CHỨNG QUYỀN CÓ BẢO ĐẢM

CHỨNG QUYỀN CÓ BẢO ĐẢM

Chuyên đề 27: CHỨNG QUYỀN CÓ BẢO ĐẢM

 ThS. Trần Thị Hồng Hà, Vụ Phát triển thị trường – Ủy ban chứng khoán Nhà nước

27.1.  Khái quát chung về chứng quyền có bảo đảm

27.1.1. Khái niệm và đặc điểm của chứng quyền có bảo đảm

Chứng quyền có bảo đảm là một sản phẩm phổ biến tại nhiều thị trường chứng khoán trên thế giới với các tên gọi khác nhau như:  Derivatives Warrant (HongKong, Thái Lan), Covered Warrant (Anh, Đức, Thụy Sỹ, Úc), Call/Put Warrant (Đài Loan, Malayxia), Structured Warrant (Singapore), Equity-Linked Warrant (Hàn Quốc)… và tùy theo từng nước, chứng quyền có bảo đảm được xếp vào nhóm chứng khoán cơ sở hay nhóm chứng khoán phái sinh. Dù tên gọi không giống nhau nhưng tựu chung lại từ khi xuất hiện (khoảng những năm 1990 tại Đức và Hồng Kông) đến nay, thị trường chứng quyền có bảo đảm thế giới đã phát triển rất nhanh, được đánh giá là một trong những thị trường phái sinh năng động nhất dành cho các nhà đầu tư cá nhân.

Chứng quyền có bảo đảm là công cụ tài chính được phát hành bởi một tổ chức tài chính/công ty chứng khoán cho phép người nắm giữ có quyền (nhưng không phải nghĩa vụ) mua hoặc bán tài sản cơ sở với giá được định trước (gọi là giá thực hiện) tại hoặc trước ngày đáo hạn. Có nhiều nhà đầu tư đặt câu hỏi về tên gọi “Chứng quyền có bảo đảm- Covered Warrant” mang ý nghĩa như thế nào? Thuật ngữ “Covered” phản ánh một thực tế là khi công ty chứng khoán/tổ chức tài chính phát hành chứng quyền có bảo đảm, họ phải thực hiện một số biện pháp nhằm đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ đối với người sở hữu chứng quyền. Theo đó, họ sẽ phải thực hiện phòng hộ rủi ro (Cover hoặc Hedge) bằng cách mua/bán chứng khoán cơ sở hoặc giao dịch các chứng khoán tương đương khác (hợp đồng tương lai, quyền chọn…) và đây cũng là nghiệp vụ bắt buộc đối với tổ chức phát hành chứng quyền có bảo đảm tại bất cứ thị trường nào trên thế giới. Tính chất “có bảo đảm – Covered” còn được thể hiện ở nhiều mức độ mang tính chắc chắn cao hơn, đặc biệt đối với các thị trường đang phát triển, có điểm xếp hạng tín nhiệm thấp và các thành viên thị trường còn thiếu kinh nghiệm trong công tác quản trị rủi ro. Ngoài yêu cầu phòng hộ rủi ro, tổ chức phát hành tại các thị trường này còn phải nộp thêm một khoản ký quỹ (bằng tiền hoặc chứng khoán cơ sở) tại ngân hàng lưu ký khi phát hành chứng quyền có bảo đảm.

Nhà đầu tư có thể sử dụng chứng quyền có bảo đảm để đưa ra nhiều chiến lược đầu tư cho mình, cũng như tiến hành các phương án phòng hộ rủi ro mà thông thường sẽ không thực hiện được nếu chỉ bằng chứng khoán cơ sở. Nhà đầu tư nắm giữ chứng quyền có quyền thực hiện hoặc không thực hiện quyền khi chứng quyền đáo hạn. Trường hợp nhà đầu tư không thực hiện, khoản lỗ tối đa đối với nhà đầu tư chính là khoản phí để sở hữu chứng quyền đó. Tổ chức phát hành có nghĩa vụ chuyển giao hoặc mua chứng khoán cơ sở hoặc thanh toán tiền mặt (khoản chênh lệch) khi nhà đầu tư sở hữu chứng quyền có yêu cầu.

 Một số đặc điểm của chứng quyền có bảo đảm:

Tài sản cơ sở (Underlying assets): Chứng quyền có bảo đảm có thể được phát hành dựa trên nhiều loại tài sản cơ sở khác nhau như cổ phiếu đơn lẻ, rổ cổ phiếu, chỉ số chứng khoán hay một loại hàng hóa khác

Giá chứng quyền (Premium): Là số tiền mà nhà đầu tư phải trả cho tổ chức phát hành chứng quyền (người bán chứng quyền) để sở hữu chứng quyền. Khi niêm yết và giao dịch trên Sở Giao dịch Chứng khoán, giá chứng quyền chính là giá giao dịch trên thị trường và thông thường giá chứng quyền khá nhỏ so với giá trị thực của chứng khoán cơ sở.

 – Ngày đáo hạn (Expiry date): Mỗi chứng quyền có bảo đảm chỉ có giá trị trong một khoảng thời gian nhất định, xác định bởi ngày đáo hạn (thường được nêu rõ khi phát hành chứng quyền). Sau ngày đáo hạn, quyền (mua hoặc bán tài sản cơ sở của người sở hữu chứng quyền có bảo đảm) sẽ không còn giá trị nữa, cho dù quyền đó chưa được thực hiện.

Giá thực hiện (Exercise price): Đây là mức giá cố định mà nhà đầu tư chứng quyền có bảo đảm được quyền mua (nếu là chứng quyền mua) hoặc bán (nếu là chứng quyền bán) tài sản cơ sở trước hay vào ngày đáo hạn của chứng quyền. Ví dụ, chứng quyền mua cổ phiếu XYZ do công ty chứng khoán A phát hành với giá thực hiện 50.000 đồng/cổ phiếu. Giả sử, người nắm giữ chứng quyền này quyết định thực hiện quyền vào ngày đáo hạn. Nhà đầu tư đó sẽ có quyền được mua cổ phiếu XYZ từ công ty A với giá 50.000 đồng/cổ phiếu, bất kể giá thị trường của cổ phiếu khi đó là bao nhiêu.

Chứng quyền có bảo đảm đối với một tài sản cơ sở (chẳng hạn như cổ phiếu XYZ) thường được phát hành không phải với một mức giá thực hiện duy nhất mà với nhiều mức giá thực hiện khác nhau, xoay quanh mức giá thị trường hiện hành của tài sản đó. Điều này cho phép nhà đầu tư với những kỳ vọng khác nhau về phương hướng biến động giá có thể lựa chọn chứng quyền phù hợp để đạt được mục tiêu của mình.

Tỷ lệ thực hiện quyền (Convertion ratio): Tỷ lệ thực hiện quyền cho biết số lượng chứng quyền có bảo đảm mà nhà đầu tư cần nắm giữ để thực hiện quyền mua hay quyền bán một đơn vị tài sản cơ sở. Ví dụ, tỷ lệ thực hiện quyền của chứng quyền mua cổ phiếu XYZ là 10:1 – điều này có nghĩa là nhà đầu tư cần thực hiện 10 chứng quyền có bảo đảm để được mua 1 cổ phiếu XYZ. Tỷ lệ này thường sẽ được quy định rõ khi phát hành chứng quyền có bảo đảm. 

Phương thức thanh toán thực hiện chứng quyền: khi nhà đầu tư nắm giữ chứng quyền có bảo đảm quyết định thực hiện quyền, việc thanh toán giữa hai bên (nhà đầu tư và tổ chức phát hành) có thể diễn ra dưới hình thức chuyển giao vật chất hoặc thanh toán tiền.

27.1.2.  Phân loại chứng quyền có bảo đảm

Chứng quyền có bảo đảm có thể  được phân loại dựa trên các tiêu thức khác nhau:

a) Dựa vào nội dung thực hiện quyền: chứng quyền có bảo đảm được chia thành 2 loại gồm chứng quyền mua (call warrant) và chứng quyền bán (put warrant).

Chứng quyền mua cho phép người nắm giữ có quyền, không phải nghĩa vụ, được mua chứng khoán cơ sở với một khối lượng xác định từ tổ chức phát hành tại một mức giá xác định vào hoặc trước một thời điểm được xác định hoặc nhận được một khoản tiền chênh lệch dựa trên sự biến động giá của chứng khoán cơ sở. Giá chứng quyền mua thường tăng khi giá tài sản cơ sở tăng.

Chứng quyền bán cho phép người nắm giữ có quyền, không phải nghĩa vụ, được bán chứng khoán cơ sở với một khối lượng xác định cho tổ chức phát hành tại một mức giá định trước vào hoặc trước thời điểm được xác định hoặc nhận được một khoản tiền chênh lệch dựa trên sự biến động giá của chứng khoán cơ sở. Giá chứng quyền bán thường tăng khi giá tài sản cơ sở giảm.

b) Dựa vào thời điểm thực hiện: chứng quyền kiểu Mỹ và chứng quyền kiểu châu Âu

Chứng quyền kiểu Mỹ là chứng quyền cho phép người nắm giữ được thực hiện quyền vào bất kỳ thời điểm nào trước khi chứng quyền đáo hạn.

Chứng quyền kiểu châu Âu là chứng quyền cho phép người nắm giữ chỉ được thực hiện quyền vào ngày chứng quyền đáo hạn

c) Dựa vào tài sản cơ sở: chứng quyền dựa trên cổ phiếu, rổ cổ phiếu, chỉ số, hàng hóa và tiền tệ.

Chứng quyền dựa trên cổ phiếu: Đây là loại chứng quyền phổ biến nhất, cổ phiếu dùng làm tài sản cơ sở cho chứng quyền thường là cổ phiếu của những công ty có mức vốn hóa lớn và có tính thanh khoản cao. Đây là loại chứng quyền cho phép người mua có quyền mua cổ phiếu, số lượng chứng quyền cần để mua một cổ phiếu hoặc thanh toán bằng tiền có thể theo tỷ lệ chuyển đổi là 1, 5, 10… Mục đích của hệ số này là để giảm giá của chứng quyền so với giá của tài sản cơ sở để tăng tính thanh khoản trên thị trường.

Chứng quyền dựa trên rổ cổ phiếu:  Rổ cổ phiếu được chọn là tài sản cơ sở cho chứng quyền chủ yếu phân theo ngành nghề, nhà đầu tư có thể đầu tư vào các cổ phiếu thuộc ngành nghề nhất định một cách đơn giản và hiệu quả thông qua việc mua chứng quyền loại này.

Chứng quyền dựa trên chỉ số: chứng quyền dựa trên chỉ số chứng khoán là loại chứng quyền được giao dịch sôi động tại hầu hết các thị trường chứng quyền trên thế giới. Các chỉ số cơ sở phổ biến trên thị trường quốc tế như FTSE 100 Index, Dow Jones Industrial Average, Nasdaq 100, Nikkei 225, Hang Seng Index…

Chứng quyền dựa trên trái phiếu: đây là lựa chọn cho các nhà đầu tư cá nhân không am hiểu nhiều về đầu tư trái phiếu hay cách tính toán lợi nhuận thu được khi đầu tư trái phiếu, họ có thể mua chứng quyền mua hoặc bán dựa trên tài sản cơ sở là trái phiếu

Chứng quyền dựa trên hàng hóa: Ở các thị trường Châu Âu, chứng quyền dựa trên hàng hóa là dầu thô rất phổ biến, ngoài ra còn có các hàng hóa khác như đậu nành, vàng, bạc…Loại này  không thay thế các loại hợp đồng tương lai hàng hóa thông thường mà chủ yếu phục vụ nhu cầu giao dịch của các nhà đầu tư cá nhân muốn đầu tư vào các loại hàng hóa có giá cả biến động liên tục như dầu, vàng.

Chứng quyền dựa trên tiền tệ: loại này cho phép nhà đầu tư phòng ngừa rủi ro giá lên, xuống của mỗi loại tiền tệ.

d) Ngoài ra còn có chứng quyền ngoại lai (exotic): Chứng quyền là công cụ đầu tư linh hoạt, không phải tuân thủ theo các điều kiện chuẩn hóa giống như quyền chọn mà có thể phát hành dựa trên các loại tài sản cơ sở đa dạng, giá thực hiện và các điều khoản khác linh hoạt hơn. chứng quyền ngoại lai là chứng quyền có những điều khoản phức tạp hơn và thường phù hợp với những nhà đầu tư chuyên nghiệp như:

Barrier warrants: đưa ra điều khoản quy định về một mức giá cụ thể, mà khi mức giá này chạm tới thì chứng quyền đó lập tức bị đáo hạn

Corridor warrants: chứng quyền với khoảng dao động giá cố định đối với tài sản cơ sở, khi tài sản cơ sở ở trong khoảng giới hạn giá xác định trước càng lâu thì chứng quyền đó có giá càng cao

27.1.3. Phân biệt chứng quyền có bảo đảm với các sản phẩm tương đồng

a) Phân biệt với chứng quyền truyền thống

So với chứng quyền truyền thống (Equity Warrant/Company Warrant), chứng quyền có bảo đảm có một vài khác biệt. Điểm khác biệt chính giữa chứng quyền truyền thống và chứng quyền có bảo đảm là chủ thể phát hành. Chứng quyền truyền thống thực chất là một quyền chọn mua cổ phiếu của một doanh nghiệp do chính doanh nghiệp đó phát hành, mục đích chính của chứng quyền truyền thống là nhằm huy động vốn cho doanh nghiệp. Trong khi đó chứng quyền có bảo đảm được phát hành bởi bên thứ ba độc lập với tổ chức phát hành tài sản cơ sở với mục đích cung cấp công cụ đầu tư và quản trị rủi ro cho nhà đầu tư, việc thực hiện chứng quyền không làm tăng số cổ phiếu đang lưu hành của tổ chức phát hành tài sản cơ sở. Nếu chứng quyền truyền thống chỉ mang đến cho người nắm giữ quyền được mua thì chứng quyền có bảo đảm cho phép thực hiện cả quyền mua và quyền bán. Tài sản cơ sở của chứng quyền truyền thống là cổ phiếu trong khi chứng quyền có bảo đảm có thể được phát hành dựa trên nhiều tài sản cơ sở khác nhau như: cổ phiếu đơn lẻ, rổ cổ phiếu, chỉ số, chứng chỉ quỹ ETF…  Chứng quyền có bảo đảm có thể có nhiều mức giá thực hiện dựa trên những điều kiện cụ thể trong từng đợt phát hành, đối với chứng quyền truyền thống chỉ có một mức giá thực hiện. Hình thức thanh toán của chứng quyền có bảo đảm đa dạng hơn so với chứng quyền truyền thống, hoặc bằng tiền hoặc bằng chứng khoán hoặc kết hợp cả hai hình thức. Với hình thức thanh toán bằng cổ phiếu, nhà phát hành chứng quyền phải bán cổ phiếu mà họ đang có cho người nắm giữ chứng quyền khi giá cam kết thấp hơn thị giá của tài sản cơ sở (đối với việc thực hiện chứng quyền mua) hoặc phải mua cổ phiếu từ người nắm giữ chứng quyền khi giá cam kết cao hơn thị giá của tài sản cơ sở (đối với việc thực hiện chứng quyền bán). Với hình thức thanh toán bằng tiền, nhà phát hành chứng quyền thanh toán khoản chênh lệch bằng tiền cho người nắm giữ chứng quyền khi giá cam kết thấp hơn thị giá của tài sản cơ sở (đối với việc thực hiện chứng quyền mua) hoặc khi giá cam kết cao hơn thị giá của tài sản cơ sở (đối với việc thực hiện chứng quyền bán). Đối với chứng quyền truyền thống chỉ có hình thức thanh toán bằng chứng khoán cơ sở. Do đó, tính thanh khoản của chứng quyền có bảo đảm tốt hơn so với chứng quyền truyền thống.

Bảng 27.1. Phân biệt Chứng quyền có bảo đảm với Chứng quyền truyền thống

Chứng quyền truyền thống

(Company Warrant)

Chứng quyền có bảo đảm

(Covered Warrant)

Tổ chức phát hành (TCPH) Công ty niêm yết (CTNY) Bên thứ ba độc lập: CTCK, Ngân hàng đầu tư…
Mục đích phát hành Huy động vốn cho công ty niêm yết – Cung cấp công cụ đầu tư và quản trị rủi ro cho nhà đầu tư

– Thu nhập từ phí bán CW

Tài sản cơ sở (TSCS) Cổ phiếu đơn lẻ Đa dạng:  Cổ phiếu đơn lẻ, rổ cổ phiếu, chỉ số, chứng chỉ quỹ ETF…
Nội dung quyền Quyền mua cổ phiếu mới phát hành của CTNY Quyền mua hoặc quyền bán TSCS
Giá giao dịch Giá phụ thuộc vào cung cầu

Giá cạnh tranh giữa các nhà tạo lập thị trường

Giá phụ thuộc vào mô hình định giá

Giá cạnh tranh giữa các nhà phát hành

Kết quả sau khi thực hiện chứng quyền Tổng số cổ phiếu đang lưu hành sẽ tăng lên. Tổng số cổ phiếu đang lưu hành sẽ không thay đổi.
Loại hình quyền NĐT chỉ được mua NĐT được phép thực hiện cả quyền mua và quyền bán
Hình thức thanh toán Bằng chứng khoán cơ sở (cổ phiếu) Bằng chứng khoán cơ sở hoặc bằng tiền (khoản chênh lệch)

 b) Phân biệt với Hợp đồng quyền chọn

Khái niệm chứng quyền có bảo đảm thường hay bị nhầm lẫn với Hợp đồng quyền chọn do đặc tính sử dụng và công dụng của nó gần giống với công cụ phái sinh này. Người nắm giữ chứng quyền có bảo đảm cũng có quyền nhưng không có nghĩa vụ phải thực hiện việc mua hoặc bán tài sản cơ sở và để có được quyền này người mua cũng phải trả phí cho người bán (premium) – đây được coi là giá của chứng quyền. Phương thức thanh toán của chứng quyền có bảo đảm cũng giống với quyền chọn, bao gồm phương thức thanh toán giao hàng vật chất (physical delivery) và bằng tiền mặt (cash settlement). Do đó khi mua chứng quyền có bảo đảm, nhà đầu tư cũng đã tham gia đầu tư vào một công cụ phái sinh – công cụ tài chính mà giá trị của nó được tính dựa trên giá của tài sản cơ sở với mục đích đầu tư và phòng ngừa rủi ro. Tuy nhiên, chứng quyền có bảo đảm có những đặc trưng riêng so với quyền chọn và chính bởi những nét khác biệt đó mà ở một số nước, chứng quyền có bảo đảm còn phổ biến hơn cả quyền chọn. Cụ thể:

Một là,  tổ chức phát hành chứng quyền có bảo đảm là một tổ chức hoàn toàn độc lập với tổ chức phát hành tài sản cơ sở. Tổ chức phát hành chứng quyền có bảo đảm thường là công ty chứng khoán hoặc là các tổ chức tài chính.  Do đó, các điều khoản của chứng quyền có bảo đảm hoàn toàn do tổ chức phát hành quyết định. Trong khi đó, quyền chọn được Sở Giao dịch chứng khoán thiết kế và chuẩn hóa vê cấu trúc, quy mô, điều kiện thực hiện quyền.

Hai là, chứng quyền có bảo đảm được giao dịch trên sàn giao dịch cổ phiếu với cơ chế giao dịch tương tự như  giao dịch cổ phiếu về thời gian, phương thức giao dịch, thanh toán bù trừ, v.v. Nhà đầu tư không cần phải mở tài khoản giao dịch khác để mua bán chứng quyền có bảo đảm và cũng không phải ký quỹ trước khi giao dịch. Quyền chọn được giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán phái sinh. Nhà đầu tư muốn giao dịch quyền chọn phải mở tài khoản tại công ty chứng khoán thành viên của Sở giao dịch chứng khoán phái sinh, yêu cầu bên bán ký quỹ trước khi giao dịch và bổ sung ký quỹ khi cần thiết. 

 Ba là, rủi ro thanh toán chứng quyền có bảo đảm thuộc về tổ chức phát hành, khi mà đến thời gian đáo hạn, tổ chức phát hành không thể thực hiện nghĩa vụ của họ gắn với chứng quyền. Còn đối với quyền chọn, quyền và nghĩa vụ đối với hợp đồng này được đảm bảo bởi một đối tác thanh toán bù trừ trung tâm (Central Counterparty- CPP) đóng vai trò là trung tâm bù trừ. Điều này có nghĩa là, mặc dù hợp đồng được thực hiện giữa hai bên, nhưng trung tâm bù trừ là bên đứng ra đảm bảo việc thực hiện hợp đồng của họ, do đó giảm rủi ro liên quan đến một bên bị mất khả năng thanh toán hay còn gọi là rủi ro đối tác.

Bốn là, sau khi được phát hành, số lượng chứng quyền có bảo đảm lưu hành được xác định và do đó là cố định. Vì thế nhà đầu tư không thể bán chứng quyền có bảo đảm khi chưa thực sự nắm giữ. Ngoài ra, vì chứng quyền có bảo đảm được phát hành bởi công ty chứng khoán hoặc một tổ chức tài chính khác mà không phải là tổ chức phát hành tài sản cơ sở, hay nhà phát hành chứng quyền có bảo đảm chỉ là bên thứ ba có nghĩa vụ thanh toán khi thực hiện chứng quyền có bảo đảm. Để cố định khoản lợi nhuận hoặc để giảm rủi ro, tổ chức phát hành chứng quyền có bảo đảm, đôi khi cũng thực hiện vai trò là tổ chức tạo lập thị trường mua chứng quyền để làm giảm số lượng chứng quyền  đang lưu hành. Ngược lại, số lượng quyền chọn giao dịch trên Sở giao dịch lại không được xác định trước, mà phụ thuộc vào cung cầu, và do đó không có giới hạn. Nhà đầu tư có thể mua bán quyền chọn mà không cần trước đó phải nắm giữ trong tay. Các tổ chức tạo lập thị trường không thể tác động trực tiếp đến số lượng quyền chọn đang lưu hành.

Bảng 27.2. Phân biệt Chứng quyền có bảo đảm với Hợp đồng Quyền chọn

Tiêu chí Chứng quyền có bảo đảm Hợp đồng Quyền chọn
Tổ chức phát hành Tổ chức tài chính hay công ty chứng khoán SGDCK thiết kế và chuẩn hóa
Sàn giao dịch Sàn giao dịch cổ phiếu Sàn giao dịch CKPS
Bảo đảm thanh toán Tổ chức phát hành Trung tâm bù trừ (CCP)
Vị thế Mua  rồi Bán Mua, Bán
Yêu cầu về Margin Không Cần đối với người bán HĐQC

 Như vậy có thể thấy, chứng quyền có bảo đảm có tính chất là một công cụ phái sinh nhưng không đòi hỏi những kỹ thuật giao dịch và thanh toán quá phức tạp. Đây được coi là công cụ quan trọng giúp nhà đầu tư gia tăng hiệu quả đầu tư cũng như phòng vệ rủi ro trên thị trường chứng khoán.

27.1.4. Lợi ích và hạn chế của chứng quyền có bảo đảm

a) Lợi ích

Tác động đòn bẩy

Với chi phí ban đầu mua chứng quyền chỉ bằng một phần nhỏ so với đầu tư vào tài sản cơ sở, nhà đầu tư đã có thể sở hữu chứng quyền mà vẫn có thể thu được lợi nhuận như kỳ vọng nếu đầu tư vào tài sản cơ sở. Hơn thế, chứng quyền còn có tác động đòn bẩy, nghĩa là chỉ một thay đổi nhỏ về giá của tài sản cơ sở có thể dẫn đến sự thay đổi lớn hơn về giá của chứng quyền, và vì thế mức thu nhập đạt được sẽ lớn hơn. Ngược lại, một sự sụt giảm về giá của tài sản cơ sở có thể dẫn đến sự sụt giảm lớn hơn về giá của chứng quyền tuy nhiên mức thiệt hại tối đa của chứng quyền chỉ giới hạn ở mức phí mua chứng quyền ban đầu. Tác động đòn bầy là chính là điểm hấp dẫn nhất của chứng quyền.

Ví dụ, giá trị thị trường ngày 1/1 của cổ phiếu A là 20.000 đồng và giá chứng quyền mua (trên tài sản cơ sở là cổ phiếu A) là 2.000 đồng. Đến ngày 31/01, giá cổ phiếu A là 23.000 đồng và giá chứng quyền là 3.100 đồng. Có thể thấy rằng đầu tư vào chứng quyền có tỷ suất sinh lời 55% trong khi đầu tư vào giá cổ phiếu A chỉ là 15%. Như vậy, vào ngày 1/1, thay vì đầu tư nguồn vốn 20 triệu đồng để có thể sở hữu 1000 cổ phiếu A, nhà đầu tư chỉ phải bỏ ra 2 triệu đồng để có thể mua 1000 chứng quyền mua cổ phiếu A (giả sử tỷ lệ chuyển đổi là 1:1) thì đến 31/1 sẽ đạt được mức lợi nhuận được khuếch đại lớn hơn so với đầu tư trực tiếp vào cổ phiếu A.

Do đó, tùy theo nhận định về tình hình TTCK trong tương lai, nhà đầu tư có thể tận dụng tính chất đòn bẩy của chứng quyền phục vụ cho chiến lược đầu tư của mình, tối đa hóa lợi nhuận.

Lợi nhuận không hạn chế, khoản lỗ tối đa cố định.

Đầu tư vào chứng quyền có thể mang lại lợi nhuận không hạn chế trong khi khoản lỗ tối đa được cố định, đó chính là khoản chi phí để mua chứng quyền. Cho dù TTCK có diễn biến không như dự đoán trước đó, nhà đầu tư sẽ không cần phải quan tâm là khoản lỗ của mình có thể vượt quá chi phí ban đầu hay không. Đặc điểm này khác với hợp đồng quyền chọn, khoản lỗ tối đa mà nhà đầu tư có thể phải chịu sẽ không chỉ dừng lại ở khoản tiền bỏ ra ban đầu mà còn có thể phải trả thêm tiền cho bên đối ứng.

Ở ví dụ trên, trong trường hợp giá cổ phiếu A giảm trong tương lai, nhà đầu tư có thể bán lại chứng quyền để bù đắp phần nào khoản chi phí ban đầu hoặc nắm giữ chứng quyền đến khi đáo hạn và chịu khoản lỗ là 2 triệu đồng, đây là khoản lỗ tối đa mà nhà đầu tư đã biết trước đó. Nếu so sánh phần rủi ro này với rủi ro khi đầu tư trực tiếp vào cổ phiếu thì có thể thấy đây là phần rủi ro có thể chấp nhận được của nhà đầu tư.

  So với bán khống, mua chứng quyền bán là một chiến lược hiệu quả hơn đối với việc tìm kiếm lợi nhuận khi giá chứng khoán đi xuống. Mức rủi ro tối đa là phí mua chứng quyền, trong khi nếu thực hiện bán khống thì mức rủi ro là không giới hạn. Mặt khác, việc thực hiện một giao dịch chứng quyền bán sẽ dễ dàng hơn bán khống. Số tiền phải trả cho chứng quyền bán thấp hơn nhiều so với khoản ký quỹ bán khống. Để thực hiện mua chứng quyền bán, nhà đầu tư chỉ cần thanh toán phí mua chứng quyền một lần, trong khi với hoạt động bán khống chứng khoán, nhà đầu tư phải luôn đảm bảo vị thế của mình bằng cách bổ sung và duy trì mức ký quỹ theo quy định sau mỗi ngày giao dịch.

Giao dịch và thanh toán dễ dàng

Chứng quyền tuy có đặc điểm như một sản phẩm phái sinh nhưng được giao dịch như một loại cổ phiếu trên sàn giao dịch cổ phiếu. Nhà đầu tư không cần phải mở tài khoản giao dịch khác để mua/bán chứng quyền. Ngoài ra, các quy định về thời gian, phương thức giao dịch, thanh toán,… đều tương tự như cổ phiếu nên nhà đầu tư có thể tìm hiểu sản phẩm và tham gia giao dịch một cách dễ dàng và nhanh chóng. Yếu tố này còn tạo sự thuận tiện cho nhà quản lý thị trường và thành viên giao dịch. Các nhà quản lý thị trường và thành viên giao dịch có thể tận dụng, kế thừa hệ thống giao dịch cổ phiếu để phục vụ cho giao dịch chứng quyền. Hệ thống giao dịch hai loại chứng khoán này có thể coi như đồng bộ với nhau. Như vậy sẽ tiết kiệm chi phí về tài chính, con người và thời gian để vận hành hệ thống giao dịch chứng quyền khi triển khai sản phẩm này. 

Trong khi đó, khác với chứng quyền, để giao dịch HĐQC đòi hỏi SGDCK, TTLKCK và các công ty chứng khoán phải đầu tư xây dựng, thiết lập một hệ thống giao dịch, thanh toán hoàn toàn mới và phức tạp hơn so với hệ thống giao dịch cổ phiếu. Do đó chi phí cho việc triển khai giao dịch HĐQC sẽ tốn kém hơn. Thêm vào đó, nhà đầu tư  cần có thời gian để làm quen với cách thức giao dịch mới và yêu cầu một trình độ hiểu biết nhất định về sản phẩm này để thực hiện giao dịch.

Thanh khoản cao

Với ưu điểm giao dịch, thanh toán dễ dàng và kích cỡ giao dịch nhỏ, chứng quyền có khả năng thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư, nhất là nhà đầu tư nhỏ lẻ có khả năng gánh chịu rủi ro thấp hoặc những nhà đầu cơ theo xu hướng lên/ xuống của thị trường (không muốn đầu tư, nắm giữ cổ phiếu lâu dài) hoặc nhà đầu tư sử dụng chứng quyền như một công cụ phòng vệ khoản đầu tư.

Hơn nữa, SGDCK các nước có quy định bắt buộc về việc tạo lập thanh khoản trong niêm yết và giao dịch chứng quyền và đó là cơ sở ban đầu để nhà đầu tư an tâm về tính thanh khoản khi tham gia giao dịch chứng quyền.

Phí giao dịch thấp

Khi giao dịch chứng quyền, giá trị giao dịch là mức phí chứng quyền, thông thường có tỷ lệ nhỏ hơn nhiều lần so với mức giá của cổ phiếu cơ sở. Tại ví dụ trên, nhà đầu tư phải trả khoản phí giao dịch mua/ bán cho 1.000 cổ phiếu ABC dựa trên giá trị giao dịch là 20 triệu đồng, trong khi nếu mua/ bán 1.000 chứng quyền mua cổ phiếu ABC, có tỷ lệ thực hiện quyền 1:1, thì nhà đầu tư chỉ trả khoản phí giao dịch đối với khoản đầu tư trị giá 2 triệu đồng. Như vậy, với cùng một khối lượng nắm giữ, nhà đầu tư giao dịch chứng quyền trả phí giao dịch thấp hơn so với khi giao dịch cổ phiếu

b) Hạn chế

Rủi ro đòn bẩy

Tác động đòn bẩy có tính hai mặt. Ngoài việc khuếch đại lợi nhuận, một chứng quyền cũng có thể khuếch đại mức độ tổn thất khi giá của tài sản cơ sở biến động bất lợi cho vị thế của chứng quyền. Nguyên nhân là do giá trị của chứng quyền sẽ biến động nhanh hơn nhiều so với biến động giá trị của tài sản cơ sở. Sản phẩm này được các nhà đầu tư ngắn hạn sử dụng để kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư đòn bẩy ngắn hạn nhưng cũng là sản phẩm có mức độ rủi ro cao khi so sánh với việc đầu tư trực tiếp vào tài sản cơ sở.

Nhắc lại ví dụ ở trên, trong trường hợp cổ phiếu A tăng giá, nhà đầu tư mua chứng quyền mua sẽ có mức lợi nhuận cao hơn nhiều lần so với việc họ mua trực tiếp cổ phiếu ABC. Ngược lại, khi cổ phiếu A giảm giá 20%, nhà đầu tư nắm giữ chứng quyền mua sẽ mất hết giá trị đầu tư ban đầu, tức là họ thua lỗ 100% vốn đã bỏ ra để đầu tư. Mức thua lỗ này cũng cao hơn nhiều lần nếu so với việc họ mua trực tiếp cổ phiếu A, lúc này tổng lỗ chỉ ở mức 20%.

Vòng đời giới hạn – Giá trị thời gian

Thời gian tồn tại của chứng quyền do tổ chức phát hành quy định trước và công bố thông tin theo mỗi đợt phát hành. Thông thường thời gian tồn tại của chứng quyền là ngắn hạn từ 3 tháng đến 24 tháng (tối đa là 5 năm nhưng thời hạn này hiếm khi được phát hành). Sau thời hạn này, chứng quyền sẽ không được giao dịch hay thực hiện quyền nữa. Vì vậy, khác với đầu tư cổ phiếu trực tiếp, nhà đầu tư không thể nắm giữ chứng quyền dài hơn thời hạn quy định với kỳ vọng giá của tài sản cơ sở phục hồi.

Mặt khác, thời hạn của chứng quyền được xem là giá trị thời gian của chứng quyền đó. Càng đến gần thời gian hết hạn, giá trị thời gian càng giảm dần và giá trị thời gian sẽ bằng không (0) khi chứng quyền đến hạn. Như vậy, trừ khi giá trị của chứng quyền đạt mức lời (tức là thị giá tài sản cơ sở cao hơn giá thực hiện đối với chứng quyền mua, hoặc dưới giá thực hiện đối với chứng quyền bán) khi đến hạn, ngược lại giá trị của chứng quyền sẽ không còn vào thời điểm đến hạn. Ngay cả khi giá của tài sản cơ sở đứng yên, không biến động, những chứng quyền dựa trên tài sản cơ sở đó sẽ bị giảm giá theo thời gian, dù cho tài sản cơ sở có kỳ vọng tích cực trong tương lai.

Rủi ro từ biến động giá

Biến động giá là một trong những hạn chế của chứng quyền làm tăng thêm mức độ rủi ro cho nhà đầu tư. Theo mô hình Black- Scholes, có 5 yếu tố làm ảnh hưởng đến giá của chứng quyền: Giá của tài sản cơ sở, Giá thực hiện, Độ biến động, Thời gian còn lại trước khi đến hạn và Tỷ lệ thực hiện quyền.

Giống như tài sản cơ sở, giá chứng quyền bị tác động từ các yếu tố quan trọng của thị trường như lãi suất, tỷ giá hối đoái, cổ tức, cung – cầu, biến động thị trường… Ngoài ra, biến động giá của chứng quyền còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác xuất phát từ bản chất riêng của sản phẩm như sự thay đổi thị giá của tài sản cơ sở có liên quan và giá trị thời gian còn lại của chứng quyền.

Không có quyền cổ đông

Chứng quyền là một quyền về tài sản tài chính hình thành trong tương lai nên người nắm giữ chứng quyền không có quyền cổ đông như người nắm giữ tài sản cơ sở. Mặc dù giá trị của chứng quyền dựa vào giá trị của cổ phiếu công ty nhưng nhà đầu tư chứng quyền không có được hưởng lợi ích trực tiếp từ công ty niêm yết đó. Họ sẽ không có quyền biểu quyết (đối với những vấn đề cần cổ đông biểu quyết), không được nhận cổ tức, cổ phiếu thưởng hoặc không được nhận báo cáo tài chính từ công ty.

Rủi ro từ nhà phát hành

Rủi ro này phát sinh khi nhà phát hành bị phá sản hoặc gặp khó khăn về tài chính dẫn đến không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho nhà đầu tư khi chứng quyền đến hạn. Tuy được giao dịch thông qua hệ thống giao dịch của SGDCK nhưng nhà phát hành là bên đối tác có nghĩa vụ phải thực hiện thanh toán khi nhà đầu tư chứng quyền yêu cầu. Đây là đặc điểm khác biệt với HĐQC khi Trung tâm Thanh toán là bên đối tác bù trừ trung tâm. Chính vì vậy, trước khi mua chứng quyền, nhà đầu tư phải tìm hiểu kỹ về tình trạng tài chính của nhà phát hành và không nên giao dịch chứng quyền khi còn nghi ngờ về năng lực tài chính của họ.

27.1.5. Giá chứng quyền và các nhân tố lý thuyết ảnh hưởng đến giá trị của chứng quyền

Không giống như cổ phiếu và chứng quyền truyền thống được định giá theo quan hệ cung cầu, việc định giá chứng quyền có bảo đảm được tổ chức phát hành chứng quyền định giá theo mô hình định giá số học tự động. Mô hình định giá này dựa trên lý thuyết định giá quyền chọn, như mô hình Black – Scholes và phương pháp nhị thức, dựa trên kiến thức chuyên sâu về toán học phức tạp. Giá này gọi là giá lý thuyêt hay giá hợp lý của chứng quyền có bảo đảm, gồm 2 phần:

– Giá trị nội tại (Intrinsic value): là giá trị chênh lệch giữa giá tài sản cơ sở và giá thực hiện của chứng quyền (đối với chứng quyền mua) hoặc giữa giá thực hiện của chứng quyền với giá tài sản cơ sở (đối với chứng quyền bán). Một quyền được coi là có lợi nhuận (in-the-money) khi giá trị nội tại lớn hơn 0, lỗ (out-the-money) khi giá trị nội tại nhỏ hơn 0, hoặc hòa vốn (at-the-money) khi giá trị nội tại bằng 0.

– Giá trị thời gian (time value): Giá trị chênh lệch giữa giá hiện tại và giá trị nội tại của chứng quyền. Giá của chứng quyền sẽ giảm dần theo thời gian cho đến ngày đáo hạn, tại ngày đến hạn giá trị thời gian của chứng quyền 0. Vì thế, chứng quyền không phải là một sản phẩm đầu tư dài hạn.

Có nhiều yếu tố tạo nên giá trị chứng quyền có bảo đảm và ảnh hưởng đến phí chứng quyền khi giao dịch.

Bảng 27.3. Yếu tố ảnh hưởng đến giá trị của chứng quyền có bảo đảm

Yếu tố ảnh hưởng đến giá trị của chứng quyền Biến động Sự thay đổi về giá chứng quyền mua Sự thay đổi về giá chứng quyền bán
Giá của tài sản cơ sở Tăng
Giá thực hiện Tăng
Thời gian đáo hạn của chứng quyền Giảm
Sự biến động của tài sản cơ sở Tăng
Lãi suất Tăng
Cổ tức kỳ vọng Tăng

Giá của tài sản cơ sở: Đây là nhân tố quan trọng nhất quyết định giá của chứng quyền. Khi giá tài sản cơ sở tăng, giá trị hợp lý của chứng quyền sẽ tăng trong khi giá trị hợp lý của chứng quyền bán giảm. Điều này là do khi giá tài sản cơ sở tăng, lợi nhuận tiềm năng từ việc thực hiện chứng quyền mua tăng lên và ngược lại, lợi nhuận tiềm năng từ việc thực hiện chứng quyền bán giảm xuống. Hay nói cách khác, giá trị nội tại của chứng quyền mua tăng lên trong khi giá trị nội tại của chứng quyền bán giảm đi nếu giá tài sản cơ sở tăng.

Hệ số Delta (∆) đo lường sự thay đổi của giá chứng quyền so với sự thay đổi của giá tài sản cơ sở.

Hệ số Delta = ∆ chứng quyền
∆ Giá tài sản cơ sở

Giá trị lý thuyết của Hệ số Delta chứng quyền mua dao động từ 0 tới 1, và Hệ số Delta chứng quyền bán từ 0 tới -1.

Hệ số Delta không phải là một hằng số mà thay đổi khi giá tài sản cơ sở thay đổi. Hệ số Delta bằng 1 nghĩa là 1% sự thay đổi của giá tài sản cơ sở, giá chứng quyền sẽ thay đổi tương ứng 1%. Delta bằng 0 nghĩa là giá tài sản cơ sở thay đổi, nhưng giá chứng quyền không đổi, hay giá chứng quyền không phụ thuộc vào giá của tài sản cơ sở.

Sự biến động của tài sản cơ sở: Đây là nhân tố khó xác định nhất vì sự biến động chỉ là ước tính và mang tính chủ quan. Tài sản cơ sở biến động càng nhiều, sự thay đổi giá của chứng quyền càng lớn. Đầu tư vào chứng quyền có tài sản cơ sở biến động lớn sẽ làm gia tăng chi phí và mạo hiểm hơn. Hai tổ chức phát hành phát hành chứng quyền dựa trên tài sản cơ sở và điều kiện giống nhau nhưng đánh giá sự biến động của tài sản cơ sở khác nhau, sẽ dẫn đến giá của 2 chứng quyền khác nhau.

Thời gian còn lại đến khi đáo hạn: Thời gian đáo hạn càng dài, giá chứng quyền càng cao vì trong thời gian đó có nhiều cơ hội để giá tài sản cơ sở thay đổi và làm cho chứng quyền có lãi. Càng đến ngày đáo hạn, giá trị thời gian của chứng quyền càng giảm nhanh và bằng 0 vào thời điểm đáo hạn.

Lãi suất: Lãi suất càng cao, giá của chứng quyền mua càng cao và giá chứng quyền bán càng thấp. Nếu mua chứng quyền mua sẽ trì hoãn được khoản thanh toán (tại mức giá thực hiện) cho tới khi đáo hạn. Điều này giúp nhà đầu tư tiết kiệm chi phí ban đầu bỏ ra so với mua trực tiếp tài sản cơ sở. Khi lãi suất càng cao, khoản tiết kiệm càng lớn và do đó khoản phí phải trả cho chứng quyền mua tăng lên. Ngược lại, với chứng quyền bán, lãi suất cao sẽ càng thúc đẩy nhà đầu tư bán tài sản cơ sở hơn là mua chứng quyền bán do có thể thu thêm được số tiền lãi trên số tiền bán được. Do đó, chứng quyền bán kém hấp dẫn hơn và giá trị của nó sẽ giảm xuống.

Cổ tức kỳ vọng của tài sản cơ sở: Thực tế cổ tức được trả cho người nắm giữ cổ phiếu, do đó cổ tức tiền mặt sẽ ảnh hưởng đến phí chứng quyền thông qua sự tác động của nó đến giá chứng khoán cơ sở. Cổ tức làm cho giá cổ phiếu giảm xuống trong ngày giao dịch không hưởng quyền, cổ tức có tương quan ngược chiều với giá chứng quyền mua và tương quan cùng chiều với giá chứng quyền bán.

Các nhân tố trên tác động tới giá chứng quyền một cách tổng hợp. Ví dụ, trong khi giá tài sản cơ sở tăng làm chứng quyền mua tăng, thì thời gian sắp đáo hạn của chứng quyền và lãi suất giảm có thể làm chứng quyền mua biến động trái chiều. Vì thế, khi đầu tư vào chứng quyền, nhà đầu tư nên đánh giá tổng thể tác động của các nhân tố này.

Tuy nhiên, giá giao dịch của một chứng quyền không nhất thiết phải bằng với giá lý thuyết (fair value), do các dự đoán khác nhau vào độ biến động và cổ tức sẽ có nhiều kết quả giá tham khảo tương ứng. Trong thực tế, cung và cầu sẽ quyết định giá chứng quyền là bao nhiêu. Ngoài ra còn một số yếu tố khác như danh tiếng của tổ chức phát hành, sự sẵn có của các sản phẩm thay thế. Nhà đầu tư sẽ tính toán giá lý thuyết của chứng quyền và đánh giá xem giá thị trường đang cao hơn hoặc thấp hơn giá lý thuyết, từ đó sẽ có quyết định mua hoặc bán chứng quyền và góp phần hình thành mức giá thị trường cho chứng quyền đó. Việc cho phép các tổ chức phát hành được tự do cạnh tranh, cung cấp các chứng quyền dựa trên điều kiện giống nhau sẽ giúp nhà đầu tư có thêm nhiều lựa chọn đối với sản phẩm này.

27.2. Thị trường chứng quyền có bảo đảm trên thế giới

Ngược dòng lịch sử trên thế giới, chứng quyền có bảo đảm được giao dịch trên nhiều Sở Giao dịch Chứng khoán. Các chứng quyền có bảo đảm lần đầu xuất hiện vào cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 tại Hồng Kông và Đức và sau đó từ năm 2000, chứng quyền có bảo đảm được phát triển mạnh ở cả thị trường châu Á và châu Âu. Đặc biệt vào năm 2006, số lượng chứng quyền có bảo đảm được phát hành và niêm yết trên SGDCK vượt ngưỡng 161 nghìn chứng quyền có bảo đảm, tương đương 761,8 tỷ USD trên toàn thế giới. Tính đến năm 2015, theo số liệu thống kê của Liên đoàn các SGDCK Thế giới (WFE), GTGD các chứng quyền có bảo đảm đạt 627 tỷ USD, tăng 3% so với năm 2014. Trong đó, khu vực Châu Á-Thái Bình dương chiếm tới 76% tổng doanh thu giao dịch chứng quyền có bảo đảm toàn cầu, trong đó nổi bật nhất là thị trường Hồng Kông và Đài Loan. Ngoài ra, một số thị trường khác cũng tăng trưởng rất nhanh là Australia, Thái Lan, Singapore, Malaysia. Tại một số quốc gia và vùng lãnh thổ như Hồng  Kông, Hàn Quốc, Đài Loan, chứng quyền có bảo đảm mà chủ yếu là chứng quyền dựa trên cổ phiếu còn phát triển hơn cả quyền chọn trên cổ phiếu. Loại quyền chọn được ưa thích tại các nước này phần lớn là quyền chọn dựa trên chỉ số với doanh số rất cao.

Tại thị trường Hồng Kông. Năm 1989, chứng quyền có bảo đảm lần đầu tiên được giới thiệu tại TTCK Hồng Kông và được coi như một công cụ đầu tư hiệu quả trên SGDCK Hồng Kông (HKEx). Điều này thể hiện thông qua giá trị giao dịch cũng như số lượng các chứng quyền có bảo đảm tăng nhanh chóng qua các năm. Tính đến thời điểm tháng 6/2015, số lượng chứng quyền có bảo đảm đang giao dịch trên HKEx là 5.680 chứng quyền trong khi cuối năm 2014 là 4.936 chứng quyền, với GTGD đạt 60.695,75 triệu đô la Hồng Kông (HKD), chiếm 21% GTGD toàn thị trường trong tháng 6/2015. Tương tự như các sản phẩm khác của thị trường, chứng quyền có bảo đảm được giao dịch trên hệ thống khớp lệnh tự động với chu kỳ thanh toán T+2. Phí giao dịch của chứng quyền có bảo đảm bao gồm hoa hồng môi giới, thuế giao dịch và phí giao dịch.

Hiện nay, Hồng Kông có 17 tổ chức được phép phát hành chứng quyền, trong đó có cả các công ty chứng khoán, ngân hàng và các tổ chức tài chính khác đáp ứng đủ điều kiện của HKEx. Điều đáng chú ý là các tổ chức này đều được xếp hạng tín nhiệm ở mức cao (từ BBB+ trở lên). Ngoài các điều kiện chung về khả năng tham gia cung cấp sản phẩm như năng lực, kinh nghiệm, HKEx quy định các tổ chức tài chính trừ công ty tư nhân đều có thể tham gia phát hành chứng quyền. Bên cạnh đó, HKEx đưa ra các quy định cụ thể đối với tổ chức phát hành không cần ký quỹ trong các trường hợp: (1) Giá trị tài sản ròng từ 2 tỷ HKD trở lên ở thời điểm công bố mới nhất và đã được kiểm toán, đồng thời phải duy trì giá trị tài sản ròng tối thiểu là 2 tỷ HKD và phải có thông báo ngay khi giá trị tài sản ròng giảm xuống dười mức quy đinh; (2) Có mức xếp hạng tín nhiệm nằm trong 3 mức cao nhất của cơ quan xếp hạng tín nhiệm đượcc ông hận bởi SGDCK; (3) Chịu sự điều tiết của Cơ quan Tiền tệ Hồng Kông hoặc các quy định của nước ngoài được HKEx chấp thuận…. Các tổ chức phát hành phải là tổ chức niêm yết tại các SGDCK trước khi đưa chứng quyền có bảo đảm lên niêm yết trên SGDCK.

Tại thị trường Đài Loan. Tháng 8/1997, Ủy ban Chứng khoán Đài Loan mở cửa thị trường giao dịch cho chứng quyền có bảo đảm. Sau 10 tháng giao dịch, tính đến tháng 9/1998, mới chỉ có 11 tổ chức phát hành tham gia thị trường với 19 chứng quyền được chào bán và giao dịch, bao gồm 15 chứng quyền cổ phiếu đơn lẻ và 4 chứng quyền rổ chứng hoán. Con số này còn khá khiêm tốn so với TTCK Đài Loan lúc đó với 500 cổphiếu đang niêm yết. Trên thực tế, giao dịch chứng quyền có bảo đảm ở Đài Loan bắt đầu từ năm 1994, chứng khoán cơ sở là chỉ số thị trường và rổ cổ phiếu của Đài Loan. Hầu hết các chứng quyền có bảo đảm được đăng ký và niêm yết trên SGDCK Luxembourg, được phát hành bởi các tổ chức nước ngoài như Banker Trust, S.G.Warburg và Robert Flemming and Company… Chứng quyền có bảo đảm lúc này chủyếu hướng tới các nhà đầu tư nước ngoài. Một thời gian sau, nhu cầu đầu tư chứng quyền tăng cao đặt ra yêu cầu cần có thị trường giao dịch cũng như quy định pháp lý rõ ràng để bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư, vì thế chứng quyền có bảo đảm được ra đời ở Đài Loan để thay thế cho các chứng quyền nước ngoài. Cũng giống như các chứng quyền có bảo đảm ở Hồng Kông, chứng quyền có bảo đảm của Đài Loan cũng do bên thứ ba phát hành độc lập với tổ chức phát hành tài sản cơ sở. Sở dĩ Đài Loan lựa chọn chứng quyền có bảo đảm thay vì chứng quyền vốn cổ phần bởi 3 lý do: Thứ nhất, các công ty ở Đài Loan có nhiều cách thức tăng vốn như phát hành cổ phiếu, chia cổ tức bằng cổ phiếu thay vì phát hành chứng quyền dựa trên vốn cổ phần. Thứ hai, hầu hết các tổ chức tài chính không có nhiều kinh nghiệm đối với chứng khoán phái sinh. Thứ ba, hạn chế trong các quy định giao dịch cũng như phát hành chứng quyền có bảo đảm chưa đầy đủ.

Chứng khoán cơ sở của chứng quyền có bảo đảm được UBCK Đài Loan quy định chặt chẽ về giá trị thị trường, thanh khoản và tỷ lệ sở hữu của công chúng. Theo đó, đối với cổ phiếu: Giá trị thị trường của cổ phiếu phải vượt mức 25 tỷ đô la Đài Loan (TWD) (tương đương 735 triệu USD); Cổ phiếu cơ sở phải do ít nhất 15.000 cổ đông cá nhân sở hữu. Trong đó, ít nhất 7.000 cổ đông nắm giữ từ 1.000 đến 50.000 cổ phần phải trên 20% cổ phần đang lưu hành; Tổng GTGD trong ba tháng gần nhất tối thiểu phải bằng 20% số cổ phần đang lưu hành. Đối với rổ cổ phiếu: ngoài việc các cổ phiếu trong rổ cổ phiếu phải đáp ứng các quy định trên, giá trị thị trường của các cổ phiếu riêng lẻ không được vượt quá 45% giá trị của rổ cổ phiếu. Thêm vào đó, tổng giá trị thị trường của ba cổ phiếu lớn nhất trong rổ cổ phiếu phải thấp hơn 80% giá trị của rổ cổ phiếu. Định kỳ ba tháng, SGDCK Đài Loan (TWSE) sẽ công bố danh sách cổ phiếu được điều chỉnh. Do vậy, các tổ chức phát hành chỉ được chào bán chứng quyền có bảo đảm dựa trên các cổ phiếu cơ sở nằm trong danh sách này.

Tổ chức phát hành chứng quyền tại Đài loan phải đáp ứng các điều kiện khắt khe khi tham gia phát hành chứng quyền có bảo đảm. Theo quy định của UBCK Đài Loan, công ty chứng khoán được phép phát hành chứng quyền với điều kiện đã được cấp phép hoạt động các nghiệp vụ môi giới, bảo lãnh phát hành và tự doanh. Bên cạnh đó, UBCK Đài Loan còn quy định mức xếp hạng tín dụng của tổ chức phát hành không được thấp hơn BBB-. Giá trị vốn hóa của tổ chức phát hành đạt tối thiểu 3 tỷ TWD (tương đương 100 triệu USD), không có lỗ lũy kế trong năm tài chính gần nhất và tổ chức phát hành phải có đề xuất về chiến lược kinh doanh.Với những quy định khắt khe nêu trên, ở vào thời điểm năm 1997, chỉ có 16/280 công ty chứng khoán Đài Loan đáp ứng được các quy định. Mặc dù không giới hạn việc phát hành chứng quyền bán, song Đài Loan cấm bán khống cổ phiếu, bởi vậy không thể thiết lập những chiến lược giao dịch cho chứng quyền bán. Ngoài ra, các quy định về phát hành chứng quyền, lựa chọn tài sản cơ sở, hay giao dịch chứng quyền…. cũng được UBCK Đài Loan cũng như TWSE đưa ra cụ thể để tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường giao dịch chứng quyền có bảo đảm được vận hành suôn sẻ. Theo kết quả của WFE, thị trường chứng quyền có bảo đảm Đài Loan tính đến cuối năm 2015 vẫn giữ vững trí thứ 2 và thứ 6 Châu Á và thế giới về giá trị giao dịch (20.376 triệu USD) với vòng quay thanh khoản duy trì ổn định ở mức 15%. Thị trường chứng quyền có bảo đảm đã có những bước phát triển dài và vững chắc sau 15 năm với với 20.030 chứng quyền có bảo đảm đã phát hành trong năm 2015 (tăng 6% so với cùng kỳ 2014), đóng góp vào gần 3% giá trị giao dịch trên thị trường chứng khoán Đài Loan nói chung. Tính đến 5/2016, có 6.958 chứng quyền mua và 2.286 chứng quyền bán được niêm yết trên TWSE.

27.3. Triển khai và phát triển sản phẩm chứng quyền có bảo đảm tại TTCK Việt Nam

27.3.1. Sự cần thiết triển khai chứng quyền có bảo đảm tại TTCK Việt Nam

 Sự phát triển của các công cụ đầu tư mới là một diễn biến tất yếu trong quá trình phát triển của thị trường chứng khoán, nó phản ánh mức độ phát triển sâu rộng của thị trường và xu thế hội nhập quốc tế. Nhu cầu phát triển chứng quyền có bảo đảm trên TTCK Việt Nam trở thành nhu cầu thiết thực vì các lý do như sau:

 Một là, đa dạng hóa công cụ đầu tư trên thị trường chứng khoán

Hiện nay, hàng hóa trên thị trường chứng khoán Việt Nam tuy đã tăng về số lượng nhưng chưa nhiều và đa dạng về chủng loại với các công cụ đầu tư chính như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ. Do đó, quy mô thị trường còn ở mức khiêm tốn so với các nước trong khu vực và các thị trường chứng khoán lâu đời trên thế giới. Nhiều công trình nghiên cứu của các chuyên gia trên thế giới về thị trường chứng khoán đã chỉ ra rằng thị trường chứng khoán sẽ khó có thể hoạt động hiệu quả nếu lượng chứng khoán cung cấp trên thị trường không nhiều và số lượng các nhà đầu tư trên thị trường nhỏ. Một thị trường như vậy sẽ thiếu tính ổn định, ít có khả năng tự điều chỉnh và dễ bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài cũng như dễ đổ vỡ bởi những cuộc tấn công mang tính chất đầu cơ trên thị trường. Và điều này sẽ làm cho thị trường chứng khoán dễ đi lệch ra khỏi quỹ đạo được xác định trước trong vai trò là một nơi huy động và phân bổ một cách có hiệu quả những nguồn lực trong xã hội, đồng thời là một định chế bảo vệ quyền lợi chính đáng của các nhà đầu tư. Việc cho ra đời chứng quyền có bảo đảm sẽ có ý nghĩa thiết thực cho xu hướng gia tăng số lượng và chất lượng hàng hóa trên thị trường chứng khoán, đồng thời gia tăng các cơ hội đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Thay vì phải bỏ ra một khoản tiền lớn để đầu tư cổ phiếu, sau đó đợi giá cổ phiếu tăng cao rồi bán để hưởng chênh lệch thì việc đầu tư vào chứng quyền có bảo đảm chỉ bỏ ra một khoản tiền nhỏ để trả phí nhưng có thể có một quyền chọn với số lượng cổ phiếu rất lớn và nếu xu hướng thị trường diễn biến thuận lợi thì cũng có thể kiếm được một khoản chênh lệch lớn từ sản phẩm này.

Hai là, tạo công cụ bảo vệ cho nhà đầu tư

Thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm và tiềm ẩn những rủi ro rất lớn cho các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư cá nhân nhỏ lẻ. Điều này đặt ra yêu cầu mang tính nguyên tắc là phải bảo vệ cho nhà đầu tư trước những sự thay đổi bất thường của thị trường. Bảo vệ nhà đầu tư là bảo vệ thị trường. Nếu có chứng quyền có bảo đảm thì nhà đầu tư sẽ không bị hoảng loạn khi thị trường đảo chiều vì họ đã mua “bảo hiểm” về giá. Bằng việc sở hữu chứng quyền có bảo đảm, nhà đầu tư trên thị trường có thể cố định giá mua, bán chứng khoán của mình trong một khoảng thời gian nhất định. Do đó, nếu biết vận dụng các kỹ thuật mua bán chứng khoán kết hợp với chứng quyền có bảo đảm, các nhà đầu tư có thể hạn chế rủi ro trong kinh doanh chứng khoán một cách hữu hiệu. Hơn nữa, việc kết hợp mua bán chứng khoán và chứng quyền có bảo đảm sẽ tạo ra những chiến lược tự bảo hiểm đồng vốn cho nhà đầu tư  đối với chứng khoán riêng lẻ hay cả danh mục đầu tư để chống lại xu hướng giá cả biến động bất lợi trên thị trường.

Ba là, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, góp phần giải quyết bài toán cho cổ phiếu hết room.

Bài toán cổ phiếu hết “room” có thể được giải quyết bằng việc triển khai sản phẩm chứng quyền có bảo đảm. Với giao dịch chứng quyền có bảo đảm, nhà đầu tư nước ngoài có khả năng tìm kiếm cơ hội đầu tư và thu lợi nhuận lớn từ các công ty niêm yết có kết quả kinh doanh tốt mà nếu chỉ bằng giao dịch bằng cổ phiếu vật chất, các cổ phiếu hết room này chính là những rào cản. Áp dụng tại TTCK Việt Nam, cơ quan quản lý có thể áp dụng quy định thanh toán bằng tiền khi nhà đầu tư nước ngoài thực hiện quyền chứng quyền có bảo đảm đối với các cổ phiếu đã hết room để không vi phạm quy định về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài hiện hành mà vẫn cho phép nhà đầu tư nước ngoài hưởng lợi nhuận từ việc thay đổi giá của cổ phiếu trên thị trường.

Chính vì vậy, khi đưa vào giao dịch sản phẩm chứng quyền có bảo đảm, bài toán về khuyến khích đầu tư nước ngoài, đầu tư có tổ chức nhằm tạo sức cầu ổn định, giúp thị trường phát triển bền vững phần nào được giải quyết.

Bốn là, thúc đẩy sự phát triển, nâng cao tính cạnh tranh của thị trường chứng khoán.

Thị trường chứng quyền có bảo đảm phát triển dựa trên sự phát triển của thị trường cơ sở, nhưng khi thị trường chứng quyền có bảo đảm phát triển sẽ tác động ngược lại thị trường cơ sở. Kỳ vọng giảm thiểu rủi ro và tìm kiếm lợi nhuận thông qua chứng quyền có bảo đảm chắc chắn sẽ thu hút thêm nhiều nhà đầu tư và làm gia tăng mức cầu về chứng khoán, hoàn thiện cơ cấu hàng hóa, giao dịch làm tiền đề cho sự phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam trong tương lai. Ngoài ra, đầu tư vào thị trường chứng khoán vốn tiềm ẩn nhiều rủi ro, khi chứng quyền có bảo đảm phát triển, nhà đầu tư sẽ bắt đầu nhận thức và áp dụng chiến lược phòng ngừa bằng chứng quyền có bảo đảm, dần trở nên khôn ngoan và mạnh dạn đổ vốn đầu tư vào chứng khoán, vô hình chung đã thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển.

Trong xu thế hội nhập quốc tế, việc xây dựng thị trường các công cụ phái sinh mà trong đó có chứng quyền có bảo đảm là việc hết sức cần thiết. Việc đưa vào giao dịch chứng quyền có bảo đảm sẽ làm nâng cao tính cạnh tranh của thị trường, đa dạng hóa sản phẩm, sẽ tăng cung, kích cầu cho thị trường, làm cho thị trường trở nên sôi động, thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

27.3.2. Đánh giá khả năng phát triển sản phẩm Chứng quyền có bảo đảm tại TTCK Việt Nam

  1. a) Khả năng đáp ứng những yêu cầu cơ bản cho việc triển khai

Việc triển khai sản phẩm chứng quyền có bảo đảm ở giai đoạn hiện nay hoàn toàn khả thi vì thỏa mãn những điều kiện sau:

Một là, việc triển khai sản phẩm mới trên thị trường chứng khoán đã được định hướng từ cơ quan quản lý nhà nước. Quyết định 252/QĐ-TTg ngày 01/03/2012 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 đã chỉ rõ các mục tiêu tổng quát của thị trường chứng khoán, trong đó có “tăng quy mô và chất lượng hoạt động, đa dạng hóa các sản phẩm, nghiệp vụ, đảm bảo thị trường hoạt động hiệu quả và trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng của nền kinh tế.” Ngoài ra, Quyết định cũng chỉ rõ mục tiêu cụ thể cho việc phát triển thị trường chứng khoán giai đoạn 2011 – 2020: “ Đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư, phát triển hệ thống nhà đầu tư tổ chức, khuyến khích đầu tư nước ngoài dài hạn, đào tạo nhà đầu tư các nhân”. Như vậy, Quyết định này đã mở ra định hướng cho việc phát triển công cụ đầu tư mới (từ phía cung) cũng như đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư trên thị trường (từ phía cầu), tạo cơ sở cho việc ra đời và phát triển sản phẩm mới như chứng quyền có bảo đảm.

Xét về khía cạnh khung pháp lý, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán số 62/2010/QH12 ngày 24/11/2010 đã cho phép cơ quan quản lý là Bộ Tài chính có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh loại chứng khoán mới này. Khoản 3 Điều 1 khái niệm về Chứng khoán được nêu rõ “Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. … bao gồm các loại sau đây: a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; b) Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán; c) Hợp đồng góp vốn đầu tư; d) Các loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định.”

Nghị định số 60/2015/NĐ-CP ngày 26/6/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20/07/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán (Nghị định 60) đã đưa ra định nghĩa về chứng quyền có bảo đảm: “Chứng quyền có bảo đảm là chứng khoán có tài sản đảm bảo do công ty chứng khoán phát hành, cho phép người sở hữu được quyền mua (chứng quyền mua) hoặc được quyền bán (chứng quyền bán) chứng khoán cơ sở cho tổ chức phát hành đó theo một mức giá đã được xác định trước, tại hoặc trước một thời điểm đã được ấn định, hoặc nhận khoản tiền chênh lệch giữa giá thực hiện và giá chứng khoán cơ sở tại thời điểm thực hiện. Ngoài ra, cũng tại Nghị định số 60, điều kiện của tổ chức phát hành chứng quyền có bảo đảm đã được quy định cụ thể. Trên cơ sở đó, Thông tư số 107/2016/TT-BTC hướng dẫn chào bán và giao dịch chứng quyền có bảo đảm đã được Bộ trưởng Bộ Tài chính ký ban hành ngày 29/06/2016. Như vậy, những văn bản này đã mở ra cơ sở pháp lý cho việc triển khai sản phẩm chứng quyền có bảo đảm trên TTCK Việt Nam.

Hai là, tốc độ phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian qua khá nhanh (vốn hóa thị trường cuối năm 2016 đạt 46% GDP, tăng xấp xỉ 11% so với năm 2015). Tính thanh khoản của thị trường chứng khoán ngày càng cao, hàng hóa đã có sự gia tăng về số lượng và chất lượng, đã xuất hiện nhiều công ty đại chúng lớn, đây cũng là giai đoạn đẩy mạnh thực hiện cổ phần hóa gắn với niêm yết trên thị trường chứng khoán các công ty hàng đầu, các tổng công ty lớn như: các ngân hàng quốc doanh (Vietcombank, BIDV, …), Tổng công ty Bưu chính Viễn thông (Vinaphone, Mobifone), Tập đoàn dầu khí Petrolimex, v.v. Sự phát triển của thị trường cơ sở sẽ tạo tiền đề để phát triển thị trường chứng quyền có bảo đảm. Mặt khác, giá chứng khoán cơ sở đã có lúc tăng giảm đột biến, thị trường biến động bất thường. Do đó, nhu cầu phòng ngừa rủi ro bằng chứng quyền có bảo đảm ngày càng trở nên cấp bách.

Ba là, năng lực tài chính và quản trị rủi ro của các công ty chứng khoán đóng vai trò là tổ chức phát hành chứng quyền có bảo đảm ngày càng được củng cố. Trong hoạt động kinh doanh của mình, các công ty chứng khoán top đầu đã không ngừng tăng cường sức mạnh tài chính và chất lượng quản trị rủi ro với mục đích cung cấp cho nhà đầu tư các sản phẩm giá trị, các dịch vụ tiện ích đáng tin cậy. Trong thời gian qua đã có một số công ty chứng khoán cung cấp một số sản phẩm mang bản chất phái sinh. Có thể kể đến trường hợp công ty chứng khoán VNDirect đã cung cấp ra thị trường sản phẩm “Hợp đồng Hợp tác Đầu tư”. Danh mục cổ phiếu được VNDirect sử dụng cho loại Hợp đồng này là khoảng 20 cổ phiếu có tính thanh khoản cao. Nếu dự đoán giá cổ phiếu xuống, nhà đầu tư mua Hợp đồng chọn bán với mức giá quy định trong hợp đồng và nếu dự đoán giá cổ phiếu lên, nhà đầu tư mua Hợp đồng chọn mua với mức giá xác định trước. Các “Hợp đồng Hợp tác đầu tư” của VNDirect có thời hạn từ 1 đến 3 tháng với mức phí ký hợp đồng được VNDirect thu trước là 7%/giá trị hợp đồng/ tháng hoặc 10-12%/3 tháng tùy thuộc vào mã cổ phiếu. Hợp đồng có khối lượng tối thiểu là 10.000 cổ phiếu. Trong trường hợp giá cổ phiếu tăng (đối với Hợp đồng hợp tác đầu tư bán) hoặc giảm (đối với Hợp đồng hợp tác đầu tư  mua) so với giá chốt trên hợp đồng, nhà đầu tư có quyền bỏ không thực hiện hợp đồng mà chỉ mất khoản phí 7% đã đóng trước cho VNDirect. Như vậy có thể nhận thấy một thực tế khách quan là một bộ phận của thị trường đã tiếp xúc và sẵn sàng tham gia giao dịch các công cụ phức tạp hơn, cao cấp hơn bên cạnh những sản phẩm truyền thống là cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ. Tuy nhiên, các giao dịch này không chính thống với nhiều biến tấu đã tạo nên những hiểu biết không đầy đủ của nhà đầu tư và thành viên thị trường về sản phẩm, gây ra những rủi ro nhất định cho thị trường. Xét trên góc độ sự phát triển tất yếu của thị trường và xu hướng hội nhập quốc tế, sự ra đời của các công cụ đầu tư có tính chất phái sinh nói trên đã bị hạn chế bởi chưa có quy định pháp lý cụ thể. Điều này đặt ra yêu cầu thiết lập một thị trường giao dịch chính thống được vận hành dưới sự quản lý của nhà nước với các cơ chế pháp lý đầy đủ.

Bốn là, tính đến hết tháng 12/2016, tổng số lượng tài khoản nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán là 1.69 triệu tài khoản (tăng 68% so với cuối năm 2015). Có thể thấy quy mô nhà đầu tư đã tăng đáng kể kể từ năm 2010. Tuy nhiên, trên thực tế, thu nhập bình quân đầu người Việt Nam còn thấp, với tính cách khá thận trọng, nhà đầu tư Việt Nam thường ngại bỏ ra những khoản tiền lớn để đầu tư. Do vậy, chứng quyền có bảo đảm rất phù hợp với những người có có thu nhập khiêm tốn, vốn đầu tư ban đầu tương đối ít và thận trọng với rủi ro. Nếu được triển khai giao dịch trên thị trường chứng khoán Việt Nam, chứng quyền có bảo đảm chắc chắn sẽ đáp ứng nhu cầu đầu tư của các nhà đầu tư và thu hút thêm được rất nhiều nhà đầu tư vào thị trường.

Năm là, đối với hệ thống giao dịch hiện tại của các SGDCK, cần chỉnh sửa hệ thống nhằm bổ sung một vài quy cách sản phẩm riêng có của chứng quyền có bảo đảm. Trong tương lai, hệ thống công nghệ thông tin sẽ được nâng cấp hoàn toàn có thể đáp ứng loại sản phẩm này vì chứng quyền là một trong loạt các sản phẩm được hệ thống hỗ trợ theo tiêu chuẩn tiên tiến, tích hợp và đồng bộ.

Về phía TTLKCK, hệ thống đăng ký, lưu ký, thanh toán bù trừ chứng khoán đã có bước phát triển nhanh và tích luỹ được nhiều kinh nghiệm. Đồng thời, hệ thống thanh toán phục vụ cho thị trường chứng khoán phái sinh đang gấp rút nghiên cứu, phát triển, là điều kiện thuận lợi để thực hiện thanh toán cho chứng quyền có bảo đảm.

Như vậy, xét về mặt chi phí, nguồn vốn thực hiện và lợi ích khi triển khai giao dịch chứng quyền có bảo đảm, các chủ thể tham gia thị trường bao gồm Sở giao dịch chứng khoán, công ty chứng khoán thành viên đều có thể thiết lập, vận hành và quản lý cơ chế giao dịch chứng quyền không quá phức tạp với chi phí thấp tương đối mà có thể mang lại hiệu quả cho toàn thị trường.

b) Khó khăn và thách thức trong việc triển khai chứng quyền có bảo đảm tại thị trường chứng khoán Việt Nam

Một là, về hạ tầng công nghệ

Đối với hệ thống giao dịch hiện tại, việc triển khai giao dịch chứng quyền có bảo đảm sẽ cần thời gian để chỉnh sửa hệ thống giao dịch nhằm bổ sung một vài quy cách sản phẩm riêng có của chứng quyền có bảo đảm. Ngoài ra, để đảm bảo công tác quản lý và giám sát giao dịch chứng quyền có bảo đảm, Sở giao dịch chứng khoán cần xây dựng một phần mềm chuyên dụng theo dõi và giám sát hoạt động giao dịch chứng quyền có bảo đảm và nghĩa vụ của tổ chức tạo lập thị trường.

Về phía các công ty chứng khoán thành viên, hệ thống giao dịch hiện tại có thể áp dụng cho giao dịch sản phẩm chứng quyền có bảo đảm khi thực hiện nghiệp vụ môi giới cho nhà đầu tư. Đối với nghiệp vụ phát hành và tạo lập thị trường cho chứng quyền có bảo đảm, các công ty chứng khoán cần bổ sung thêm chức năng cho phần mềm giao dịch để thực hiện nghĩa vụ tạo lập thị trường và quản trị rủi ro.

Về phía TTLKCK, dù cơ chế thanh toán và chu kỳ thanh toán của chứng quyền có bảo đảm được áp dụng tương tự như thanh toán cho cổ phiếu nhưng nhìn chung hệ thống kỹ thuật cho thanh toán có thể phải chỉnh sửa, bổ sung các quy cách riêng có của sản phẩm chứng quyền có bảo đảm. Ngoài ra, TTLKCK còn phải phối hợp trao đổi thông tin với UBCKNN, các SGDCK để giám sát năng lực tài chính, khả năng rủi ro tài chính của nhà phát hành như một số nước đã làm.

Hai là, về sản phẩm, thị trường cơ sở

TTCK Việt Nam trong thời gian qua chịu tác động lớn từ khủng hoảng tài chính thế giới, những bất ổn vĩ mô của nền kinh tế và cả những hạn chế nội tại của chính bản thân thị trường khiến TTCK suy giảm kéo dài, ảnh hưởng đến thanh khoản và niềm tin của nhà đầu tư. Việc ra đời sản phẩm mới trong điều kiện thị trường cơ sở chưa hiệu quả sẽ khó thu hút được sư quan tâm trở lại của giới đầu tư. Bên cạnh đó, với tần suất triển khai các sản phẩm mới ra thị trường như chứng chỉ quỹ ETF (bắt đầu được triển khai từ cuối năm 2014), các sản phẩm Hợp đồng tương lai Trái phiếu Chính phủ, Hợp đồng tương lai chỉ số (dự kiến sẽ được đưa vào niêm yết và giao dịch trên SGDCK vào giữa năm 2017) thì chứng quyền có bảo đảm cần có một lộ trình hợp lý để thị trường có thời gian hấp thụ.

Ba là, về công tác thanh tra, giám sát

Công tác thanh tra giám sát thị trường hiện tại vẫn còn mang nặng tính thủ công, năng lực giám sát còn hạn chế, các quy định xử phạt còn thấp, thao túng thị trường vẫn còn xảy ra. Đây là một khó khăn thách thức cho cơ quan quản lý trong công tác thanh tra, giám sát khi thị trường tồn tại nhiều loại sản phẩm hơn, phức tạp hơn các sản phẩm truyền thống và tiềm ẩn rủi ro cao hơn.

Bốn là, về tổ chức phát hành chứng quyền có bảo đảm

TTCK trong thời gian qua sụt giảm khiến một số lượng công ty chứng khoán bị thua lỗ. Một số công ty chứng khoán tự tái cấu trúc bằng cách hợp nhất, rút bớt nghiệp vụ kinh doanh. Nhiều công ty đã cắt giảm về nhân sự, thu hẹp mạng lưới. Trong điều kiện hiện tại, khi hoạt động kinh doanh của đa phần công ty chứng khoán gặp khó khăn thì việc đầu tư nghiên cứu sản phẩm mới, công nghệ, nhân lực cho triển khai sản phẩm mới là một trở ngại không nhỏ. Các công ty chứng khoán hiện nay còn khan hiếm nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn am hiểu về chứng khoán phái sinh và quản trị rủi ro. Tóm lại, hiện nay, cơ cấu các công ty chứng khoán có sự phân hoá mạnh, phát triển không đồng đều. Đây là một khó khăn cho việc lựa chọn công ty chứng khoán đủ tốt làm tổ chức phát hành cũng như tổ chức tạo lập thị trường cho chứng quyền có bảo đảm.

Năm là, về nhà đầu tư

Tỷ lệ nhà đầu tư chuyên nghiệp trên TTCK Việt Nam khá ít, đa phần vẫn là nhà đầu tư cá nhân trong khi đối tượng nhà đầu tư tổ chức là yếu tố để đảm bảo sự phát triển bền vững. Như đã phân tích ở trên, sản phẩm chứng quyền có bảo đảm có tính chất phái sinh và lần đầu tiên được xuất hiện chính thức tại TTCK Việt Nam, nên nhiệm vụ phổ biến kiến thức về sản phẩm của các thành viên tham gia thị trường là rất nặng. Từ việc giới thiệu về bản chất sản phẩm, lợi điểm và hạn chế, cách thức và phương pháp phòng ngừa rủi ro khi tham gia giao dịch chứng quyền có bảo đảm cho đến kiến thức về định giá và ước lượng độ biến động giá của chứng quyền có bảo đảm theo lý thuyết và thực tiễn, cũng cần sự tham gia phổ biến kiến thức từ các chuyên gia từ các trung tâm đào tạo chứng khoán trong và ngoài nước. Mặt khác, công tác tuyên truyền phổ biến kiến thức về sản phẩm chứng quyền có bảo đảm là công tác dài hơi, xuyên suốt cùng sự phát triển của thị trường chứng quyền có bảo đảm.

27.4. Một số nội dung cơ bản trong khung pháp lý về sản phẩm chứng quyền có bảo đảm trên TTCK Việt Nam

Nghị định số 60/2015/NĐ-CP đã đưa ra định nghĩa về chứng quyền có bảo đảm và điều kiện của tổ chức phát hành chứng quyền có bảo đảm. Trên cơ sở đó, Thông tư số 107/2016/TT-BTC hướng dẫn chào bán và giao dịch chứng quyền có bảo đảm đã được Bộ trưởng Bộ Tài chính ký ban hành ngày 29/06/2016. Hai văn bản pháp lý trên đã quy định những nội dung căn bản cho cho việc triển khai sản phẩm chứng quyền có bảo đảm trên TTCK Việt Nam. Cụ thể như sau:

27.4.1. Điều kiện phát hành chứng quyền có bảo đảm

Trên TTCK Việt Nam, chỉ công ty chứng khoán đủ điều kiện mới được phép phát hành chứng quyền có bảo đảm (nhiều nước trên thế giới cho phép ngân hàng thương mại được phát hành sản phẩm này. Các công ty chứng khoán phải đáp ứng các điều kiện như: (i) được cấp phép đầy đủ các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán; (ii) Không bị đặt trong tình trạng cảnh báo, tạm ngừng hoạt động, đình chỉ hoạt động hoặc trong quá trình hợp nhất, sáp nhập, giải thể, phá sản; (iii) Không có lỗ lũy kế, có vốn điều lệ và vốn chủ sở hữu đạt tối thiểu 1.000 tỷ đồng trở lên; (iv) Báo cáo tài chính kiểm toán được chấp thuận không có ngoại trừ; thực hiện ký quỹ đầy đủ tại ngân hàng giám sát (Nghị định 60).

27.4.2. Loại hình sản phẩm chứng quyền

Thông tư 107/2016/TT-BTC quy định về loại hình sản phẩm chứng quyền theo hướng mở. Theo đó, chứng quyền có thể là chứng quyền mua hoặc chứng quyền bán, thực hiện quyền theo kiểu châu Âu hoặc kiểu Mỹ, thanh toán bằng tiền hoặc chuyển giao chứng khoán cơ sở. Tài sản cơ sở là cổ phiếu, chỉ số hoặc chứng chỉ quỹ ETF. Quy chế của UBCK nhà nước sẽ hướng dẫn cụ thể về loại hình chứng quyền trong từng giai đoạn triển khai.

Tổ chức phát hành chỉ được chào bán chứng quyền dựa trên chứng khoán cơ sở là chứng khoán trong danh sách chứng khoán đáp ứng điều kiện chào bán chứng quyền.

Một số quy định về điều kiện tài sản cơ sở của chứng quyền:

– Là cổ phiếu niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán tại Việt Nam đáp ứng các tiêu chí về mức vốn hóa thị trường, mức độ thanh khoản, tỷ lệ tự do chuyển nhượng, kết quả hoạt động kinh doanh của tổ chức phát hành chứng khoán cơ sở; chứng chỉ quỹ ETF niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán tại Việt Nam; chỉ số chứng khoán do Sở Giao dịch chứng khoán tại Việt Nam xây dựng hoặc phối hợp xây dựng và quản lý cùng tổ chức quốc tế sau khi đã được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận;

– Không đang trong tình trạng bị cảnh báo, kiểm soát, kiểm soát đặc biệt, tạm ngừng giao dịch, không trong diện hủy niêm yết theo quy chế của Sở Giao dịch chứng khoán.

Định kỳ hàng quý, Sở Giao dịch chứng khoán công bố danh sách chứng khoán đáp ứng điều kiện làm chứng khoán cơ sở của chứng quyền và hạn mức còn được phép chào bán đối với từng chứng khoán cơ sở. Trường hợp chứng khoán thuộc danh sách trên không còn đáp ứng điều kiện là chứng khoán cơ sở của chứng quyền, chứng quyền đã được phát hành dựa trên chứng khoán cơ sở bị loại vẫn có hiệu lực đến ngày đáo hạn và được thực hiện quyền theo phương thức đã được công bố tại Bản cáo bạch.

Về điều chỉnh chứng quyền, tổ chức phát hành phải điều chỉnh chứng quyền về giá thực hiện, tỷ lệ chuyển đổi… trong trường hợp giá chứng khoán cơ sở bị điều chỉnh do tổ chức phát hành chứng khoán cơ sở trả cổ tức, thưởng cổ phiếu hoặc các trường hợp mà Sở Giao dịch chứng khoán xét thấy cần thiết.

27.4.3. Hoạt động chào bán – niêm yết

Tổ chức phát hành chứng quyền là các công ty chứng khoán đáp ứng các tiêu chí về vốn, năng lực tài chính, năng lực hoạt động nghiệp vụ. Khi chào bán chứng quyền, tổ chức phát hành phải tuân thủ các hạn mức chào bán. Cụ thể:

– Hạn mức về số lượng cổ phiếu quy đổi từ các chứng quyền đã phát hành tất cả tổ chức phát hành (kể cả chứng quyền dựa trên chứng chỉ quỹ ETF mà cổ phiếu đó là thành phần của chỉ số tham chiếu) so với tổng số cổ phiếu tự do chuyển nhượng.

– Hạn mức về số lượng cổ phiếu quy đổi từ chứng quyền trong một đợt chào bán của một tổ chức phát hành so với tổng số cổ phiếu tự do chuyển nhượng.

– Hạn mức về tổng giá trị chứng quyền đã phát hành và đăng ký phát hành của một tổ chức phát hành so với giá trị vốn khả dụng của tổ chức đó.

Nhằm tránh việc phát hành chứng quyền dựa vào các thông tin nội bộ để trục lợi, tổ chức phát hành được quy định không được chào bán chứng quyền dựa trên cổ phiếu của chính tổ chức phát hành và chứng khoán của tổ chức là người có liên quan của tổ chức phát hành. Quyền lợi của người sở hữu chứng quyền phải được ghi rõ trên Điều lệ công ty và được Đại hội đồng cổ đông thông qua. Ngoài ra, Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông cũng phải thông qua phương án bảo đảm thanh toán và các nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với người sở hữu chứng quyền trong trường hợp tổ chức phát hành bị mất khả năng thanh toán, hợp nhất, sáp nhập, giải thể, phá sản. Trước khi chào bán chứng quyền, tổ chức phát hành phải ký quỹ bảo đảm thanh toán hoặc có bảo lãnh thanh toán của ngân hàng lưu ký và sau khi chào bán chứng quyền, tổ chức phát hành phải thực hiện hoạt động phòng ngừa rủi ro cho chứng quyền đã phát hành.

Chứng quyền có bảo đảm có quy trình chào bán – niêm yết ngắn hơn so với cổ phiếu nhằm tạo sự linh hoạt và giúp giá chứng quyền theo sát diễn biến của thị trường cơ sở. Thời gian để cơ quan quản lý xem xét chấp thuận hồ sơ chào bán đối với đợt chào bán lần đầu là 20 ngày làm việc, đối với đợt chào bán bổ sung là 10 ngày làm việc. Thời hạn hoàn thành việc phân phối chứng quyền cho nhà đầu tư đăng ký mua là 15 ngày kể từ ngày Giấy chứng nhận chào bán chứng quyền có hiệu lực. Việc đăng ký, lưu ký chứng quyền được thực hiện trong vòng 2 ngày làm việc kể từ ngày Trung tâm Lưu ký chứng khoán nhận được xác nhận kết quả phân phối chứng quyền từ Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Trong vòng 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo từ Trung tâm Lưu ký chứng khoán về việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký lưu ký chứng quyền, Sở Giao dịch chứng khoán ra quyết định chấp thuận niêm yết chứng quyền. Sau đó 2 ngày làm việc, chứng quyền được chính thức giao dịch trên hệ thống.

Tổ chức phát hành chỉ được thực hiện đợt chào bán bổ sung khi số lượng chứng quyền đang lưu hành của đợt chào bán chứng quyền cùng loại vượt quá 80% số lượng chứng quyền đã phát hành và thời gian đến ngày đáo hạn lớn hơn 30 ngày. Các thông tin của chứng quyền chào bán bổ sung phải giống với chứng quyền của đợt chào bán lần đầu và thông tin điều chỉnh chứng quyền (nếu có), ngoại trừ khối lượng chào bán và giá chào bán.

Chứng quyền bị hủy niêm yết trong các trường hợp như:

– Tổ chức phát hành đình chỉ, tạm ngừng hoạt động, hợp nhất, sáp nhập, giải thể, phá sản hoặc bị thu hồi Giấy phép thành lập và hoạt động;

– Chứng khoán cơ sở bị hủy niêm yết; hoặc không thể xác định được chỉ số chứng khoán vì các nguyên nhân bất khả kháng;

– Sau thời hạn 03 tháng kể từ ngày chào bán, số lượng chứng quyền đang lưu hành ít hơn 50% số lượng chứng quyền đã phát hành;

– Tổng số lượng chứng khoán cơ sở được quy đổi từ các chứng quyền đã phát hành thuộc tất cả các tổ chức phát hành so với tổng số lượng chứng khoán cơ sở tự do chuyển nhượng vượt quá một tỷ lệ phần trăm theo quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước;

– Các chứng quyền đã được hoàn tất việc thực hiện quyền hoặc đã đáo hạn

– Trường hợp Sở Giao dịch chứng khoán xét thấy cần thiết để bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư và sau khi được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận.

27.4.4. Hoạt động giao dịch – thanh toán giao dịch

Chứng quyền được giao dịch thông qua hệ thống giao dịch của Sở Giao dịch chứng khoán. Nhà đầu tư đặt lệnh giao dịch chứng quyền trên tài khoản giao dịch chứng khoán thông thường. Công ty chứng khoán chỉ được nhận lệnh mua hoặc bán chứng quyền của nhà đầu tư khi nhà đầu tư đã có đủ một trăm phần trăm (100%) tiền hoặc chứng quyền để giao dịch. Công ty chứng khoán không được cho nhà đầu tư thực hiện giao dịch ký quỹ đối với chứng quyền. Sau khi hoàn tất thanh toán giao dịch mua chứng quyền, nhà đầu tư trở thành người sở hữu chứng quyền, tổ chức phát hành phải chịu trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ phát sinh từ chứng quyền mà nhà đầu tư sở hữu.

Việc giao dịch chứng quyền bị hạn chế bởi một số quy định như:

Tổ chức phát hành chứng khoán cơ sở không được đầu tư, giao dịch chứng quyền dựa trên chứng khoán của tổ chức đó;

Nhà đầu tư nước ngoài không bị hạn chế tỷ lệ sở hữu chứng quyền; Quỹ đại chúng chỉ được đầu tư vào chứng quyền nhằm mục tiêu phòng ngừa rủi ro.

Chứng quyền bị tạm ngừng giao dịch trong các trường hợp:

Chỉ số cơ sở của chứng quyền bị tạm ngừng tính toán; Chứng khoán cơ sở của chứng quyền bị tạm ngừng giao dịch;

Sự cố bất khả kháng do thiên tai, hỏa hoạn, sự cố kỹ thuật tại hệ thống giao dịch, hệ thống thanh toán;

Các trường hợp Sở Giao dịch chứng khoán thấy cần thiết để bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư và sau khi được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận.

Hoạt động thanh toán giao dịch chứng quyền thực hiện theo quy chế của Trung tâm Lưu ký chứng khoán. Về cơ bản, thanh toán giao dịch chứng quyền giống như thanh toán giao dịch cổ phiếu về quy trình thực hiện, chu kỳ thanh toán.

27.4.5. Hoạt động thực hiện chứng quyền

Chứng quyền được thực hiện theo một trong các phương thức:

– Chuyển giao chứng khoán cơ sở;

– Thanh toán tiền.

Số tiền thanh toán được tính toán dựa trên giá thanh toán (chỉ số thanh toán) của chứng khoán cơ sở và giá thực hiện (chỉ số thực hiện). Sở Giao dịch chứng khoán xác định mức giá thanh toán (chỉ số thanh toán) làm căn cứ tính số tiền thanh toán và công bố mức giá này hàng ngày đối với các chứng quyền đang lưu hành.

 Phương thức thanh toán phải được công bố tại Bản cáo bạch và Bản thông báo phát hành. Phương thức thanh toán bằng tiền phải được thực hiện trong các trường hợp:

– Chứng quyền phát hành dựa trên chứng khoán cơ sở là chỉ số chứng khoán;

– Thực hiện chứng quyền theo hình thức chuyển giao chứng khoán cơ sở cho nhà đầu tư nước ngoài dẫn tới vượt tỷ lệ sở hữu nước ngoài tối đa đối với chứng khoán cơ sở.

– Tổ chức phát hành phải thanh toán bằng tiền đối với phần vượt ngưỡng sở hữu do không thực hiện được theo phương thức chuyển giao chứng khoán cơ sở; phân bổ chứng khoán cơ sở cho nhà đầu tư theo tỷ lệ nắm giữ chứng quyền tại ngày thực hiện;

– Thực hiện chứng quyền theo hình thức chuyển giao chứng khoán cơ sở cho tổ chức kinh doanh chứng khoán dẫn tới vượt hạn mức sở hữu chứng khoán cơ sở của tổ chức kinh doanh chứng khoán. Tổ chức phát hành phải thanh toán bằng tiền đối với phần vượt ngưỡng sở hữu do không thực hiện được theo phương thức chuyển giao chứng khoán cơ sở;

Thực hiện chứng quyền theo hình thức chuyển giao chứng khoán cơ sở dẫn tới nhà đầu tư thuộc đối tượng áp dụng quy định pháp luật chứng khoán về giao dịch chào mua công khai. Tổ chức phát hành phải thanh toán bằng tiền đối với phần vượt ngưỡng phải chào mua công khai;

– Theo thỏa thuận giữa nhà đầu tư và tổ chức phát hành, thực hiện toàn bộ hoặc một phần chứng quyền cho nhà đầu tư dưới hình thức thanh toán bằng tiền do việc thực hiện theo phương thức chuyển giao chứng khoán cơ sở dẫn tới nhà đầu tư thuộc đối tượng áp dụng quy định pháp luật chứng khoán về báo cáo sở hữu và công bố thông tin đối với cổ đông lớn, người nội bộ và người có liên quan của người nội bộ;

– Trường hợp nhà đầu tư không đặt lệnh thực hiện chứng quyền, chứng quyền có lãi (in-the-money) được tự động thực hiện theo phương thức thanh toán bằng tiền vào ngày đáo hạn;

– Trường hợp thực hiện chứng quyền theo phương thức chuyển giao chứng khoán cơ sở làm phát sinh phần cổ phiếu nhỏ hơn 1 đơn vị cổ phiếu thì phần cổ phiếu lẻ được thanh toán bằng tiền. Nhà đầu tư chỉ được yêu cầu thực hiện quyền đối với chứng quyền có lãi hiện có trên tài khoản lưu ký của nhà đầu tư tại ngày thực hiện. Chứng quyền trong tài khoản tự doanh của công ty chứng khoán mà do chính công ty chứng khoán phát hành không được thực hiện.

Lệnh thực hiện chứng quyền từ tài khoản giao dịch của nhà đầu tư mở tại công ty chứng khoán được chuyển tới tổ chức phát hành. Trường hợp nhà đầu tư đặt lệnh thực hiện chứng quyền theo phương thức chuyển giao chứng khoán cơ sở, nhà đầu tư thực hiện thủ tục chuyển tiền để thực hiện chứng quyền mua hoặc chuyển chứng khoán để thực hiện chứng quyền bán. Trên cơ sở văn bản thông báo của tổ chức phát hành, Trung tâm Lưu ký chứng khoán sẽ lập danh sách người sở hữu chứng quyền có yêu cầu thực hiện quyền hàng ngày đối với chứng quyền thực hiện trước ngày đáo hạn, lập danh sách người sở hữu chứng quyền tại ngày đáo hạn, tính toán và phân bổ tiền hoặc chứng khoán cơ sở theo phương thức thanh toán được ghi trên Bản cáo bạch.

Tài sản dùng để thanh toán cho người sở hữu chứng quyền bao gồm:

– Tài sản phòng ngừa rủi ro và các tài sản khác có trên tài khoản tự doanh;

– Tài sản có trên tài khoản ký quỹ tại ngân hàng lưu ký;

– Bảo lãnh thanh toán hoặc tài sản khác (nếu có);

Trường hợp không đủ tài sản để thanh toán thực hiện chứng quyền, việc giải quyết quyền lợi cho người sở hữu chứng quyền thực hiện theo quy định pháp luật liên quan áp dụng đối với chủ nợ có bảo đảm một phần.

Trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày nhà đầu tư đặt lệnh thực hiện chứng quyền hoặc kể từ ngày đáo hạn, công ty chứng khoán, thành viên lưu ký, tổ chức phát hành có trách nhiệm phối hợp với Trung tâm Lưu ký chứng khoán thực hiện thanh toán tiền, chuyển giao tài sản cơ sở cho nhà đầu tư.

27.4.6. Hoạt động của tổ chức phát hành

Sau khi phát hành chứng quyền, tổ chức phát hành phải có trách nhiệm thực hiện hai hoạt động nghiệp vụ quan trọng là hoạt động tạo lập thị trường cho chứng quyền mà mình phát hành và hoạt động phòng ngừa rủi ro cho các chứng quyền đó. Trong đó, hoạt động tạo lập thị trường nhằm tạo thanh khoản cho chứng quyền, gia tăng quy mô giao dịch chứng quyền, hoạt động phòng ngừa rủi ro nhằm đảm bảo nguồn thanh toán cho nhà đầu tư khi thực hiện chứng quyền.

Giao dịch tạo lập thị trường thực hiện trên tài khoản tự doanh của tổ chức phát hành. Chứng quyền trong tài khoản tự doanh của tổ chức phát hành dùng cho hoạt động tạo lập thị trường không được sử dụng để cầm cố, thế chấp, ký quỹ, cho vay hoặc làm tài sản đảm bảo. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức phát hành khi thực hiện chức năng tạo lập thị trường được Sở Giao dịch chứng khoán hướng dẫn tại quy chế.

 Giao dịch phòng ngừa rủi ro thực hiện trên một tài khoản giao dịch độc lập chỉ dành riêng cho hoạt động phòng ngừa rủi ro hoặc trên tài khoản tự doanh của tổ chức phát hành. Hoạt động phòng ngừa rủi ro của tổ chức phát hành bao gồm các giao dịch mua, bán, vay … Chứng khoán trong giao dịch phòng ngừa rủi ro bao gồm chứng khoán cơ sở và các chứng khoán phát hành dựa trên chứng khoán cơ sở đó. Chứng khoán dùng cho mục đích phòng ngừa rủi ro không được sử dụng để cầm cố, thế chấp, ký quỹ, cho vay hoặc làm tài sản đảm bảo. Tổ chức phát hành có trách nhiệm quản lý, hạch toán độc lập danh mục chứng khoán phòng ngừa rủi ro và đáp ứng yêu cầu về mức độ phòng ngừa rủi ro. Để thực hiện hoạt động phòng ngừa rủi ro, tổ chức phát hành phải đảm bảo có tối thiểu 01 nhân viên tại bộ phận quản lý rủi ro liên quan đến hoạt động phát hành chứng quyền có chứng chỉ hành nghề phân tích tài chính hoặc chứng chỉ hành nghề quản lý quỹ hoặc  chứng chỉ phân tích tài chính bậc II (CFA level II).

Sở Giao dịch chứng khoán có trách nhiệm giám sát, theo dõi các vị thế phòng ngừa rủi ro của tổ chức phát hành. Sở sẽ yêu cầu tổ chức phát hành giải trình nếu chênh lệch giữa vị thế phòng ngừa rủi ro lý thuyết và vị thế phòng ngừa rủi ro thực tế trên 20% trong vòng 03 ngày làm việc liên tục, yêu cầu nộp tiền tương ứng với phần chênh lệch giữa vị thế phòng ngừa rủi ro lý thuyết và vị thế phòng ngừa rủi ro thực tế tính theo giá thị trường nếu chênh lệch này vượt quá 50% trong 03 ngày làm việc liên tục. Sở sẽ cảnh báo trên toàn thị trường nếu tổ chức phát hành không thực hiện phòng ngừa rủi ro theo yêu cầu. Tổ chức phát hành bị cảnh báo sẽ bị Ủy ban Chứng khoán Nhà nước giảm hạn mức phát hành chứng quyền đối với lần đăng ký chào bán kế tiếp.

27.4.7. Nghĩa vụ báo cáo và công bố thông tin

Nghĩa vụ báo cáo và công bố thông tin của tổ chức phát hành:

Tổ chức phát hành phải thực hiện nghĩa vụ báo cáo và công bố thông tin về chứng quyền theo định kỳ hoặc công bố thông tin bất thường. Cụ thể:

Tổ chức phát hành phải gửi báo cáo định kỳ cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Sở Giao dịch chứng khoán về chứng quyền: Báo cáo về hoạt động phòng ngừa rủi ro và số lượng đã chào bán trong ngày, báo cáo về các giao dịch tự doanh đối với chứng khoán cơ sở, báo cáo về vị thế mở và giá trị hiện tại của tất cả các chứng quyền.

Ngoài ra, tổ chức phát hành phải công bố thông tin bất thường trong vòng 24 giờ kể từ khi xảy ra một trong các sự kiện:

– Khi nhận được Giấy chứng nhận chào bán chứng quyền

– Khi nhận được quyết định chấp thuận niêm yết hoặc quyết định thay đổi niêm yết hoặc quyết định hủy niêm yết

– Khi nhận được văn bản thông báo về tạm ngừng giao dịch chứng quyền, đình chỉ chào bán chứng quyền, hủy bỏ đình chỉ chào bán chứng quyền, hủy bỏ chào bán chứng quyền

– Khi tổ chức phát hành điều chỉnh chứng quyền

– Khi tổ chức phát hành không đáp ứng được các điều kiện chào bán chứng quyền

– Quyết định thay đổi về ngân hàng lưu ký, ngân hàng bảo lãnh thanh toán (nếu có) hoặc khi nhận được thông báo ngân hàng lưu ký bị giải thể, phá sản hoặc bị kiểm soát đặc biệt theo quy định pháp luật ngân hàng;

– Khi nhận được yêu cầu của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở Giao dịch chứng khoán nơi tổ chức phát hành niêm yết chứng quyền về các sự kiện ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; thông tin liên quan đến công ty ảnh hưởng lớn đến giá chứng quyền và cần phải xác nhận thông tin đó.

Nghĩa vụ báo cáo và công bố thông tin của nhà đầu tư

Nhà đầu tư khi tham gia giao dịch chứng quyền phải tuân thủ các quy định về báo cáo và công bố thông tin nhằm tạo sự minh bạch, công khai trên thị trường đồng thời hạn chế các sự việc làm giá, thao túng thị trường chứng quyền cũng như thị trường cơ sở. Cụ thể:

– Nhà đầu tư khi thực hiện chứng quyền trở thành cổ đông lớn của tổ chức phát hành chứng khoán cơ sở phải báo cáo và công bố thông tin.

– Cổ đông lớn của tổ chức phát hành chứng khoán cơ sở khi thực hiện chứng quyền làm thay đổi tỷ lệ sở hữu cổ phiếu tại tổ chức phát hành chứng khoán cơ sở phải báo cáo và công bố thông tin tương tự như khi tham gia giao dịch cổ phiếu theo quy định pháp luật về báo cáo và công bố thông tin đối với cổ đông lớn.

– Người nội bộ của tổ chức phát hành chứng khoán cơ sở và người có liên quan của đối tượng này khi tham gia giao dịch chứng quyền dựa trên chứng khoán cơ sở đó phải báo cáo và công bố thông tin tương tự như khi tham gia giao dịch cổ phiếu theo quy định pháp luật về báo cáo và công bố thông tin.

Kết luận: Triển khai và phát triển đa dạng các loại chứng khoán là một hoạt động tất yếu trong quá trình phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của nhà đầu tư và phản ánh mức độ phát triển sâu rộng của thị trường trong xu thế hội nhập quốc tế. Với hơn 16 năm phát triển cùng những mốc thời gian thăng trầm của thị trường, sản phẩm chứng quyền có bảo đảm đi vào hoạt động được kỳ vọng sẽ mang lại những tín hiệu đáng mừng cho TTCK Việt Nam.

——————

TÀI LIỆU THAM KHẢO

——————————-

  1. Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11 ngày 29/06/2006.
  2. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán số 62/2010/QH12 ngày 24/11/2010.
  3. Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 7 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán.
  4. Nghị định số 60/2015/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2012/NĐ-CP CP ngày 20 tháng 7 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán.
  5. Báo cáo thường niên, Ủy ban chứng khoán Nhà nước, 2014.
  6. Chung-Chu Chuang, Shuo-Li Chuang, The Impacts of Warrants Issuance on the Price and Trading Volumes of the Underlying Stock: The Call Warrants Case of T aiwan Stock Exchange, Information and Management Sciences, trang 17-34, 2005.
  7. Daniel Stanton, IFR-S.Korea rule change to hit equity-linked warrants market, http://www.reuters.com/article/2011/06/27/korea-equity-derivatives-idUSL3E7HR11T20110627.
  8. Hanfei Zhang, Practical Meaning of Developing Warrant In China Security Market, International Journal of Business and Management, trang 125-131, tháng 09/2008.
  9. Oidojin, System Reformation for ELW market, https://fsckorea.wordpress.com/2011/06/16/system-reformation-for-elw-market/.
  10. Park Hyong-ki, ELW Trading to Be More Transparent, http://www.koreatimes.co.kr/www/news/biz/2014/11/123_15730.html.
  11. Ủy ban Quản lý TTCK và Tương lai HongKong (Securities and Futures Commission –SFC), A healthy market for informed investors – A report on the Derivatives market in Hong Kong, tháng 11/2005.
  12. Số liệu thống kê của Hiệp hội Công nghiệp Hợp đồng tương lai (FIA- Fututes Industry Association) năm 2014.


Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *