quan trọng, Bộ Tài chính tổ chức kịp thời 03 cuộc Họp báo Chuyên đề: (i) tháng 06/2015 về hội nhập kinh tế quốc tế, (ii) tháng 8/2015 về Hiệp định FTA Việt Nam-EU, (iii) tháng 11/2015 về TPP; tích cực thông tin tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, phối hợp với các cơ quan thông tin để tuyên truyền cho doanh nghiệp và người dân nắm được tình hình hội nhập của Việt Nam, các cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực tài chính để chủ động hoạch định kế hoạch kinh doanh của mình, tận dụng được cơ hội và hạn chế các tác động không mong muốn mà các Hiệp định mang lại. 

1.8.1.6. Chủ động trong các diễn đàn hợp tác tài chính song phương, đa phương và khu vực

(1) Tăng cường vị thế của Việt Nam trên diễn đàn tài chính khu vực

Tại các diễn đàn tài chính khu vực, Bộ Tài chính tham gia sâu rộng vào các chủ đề hợp tác, đã đạt được những kết quả hợp tác cụ thể và thiết thực.

Trong hợp tác ASEAN và ASEAN+3, Việt Nam tiếp tục là một thành viên tham gia tích cực, chủ động và có trách nhiệm, dần dần vượt lên trên Nhóm các nước đi sau (Brunei, Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam) và tiến gần hơn đến Nhóm ASEAN 5 (Indonesia, Malaysia, Philipin, Singapore và Thái lan) trong việc thực hiện các nghĩa vụ và cam kết quốc tế, đồng thời từng bước biến những sáng kiến hợp tác khu vực thành lợi ích cụ thể cho quốc gia. Trong giai đoạn 2016 – 2020, Việt Nam sẽ tiếp nhận vai trò Chủ tịch Tiến trình Hội nghị Bộ trưởng Tài chính APEC (2017) và Hội nghị Bộ trưởng Tài chính ASEAN và ASEAN+3 (2020).

(2) Đa dạng hóa và tăng cường hiệu quả các hình thức hợp tác tài chính, đáp ứng kịp thời các yêu cầu phát triển kinh tế xã hội 

Hợp tác tài chính khu vực là trọng tâm của chiến lược hợp tác tài chính quốc tế, từ đó hình thành cầu nối giữa Việt Nam với từng nước trong khu vực, tiến tới thiết lập một cơ chế hợp tác tài chính bền vững và hiệu quả với các tổ chức tài chính quốc tế trong dài hạn. Trong hợp tác APEC, EAS và G20, mặc dù là những sân chơi lớn với những đối tác lớn, Việt Nam cũng đã tham gia một cách tích cực, thể hiện tiếng nói, chia sẻ quan điểm và học hỏi kinh nghiệm quốc tế trong các vấn đề quan tâm, đồng thời tranh thủ các hội nghị đa phương để xúc tiến các mối quan hệ và giải quyết các vấn đề song phương một cách chủ động và hiệu quả.

(3) Tăng cường huy động nguồn lực từ bên ngoài; đảm bảo tận dụng tối đa các nguồn lực tài chính, hỗ trợ kỹ thuật và kinh nghiệm quốc tế phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội nói chung và nền tài chính quốc gia nói riêng

– Trong khuôn khổ Sáng kiến Phát triển thị trường trái phiếu Châu Á (ABMI) Qũy bảo lãnh tín dụng và đầu tư ASEAN+3 (CGIF) đã bảo lãnh thành công cho đợt phát hành trái phiếu doanh nghiệp của Công ty hàng tiêu dùng Masan (MasanConsumerHoldings) tại thị trường Việt Nam vào ngày 5/12/2014. Đợt phát hành trái phiếu của Masan có tổng trị giá 2,1 nghìn tỷ bằng đồng Việt Nam (tương đương 100 triệu USD), có kỳ hạn 10 năm với lãi suất cố định là 8%/năm. Việc hoàn tất thành công đợt bảo lãnh đầu tiên phát hành một trái phiếu doanh nghiệp trên thị trường Việt Nam là một trong các dấu mốc quan trọng của CGIF để tiếp tục triển khai hoạt động bảo lãnh trong thời gian tới, góp phần giảm gánh nặng từ NSNN.

– Trong khuôn khổ hợp tác ASEAN, Quỹ CSHT ASEAN được thành lập năm 2012 đã chính thức đi vào hoạt động cho vay và tài trợ vốn cho các dự án CSHT, trong đó có Dự án truyền tải điện TP Hồ chí minh và Hà Nội tổng trị giá 100 triệu USD đã được AIF phê duyệt cấp vốn. Cơ chế hợp tác tài trợ CSHT ASEAN đã bước đầu phát huy hiệu quả trong việc tài trợ vốn và đáp ứng nhu cầu vốn tại Việt Nam, đáp ứng mục tiêu của hợp tác tài chính ASEAN là góp phần huy động nguồn lực từ hợp tác khu vực vào phát triển kinh tế trong nước.

– Tăng cường huy động, điều phối và sử dụng hiệu quả nguồn lực bên ngoài: Trong năm 2015, công tác huy động, điều phối và sử dụng hiệu quả nguồn tài trợ nước ngoài đã được Bộ Tài chính triển khai tích cực và chủ động. Các Đối tác phát triển/Nhà tài trợ quốc tế đã ủng hộ và hỗ trợ Bộ Tài chính trong lĩnh vực cải cách tài chính công và hiện đại hóa ngành tài chính như: quản lý thu và chi NSNN, Cải cách và tái cấu trúc DNNN, quản lý giám sát thị trưởng tài chính, cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế và hải quan, quản lý công sản, phân tích dự báo kinh tế vĩ mô, tăng cường năng lực độ ngũ cán bộ Bộ Tài chính, triển khai các nội dung của Chiến lược tài chính đến 2020… Các hỗ trợ và hợp tác được thực hiện thông qua các chương trình, dự án đã ký kết, triển khai, các hoạt động hợp tác và hỗ trợ kỹ thuật của chuyên gia tư vấn. Đồng thời các Đối tác phát triển/Nhà tài trợ quốc tế đã cam kết tiếp tục hỗ trợ Bộ Tài chính thực hiện các cải cách thông qua các chương trình, dự án mới như: Chương trình AAA (do WB tài trợ); Chương trình Cải cách thuế (do WB tài trợ), nền tài chính xanh (do GIZ tài trợ); EMCC (do WB, ADB, JICA, SECO … tài trợ); Chương trình Cải cách DNNN (do ADB tài trợ), Cải cách hành chính thuế (do JICA tài trợ); Quản lý tài sản công (do DFAT tài trợ); Dự án hoàn thiện và  nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống VNACCS/VCIS (do JICA tài trợ); Nâng cao năng lực trong lĩnh vực tài chính (do LUX tài trợ); Dự án Quản trị nhà nước nhằm tăng trưởng toàn diện; Nâng cao năng lực hoạch định chính sách tài chính (do Canada tài trợ)… Các hỗ trợ và kết quả hợp tác này đã và đang đóng góp tích cực cho quá trình cải cách và tái cơ cấu nền kinh tế, hiện đại hóa ngành tài chính, hoàn thiện thể chế và chính sách tài chính, cải cách thủ tục hành chính, tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ tài chính của Việt Nam nhằm đáp ứng được những yêu cầu và thách thức trong quá trình đổi mới và hội nhập của đất nước.

(4) Tăng cường đối thoại chính và trao đổi kinh nghiệm về tài chính – tiền tệ nhằm quảng bá môi trường đầu tư và hình ảnh một thị trường tài chính mới nổi của khu vực

 Các hoạt động hợp tác tài chính tiếp tục được thực hiện phù hợp với những thay đổi của tình hình kinh tế tài chính quốc tế, như  nâng cao tính hiệu quả của Sáng kiến Đa phương hoá Sáng kiến Chiềng Mai – cơ chế hỗ trợ thanh khoản của cán cân thanh toán khi xảy ra khủng hoảng tài chính, nghiên cứu những nội dung hợp tác mới, mang tính thực tiễn cao trong việc phát triển thị trường trái phiếu châu Á, đồng thời tăng cường cơ chế đối thoại và kiểm điểm kinh tế khu vực và nghiên cứu các định hướng ưu tiên hợp tác mới trong tương lai.

Tích cực tổ chức và tham gia các hội nghị xúc tiến đầu tư tại New York Hoa Kỳ, trong khuôn khổ Hội nghị Bộ trưởng Tài chính ASEAN; tổ chức đối thoại với cộng đồng doanh nghiệp Hàn Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ…; tổ chức thành công Hội nghị đối thoại chính sách cấp cao Nhóm đối tác tài chính công PFPG, từ đó giới thiệu về chính sách, môi trường đầu tư của Việt Nam và giúp các doanh nghiệp hiểu thêm về cơ hội đầu tư tại Việt Nam.

1.8.2. Phương hướng thực hiện công tác hội nhập và hợp tác tài chính năm 2016

Năm 2016, kinh tế thế giới và khu vực được dự báo tiếp tục phục hồi với tốc độ chậm và còn nhiều biến động về kinh tế, chính trị và bất ổn tại một số khu vực. Khu vực châu Á-Thái Bình Dương sẽ tiếp tục là trung tâm phát triển năng động của kinh tế thế giới. Việc hình thành Cộng đồng ASEAN năm 2015 khẳng định thêm vai trò trung tâm kết nối của ASEAN trong các thiết chế khu vực. Đối với Việt Nam, hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế và vị thế chính trị của Việt Nam với thế giới. Trong bối cảnh mốc tự do hóa cuối cùng của một số FTA đang đến gần đồng thời chuẩn bị thực hiện cam kết trong các FTA mới, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam sẽ được triển khai mạnh mẽ, sâu rộng và toàn diện. Để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ tài chính ngân sách 2016 theo Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ, công tác hội nhập và hợp tác tài chính của Bộ Tài chính sẽ tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm sau:  

Một là, tiếp tục triển khai và theo dõi việc thực hiện các cam kết về thuế nhập khẩu trong các FTA đã ký kết theo lộ trình đã ban hành. 

Trong năm 2016, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục triển khai các cam kết về thuế nhập khẩu theo các Thông tư đã ban hành các Biểu FTA, theo dõi việc thực thi và tăng cường trao đổi, tiếp thu ý kiến của doanh nghiệp. Năm 2016 cũng là mốc tự do hóa của một số các mặt hàng trong một số khuôn khổ như ATIGA (15 dòng thuế xăng dầu về 0% trong đó có dầu Diesel, thuế ô tô nguyên chiếc tiếp tục giảm xuống 40%), AKFTA (thêm 362 dòng thuế về 0%), AANZFTA (thêm 2.453 dòng thuế về 0%), AJCEP (thêm 6 dòng thuế về 0%) và VJEPA (thêm 312 dòng về 0%).   

Hai là, xây dựng lộ trình cam kết về thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu; nghiên cứu cam kết trong các lĩnh vực của Bộ Tài chính trong TPP và EU để chuẩn bị sẵn sàng thực thi khi Hiệp định có hiệu lực.

Ba là, tiếp tục xây dựng phương án và tham gia đàm phán các lĩnh vực thuế nhập khẩu, dịch vụ tài chính và dịch vụ khác (nếu có) trong các FTA đang và sẽ đàm phán. 

Hiện nay một số FTA song phương như FTA Việt Nam-I-xa-ren và Việt Nam-Cuba đang chuẩn bị khởi động đàm phán, vì vậy Bộ Tài chính cũng chuẩn bị nguồn lực và chủ động tham vấn với các Bộ ngành, Hiệp hội và địa phương để tích cực tham gia đàm phán trong các lĩnh vực thuộc phạm vi phụ trách, góp phần mở rộng thêm bức tranh hội nhập của Việt Nam.

Bốn là, đẩy mạnh hợp tác tài chính quốc tế và khu vực; kiểm điểm, đánh giá quan hệ với từng đối tác, bao gồm cả song phương và đa phương, cả cấp chính phủ trung ương, địa phương, khu vực doanh nghiệp và tư nhân; gắn hợp tác quốc tế với các yêu cầu cải cách và hiện đại hóa ngành tài chính.  

Xây dựng cơ chế khai thác các thông tin tài chính – tiền tệ trong các kênh hợp tác tài chính khu vực (đặc biệt là AMRO) để phục vụ cho công tác hoạch định chính sách vĩ mô. Đồng thời tiếp tục triển khai các sáng kiến hiện có trên các diễn đàn hợp tác khu vực, phối hợp với các nước xây dựng các ưu tiên hợp tác sau khi thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC 2015); tập trung nguồn lực để triển khai các hoạt động nhằm chuẩn bị cho năm chủ trì APEC 2017.

Năm là, theo dõi và đánh giá tác động hội nhập để kịp thời kiến nghị điều chỉnh chính sách. 

Trong bối cảnh Việt Nam đã và chuẩn bị ký FTA với hầu hết các đối tác thương mại lớn trên thế giới, rào cản về thuế quan đối với hàng nhập khẩu từ các nước sẽ dần dần được xóa bỏ, mốc tự do hóa cuối cùng của một số FTA đang đến gần (ATIGA 2018, ACFTA 2020, AKFTA 2021), vì vậy Bộ Tài chính sẽ tập trung nguồn lực để tiếp tục theo dõi, nghiên cứu và đánh giá tác động của việc thực hiện các cam kết cắt giảm thuế trong các FTA đến thu ngân sách, tình hình sản xuất kinh doanh trong nước và tác động đến một số ngành hàng quan trọng, từ đó kịp thời kiến nghị điều chỉnh các chính sách liên quan.

Sáu là, tăng cường công tác tuyên truyền và đối thoại chính sách, hỗ trợ các ngành sản xuất trong nước tận dụng các cơ hội và hạn chế tác động tiêu cực từ các thách thức do quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mang lại.

1.9. Kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2015 và phương hướng thực hiện nhiệm vụ quản lý giá

1.9.1. Kết quả công tác quản lý giá góp phần bình ổn thị trường, ổn định kinh tế vĩ mô năm 2015

Triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, ngày 03/01/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 01/NQ-CP “Về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2015”, trong đó đề ra các chỉ tiêu phát triển kinh tế chủ yếu của năm 2015: GDP tăng khoảng 6,2%; bội chi ngân sách dưới 5,3% GDP; tổng nguồn vốn đầu tư phát triển xã hội bằng khoảng 30 – 32% GDP; tốc độ tăng giá tiêu dùng khoảng 5,0%.

Đối với nhiệm vụ tăng cường kiểm soát thị trường, giá cả, Chính phủ cũng đề ra giải pháp “Thực hiện công khai, minh bạch trong điều hành đối với giá năng lượng và các hàng hóa, dịch vụ quan trọng, thiết yếu khác theo quy định của pháp luật về giá. Điều chỉnh giá hàng hóa và dịch vụ công (bao gồm cả học phí, viện phí) theo nguyên tắc thị trường có sự quản lý của nhà nước, phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2015.  Chủ động áp dụng các biện pháp bình ổn thị trường, giá cả. Giám sát chặt chẽ hoạt động đăng ký, kê khai giá của doanh nghiệp, kiểm soát chặt chẽ phương án giá và mức giá đối với hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá, được mua sắm từ nguồn ngân sách nhà nước”

Triển khai các Nghị quyết, chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, với chức năng là cơ quan chủ trì giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về giá trên phạm vi cả nước, Bộ Tài chính đã chủ trì hoặc phối hợp với các Bộ, ngành liên quan chỉ đạo triển khai tăng cường công tác quản lý giá, góp phần bình ổn thị trường, ổn định kinh tế vĩ mô; thể hiện trên một số mặt chính như sau:

1.9.1.1. Về tăng cường công tác quản lý, bình ổn thị trường, giá cả:

Ngay từ những tháng cuối năm 2014, đầu năm 2015, thực hiện Chỉ thị số 36/CT-TTg ngày 22/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-BTC ngày 6/1/2015 về việc tăng cường công tác quản lý, điều hành và bình ổn giá trong dịp Tết Nguyên đán Ất Mùi năm 2015. Đồng thời Bộ Tài chính đã phối hợp với Sở Tài chính các tỉnh tổ chức theo dõi tình hình giá cả thị trường hàng ngày và thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo trong dịp Tết.

Các địa phương căn cứ chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính và các Bộ, ngành liên quan đều đã ban hành Chỉ thị, Quyết định, Thông báo triển khai nhiệm vụ kế hoạch năm 2015, kế hoạch thực hiện bình ổn giá trong dịp Tết Nguyên đán Ất Mùi 2015 trên địa bàn tỉnh nhằm chuẩn bị và tổ chức chu đáo phục vụ nhân dân đón Tết cổ truyền. Nhờ đó CPI các tháng đầu năm đều thấp (tháng 1/2015 (-0,2%), tháng 2/2015 (-0,05%) và tháng 3 (+0,15%)) tạo dư địa thuận lợi trong điều hành giá cả, kiềm chế lạm phát các tháng còn lại trong năm.

Trong năm 2015, công tác bảo đảm cân đối cung cầu hàng hóa, nhất là nguồn cung lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng thiết yếu luôn được đảm bảo. Riêng trong dịp Tết Nguyên đán Ất Mùi 2015, nguồn hàng hóa, dịch vụ đảm bảo cung ứng đầy đủ, liên tục phục vụ nhân dân đón Tết; nhu cầu đi lại của nhân dân trong dịp Tết được các doanh nghiệp vận tải chủ động đáp ứng đầy đủ thông qua việc huy động tăng thêm đầu phương tiện, tăng chuyến, mở thêm tuyến; các hàng hóa thiết yếu cho đời sống như điện, nước sạch sinh hoạt, xăng dầu, LPG… được cung cấp đầy đủ, ổn định nên đã không xảy ra hiện tượng thiếu hàng, sốt giá.

Triển khai chương trình bình ổn thị trường, giá cả, nhiều địa phương đã sử dụng nguồn ngân sách địa phương tạm thời nhàn rỗi cho doanh nghiệp vay với lãi suất 0% uỷ thác qua quỹ đầu tư phát triển; hoặc hỗ trợ lãi suất vay vốn để doanh nghiệp thực hiện chương trình. Bên cạnh đó, nhiều địa phương đã đẩy mạnh xã hội hoá, thực hiện chương trình bình ổn thị trường mà không sử dụng vốn vay từ ngân sách địa phương hoặc chỉ hỗ trợ kinh phí để đưa hàng về nông thôn, vùng sâu, vùng xa, hải đảo…[6]. Các doanh nghiệp chủ động tham gia, cam kết bình ổn giá trong dịp Tết.

Đặc biệt trong những tháng đầu năm khi giá điện, giá xăng dầu được điều chỉnh tăng, để thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và hạn chế hiện tượng lợi dụng việc tăng giá điện, giá xăng để tăng giá dây chuyền, tăng giá không phù hợp với tỷ lệ tác động của giá điện, giá xăng vào giá thành, giá bán hàng hóa, dịch vụ khác, Bộ Tài chính đã ban hành nhiều văn bản và chỉ đạo về việc tiếp tục tăng cường công tác quản lý và bình ổn giá[7].

Khi giá xăng dầu giảm liên tục thời điểm tháng 7/2015, Bộ Tài chính đã phối hợp với Bộ Giao thông vận tải và các địa phương chỉ đạo đơn vị chức năng tăng cường kiểm tra, yêu cầu doanh nghiệp vận tải ô tô kê khai giảm giá cước phù hợp diễn biến của giá xăng dầu.

Nhờ sự chủ động, phối hợp của các Bộ, ngành, địa phương trong triển khai công tác đảm bảo cân đối cung cầu; tăng cường công tác quản lý, điều hành bình ổn giá nên mặt bằng giá cả thị trường 11 tháng đầu năm cơ bản bình ổn không xảy ra hiện tượng thiếu hàng, sốt giá trong dịp lễ, Tết và 11 tháng đầu năm.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI): bình quân 11 tháng đầu năm 2015 chỉ tăng 0,64% so với cùng kỳ năm 2014; trong đó hai nhóm Giao thông, Nhà ở và vật liệu xây dựng có CPI giảm mạnh (lần lượt là -12,21%, -1,85%) do giá nhiên liệu, giá cước vận tải giảm, đã góp phần làm CPI chung tăng thấp so với các năm trước.

1.9.1.2. Công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm soát thị trường giá cả:

Năm 2015, công tác thanh tra, kiểm tra giá đã được Bộ Tài chính chủ trì và phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, địa phương tiến hành thường xuyên, liên tục trên phạm vi cả nước, trong đó Bộ Tài chính đã:

– Chủ trì tổ chức 3 đoàn kiểm tra nắm tình hình triển khai thực hiện công tác quản lý và bình ổn giá dịp Tết Nguyên đán Ất Mùi 2015 tại 15 tỉnh thành phố trên cả nước[8].

– Chủ trì tổ chức 3 đoàn công tác liên ngành Tài chính – Giao thông vận tải kiểm tra tình hình thực hiện quản lý giá cước vận tải tại 3 miền.

– Phối hợp với Bộ Giao thông vận tải kiểm tra 40 đơn vị kinh doanh vận tải hành khách bằng taxi và vận tải hành khách tuyến cố định bằng ô tô tại một số địa phương thuộc 3 khu vực Bắc, Trung, Nam; kiểm tra về việc thu các loại phí theo cước vận tải biển và việc chấp hành pháp luật về thuế và nghĩa vụ với ngân sách nhà nước đối với các hãng tàu biển và đại lý tàu biển theo Quyết định số 606/QĐ-BTC ngày 3/4/2015 của Bộ Tài chính và Thông báo ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải.

– Phối hợp với Bộ Công Thương kiểm tra giá thành sản xuất kinh doanh điện năm 2014 của Tập đoàn Điện lực Việt Nam.

– Thường xuyên tiến hành công tác kiểm tra giá trên cơ sở hồ sơ kê khai giá của doanh nghiệp đối với danh mục hàng hóa, dịch vụ kê khai giá tại Bộ Tài chính.

– Chủ trì triển khai các đoàn kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giá tại các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh các mặt hàng: than, xăng dầu, khí hóa lỏng, thép xây dựng, xi măng, nước sạch, LPG, vắc xin phòng bệnh cho gia súc gia cầm, thức ăn chăn nuôi, phân đạm, thuốc bảo vệ thực vật, thóc, gạo tẻ thường; đường ăn, muối ăn, dịch vụ tại cảng biển, dịch vụ thẩm định giá.

Tính đến thời điểm 30/11/2015, Bộ Tài chính (Cục Quản lý giá) đã chủ trì, tổ chức triển khai 19 đoàn kiểm tra, thực hiện kiểm tra 100 doanh nghiệp theo Kế hoạch được Bộ phê duyệt năm 2015. Qua công tác kiểm tra, đã ghi nhận tình hình và kiến nghị chấn chỉnh một số sai sót, vi phạm của các doanh nghiệp trong việc đăng ký giá, kê khai giá, chấp hành pháp luật về giá và hoạt động thẩm định giá.

1.9.1.3. Quản lý, điều tiết, bình ổn giá một số mặt hàng quan trọng, thiết yếu

Trong năm 2015, thực hiện chủ trương của Đảng, Quốc hội, Chính phủ; Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và đào tạo, Bộ Giao thông vận tải đã chủ trì hoặc phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tiếp tục điều hành giá xăng dầu, điện, than, dịch vụ y tế, giáo dục… theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước.

Trong đó, đáng chú ý là:

(1) Giá xăng dầu:

Giá xăng dầu thế giới trong năm 2015 diễn biến phức tạp, khó lường. Từ đầu tháng 2/2015, giá xăng dầu có xu hướng tăng cao trở lại, đặc biệt tăng mạnh vào tháng 5 và 6/2015; từ đầu tháng 7/2015 đến đầu tháng 9/2015 biến động theo chiều hướng giảm nhưng đến giữa tháng 9/2015 lại có xu hướng tăng. Trong tháng 10/2015, giá mặt hàng dầu (trừ dầu điêzen) trên thế giới biến động tăng nhẹ, giá mặt hàng xăng giảm nhẹ so với tháng 9/2015. Tháng 11/2015, giá các mặt hàng xăng dầu tiếp tục xu hướng giảm nhẹ so với tháng 10/2015.

Trước tình hình trên, Liên Bộ Công Thương – Tài chính đã phối hợp điều hành giá xăng dầu một cách linh hoạt theo cơ chế thị trường đồng thời sử dụng các công cụ tài chính (thuế, Quỹ BOG) để điều hành nhằm hạn chế mức tăng giá khi cần thiết. Theo đó, từ tháng 3/2015 đến tháng 5/2015, khi giá xăng dầu chiều hướng gia tăng mạnh, Liên Bộ đã cho phép sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu nhằm hạn chế mức tăng giá xăng dầu, qua đó góp phần ổn định mặt bằng giá cả nói chung; Đồng thời Bộ Tài chính cũng ban hành Thông tư số 48/2015/TT-BTC ngày 13/04/2015 và Thông tư số 61/2015/TT-BTC ngày 27/04/2015 về việc sửa đổi mặt hàng và thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với các mặt hàng xăng dầu thuộc nhóm 27.10 tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, theo đó các mức thuế thuế nhập khẩu ưu đãi các mặt hàng xăng dầu giảm nhằm phù hợp với biến động tăng của giá xăng dầu thế giới cũng như tương tác với việc điều chỉnh thuế bảo vệ môi trường được áp dụng từ ngày 01/5/2015.

Trong 11 tháng đầu năm 2015, Bộ Tài chính đã phối hợp với Bộ Công Thương ban hành 21 văn bản điều hành giá xăng dầu. Theo đó số lần tăng giảm của các mặt hàng cụ thể như sau:

Các mặt hàng

Tăng giá

Giảm giá

Giữ ổn định giá

Tổng số văn bản điều hành

Xăng khoáng

6

10

5

21

Dầu điêzen

4

12

5

21

Dầu hỏa

3

15

3

21

Dầu madút

4

12

5

21

 (2) Giá điện:

Trên cơ sở phương án giá bán điện bình quân cơ sở năm 2015 do Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) xây dựng và phương án thẩm định của Bộ Công Thương, sau khi thống nhất tại cuộc họp Thường trực Chính phủ ngày 05/3/2015, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý điều chỉnh tăng giá bán lẻ điện bình quân hiện hành (áp dụng từ 1/8/2015) thêm 7,5% (từ 1.508,85 đ/kwh lên 1.622,01 đ/kwh – chưa bao gồm thuế VAT). Thời gian thực hiện mức giá mới từ 16/3/2015.

Căn cứ chỉ đạo của Chính phủ, ngày 12/3/2015, Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 2256/QĐ-BCT quy định về giá bán điện; trong đó giá bán lẻ điện cho các nhóm khách hàng sử dụng điện được xác định căn cứ cơ cấu biểu giá bán lẻ điện quy định tại Quyết định số 28/2014/QĐ-TTg ngày 07/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ quy định về cơ cấu biểu giá bán lẻ điện và giá bán lẻ điện bình quân được duyệt là 1.622,01 đồng/kWh. Riêng giá điện cho nhóm khách hàng kinh doanh, dịch vụ, thực hiện Nghị quyết số 92/NQ-CP ngày 08/12/2014 của Chính phủ về một số giải pháp đẩy mạnh phát triển ngành du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới, giá bán lẻ điện cho nhóm khách hàng kinh doanh, dịch vụ được xem xét điều chỉnh giảm ở mức tối đa so với giá bán lẻ điện bình quân theo quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định số 28/2014/QĐ-TTg (điều chỉnh – 2%) do ngành dịch vụ du lịch cũng là một ngành thuộc nhóm khách hàng kinh doanh dịch vụ.

Chính sách hỗ trợ  cho hộ chính sách, hộ nghèo tiếp tục thực hiện theo quy định tại Quyết định số 28/2014/QĐ-TTg ngày 07/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ về cơ cấu biểu giá bán lẻ điện. Theo đó, hộ nghèo theo tiêu chí do Thủ tướng Chính phủ quy định được hỗ trợ tiền điện cho mục đích sinh hoạt hàng tháng tương đương tiền điện sử dụng 30kwh tính theo mức giá bán lẻ điện sinh hoạt bậc 1 hiện hành. Hộ chính sách xã hội theo tiêu chí do Thủ tướng Chính phủ quy định (không thuộc diện hộ nghèo được hỗ trợ tiền điện) và có lượng điện sử dụng cho mục đích sinh hoạt trong tháng không quá 50kwh được hỗ trợ tiền điện tương đương tiền điện sử dụng 30kwh tính theo mức giá bán lẻ điện sinh hoạt bậc 1 hiện hành. Đối với khu vực nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo khu vực chưa nối lưới điện quốc gia, khách hàng sử dụng điện sẽ được áp dụng giá bán điện như các khu vực nối lưới. Kinh phí hỗ trợ tiền điện được trích từ nguồn ngân sách nhà nước.

(3) Giá than

Theo quy định tại Luật Giá và Nghị định số 177/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giá, than là mặt hàng thuộc danh mục kê khai giá.

Theo đó, các đơn vị sản xuất, kinh doanh than bao gồm Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam, Tổng công ty Đông Bắc, thực hiện kê khai giá về Bộ Tài chính trước khi điều chỉnh giá (tăng, giảm giá theo giá than trên thị trường thế giới và tình hình sản xuất, tiêu thụ trong nước) đảm bảo mức điều chỉnh giá than bán cho nhu cầu tiêu thụ trong nước theo cơ chế thị trường và quy định của pháp luật về giá đối với than bán cho các nhu cầu trong nước.

Trong 11 tháng đầu năm 2015, giá than bán cho nhu cầu tiêu dùng trong nước được điều chỉnh 03 lần (vào thời điểm tháng 4/2015; tháng 7/2015; và tháng 10/2015) phù hợp với cung cầu thị trường trong nước và thế giới, đảm bảo bù đắp chi phí sản xuất, kinh doanh.

(4) Giá sữa cho trẻ em dưới 06 tuổi:  

Sau 01 năm thực hiện bình ổn giá sữa theo Nghị quyết số 29/NQ-CP ngày 02/5/2014 của Chính phủ và trước tình hình giá sữa còn diễn biến phức tạp, Bộ Tài chính đã báo cáo Chính phủ về công tác bình ổn giá đối với sữa dành cho trẻ em dưới 06 tuổi và đề xuất biện pháp áp dụng trong thời gian tới (Tờ trình số 273//TTr-BTC ngày 20/4/2015). Trên cơ sở đó, Chính phủ đã thống nhất với đề xuất của Bộ Tài chính về việc tiếp tục bình ổn giá sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi bằng biện pháp xác định giá tối đa đến hết ngày 31/12/2016 (Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 30/4/2015 về phiên họp thường kỳ Chính phủ tháng 4/2015).

Thực hiện Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 30/4/2015 của Chính phủ, Bộ Tài chính đã phối hợp với các cơ quan liên quan ban hành Quyết định số 857/QĐ-BTC ngày 12/5/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 1079/QĐ-BTC ngày 20/5/2014 về áp dụng biện pháp bình ổn giá đối với sản phẩm sữa dành cho trẻ em dưới 06 tuổi và Công văn số 6230/BTC-QLG ngày 14/5/2015 hướng dẫn thực hiện biện pháp bình ổn giá đối với sản phẩm sữa dành cho trẻ em dưới 06 tuổi.

Tính  đến ngày 09/12/2015, Bộ Tài chính và Sở Tài chính các tỉnh, thành phố đã công bố giá tối đa, giá đăng ký, giá kê khai của 787 sản phẩm sữa dành cho trẻ em dưới 06 tuổi. Nhìn chung, giá sản phẩm sữa dành cho trẻ em dưới 06 tuổi ổn định trong 11 tháng đầu năm 2015, riêng mức giá của 67 sản phẩm sữa dành cho trẻ dưới 24 tháng tuổi sau khi các doanh nghiệp kinh doanh sữa rà soát, kê khai lại (loại bỏ chi phí quảng cáo theo quy định) đã giảm từ 0,4-4% so với mức giá kê khai trước đó.

(5) Về giá cước vận tải ôtô:

Trước xu hướng liên tục giảm của giá nhiên liệu trong giai đoạn tháng 7 đến tháng 9/2015, Bộ Tài chính đã có các công văn số 11198/BTC-QLG ngày 14/8/2015 và công văn số 11707/BTC-QLG ngày 25/8/2015 gửi Bộ GTVT, Ủy ban nhân dân, Sở Tài chính, Sở GTVT các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo tiếp tục tăng cường quản lý, bình ổn giá trên địa bàn. Trong đó, đối với giá cước vận tải ôtô, Bộ Tài chính đã chỉ đạo Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành liên quan có văn bản yêu cầu và giám sát chặt chẽ việc kê khai giảm giá cước đối với dịch vụ vận tải bằng xe ô tô phù hợp với diễn biến giảm của giá nhiên liệu.

Đồng thời, trong tháng 9/2015, Bộ Tài chính đã tham gia phối hợp với Bộ GTVT thành lập 03 Đoàn kiểm tra tại 16 tỉnh thuộc 3 khu vực Bắc, Trung, Nam[9] để kiểm tra đối với công tác quản lý và thực hiện kê khai, niêm yết giá cước vận tải.

Đến thời điểm cuối năm 2015, hầu hết các địa phương báo cáo đã có văn bản yêu cầu các đơn vị kinh doanh vận tải thực hiện kê khai giá phù hợp với biến động giảm của giá xăng dầu, các đơn vị kinh doanh vận tải hành khách bằng xe ô tô tại nhiều tỉnh/thành phố đã kê khai giảm cước với mức giảm phổ biến từ 3%-10%.

(6) Về bình ổn giá dịch vụ bốc dỡ container khu vực cảng biển nước sâu Cái Mép – Thị Vải:

Sau 2 năm thực hiện thí điểm, căn cứ ý kiến của Bộ Giao thông vận tải và các Bộ, ngành liên quan, Bộ Tài chính đã báo cáo Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội kết quả thực hiện thí điểm biện pháp bình ổn giá tại khu vực Cái Mép – Thị Vải, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

 Căn cứ ý kiến của UBTVQH, ngày 06/8/2015, Chính phủ có Nghị quyết số 57/NQ-CP về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 7/2015 trong đó đồng ý tiếp tục thực hiện bình ổn giá dịch vụ bốc dỡ container khu vực cảng biển Cái Mép – Thị Vải, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bằng biện pháp định giá tối thiểu. Bộ Tài chính đã phối hợp với Bộ Giao thông vận tải ban hành Quyết định số 1674/QĐ-BTC ngày 18/8/2015 ban hành mức giá tối thiểu dịch vụ bốc dỡ container khu vực cảng biển Cái Mép – Thị Vải, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Việc áp dụng biện pháp bình ổn giá bằng hình thức định giá tối thiểu bước đầu đã mang lại kết quả tích cực, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh giữa các cảng, góp phần ổn định thị trường khu vực, bảo toàn vốn góp của Nhà nước trong liên doanh.

(7) Giá một số sản phẩm, dịch vụ công ích, sản phẩm dịch vụ công Nhà nước đặt hàng:

a) Đối với dịch vụ khám chữa bệnh:

Thực hiện quy định tại khoản 20 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế, Bộ Y tế đã chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và Bảo hiểm xã hội Việt Nam xây dựng Thông tư liên tịch quy định giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các hạng bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc; theo đó, ngoài 03 yếu tố chi  phí trực tiếp được tính trong giá dịch vụ đang được thực hiện, tiếp tục cộng vào giá chi phí phụ cấp thường trực, phụ cấp phẫu thuật, thủ thuật (phụ cấp đặc thù) và tiền lương theo lộ trình quy định Nghị định số 85/2012/NĐ-CP, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP.

Bộ Y tế cũng đã phối hợp với Tổng cục Thống kê đánh giá mức độ tác động của việc điều chỉnh giá dịch vụ y tế đến CPI theo 2 giai đoạn điều chỉnh trên với kết quả CPI dự kiến tăng lần lượt là 1,3% và 2,7% nên đòi hỏi Bộ Y tế, các Bộ, ngành và địa phương phải cân nhắc có kế hoạch triển khai phù hợp, hạn chế tác động đột biến lên mặt bằng giá tại địa phương và cả nước. Dự kiến Thông tư được ban hành và có hiệu lực vào năm 2016, qua đó góp phần thực hiện chủ trương đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với các bệnh viện công lập.

b) Đối với giá dịch vụ giáo dục:

Ngày 02/10/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 86/2015/NĐ-CP quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập từ năm học 2015-2016 đến năm học 2020-2021 (có hiệu lực từ ngày 01/12/2015). Để chủ động trong công tác điều hành học phí theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP, đồng thời chủ động trong việc kiểm soát chỉ số giá tiêu dùng ở mức dưới 5% trong giai đoạn tới, Bộ Tài chính đã ban hành công văn số 16236/BTC-QLG ngày 3/11/2015 gửi Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc điều chỉnh học phí theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP, theo đó, đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục Thống kê) dự kiến tác động của việc điều chỉnh học phí theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP để có kế hoạch điều phối việc thực hiện giữa các địa phương để hạn chế tác động đột biến đến chỉ số giá tiêu dùng chung.

c) Đối với sản phẩm dịch vụ công ích nhà nước đặt hàng: Bộ Tài chính và các địa phương đã thực hiện kiểm soát chặt chẽ phương án giá sản phẩm, dịch vụ công ích, dịch vụ sự nghiệp công Nhà nước đặt hàng, giao kế hoạch chi từ Ngân sách Nhà nước trên nguyên tắc đảm bảo tiết kiệm và không vượt dự toán được giao.

1.9.1.4. Công tác tổng hợp, phân tích, dự báo diễn biến giá thị trường và công tác thông tin tuyên truyền

 Năm 2015, Bộ Tài chính đã thực hiện tốt công tác thông tin tuyên truyền công khai thông tin về giá nhằm tạo sự đồng thuận trong dư luận xã hội. Nhờ đó, cơ chế chính sách về quản lý giá, thẩm định giá đã được tuyên truyền một cách rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng  bằng nhiều hình thức và nhiều kênh khác nhau, như: tổ chức họp báo chuyên đề; trả lời phỏng vấn các cơ quan báo chí, truyền thông; đăng tải thông tin về quản lý, điều hành giá như: số dư Quỹ bình ổn giá xăng dầu, Danh mục sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi đăng ký giá, kê khai giá, danh sách doanh nghiệp thẩm định giá được cấp phép hành nghề… trên Cổng Thông tin Điện tử của Bộ Tài chính; thực hiện các bài viết đăng tải trên Tạp chí Thị trường giá cả.

1.9.1.5. Công tác Quản lý Nhà nước về thẩm định giá

Được tăng cường trên các mặt: giám sát, kiểm tra hoạt động của doanh nghiệp thẩm định giá và thẩm định viên, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, tổ chức thi cấp thẻ thẩm định viên, hợp tác quốc tế. Qua đó đã góp phần vào công tác kiểm soát nguồn chi ngân sách Nhà nước trong các gói đấu thầu mua sắm tài sản nhà nước.

Tóm lại, cùng với việc điều hành đồng bộ các chính sách kinh tế vĩ mô trong đó có chính sách tài khóa, tiền tệ, công tác quản lý, điều hành giá năm 2015 đã góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát đề ra tại Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 2/1/2015 của Chính phủ. CPI cả năm tăng ở mức dưới 1%, cung cầu thị trường được đảm bảo; điều hành giá nhất quán theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước.

1.9.2. Định hướng quản lý, điều hành giá năm 2016

1.9.2.1. Dự báo

a) Thế giới:

Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), kinh tế thế giới trong năm 2016 dự báo sẽ tăng trưởng ở mức 2,9% – mức thấp nhất kể từ năm 2009[10]. Nhu cầu hàng hóa do đó dự kiến cũng không có nhiều biến động đáng kể. IMF trong báo cáo tháng 10/2015[11] nhận định xu hướng giảm của giá cả hàng hóa trong thời gian tới. Giá dầu thô dự báo đứng ở mức thấp hoặc tiếp tục xu hướng giảm, bình quân ở mức 55 USD/thùng trong năm 2016. IMF nhận định trong năm 2016, lạm phát tiếp tục giảm tại các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển (bình quân ở mức 4,2%). Áp lực lạm phát từ thị trường thế giới năm 2016 không lớn, kết hợp với những thành quả bước đầu của quá trình tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế được tích cực triển khai thực hiện từ những năm trước là những thuận lợi để phấn đấu thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, kiềm chế lạm phát năm 2016.

b) Trong nước:

Năm 2016 nền kinh tế nước ta tiếp tục đà phục hồi ổn định. Kinh tế vĩ mô ổn định hơn, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp và tương đối ổn định, quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho thị trường, cho doanh nghiệp năm 2015 sẽ tiếp tục phát huy tác dụng. Hiệp định TPP được ký kết sẽ tạo điều kiện thu hút nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài, thúc đẩy xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế… Những yếu tố đó báo hiệu sự phục hồi kinh tế trong nước sẽ rõ rệt hơn. Tuy nhiên, năm 2016 cũng tiềm ẩn khả năng lạm phát tăng cao do tác động theo độ trễ của những chính sách tháo gỡ khó khăn sản xuất kinh doanh và việc điều chỉnh giá theo lộ trình đối với các dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục cuối năm 2015;

Tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển Kinh tế- xã hội năm 2016 với mục tiêu tốc độ tăng giá tiêu dùng dưới 5%;

1.9.2.2. Phương hướng quản lý, điều hành giá năm 2016

– Tiếp tục triển khai, giám sát thực hiện có hiệu quả pháp luật về giá. Đồng thời, tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện hệ thống pháp luật về giá trong đó chú trọng nghiên cứu, đề xuất cơ chế quản lý giá đối với các dịch vụ chuyển từ danh mục phi sang giá theo quy định tại Luật phí, lệ phí năm 2015.

– Theo dõi sát diễn biến cung cầu, giá cả thị trường trong nước và quốc tế, làm tốt công tác phân tích và dự báo thông tin thị trường để kịp thời đề xuất các giải pháp bình ổn giá, kiềm soát lạm phát theo quy định của pháp luật. Triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu về giá đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về giá theo quy định của Luật giá và hướng dẫn của Bộ Tài chính.

– Tăng cường kiểm tra, thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về quản lý giá, thuế, phí, đặc biệt đối với những hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thiết yếu. Xử lý nghiêm các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật và công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng.

– Giám sát chặt chẽ kê khai giá của doanh nghiệp đối với mặt hàng bình ổn giá, mặt hàng thuộc danh mục kê khai giá; kiểm soát chặt chẽ giá hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá; hàng hóa, dịch vụ mua sắm từ nguồn ngân sách nhà nước; hàng hóa, dịch vụ công ích, dịch vụ sự nghiệp công… Trường hợp điều chỉnh giá phải xây dựng phương án, lộ trình điều chỉnh trên cơ sở đánh giá kỹ tác động của việc điều chỉnh giá, tránh điều chỉnh giá nhiều mặt hàng vào cùng một thời điểm để hạn chế thấp nhất tác động đến sản xuất và đời sống nhân dân, cũng như việc thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.

– Tiếp tục điều hành giá xăng dầu, giá điện, giá than theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát; Thực hiện lộ trình giá dịch vụ KBCB, giá dịch vụ giáo dục (học phí) theo quy định tại Nghị định số 85/2012/NĐ-CP ngày 15/10/2012 và Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 2/10/2015 của Chính phủ và pháp luật liên quan. Trong đó cân nhắc thời điểm phương án điều chính giữa các địa phương để tránh tác động lớn đến mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô…

– Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền; Thực hiện công khai thông tin về giá, điều hành giá để tạo sự đồng thuận trong xã hội.

– Tiếp tục phối hợp thực hiện đồng bộ các giải pháp góp phần bình ổn thị trường và kiểm soát lạm phát như chính sách tài khoá chặt chẽ, chính sách tiền tệ linh hoạt; điều hành lãi suất phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát; quản lý chặt chẽ, hiệu quả đầu tư công; tăng cường quản lý thị trường, hoàn thiện hệ thống lưu thông phân phối theo hướng giảm bớt các tầng nấc trung gian…

1.10. Kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2015 và phương hướng thực hiện nhiệm vụ quản lý, sử dụng tài sản công  năm 2016

1.10.1. Tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2015

 (1). Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công, quản lý tài chính đất đai.

Theo Chương trình công tác năm 2015, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính xây dựng 08 đề án là Nghị định và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ liên quan đến lĩnh vực quản lý tài sản công. Tất cả các đề án đã được Bộ Tài chính trình cấp có thẩm quyền đúng tiến độ được giao. Đến nay, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 11/2015/QĐ-TTg ngày 03/4/2015 về miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân được giao đất ở trái thẩm quyền trước Luật Đất đai 2003; Quyết định số 23/2015/QĐ-TTg ngày 26/6/2015 quy định cơ chế nhà nước thanh toán bằng quỹ đất cho nhà đầu tư khi thực hiện dự án đầu tư xây dựng theo hình thức Xây dựng – Chuyển giao; Quyết định số 32/2015/QĐ-TTg ngày 04/8/2015 quy định tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý, sử dụng xe ô tô trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, công ty TNHH MTV do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; Quyết định số 58/2015/QĐ-TTg ngày 17/11/2015 quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc, thiết bị của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập.

Bên cạnh đó, Bộ Tài chính cũng đã giao cho Cục Quản lý công sản chủ trì xây dựng 14 đề án chính sách về quản lý, sử dụng tài sản công thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ Tài chính. Đến hết năm 2015, 10/14 đề án Thông tư và Thông tư liên tịch đã được Bộ Tài chính ban hành.

Các văn bản được ban hành về cơ bản đáp ứng được yêu cầu quản lý, góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để quản lý chặt chẽ, khai thác có hiệu quả nguồn lực tài sản công.

(2). Tổ chức đánh giá, tổng kết 06 năm thi hành Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008 làm cơ sở xây dựng Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước (sửa đổi) theo Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội, để phù hợp với Hiến pháp năm 2013

Kết quả tổng kết, đánh giá 6 năm triển khai Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước (2009-2015) nêu trên là cơ sở để triển khai xây dựng Luật quản lý, sử dụng tài sản công theo quy định tại Hiến pháp năm 2013 và Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội.

(3). Tiếp tục chuẩn bị điều kiện cần thiết để thực hiện mua sắm hàng hóa, dịch vụ từ ngân sách nhà nước theo phương thức tập trung.

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính đã tổ chức tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện thí điểm mua sắm tài sản, hàng hoá từ ngân sách nhà nước theo phương thức tập trung. Trên cơ sở đó, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định quy định việc mua sắm tài sản nhà nước theo phương thức tập trung; đồng thời chủ động xây dựng dự thảo các Thông tư hướng dẫn về quy trình mua sắm tập trung, danh mục tài sản mua sắm tập trung cấp quốc gia, dự kiến áp dụng từ năm 2016. Theo đó, phương thức mua sắm tập trung sẽ có sự thay đổi căn bản theo hướng chủ yếu áp dụng cách thức ký thỏa thuận khung (là cách thức đã được áp dụng có kết quả ở nhiều nước nhưng còn mới đối với Việt Nam). Theo đó, đơn vị mua sắm tập trung tổng hợp nhu cầu mua sắm, tiến hành lựa chọn nhà thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu hoặc thuê tổ chức đấu thầu chuyên nghiệp lựa chọn nhà thầu, ký thỏa thuận khung với nhà thầu được lựa chọn. Cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng tài sản đề xuất nhu cầu mua sắm, lập dự toán mua sắm trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, trực tiếp ký hợp đồng mua sắm với nhà thầu được lựa chọn, trực tiếp thanh toán cho nhà thầu được lựa chọn (trừ trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao dự toán cho đơn vị mua sắm tập trung), tiếp nhận tài sản, hồ sơ về tài sản và thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, chế độ bảo hành, bảo trì từ nhà thầu được lựa chọn. Cách thức này vừa bảo đảm được mục tiêu của mua sắm tập trung, vừa không làm ảnh hưởng tới phân cấp ngân sách, quyền tự chủ của các đơn vị trực tiếp sử dụng tài sản.

(4). Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành và tổ chức thực hiện việc quản lý, sử dụng, mua sắm xe ô tô công.

Thời gian qua, việc quản lý xe công đã dần đi vào nề nếp, việc mua xe vượt tiêu chuẩn, định mức gần như không còn; việc sử dụng xe công sai mục đích giảm nhiều. Tuy nhiên số lượng xe công vẫn còn khá lớn (gần 40.000 chiếc, chưa tính xe ô tô của lực lượng vũ trang nhân dân, doanh nghiệp nhà nước); trong đó, 1/3 số xe (tính theo niên hạn sử dụng cũ) và 1/4 số xe (tính theo niên hạn sử dụng mới) đã hết hạn sử dụng dẫn đến chi phí sửa chữa rất lớn nhưng độ an toàn không cao. Để việc quản lý, sử dụng xe ô tô công được hiệu quả, đảm bảo tiết kiệm, Bộ Tài chính đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 32/2015/QĐ-TTg ngày 04/8/2015 quy định tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý, sử dụng xe ô tô trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, Công ty TNHH MTV do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Theo đó, quy định rõ định mức sử dụng xe ô tô phục vụ công tác chung của mỗi cơ quan, đơn vị thông qua quy định định mức từ 1 – 2 xe gắn với việc các bộ, ngành, địa phương phải rà soát, bố trí lại số xe hiện có theo đúng định mức, số xe ô tô phục vụ công tác chung sẽ giảm; tiết kiệm chi ngân sách hàng năm hàng trăm tỷ đồng, chưa tính các chi phí cho việc vận hành xe ô tô, đồng thời khuyến khích việc chuyển sang cơ chế khoán kinh phí sử dụng xe ô tô công. Bộ Tài chính cũng đã có văn bản số 18010/BTC-QLCS ngày 04/12/2015 hướng dẫn việc rà soát, sắp xếp lại, xử lý số xe ô tô phục vụ công tác chung của các cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Bên cạnh việc hoàn thiện tiêu chuẩn, định mức sử dụng và chế độ quản lý, sử dụng xe ô tô công, trên cơ sở Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ, Bộ Tài chính đã ban hành văn bản hướng dẫn việc thực hiện mua sắm xe ô tô từ nguồn ngân sách nhà nước năm 2015. Theo đó, chỉ thực hiện mua sắm đối với xe ô tô chuyên dùng trong định mức được duyệt; không thực hiện mua xe ô tô phục vụ chức danh và xe ô tô phục vụ công tác chung (trừ mua xe cho đơn vị mới thành lập và do các nguyên nhân bất khả kháng dẫn đến không còn xe phục vụ công tác). Qua theo dõi trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản nhà nước, các bộ, ngành, địa phương cơ bản chấp hành nghiêm túc quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Tài chính. Các bộ, ngành, địa phương cũng quan tâm đến việc xây dựng, ban hành định mức xe ô tô chuyên dùng làm căn cứ thực hiện việc lập dự toán, mua sắm và xử lý xe ô tô chuyên dùng.

(5). Tăng cường công tác quản lý đối với trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp và triển khai việc sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước.

Căn cứ Chỉ thị số 27/CT-TTg ngày 25/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường quản lý trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, Bộ Tài chính đã tổ chức kiểm tra tình hình thực hiện phương án sắp xếp lại, xử lý nhà, đất trên địa bàn thành phố Hà Nội và thành phố HCM, hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương kiểm tra đối với các cơ sở nhà, đất còn lại. Trên cơ sở kết quả kiểm tra đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo xử lý những sai phạm trong sử dụng trụ sở làm việc và tháo gỡ vướng mắc trong quá trình triển khai. Phối hợp với các Bộ, cơ quan có liên quan tiến hành rà soát, báo cáo Thủ tướng Chính phủ phương án xử lý đối với trụ sở làm việc của các bộ, ngành đã được đầu tư xây dựng trụ sở mới.

Tiếp tục triển khai công tác sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước, trong đó tập trung hoàn thành việc sắp xếp đối với các doanh nghiệp nhà nước thuộc đối tượng cổ phần hóa để bảo đảm tiến độ cổ phần hóa theo chỉ đạo của Chính phủ. Đối với nhà, đất của khối các bộ, ngành trung ương, các tập đoàn, tổng công ty, trong 11 tháng đầu năm 2015, Bộ Tài chính đã phê duyệt phương án xử lý đối với 730 cơ sở nhà, đất (với tổng diện tích 37,25 triệu m2 đất và 3 triệu m2 nhà, số tiền thu được vào tài khoản tạm giữ trên 6.000 tỷ đồng); nâng tổng số cơ sở nhà, đất đã được phê duyệt phương án xử lý đến cuối năm 2015 thành 123.340 cơ sở, với tổng diện tích 1.960 triệu m2 đất và 114,6 triệu m2 nhà, số tiền thu được qua sắp xếp lại trên 35 ngàn tỷ đồng.

(6). Tiếp tục chỉ đạo, hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương xử lý tài sản được xác lập quyền sở hữu của nhà nước, tài sản của các dự án sử dụng vốn nhà nước.

Bộ Tài chính đã báo cáo Thủ tướng  Chính phủ chỉ đạo xử lý dứt điểm xe ô tô biển NN của các dự án sử dụng ODA và vốn viện trợ trước ngày 31/12/2015; đôn đốc các bộ, ngành, địa phương xử lý hàng hóa tịch thu sung quỹ nhà nước, tài sản của các dự án sử dụng vốn nhà nước khi dự án kết thúc; tổ chức kiểm đếm, phân loại để tổ chức bảo quản an toàn tài sản quý, hiếm do các cơ quan chức năng chuyển giao; tổ chức thu hồi, điều chuyển, bán, thanh lý xe ô tô, trang thiết bị của 32 dự án theo thẩm quyền với tổng nguyên giá trên 400 tỷ đồng. Phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng, ban hành và tổ chức triển khai Thông tư liên tịch số 16/2015/TTLT-BKHCN-BTC về quản lý, sử dụng, xử lý tài sản hình thành trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ từ nguồn ngân sách nhà nước.

Bộ Tài chính cũng đã báo cáo Thủ tướng chỉ đạo xử lý, tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong xử lý hàng hóa tồn đọng tại các cảng biển và đang tích cực phối hợp với các cơ quan có liên quan triển khai thực hiện.

(7). Tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện các chính sách thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước trong giai đoạn chuyển tiếp giữa Luật đất đai năm 2003 và Luật đất đai năm 2013.

Bộ Tài chính đã ban hành kịp thời các văn bản hướng dẫn tạm thời về quy trình, thủ tục xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai, hướng dẫn về việc thu tiền thuê đất đối với hoạt động khai thác khoáng sản, miễn, giảm tiền thuê đất thực hiện ưu đãi đầu tư, xây dựng Nghị định bổ sung một số nội dung về tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất…; trực tiếp nắm tình hình, đôn đốc thu nộp các khoản nghĩa vụ tài chính về đất đai tại một số địa phương trọng điểm. Nhờ vậy, số thu từ đất đai năm 2015 vượt dự toán được giao. Tổng thu từ đất đai đến hết tháng 11/2015 là 63.583 tỷ đồng, trong đó: thu tiền sử dụng đất là: 51.415 tỷ đồng (vượt 60%); thu tiền thuê đất là: 12.167 tỷ đồng.

(8). Tổ chức triển khai việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản hạ tầng; tập trung vào các nhiệm vụ: thực hiện kiểm kê, phân loại để xác định đối tượng kế toán tài sản hạ tầng đường bộ, áp giá và hạch toán tài sản theo quy định trên phạm vi cả nước; thực hiện rà soát, thống kê, đánh giá chất lượng công trình hạ tầng đường bộ và công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung, xác định giá trị công trình, thiết lập hồ sơ quản lý và trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành Quyết định giao công trình cho từng đơn vị quản lý, vận hành và khai thác. Đến cuối năm 2015, đã có 44 địa phương hoàn thành việc lập Danh mục các tuyến đường bộ, hoàn thành việc đăng nhập dữ liệu của gần 15.000 công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung.

(9). Hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản nhà nước.

Đôn đốc, hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương cập nhật, chuẩn hóa thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản nhà nước về 05 loại tài sản gồm: (i) đất thuộc trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp; (ii) nhà thuộc trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp; (iii) xe ô tô các loại; (iv) tài sản khác có nguyên giá từ 500 triệu đồng trở lên/1 đơn vị tài sản; (v) tài sản phục vụ hoạt động của các dự án sử dụng vốn nhà nước. Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản nhà nước đã cập nhật thông tin về TSNN của 104.011 đơn vị; trong đó có 88.199 đơn vị có tài sản thuộc 05 loại nêu trên (chưa bao gồm tài sản tại các đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, các cơ quan Việt Nam ở nước ngoài). Năm 2015, Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Giao thông vận tải triển khai việc xây dựng Phần mềm quản lý tài sản hạ tầng giao thông đường bộ để triển khai đăng nhập dữ liệu từ năm 2016. Thông tin về tài sản hạ tầng giao thông đường bộ sẽ được kết nối, trở thành bộ phận của Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản nhà nước.

1.10.2. Một số nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2016

(1). Tập trung hoàn thành việc xây dựng Luật quản lý, sử dụng tài sản công, đảm bảo tiến độ, chất lượng của dự án Luật, trình Quốc hội khóa XIV cho ý kiến tại kỳ họp thứ 2 (tháng 10/2016).

(2). Tổ chức triển khai việc mua sắm tài sản nhà nước theo phương thức tập trung theo đúng yêu cầu của Quốc hội tại Nghị quyết số 98/2015/NQ-QH13 ngày 10/11/2015 về kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội năm 2016. Theo đó, việc mua sắm theo phương thức tập trung sẽ được áp dụng đối với các tài sản có số lượng mua sắm nhiều, giá trị mua sắm lớn, được sử dụng phổ biến ở nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị. Bộ Tài chính, Bộ Y tế thực hiện nhiệm vụ mua sắm tập trung cấp quốc gia; các bộ, ngành, địa phương thực hiện nhiệm vụ mua sắm tập trung đối với các tài sản thuộc danh mục mua sắm tập trung của các bộ, ngành, địa phương.

(3). Tổ chức chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện việc rà soát, sắp xếp, xử lý xe ô tô phục vụ công tác chung của các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phạm vi cả nước; báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện vào tháng 4/2016. Đối với những xe ô tô dôi dư so với tiêu chuẩn, định mức tại Quyết định số 32/2015/QĐ-TTg được điều chuyển cho các cơ quan, đơn vị còn thiếu xe cả trong nội bộ từng bộ, ngành, địa phương, cả giữa các bộ, ngành, địa phương để bảo đảm việc bố trí sử dụng đúng tiêu chuẩn, định mức, đối tượng, hạn chế việc phải mua sắm mới. Số còn lại thực hiện bán theo quy định của pháp luật để thu tiền nộp ngân sách nhà nước. Xây dựng lộ trình, phương thức khoán kinh phí sử dụng xe ô tô công đối với những đối tượng và địa bàn phù hợp để thể chế hóa trong Luật quản lý, sử dụng tài sản công, trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. Hạn chế việc mua sắm xe ô tô và các tài sản đắt tiền.

(4). Tổ chức thực hiện việc xác định giá trị tài sản giao cho đơn vị sự nghiệp công lập quản lý theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp để các đơn vị được khai thác tài sản đúng pháp luật. Đây vừa là biện pháp để tăng cường công tác quản lý của Nhà nước, vừa là giải pháp để khai thác có hiệu quả nguồn lực từ tài sản công hiện có gắn với việc huy động các nguồn lực xã hội cùng đầu tư, phát triển, khai thác tài sản, giảm bao cấp của Nhà nước. Phấn đấu đến hết năm 2016, cơ bản hoàn thành việc xác định giá trị tài sản để giao cho các đơn vị sự nghiệp công lập đủ điều kiện theo quy định của Chính phủ.

(5). Tăng cường công tác quản lý nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước, quản lý tài chính đối với đất đai. Tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả kiểm tra tình hình thực hiện phương án sắp xếp lại, xử lý nhà, đất đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong phạm vi cả nước; tổ chức xử lý những cơ sở nhà, đất có sai phạm như cho thuê, cho mượn, liên doanh, liên kết không đúng quy định theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Phối hợp với Bộ Xây dựng rà soát, đánh giá việc triển khai mô hình khu hành chính tập trung.

(6). Tiếp tục hiện đại hóa công tác quản lý tài sản công, nâng cấp cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản nhà nước, bảo đảm từng bước cơ sở dữ liệu quốc gia có đầy đủ thông tin về tài sản công theo Nghị quyết số 98/2015/NQ-QH13 ngày 10/11/2015 của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội năm 2016. Bên cạnh việc cập nhật, rà soát, chuẩn hóa dữ liệu về các loại tài sản hiện có, triển khai việc cập nhật các thông tin về tài sản thuộc kết cấu hạ tầng đường bộ, xây dựng phương án ứng dụng công nghệ thông tin trong mua sắm tài sản nhà nước theo phương thức tập trung, cập nhật dữ liệu về việc sử dụng tài sản tại các đơn vị sự nghiệp công lập vào mục đích sản xuất, kinh doanh dịch vụ, cho thuê, liên doanh, liên kết; nghiên cứu thực hiện một số thủ tục hành chính trong quản lý, sử dụng tài sản công trực tuyến.

1.11. Kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2015 và phương hướng thực hiện nhiệm vụ chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả năm 2016 của Ban chỉ đạo 389 Bộ Tài chính.

1.11.1. Kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2015

Năm 2015, tình hình hoat động buôn lậu, gian lận thương mại, sản xuất, kinh doanh trái phép, vi phạm an toàn thực phẩm, sở hữu trí tuệ, hàng giả, hàng kém chất lượng diễn biến khá phức tạp, có nhiều diễn biến mới.

Với sự điều hành, chỉ đạo của Ban Chỉ đạo 389 quốc gia, trên cơ sở bám sát thực hiện Nghị quyết số 41/NQ-CP của Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương, cơ quan chức năng đã đấu tranh, bắt giữ, xử lý hiệu quả các đối tượng vi phạm về buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, góp phần ổn định tình hình an ninh – chính trị, kinh tế – xã hội, được nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao.

Một số kết quả nổi bật trong công tác của Ban Chỉ đạo 389 Bộ Tài chính:

1.11.1.1. Làm tốt vai trò, nhiệm vụ tham mưu, giúp việc cho lãnh đạo Ban Chỉ đạo 389 QG trong công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả 

(1). Tham mưu ban hành và chỉ đạo tổ chức triển khai, đôn đốc thực hiện có hiệu quả Nghị Quyết số 41/NQ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ về đẩy mạnh công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong tình hình mới; Chỉ thị số 30/CT-TTg ngày 30 tháng 9 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác đấu tranh chống buôn lậu thuốc lá; Công điện số 90/CĐ-BCĐ389 ngày 13 tháng 7 năm 2015 phát động cao điểm đấu tranh chống buôn lậu, sản xuất, kinh doanh hàng giả là dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng,…

Tham mưu, ban hành và tổ chức triển khai các văn bản quan trọng, như: Kế hoạch số 02/KH-BCĐ389 ngày 14 tháng 02 năm 2015 về Kế hoạch công tác năm 2015 của Ban Chỉ đạo 389 quốc gia; Quyết định số 05/QĐ-BCĐ389 ngày 23 tháng 9 năm 2015 của Ban Chỉ đạo 389 quốc gia về Kế hoạch triển khai Nghị quyết số 41/NQ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ; Quyết định số 162/QĐ-BCĐ389 ngày 09 tháng 10 năm 2015 về Quy chế hoạt động của Đoàn công tác liên ngành – Ban Chỉ đạo 389 quốc gia; Kế hoạch số 218/KH-BCĐ389 ngày 01 tháng 12 năm 2015 về cao điểm đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả Tết Nguyên đán Bính Thân – 2016.

(2). Đề xuất tổ chức các đoàn công tác do lãnh đạo Ban Chỉ đạo 389 quốc gia làm trưởng Đoàn làm việc với các địa phương về tình hình, kết quả công tác phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, như: Đoàn công tác của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc – Trưởng Ban Chỉ đạo 389 quốc gia làm việc với TP Hồ Chí Minh, Bình Phước, Hải Phòng, Quảng Ninh, Lào Cai; Đoàn công tác của Bộ trưởng Bộ Tài chính – Phó Trưởng ban Thường trực làm việc với các tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thái Bình, Tuyên Quang; Đoàn công tác của Bộ trưởng Bộ Công Thương – Phó Trưởng ban làm việc với các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang; Đoàn công tác của Thứ trưởng Bộ Quốc phòng – Phó Trưởng ban làm việc với TP Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đắk Lắk, Gia Lai,…

(3). Chủ động tham mưu, xây dựng, chỉ đạo triển khai thực hiện các kế hoạch khảo sát tình hình thực tế tại một số địa bàn trọng điểm về buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả làm cơ sở tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo 389 quốc gia kịp thời chỉ đạo đấu tranh, xử lý các hiện tượng, vụ việc vi phạm, như: vụ sản xuất gas trái phép quy mô lớn tại Chi nhánh Công ty TNHH TMDV Hà Linh tại Long An; vụ vi phạm giả nhãn mác, nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa nhập khẩu của Công ty Romal Việt Nam; vụ buôn lậu 2,2 tấn ngà voi tại cảng Tiên Sa, TP Đà Nẵng; vụ phát hiện và bắt giữ số lượng lớn hàng hóa là đồ điện tử, điện lạnh đã qua sử dụng cùng hàng nghìn sản phẩm thực phẩm chức năng, mỹ phẩm không có tem, nhãn, không rõ nguồn gốc tại các khu vực cảng trên địa bàn TP Hồ Chí Minh,…

(4). Chỉ đạo, đôn đốc các Bộ, ngành tích cực thực hiện sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách pháp luật nhằm chấn chỉnh những bất cập bị lợi dụng để vi phạm, nâng cao thẩm quyền, cơ sở pháp lý, kinh phí đảm bảo cho hoạt động của cơ quan chức năng chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả. Trong đó, Ban Chỉ đạo 389 Bộ Tài chính đã tích cực phối hợp với các Bộ, ngành chức năng sửa đổi bổ sung các văn bản, quy định quan trọng như: trình Chính phủ ban hành Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2015 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 185/2013/NĐ-CP về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; trình Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Quyết định số 52/2015/QĐ-TTg ngày 20 tháng 10 năm 2015 thay thế Quyết định số 254/2006/QĐ-TTg ngày 07 tháng 11 năm 2006 về việc quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung đường biên giới,…

(5). Tham mưu Ban Chỉ đạo 389 quốc gia chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền; công bố rộng rãi tới quần chúng nhân dân, doanh nghiệp và các cơ quan, tổ chức về Đường dây nóng của Ban Chỉ đạo 389 quốc gia, Ban Chỉ đạo 389 tỉnh, thành phố, cơ quan chức năng.

Kết quả từ khi triển khai tiếp nhận thông tin qua đường dây nóng, Ban Chỉ đạo 389 quốc gia đã tiếp nhận được hàng trăm tin do người dân, tổ chức, cá nhân phản ánh. Qua phân tích, xử lý đã chuyển trên 70 tin báo có cơ sở đến các cơ quan, đơn vị chức năng có thẩm quyền xử lý theo quy định. Điển hình là vụ kinh doanh trái phép xăng dầu của Trạm cấp phát và kinh doanh xăng tại huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang; Vụ Công an Hà Tĩnh khởi tố hình sự vụ gian lận hoàn thuế VAT trái phép trên 08 tỷ đồng của Công ty Xuất nhập khẩu SCI, trụ sở tại xã Diệm Sơn, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh; Vụ sản xuất, kinh doanh trái phép hàng nghìn sản phẩm mỹ phẩm là hàng giả, hàng kém chất lượng trên địa bàn TP Hồ Chí Minh,…

(6). Tích cực phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam – Trung tâm tin tức 24H thực hiện Chương trình truyền hình “Chống buôn lậu, hàng giả và bảo vệ người tiêu dùng” phát định kỳ trên sóng VTV1 hàng ngày để thông tin, tuyên truyền về tình hình hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả; kết quả hoạt động của Ban Chỉ đạo 389 quốc gia và Ban Chỉ đạo 389 các Bộ, ngành, địa phương; phổ biến, tuyên truyền chính sách pháp luật,…

Tham mưu xây dựng nội dung, xuất bản ấn phẩm “Bản tin Chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả” và cung cấp rộng rãi đến các cơ quan, đơn vị, tổ chức từ Trung ương đến địa phương.

(7). Chủ động đề xuất Trưởng Ban, Phó Trưởng ban Thường trực khen thưởng, biểu dương đối với các đơn vị, cá nhân có thành tích xuất sắc trong đấu tranh phát hiện, bắt giữ các vụ việc buôn lậu lớn, như: Vụ buôn lậu 62.000 bao thuốc lá lậu tại Củ Chi; vụ bắt giữ 156 bánh heroin tại địa bàn tỉnh Cao Bằng; vụ vận chuyển trái phép 31,6 kg cocain từ Nam Mỹ về Việt Nam qua đường biển; vụ bắt giữ 611.000 lít dầu lậu trên vùng biển Kiên Giang; vụ vi phạm giả nhãn mác, nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa nhập khẩu của Công ty Romal Việt Nam; vụ buôn lậu động vật hoang dã số lượng lớn tại Cảng Tiên Sa, TP Đà Nẵng,…

1.11.1.2. Kết quả thực hiện nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo 389 Bộ Tài chính trong công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả

(1). Đồng chí Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn – Trưởng Ban Chỉ đạo 389 Bộ Tài chính đã ký ban hành và chỉ đạo tổ chức thực hiện Kế hoạch số 2760/KH-BCĐ389 ngày 31/3/2015 về kế hoạch hoạt động của Ban Chỉ đạo chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả Bộ Tài chính năm 2015; Báo cáo số 72/BC-BCĐ389 ngày 31/3/2015 về báo cáo tổng kết công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả của Ban Chỉ đạo 389 Bộ Tài chính năm 2014; Công văn số 7414/BTC-BCĐ389 ngày 05/6/2015 của BCĐ 389 Bộ Tài chính về triển khai thực hiện thông tin, báo cáo nhanh phục vụ công tác tuyên truyền; Công văn số 9826/BTC-BCĐ ngày 20/7/2015 chỉ đạo các đơn vị triển khai Công điện số 90/CĐ-BCĐ389 ngày 13/7/2015 của Ban Chỉ đạo 389 quốc gia về phát động mở đợt cao điểm đấu tranh chống buôn lậu, sản xuất kinh doanh hàng giả là dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng; Quyết định số 2415/QĐ-BCĐ389 ngày 18/8/2015 về triển khai thực hiện Nghị quyết số 41/NQ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ v/v đẩy mạnh công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong tình hình mới.

(2). Chỉ đạo Tổng cục Thuế ban hành, triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số 64/2015/TTLT-BTC-BCT-BCA-BQP ngày 08/5/2015 ngày 08/5/2015 của liên Bộ Tài chính, Công thương, Công an, Quốc phòng về quy định chế độ hóa đơn, chứng từ đối với hàng hóa nhập khẩu lưu thông trên thị trường thay thế Thông tư liên tịch số 60/2011-BTC-BCT-BCA-BQP ngày 12/5/2011. Việc ban hành và chính thức áp dụng Thông tư liên tịch mới từ ngày 01/7/2015 có ý nghĩa rất lớn, góp phần quan trọng vào hiệu quả công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả; là cơ sở thuận lợi giúp các lực lượng chức năng thực hiện tốt các biện pháp kiểm tra, kiểm soát, xử lý các hành vi gian lận, vi phạm về chế độ hóa đơn, chứng từ đối với hàng hóa nhập khẩu lưu thông trên thị trường.

(3). Chủ động phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ cung cấp thông tin phục vụ báo cáo của Văn phòng thường trực Ban chỉ đạo 389 quốc gia về báo cáo kết quả triển khai các nội dung công việc của Bộ Tài chính tại Thông báo kết luận số số 42/TB-VPCP ngày 06 tháng 02 năm 2015, Thông báo số 157/TB-VPCP ngày 27 tháng 4 năm 2015, Thông báo số 232/TB-VPCP ngày 21 tháng 7 năm 2015, Thông báo số 350/TB-VPCP ngày 30 tháng 10 năm 2015 về thông báo ý kiến kết luận của Phó Thủ tướng– Trưởng Ban tại các cuộc họp giao ban định kỳ của Thường trực Ban Chỉ đạo 389 quốc gia.

 (4). Chỉ đạo lực lượng Thuế và Hải quan chủ động nắm chắc diễn biến tình hình, địa bàn, đối tượng trọng điểm; triển khai thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các chuyên đề, kế hoạch tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả; trọng tâm kiểm soát chặt chẽ đối với hàng cấm, hàng hóa chiến lược của nền kinh tế, hàng có thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt cao, hàng hóa không đảm bảo an toàn thực phẩm, vi phạm sở hữu trí tuệ và các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu; tập trung ngăn chặn, bắt giữ, xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng cơ chế, chính sách ưu đãi để buôn lậu, gian lận, trốn thuế;… Qua đó đã kịp thời phát hiện, bắt giữ, xử lý nhiều vụ việc vi phạm; góp phần quan trọng đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.

(5). Tăng cường công tác kiểm tra việc thực hiện các chỉ đạo của Ban Chỉ đạo 389 Bộ Tài chính, Ban Chỉ đạo 389 quốc gia; kiểm tra, khảo sát, nắm tình hình địa bàn trọng điểm để đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả phục vụ công tác điều hành, chỉ đạo. 

(6). Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, vận động quần chúng nhân dân tham gia chống buôn lậu, trốn thuế, gian lận thương mại, không tham gia, không tiếp tay vi phạm.

1.11.1.3. Kết quả bắt giữ, xử lý

Tính đến ngày 15 tháng 11 năm 2015, Bộ Tài chính đã thực hiện tốt vai trò điều phối hoạt động phối hợp của các Bộ, ngành, địa phương trong chỉ đạo lực lượng chức năng các cấp đẩy mạnh phối hợp đấu tranh có hiệu quả, phát hiện, bắt giữ, xử lý 186.989 vụ việc vi phạm (tăng 6,47 % so với cùng kỳ năm 2014); số thu nộp NSNN từ tiền xử phạt VPHC, bán hàng tịch thu và công tác thanh tra, kiểm tra, truy thu thuế ước đạt 11.535 tỷ 863 triệu đồng (tăng 5,75% so với cùng kỳ năm 2014); khởi tố 1.123 vụ đối với 1.281 đối tượng. Trong đó:

– Lực lượng Thuế đã tổ chức thanh tra, kiểm tra 60.070 doanh nghiệp; tổng số thuế tăng thu qua thanh tra, kiểm tra là 9.158 tỷ 580 triệu đồng. Điển hình, Thanh tra Tổng cục Thuế đã tiến hành thanh tra tại Công ty TNHH Metro & Carry Việt Nam, kết quả đã điều chỉnh giảm lỗ, giảm khấu trừ và truy thu 507 tỷ đồng.

– Lực lượng Hải quan thông qua hoạt động chống buôn lậu, thanh tra, kiểm tra sau thông quan đã phát hiện, bắt giữ, xử lý 19.360 vụ việc vi phạm, thu nộp NSNN ước đạt 1.746 tỷ 829 triệu đồng; khởi tố 27 vụ án hình sự, chuyển cơ quan khác đề nghị khởi tố 87 vụ. Điển hình là vụ buôn lậu 31,6 kg cocain vận chuyển trái phép từ Nam Mỹ vào Việt Nam qua đường biển TP Hồ Chí Minh và đường hàng không TP Hà Nội; vụ buôn lậu 142 kg sừng tê giác, 04 tấn vẩy tê tê và khoảng 3,8 tấn ngà voi qua đường biển khu vực Cảng Tiên Sa, TP Đà Nẵng; vụ buôn lậu khoảng 5.000 tấn hàng hóa là mỹ phẩm, thực phẩm chức năng và các mặt hàng cấm là đồ điện tử, điện lạnh, điện gia dụng, thiết bị y tế cũ đã qua sử dụng,… trị giá 100 tỷ đồng qua đường biển khu vực TP Hồ Chí Minh,…

1.11.2. Phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2016

1.11.2.1. Tập trung bám sát, thực hiện có hiệu quả các nội dung chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo 389 quốc gia về công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả

– Tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết số 41/NQ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ về đẩy mạnh công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong tình hình mới; Chỉ thị số 30/CT-TTg ngày 30 tháng 9 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác đấu tranh chống buôn lậu thuốc lá; Quyết định số 05/QĐ-BCĐ389 ngày 23 tháng 9 năm 2015 của Ban Chỉ đạo 389 quốc gia về Kế hoạch triển khai Nghị quyết số 41/NQ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ

– Tiếp tục sửa đổi, bổ sung các văn bản qui phạm pháp luật, cơ chế, chính sách liên quan đến công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả đảm bảo tạo thuận lợi cho các lực lượng chức năng trong thực thi nhiệm vụ.

1.11.2.2. Tăng cường kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện nhiệm vụ chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả tại các Bộ, ngành, địa phương

– Tham mưu, đề xuất thành lập, triển khai các Đoàn kiểm tra do đồng chí Trưởng Ban, các đồng chí Phó Trưởng ban Ban Chỉ đạo 389 quốc gia làm Trưởng đoàn đi kiểm tra, nắm tình hình tại các địa phương, địa bàn, lĩnh vực, mặt hàng trọng điểm.

– Quán triệt đến Ban Chỉ đạo 389 các tỉnh, thành phố chủ động xây dựng kế hoạch tổ chức kiểm tra tại các địa bàn thành phố, thị xã, huyện, khu kinh tế cửa khẩu.

– Quán triệt đến các Bộ, ngành, địa phương đôn đốc, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, lực lượng chức năng triển khai các phương án, kế hoạch tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, chống buôn lậu, gian lận thương mại và theo chức năng, địa bàn, lĩnh vực quản lý; xác lập các chuyên án, kế hoạch đấu tranh có trọng tâm, trọng điểm để tổ chức phối hợp bắt giữ đảm bảo kịp thời, hiệu quả.

1.11.2.3. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền; vận động quần chúng nhân dân đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả; tăng cường phòng chống tiêu cực, tham nhũng

– Chỉ đạo, đôn đốc các Bộ, ngành, địa phương chấp hành Công văn số 14/BCĐ389-VPTT ngày 29 tháng 5 năm 2015 về đẩy mạnh công tác tuyên truyền và thực hiện chế độ thông tin báo cáo.

– Làm tốt Chương trình “Chống buôn lậu, hàng giả và bảo vệ người tiêu dùng” phát sóng trên VTV1; Chương trình “Chống buôn lậu, hàng giả và bảo vệ thương hiệu” phát sóng trên Truyền hình Nhân dân và các chương trình, chuyên đề khác trên VOV, ANTV,…

– Tham mưu xây dựng, vận hành Trang tin điện tử trên mạng internet để phục vụ công tác tuyên truyền, chỉ đạo, điều hành của Ban Chỉ đạo 389 quốc gia;

– Tham mưu, xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin về buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả kết nối với các Bộ, ngành, địa phương phục vụ công tác chỉ đạo kiểm tra, xử lý vi phạm.

– Làm tốt nhiệm vụ tiếp nhận, xử lý có hiệu quả thông tin đường dây nóng của Ban Chỉ đạo 389 quốc gia, các Bộ, ngành, địa phương.

– Từng bước xã hội hóa công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại thông qua việc tăng cường phối hợp, trao đổi thông tin, hỗ trợ của các hiệp hội, tổ chức, cộng đồng doanh nghiệp trong công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại, chống hàng giả, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

– Đẩy mạnh giáo dục chính trị tư tưởng, tăng cường kỷ cương, kỷ luật công vụ, phòng chống các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng của cán bộ, công chức các lực lượng chức năng từ Trung ương đến các địa phương; chỉ đạo khen thưởng, động viên kịp thời đối với tập thể, cá nhân có thành tích, kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, có dấu hiệu, hành vi tiếp tay cho buôn lậu.

1.12. Kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2015 và phương hướng thực hiện nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra, giám sát tài chính 2016

1.12.1. Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ công tác năm  2015

1.12.1.1. Công tác thanh tra, kiểm tra

Năm 2015, Thanh tra Bộ Tài chính và thanh tra chuyên ngành thuộc Bộ Tài chính đã triển khai thực hiện 75.627 cuộc thanh tra, kiểm tra; kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế 1.227.180 hồ sơ; công tác điều tra chống buôn lậu đã chủ trì bắt giữ 18.133 vụ. Qua thanh tra, kiểm tra đã phát hiện và kiến nghị xử lý tài chính 38.608.234,37 triệu đồng (trong đó: kiến nghị nộp ngân sách nhà nước 15.259.059,4 triệu đồng; giảm khấu trừ 1.167.503 triệu đồng; giảm lỗ 19.593.256 triệu đồng; giảm trừ dự toán kinh phí, giảm trừ cấp phát kinh phí 882.961 triệu đồng; giảm trừ thanh quyết toán, không thanh toán kinh phí 190.396,88 triệu đồng; xử phạt vi phạm hành chính 175.562,09 triệu đồng; kiến nghị tài chính khác 1.339.496 triệu đồng), đôn đốc đơn vị được thanh tra thực hiện nộp bổ sung số tiền thuế TTĐB năm 2013 qua kiểm toán là 408.856 triệu đồng. Đồng thời, kiến nghị với các Bộ ngành, địa phương và cơ quan có thẩm quyền xây dựng, sửa đổi, bổ sung cơ chế chính sách góp phần quan trọng vào việc thực hiện tốt các quy định của pháp luật về tài chính ngân sách. Cụ thể như sau:

a) Thanh tra Bộ Tài chính

(1). Tình hình thực hiện thanh tra, kiểm tra:

Thanh tra Bộ Tài chính đã triển khai thanh tra, kiểm tra 57 cuộc; trong đó: thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch là 50 cuộc (tỷ lệ đạt bằng 100%) và 7 cuộc thanh tra, kiểm tra đột xuất theo chỉ đạo của Bộ trưởng, Thủ tướng Chính phủ, gồm:

– Triển khai, thực hiện 49 cuộc thanh tra theo kế hoạch được giao (Thanh tra ngân sách tỉnh, thành phố: 6 cuộc; Thanh tra tài chính các Bộ, ngành: 7 cuộc; Thanh tra tài chính doanh nghiệp: 8 cuộc; Thanh tra dự án đầu tư xây dựng: 8 cuộc; Thanh tra Giá và các Quỹ: 11 cuộc; Thanh tra hành chính: 9 cuộc); 01 cuộc thanh tra đột xuất.

– Thực hiện 7 cuộc kiểm tra theo kế hoạch và đột xuất được giao, gồm: 1 cuộc kiểm tra theo kế hoạch về công tác chấp hành phí, lệ phí tại 2 Bộ và 2 thành phố; 6 cuộc kiểm tra đột xuất theo chỉ đạo của Bộ trưởng, Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện thu các loại phụ phí theo cước vận tải biển của 20 Hãng tàu biển nước ngoài tại Việt Nam; Giá cước vận tải; Kiểm tra, xác minh nội dung đơn kiến nghị của công dân tại Tổng công ty Bảo việt Nhân thọ và Công ty Bảo việt Nhân thọ Ninh Bình; Kiểm tra, xác minh nội dung tố cáo về vi phạm nguyên tắc quản lý tài chính tại Đài Truyền hình Việt Nam.

(2). Kết quả công tác thanh tra, kiểm tra:

Tổng hợp kết quả của 45 kết luận thanh tra, kiểm tra đã lưu hành trong năm 2015 (trong đó: 16 kết luận thanh tra thuộc kế hoạch thanh tra năm 2014 chuyển sang; 24 kết luận thanh tra, kiểm tra thuộc kế hoạch thanh tra năm 2015 và 5 kết luận kiểm tra đột xuất), kiến nghị xử lý về tài chính 5.441.735 triệu đồng (trong đó: kiến nghị nộp ngân sách nhà nước 3.098.214 triệu đồng; giảm trừ dự toán kinh phí, giảm trừ cấp phát kinh phí 882.961 triệu đồng; giảm trừ thanh quyết toán, không thanh toán kinh phí 190.373 triệu đồng; kiến nghị xử lý tài chính khác 1.270.187 triệu đồng), đôn đốc đơn vị được thanh tra thực hiện nộp bổ sung số tiền thuế TTĐB năm 2013 qua kiểm toán là 408.856 triệu đồng; Số lũy kế kiến nghị của các kết luận từ năm 2013-2015 các đơn vị đã thực hiện trong năm 2015 là 4.742.866 triệu đồng (trong đó đã thực hiện đối với các kết luận trong năm 2015 là 3.385.866 triệu đồng). Đồng thời đề xuất, kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, ban hành mới nhiều cơ chế, chính sách về công tác quản lý điều hành tài chính ngân sách.

b) Kết quả thanh tra, kiểm tra tại các đơn vị có chức năng thanh tra thuộc Bộ

(1). Tổng cục Thuế:

Trong toàn hệ thống Tổng cục đã tiến hành thanh tra, kiểm tra 70.059 doanh nghiệp và kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế 1.227.180 hồ sơ, tập trung việc thanh tra, kiểm tra vào các ngành, lĩnh vực có tiềm ẩn rủi ro về trốn thuế, gian lận thuế như dầu khí, xăng dầu, khai thác khoáng sản, kinh doanh bất động sản, hoạt động chuyển nhượng dự án, thương mại điện tử, kinh doanh thiết bị y tế, dược phẩm, thiết bị khoa học kỹ thuật… các doanh nghiệp được hưởng ưu đãi miễn, giảm thuế, các tập đoàn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; các doanh nghiệp có giao dịch liên kết, có dấu hiệu chuyển giá; đặc biệt tập trung thanh tra hoàn thuế GTGT đối với các doanh nghiệp có hoàn thuế lớn, các doanh nghiệp hoàn thuế GTGT hàng hóa xuất khẩu qua biên giới đất liền; thanh tra công tác xử lý hóa đơn ngăn chặn kịp thời hành vi sử dụng bất hợp pháp hóa đơn nhằm trốn thuế, gian lận thuế. Đồng thời tăng cường công tác phối hợp với cơ quan, địa phương thực hiện hiệu quả công tác khai thác nguồn thu, chống thất thu ngân sách trên địa bàn quản lý.

 Kết quả thanh tra, kiểm tra đã phát hiện và kiến nghị xử lý 31.007.540 triệu đồng, trong đó: tăng thu, xử phạt là 10.246.781,00 triệu đồng; giảm khấu trừ 1.167.503 triệu đồng; giảm lỗ 19.593.256 triệu đồng. Số tiền thuế đã nộp vào ngân sách 6.982.269 triệu đồng, bao gồm:

– Số doanh nghiệp được thanh tra: 8.705 doanh nghiệp (tỷ lệ đạt 84,91% kế hoạch); tổng số truy thu, truy hoàn, phạt là 5.215.206 triệu đồng, giảm khấu trừ 591.925 triệu đồng, số giảm lỗ 10.365.943 triệu đồng; số đã nộp ngân sách 3.151.834 triệu đồng.

– Số doanh nghiệp được kiểm tra: 59.296 doanh nghiệp (tỷ lệ đạt 82,97% kế hoạch); tổng số truy thu, phạt và truy hoàn 4.728.108 triệu đồng, giảm khấu trừ 519.617 triệu đồng, giảm lỗ 8.952.686 triệu đồng; số đã nộp ngân sách 3.526.968 triệu đồng.

– Kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế: 1.227.180 hồ sơ; xử lý điều chỉnh thu vào ngân sách 303.467 triệu đồng, số giảm khấu trừ 55.961 triệu đồng, giảm lỗ 274.627 triệu đồng.

– Kiểm tra nội bộ: Toàn hệ thống Thuế đã thực hiện 2.058 cuộc (trong đó 1.921 cuộc theo kế hoạch và 132 cuộc đột xuất); phát hiện số tiền thuế sai phạm là 127.184 triệu đồng (trong đó: kiến nghị thu hồi 57.875 triệu đồng, kiến nghị khác 69.309 triệu đồng).

(2). Lĩnh vực Hải quan:

Đã chủ động xây dựng và triển khai kế hoạch kiểm tra nội bộ trên cơ sở bán sát chỉ đạo của Bộ Tài chính, nhiệm vụ trọng tâm của ngành và đảm bảo sát đúng với tình hình thực tế; triển khai nghiêm túc việc giám sát, kiểm tra đột xuất, tăng cường công tác kiểm tra, tự kiểm tra của các đơn vị trong toàn hệ thống để phát hiện và chấn chỉnh kịp thời những tồn tại và thiếu sót của cán bộ, công chức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Các đơn vị trong toàn hệ thống Hải quan đã triển khai thực hiện 3.188 cuộc thanh tra, kiểm tra nội bộ, kiểm tra sau thông quan; chủ trì điều tra chống buôn lậu và bắt giữ, xử lý 18.133 vụ. Tổng số kiến nghị xử lý vi phạm là 2.280.595 triệu đồng, trong đó: truy thu là 2.116.553 triệu đồng; xử phạt vi phạm hành chính là 164.042 triệu đồng. Số tiền thực hiện kiến nghị đã nộp ngân sách nhà nước 1.888.181 triệu đồng. Cụ thể:

– Công tác thanh tra chuyên ngành: Thực hiện 63 cuộc (Thanh tra Tổng cục thực hiện 10 cuộc, cơ quan Tổng cục thực hiện 06 cuộc, Cục Hải quan địa phương thực hiện 47 cuộc). Tổng số tiền kiến nghị truy thu là 45.918 triệu đồng; xử phạt vi phạm hành chính 430 triệu đồng; đã thu nộp ngân sách nhà nước 8.495 triệu đồng.

– Công tác kiểm tra nội bộ: Thực hiện 208 cuộc (trong đó: kiểm tra theo kế hoạch 107 cuộc, đột xuất 91 cuộc). Tổng số tiền kiến nghị truy thu là 5.567 triệu đồng và xử phạt vi phạm hành chính 462 triệu đồng; số tiền đã nộp NSNN là 6.029 triệu đồng.

– Công tác kiểm tra sau thông quan: Đã thực hiện 2.917 cuộc. Tổng số tiền kiến nghị truy thu là 1.687.690 triệu đồng; xử phạt vi phạm hành chính, phạt chậm nộp 163.150 triệu đồng; số tiền đã nộp NSNN là 1.759.880 triệu đồng.

– Công tác điều tra chống buôn lậu: Đã chủ trì bắt giữ 18.133 vụ, với giá trị hàng hóa vi phạm khoảng 377.378 triệu đồng; thu nộp ngân sách nhà nước 113.777 triệu đồng.

(3). Kho bạc Nhà nước (KBNN):

Đã thực hiện kiểm tra 2.126 cuộc (tỷ lệ đạt 99,5% kế hoạch), chủ yếu tập trung vào công tác quản lý tài chính nội bộ, mua sắm, sửa chữa, quản lý tài sản, an toàn kho quỹ, đầu tư xây dựng cơ bản nội ngành và công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản, vốn chương trình mục tiêu.

Công tác kiểm toán báo cáo tài chính nội bộ, toàn hệ thống đã thực hiện kiểm toán được 410 kho bạc nhà nước quận huyện; qua công tác kiểm toán đã kịp thời phát hiện những tồn tại, sai sót trong việc hạch toán kế toán, cũng như đánh giá được việc chấp hành chính sách, chế độ của nhà nước, của ngành trong quản lý và sử dụng tài chính ngân sách tại mỗi đơn vị kho bạc nhà nước.

Công tác kiểm tra và tự kiểm tra nội bộ hệ thống kho bạc nhà nước được thực hiện tương đối tốt và được triển khai trên tất cả các mặt hoạt động nghiệp vụ kho bạc nhà nước, các đơn vị trong hệ thống đã thực hiện tự kiểm tra được 2.891 lượt; qua công tác tự kiểm tra đã giúp cho cán bộ trực tiếp làm nghiệp vụ thấy được những tồn tại, sai sót của mình và chủ động khắc phục kịp thời những sai sót ngay trong quá trình thực hiện, qua đó đã tạo được ý thức chấp hành chính sách, chế độ, quy trình nghiệp vụ, góp phần nâng cao trình độ nghiệp vụ của mỗi cán bộ, công chức.

Công tác phúc tra xử lý và chấn chỉnh sau kiểm tra, toàn hệ thống đã thực hiện 658/668 cuộc, tỷ lệ đạt 98% kế hoạch. Qua kiểm tra không phát hiện đơn vị có vi phạm, không phát hiện vi phạm và không có kiến nghị xử lý.

(4). Tổng cục Dự trữ Nhà nước (TCDTNN):

Đã hoàn thành 109 cuộc thanh tra, kiểm tra (tỷ lệ đạt 100% kế hoạch). Các cuộc thanh tra chuyên ngành, kiểm tra kiểm toán nội bộ có trọng tâm, trọng điểm; phòng ngừa sai phạm và chấn chỉnh công tác quản lý, công tác chỉ đạo điều hành, giữ gìn kỷ cương, nâng cao hiệu lực trong việc thực thi chính sách, pháp luật. Cụ thể:

Công tác thanh tra, kiểm tra chuyên ngành: đã tiến hành thực hiện thanh tra 2/2 cuộc, tỷ lệ đạt 100% kế hoạch. Qua thanh tra đã kiến nghị với đơn vị được thanh tra và cơ quan quản lý nhà nước hoàn chỉnh các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia; các đơn vị được giao quản lý hàng dự trữ quốc gia chấp hành tuân thủ các quy định trong quản lý hàng dự trữ quốc gia, kiến nghị thu hồi nộp ngân sách 36 triệu đồng, các đơn vị nghiệm túc thực hiện các kết luận thanh tra.

Công tác kiểm tra, kiểm toán nội bộ: đã thực hiện 107 cuộc kiểm tra. Kết quả kiểm tra giảm trừ giá trị nghiệm thu thanh toán, quyết toán công trình do nghiệm thu sai khối lượng xây lắp hoàn thành là 23,886 triệu đồng.

(5). Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN):

Đã tích cực tổ chức thực hiện các văn bản chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Bộ Tài chính, trên cơ sở kế hoạch công tác và chương trình hành động năm 2015; đôn đốc các đơn vị chức năng triển khai các đoàn thanh tra, kiểm tra, thực hiện các giải pháp phát triển thị trường, giám sát việc tuân thủ pháp luật đối với các đối tượng tham gia thị trường chứng khoán; đồng thời đã triển khai 69 cuộc thanh tra, kiểm tra, trong đó có14 cuộc thanh tra (13 cuộc thanh tra theo kế hoạch, 01 cuộc thanh tra đột xuất), 55 cuộc kiểm tra (32 cuộc theo kế hoạch và 23 cuộc kiểm tra đột xuất). Qua thanh tra, kiểm tra ban hành 140 quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với 82 tổ chức, 58 cá nhân, với số tiền xử phạt vi phạm 11.000 triệu đồng.

(6). Cục Quản lý và giám sát bảo hiểm (Cục QLGSBH)

Đã tiến hành 19 cuộc thanh tra, kiểm tra hoạt động kinh doanh bảo hiểm và chấp hành chế độ tài chính kế toán của 06 doanh nghiệp và kiểm tra 13 doanh nghiệp. Qua thanh tra, kiểm tra đã kiến nghị, chấn chỉnh việc chấp hành pháp luật về bảo hiểm, công tác hạch toán kế toán, xử lý về tài chính tại các doanh nghiệp; kiến nghị truy thu thuế thu nhập doanh nghiệp xác định tăng thêm 3.201 triệu đồng, xử phạt vi phạm 520 triệu đồng.

1.12.1.2. Công tác phòng, chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

(1). Công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN):

Trong thời gian qua, công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN) được triển khai thực hiện đồng bộ, đạt được nhiều kết quả tích cực: các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Tài chính đều xác định lĩnh vực trọng tâm, nhạy cảm, có nguy cơ tham nhũng cao để tập trung chỉ đạo, thực hiện; công tác học tập, phổ biến, tuyên truyền các quy định về PCTN được thực hiện bằng nhiều hình thức phong phú, thiết thực. Năm 2015, toàn ngành Tài chính đã tổ chức 308 lớp tập huấn, bồi dưỡng cho 27.502 lượt cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; phát hành 14 đầu sách tài liệu về pháp luật PCTN; công tác cán bộ phục vụ PCTN được chú trọng, đảm bảo công khai, minh bạch. Việc chuyển đổi vị trí công tác đối với một số vị trí nhạy cảm, có nguy cơ tham nhũng cao được thực hiện thường xuyên. Năm 2015, toàn ngành đã thực hiện luân chuyển, điều động, chuyển đổi vị trí công tác đối với 4.161 người, chủ yếu là chuyển đổi vị trí công tác trong lĩnh vực thuế và hải quan. Công tác thanh tra, kiểm tra được tăng cường, đã phát hiện nhiều sai phạm, kiến nghị xử lý số tiền lớn (kiến nghị xử lý tài chính 38.475.587,576 triệu đồng, đôn đốc đơn vị được thanh tra thực hiện nộp bổ sung số tiền thuế TTĐB năm 2013 qua kiểm toán là 408.856 triệu đồng; các đơn vị đã thực hiện kiến nghị nộp ngân sách nhà nước 9.151.573 triệu đồng), một số cơ quan, đơn vị đã chuyển cơ quan điều tra nhiều vụ việc để xử lý hình sự. Cơ quan Hải quan các cấp đã ra quyết định khởi tố 27 vụ việc; chuyển cơ quan khác đề nghị khởi tố (cơ quan cảnh sát điều tra; cơ quan Quản lý thị trường; cơ quan Kiểm lâm; UBND các tỉnh…) 87 vụ; cơ quan Thuế đã chuyển cho cơ quan Công an 1.032 hồ sơ vụ việc vi phạm có dấu hiệu tội phạm.

Bên cạnh đó, thực hiện Kế hoạch tổng kết 10 năm thực hiện Luật PCTN của Ban Chỉ đạo tổng kết 10 năm thực hiện Luật PCTN, Bộ Tài chính đã khẩn trương triển khai, thực hiện, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ tiến hành tổng kết, đánh giá kết quả PCTN trong từng lĩnh vực. Với vai trò là thành viên Ban Chỉ đạo tổng kết 10 năm thực hiện Luật PCTN, Bộ Tài chính đã tích cực triển khai, đôn đốc 05 đơn vị (được Ban Chỉ đạo phân công): Bộ Y tế; Uỷ ban nhân dân (UBND) các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình thực hiện công tác tổng kết đảm bảo theo yêu cầu.

(2). Công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (THTK, CLP):

Bộ Tài chính đã thực hiện tốt công tác tham mưu, giúp Chính phủ triển khai thực hiện các quy định của Luật THTK, CLP và các văn bản hướng dẫn; chủ động hướng dẫn kịp thời các Bộ ngành, địa phương, các Tập đoàn, Tổng Công ty trong việc thực hiện công tác THTK, CLP. Kết quả cụ thể như sau:

–  Công tác quản lý, sử dụng NSNN được Chính phủ điều hành linh hoạt, chặt chẽ, tiết kiệm, cơ bản đã bảo đảm chi NSNN đúng mục tiêu, đúng nội dung và chế độ, định mức quy định. Các cấp, các ngành đã chủ động rà soát, cắt giảm các khoản chi chưa thực sự cấp thiết.

– Cơ chế khoán chi đã trở thành động lực thúc đẩy tiết kiệm. Nhiều cơ quan đã tiết kiệm được kinh phí, tạo nguồn để bổ sung thu nhập cho cán bộ, công chức với mức chi trả bình quân khoảng từ 0,1 lần đến 0,5 lần mức lương cấp bậc, chức vụ (đối với cơ quan nhà nước) và từ 0,5 lần đến 1,5 lần tiền lương cấp bậc của đơn vị (đối với đơn vị sự nghiệp).  

– Việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước dần đi vào nề nếp; công tác mua sắm tài sản nhà nước được thực hiện theo đúng định mức, tiêu chuẩn, chế độ quy định.

– Công tác quản lý đầu tư xây dựng được tăng cường trong tất cả các khâu, ưu tiên xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản. Các Bộ, ngành, địa phương tiếp tục triển khai các Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản.

– Công tác cải cách hành chính được triển khai quyết liệt và đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, tạo điều kiện thuận lợi ở mức cao nhất, tiết kiệm được nhiều thời gian, chi phí tuân thủ của người dân và doanh nghiệp.

– Đối với các Tập đoàn, Tổng Công ty nhà nước xác định thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là một trong những biện pháp hữu hiệu để giảm chi phí, nâng cao hiệu quả, tăng sức cạnh tranh.

1.12.2. Phương hướng giải pháp nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát tài chính năm 2016

 (1). Tổ chức, triển khai kịp thời kế hoạch thanh tra, kiểm tra tài chính năm 2016 theo kế hoạch đã được Bộ phê duyệt, bố trí lực lượng, tổ chức triển khai có hiệu quả để hoàn thành kế hoạch thanh tra 2016, đồng thời bố trí lực lượng dự phòng trong trường hợp thanh tra, kiểm tra đột xuất theo chỉ đạo của Chính phủ, của Bộ. Thực hiện tốt cơ chế giám sát Đoàn thanh tra để đảm bảo phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các trường hợp gây phiền hà, sách nhiễu, tiêu cực trong quá trình thanh tra, kiểm tra.

(2). Tăng cường công tác chỉ đạo, phối hợp giữa Thanh tra Bộ với Thanh tra chuyên ngành và các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ trong việc triển khai các cuộc thanh tra theo chuyên đề, thanh tra diện rộng nhằm phát hiện, xử lý kịp thời các sai phạm và kiến nghị sửa đổi, bổ sung kịp thời các cơ chế, chính sách chưa phù hợp nhằm tăng cường công tác quản lý tài chính, đảm bảo kỷ cương, kỷ luật.

(3). Tăng cường công tác giám sát đối tượng, thông qua hệ thống phân tích rủi ro, phối hợp với qua các cơ quan quản lý nhà nước các lĩnh vực của Bộ để chủ động cung cấp các thông tin phục vụ cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo; kịp thời điều chỉnh, bổ sung kế hoạch thanh tra cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn nhằm năng cao chất lượng, hiệu quả các cuộc thanh tra, kiểm tra, cũng như phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra, giám sát tài chính năm sau được kịp thời và đúng đối tượng.

(4). Tổ chức thực hiện tốt các quy định pháp luật về hoạt động thanh tra, kiểm tra; hạn chế tình trạng kéo dài thời gian lưu hành kết luận thanh tra do những nguyên nhân chủ quan; Tăng cường theo dõi, đôn đốc thực hiện kiến nghị, quyết định xử lý sau thanh tra; làm rõ nguyên nhân việc thực hiện chậm hoặc thực hiện thiếu triệt để những kiến nghị, đề xuất biện pháp khắc phục.

(5). Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban cán sự Đảng Bộ Tài chính đối với các cấp ủy, tổ chức đảng và các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc Bộ Tài chính trong công tác PCTN; Triển khai thực hiện Kết hoạch tổng kết 10 năm của Ban Chỉ đạo tổng kết 10 năm thực hiện Luật PCTN theo Quyết định số 98/QĐ-BCĐTKLPCTN ngày 13/8/2015 của Trưởng Ban chỉ đạo và hướng dẫn của Thanh tra Chính phủ; Thực hiện đồng bộ, toàn diện các giải pháp triển khai Nghị quyết 19/NQ-CP của Chính phủ ngày 12/3/2015 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2015-2016, nhất là giải pháp để đưa các cải cách về thể chế, thủ tục hành chính thực sự đi vào cuộc sống.

(6). Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, quán triệt quy định pháp luật về THTK, CLP; Tổ chức triển khai thực hiện tốt Chương trình tổng thể của Chính phủ về THTK, CLP năm 2016; Thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ, hiệu quả, triệt để tiết kiệm chi ngân sách; Kiểm soát chặt chẽ, nâng cao hiệu quả sử dụng và bảo đảm nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài của quốc gia trong giới hạn an toàn theo quy định; Thực hiện công bố công khai đối với những cơ quan, tổ chức chưa thực hiện đúng trách nhiệm được giao theo quy định của Luật THTK, CLP, có hình thức kiểm điểm, kỷ luật đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức thiếu trách nhiệm trong việc triển khai, tổ chức thực hiện Luật THTK, CLP.

(7). Xây dựng đội ngũ cán bộ thanh tra, kiểm tra trong sạch, vững mạnh, có tâm, có tầm, có khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ trong giai đoạn mới, nhất là bản lĩnh chính trị phải vững vàng, trình độ nghiệp vụ và kỹ năng chuyên môn phải tốt; Tăng cường đào tạo bồi dưỡng và không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ thanh tra tài chính; kịp thời xây dựng và tổ chức bồi dưỡng, đào tạo, tập huấn nghiệp vụ trao đổi nghiệp vụ; tăng cường nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế.

(8). Cải tiến phương pháp tổng hợp báo cáo kết quả thanh tra và kết luận thanh tra để đảm bảo kịp thời theo quy định; góp phần tích cực trong việc cung cấp thông tin phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, của Bộ ban ngành và địa phương.   

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Các Báo cáo tổng kết công tác tài chính ngân sách 2015 tại Hội nghị ngành Tài chính.

2. Số liệu cập nhật từ các Tổng cục, Vụ, Cục thuộc Bộ Tài chính.


[1] Số còn lại (17.520 DN) ngừng hoạt động là do chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp, tổ chức, sắp xếp lại doanh nghiệp (chuyển đổi trực thuộc thành độc lập và ngược lại, chia tách, hợp nhất), trong tình trạng bị cưỡng chế thi hành pháp luật thuế (nợ thuế, vi phạm pháp luật thuế)…

[2] Kết quả thanh tra: Số doanh nghiệp được thanh tra là 8.705 DN, đạt 85% kế hoạch năm 2015 bằng 105,2% cùng kỳ năm 2014. Tổng số truy thu, truy hoàn, phạt là 5.215,2 tỷ đồng bằng 98,7% cùng kỳ năm 2014, giảm khấu trừ qua thanh tra là 591,9 tỷ đồng bằng 129,2% cùng kỳ năm 2014, số giảm lỗ qua thanh tra 10.365,9 tỷ đồng bằng 101% cùng kỳ năm 2014; số đã nộp ngân sách là 3.151,8 tỷ đồng bằng 82,6% cùng kỳ năm 2014.

 – Kết quả kiểm tra: Số doanh nghiệp được kiểm tra là 59.296  DN, đạt 83% kế hoạch năm 2015 bằng 99,2% cùng kỳ năm 2014. Tổng số truy thu, phạt và truy hoàn là 4.728,1 tỷ đồng bằng 100,7% cùng kỳ năm 2014, giảm khấu trừ qua kiểm tra là 519,7 tỷ đồng bằng 106,1% so với cùng kỳ năm 2014, giảm lỗ qua kiểm tra là 8.952,7 tỷ đồng bằng 99% cùng kỳ năm 2014; đã nộp ngân sách 3.526,97 tỷ đồng bằng 105,5% cùng kỳ năm 2014.

– Kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế: Kiểm tra được 1.227.180 hồ sơ bằng 72,73% cùng kỳ năm 2014; xử lý điều chỉnh thu vào ngân sách 303,5 tỷ đồng bằng 51,8% cùng kỳ năm 2014, số giảm khấu trừ là 55,9 tỷ đồng bằng 58,8% cùng kỳ năm 2014, giảm lỗ là 274,6 tỷ đồng bằng 64,1% cùng kỳ năm 2014. Qua kiểm tra rà soát các hồ sơ khai thuế tại cơ quan thuế đã phát hiện những sai sót, ẩn lậu của người nộp thuế để điều chỉnh tăng số thuế kê khai hoặc ấn định thuế.

[3] Số liệu ước tính đến ngày 20/12/2015

[4] Báo cáo của Tổng cục Dự trữ Nhà nước

[5] Chi tiết chênh lệch giảm 1.730.985 triệu đồng: Lĩnh vực Chứng khoán: giảm 32.707 triệu đồng; Lĩnh vực Ngân hàng – Tài chính: giảm 1.450.704 triệu đồng; Lĩnh vực Bất động sản: giảm 33.768 triệu đồng; Các Quỹ đầu tư: giảm 213.805 triệu đồng.

[6] Theo báo cáo tình hình thị trường và công tác phục vụ Tết Ất Mùi tháng 2/2015 của Bộ Công Thương, trong dịp Tết Nguyên đán Ất Mùi có khoảng 30 địa phương  đã đẩy mạnh xã hội hoá chương trình bình ổn thị trường không nhận vốn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước.

[7] Công văn số 3315/BTC-QLG ngày 16/3/2015, CV số 132/QLG-CNTD ngày 7/5/2015, CV số 11198/QLG-CNTD ngày 14/8/2015 …

[8] Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nội, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang.

[9] Đoàn kiểm tra khu vực miền Bắc: tại các tỉnh Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hòa Bình, Hải Dương và Quảng Ninh. Đoàn kiểm tra khu vực miền Trung: tại các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Lâm Đồng. Đòan kiểm tra khu vực miền Nam: tại các tỉnh Đồng Nai, Bến Tre, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Thuận, Long An.

[10] Báo cáo về Triển vọng kinh tế thế giới ngày 9/11/2015

[11] Báo cáo triển vọng kinh tế thế giới của IMF tháng 10/2015

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *