Chuyên đề 11 CHÍNH SÁCH THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Chuyên đề 11: CHÍNH SÁCH THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

ThS. Phạm Thị Huyền, Vụ Chính sách – Tổng cục Thuế

11.1. Đất và tầm quan trọng của đất

Đất đai có vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống kinh tế, chính trị và xã hội của mỗi đất nước. Ở nước ta, đất đai được xác định là tài nguyên vô cùng quý giá của quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt,  nguồn nội lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế,  địa bàn phân bổ khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, chính trị, văn hoá, an ninh quốc phòng, là bộ phận cơ bản của lãnh thổ quốc gia, thành phần quan trọng của môi trường sống, là thành quả cách mạng của cả dân tộc. Do đó, quản lý Nhà nước đối với đất đai là một vấn đề luôn luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Vì vậy, từ sau Cách mạng tháng tám năm 1945 Đảng và Nhà nước ta đã đề ra đường lối, chính sách và pháp luật để quản lý đất đai nhằm phát triển kinh tế- xã hội; Nhất là từ khi chúng ta tiến hành đổi mới tới nay các Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc qua các thời kỳ đều đưa ra các chủ trương, chính sách về quản lý Nhà nước đối với đất đai, trong đó có quản lý nhà nước đối với các khoản thu từ đất. Trong đó việc mở rộng quan hệ dân sự, gắn quan hệ đất đai với nền kinh tế thị trường, nâng cao vị thế của quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất trong đó có thuế sử dụng đất phi nông nghiệp bằng các biện pháp kinh tế là một bước đổi mới có ý nghĩa hết sức quan trọng. Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai. Hoạt động này được thực hiện thông qua các chính sách thu thuế sử dụng sử dụng đất nhằm điều tiết các nguồn lợi hoặc phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại.

11.2. Tổng quan chính sách thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp

Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp bắt đầu triển khai thực hiện từ năm 2012, thay thế cho Pháp lệnh Thuế nhà, đất năm 1992 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thuế nhà, đất năm 1994.

Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, là luật thuế mới được áp dụng từ 01/01/2012 với những thay đổi căn bản so với Thuế nhà, đất trước đây nhằm mục tiêu tăng cường sự quản lý Nhà nước đối với đất đai, khuyến khích tổ chức, cá nhân sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả, góp phần hạn chế đầu cơ về đất, khuyến khích thị trường bất động sản phát triển lành mạnh. Việc tính thuế căn cứ theo giá đất được UBND cấp tỉnh ban hành; Thuế suất được xác định theo mức luỹ tiến của diện tích đất sử dụng để khuyến khích sử dụng đất tiết kiệm, hạn chế đầu cơ. Do phạm vi điều chỉnh của chính sách lớn, đối tượng chịu thuế là tất cả các tổ chức, cá nhân, các thành phần kinh tế trong cả nước nên việc quản lý thu đối với sắc thuế này thật sự là vấn đề khó khăn cho ngành thuế giai đoạn này. Với sự quyết tâm thực hiện nhiệm vụ chính trị của ngành, cơ quan thuế từ Trung ương đến địa phương đã tích cực phối hợp các cấp, ngành, các cơ quan liên quan, tranh thủ sự ủng hộ của Uỷ ban nhân dân các cấp để thực hiện tốt nhiệm vụ trong xây dựng chính sách thu; hướng dẫn, chỉ đạo công tác thu; thực tuyên truyền sâu rộng, vận động và hướng dẫn mọi tầng lớp nhân dân thực hiện nghĩa vụ thuế sử dụng đất phi nông nghiệp với ngân sách Nhà nước. Hầu hết các đối tượng có diện tích đất thuộc đối tượng chịu thuế đã được khai thuế, được cấp mã số thuế. Số thu từ thuế sử dụng đất phi nông nghiệp tăng so với số thu thuế nhà đất trước đây và quan trọng nhất là mỗi người sử dụng đất đều chưa ý thức được nghĩa vụ sử dụng đất một cách tiết kiệm.

Với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Lãnh đạo Bộ Tài chính; sự đoàn kết, nhất trí cao của tập thể Lãnh đạo Tổng cục Thuế và sự nỗ lực của các cán bộ, công chức, viên chức trong toàn ngành thuế; sự phối hợp chặt chẽ và hỗ trợ tích cực của các Bộ, ngành, cơ quan liên quan ở Trung ương và các địa phương trên cả nước, ngành quản lý đất đai đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ giao, góp phần quan trọng vào việc giữ ổn định chính trị, xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước.

Hệ thống chính sách pháp luật về các khoản thu từ đất ở Việt Nam nói chung, chính sách thuế sử dụng đất phi nông nghiệp nói riêng đang tạo cơ sở pháp lý cho việc quản lý các khoản thu từ đất thông qua các chính sách khác nhau.  

11.3. Thực trạng về chính sách thuế sử dụng đất phi nông nghiệp

Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là luật thuế mới có những thay đổi căn bản so với Thuế nhà, đất trước đây. Việc tính thuế căn cứ theo giá đất được Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành; Thuế suất được xác định theo mức luỹ tiến của diện tích đất sử dụng để khuyến khích sử dụng đất tiết kiệm, hạn chế đầu cơ; đồng thời đối tượng chịu thuế bao quát được tất cả các đối tượng sử dụng đất phi nông nghiệp, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.

Triển khai thực hiện Luật thuế sử dụng đất mới, trong tình hình sử dụng đất đai có nhiều vấn đề phức tạp. Thị trường bất động sản đóng băng nên doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn về tài chính, nhiều nhà không tìm thấy chủ, vì vậy quá trình thực hiện gặp không ít khó khăn.

Tuy nhiên, với sự quyết tâm thực hiện nhiệm vụ chính trị của ngành, cơ quan thuế từ Trung ương đến địa phương đã tích cực phối hợp các cấp, ngành, các cơ quan liên quan, tranh thủ sự ủng hộ của Uỷ ban nhân dân các cấp để thực hiện tốt nhiệm vụ trong xây dựng chính sách thu; hướng dẫn, chỉ đạo công tác thu; thực tuyên truyền sâu rộng, vận động và hướng dẫn mọi tầng lớp nhân dân thực hiện nghĩa vụ thuế sử dụng đất phi nông nghiệp với ngân sách Nhà nước. Hầu hết các đối tượng có diện tích đất thuộc đối tượng chịu thuế đã được khai thuế, được cấp mã số thuế.

Bảng 11.1. Kết quả thu ngân sách 2014 – 2016

STTSố nộp NSNNHộ gia đình, cá nhânTổ chứcTổng số
Năm 2014Năm 2015Năm 2016Năm 2014Năm 2015Năm 2016Năm 2014Năm 2015Năm 2016
1Số thuế phát sinh1,1861,2311,2193244143671,5101,6451,586
2Số thuế miễn, giảm104109121183736122147157
3Số thuế còn phải nộp1,0821,1221,0983063773311,3881,4981,429

Nguồn: Tổng cục Thuế

Tổng số trên cả nước thuế sử dụng đất phi nông nghiệp phải nộp (sau khi đã trừ miễn giảm) năm 2014 là 1.388 tỷ đồng, chỉ bằng 87% (1.388 tỷđ/1.590 tỷđ) so với thuế năm 2013, giảm 13% so với thuế nhà đất năm 2013; Năm 2015 là 1.489 tỷ đồng tăng 107% (1.489 tỷ đ/1.388tỷđ) so với năm 2014, tăng 7% so với năm 2014.

11.3.1. Về công tác tổ chức, triển khai thực hiện

a) Về công tác tổ chức

Các văn bản quy phạm pháp luật về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đã được ban hành từ trước 01/01/2012 là điều kiện thuận lợi tiên quyết cho công tác nghiên cứu, triển khai thực hiện Luật.  Trên cơ sở đó và kinh nghiệm rút ra từ thí điểm áp dụng Luật thuế tại một số tỉnh trong quá trình xây dựng chính sách thu, cơ quan thuế đã tổ chức tập huấn chính sách và phương pháp kê khai thuế sử dụng đất PNN nhằm phổ biến để các địa phương hiểu và nắm rõ chính sách thuế sử dụng đất phi nông nghiệp như: đối tượng nộp thuế, thuế suất, đối tượng miễn giảm thuế, đối tượng phải nộp tờ khai tổng hợp…; Có văn bản chỉ đạo toàn ngành, trong đó đã giao Cục thuế các tỉnh, thành phố thành lập Tổ thường trực giúp việc ban chỉ đạo để có biện pháp chỉ đạo và xử lý các vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai tại địa phương; đôn đốc thực hiện các công việc như: phối hợp với các cơ quan liên quan ở địa phương để rà soát các căn cứ tính thuế, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật..; Mở chuyên mục về Luật thuế sử dụng đất PNN trên website ngành thuế, có văn bản hướng dẫn các địa phương về đề cương tuyên truyền, khẩu hiệu tuyên truyền và đã phát hành tờ rơi tuyên truyền vê thuế sử dụng đất PNN; Tổ chức họp báo tuyên truyền, phổ biến nội dung Luật thuế, phát hành sách hỏi đáp về các tình huống khi triển khai thuế sử dụng đất PNN để NNT và cán bộ thuế tiện tra cứu ứng dụng.

b) Về triển khai thực hiện

Năm 2012, số lượng NNT đến hơn 16 triệu và số lượng thửa đất phải quản lý lên đến gần 18 triệu thửa, tương ứng với tổng diện tích gần 6 tỷ m2. Năm 2013, số lượng NNT đến gần 17 triệu và số lượng thử đất phải quản lý hơn 18 triệu thửa, tương ứng với tổng diện tích hơn 6 tỷ m2, ứng dụng công nghệ thông tin thực sự đã góp phần không nhỏ cho việc triển khai luật thuế đúng thời hạn.

Công tác tin học đã triển khai kịp thời để đáp ứng nhu cầu quản lý số đối tượng nộp thuế, số thửa đất, diện tích đất chịu thuế cũng như số thuế phải nộp. Phần mềm ứng dụng PNN-online về cơ bản đã đáp ứng nhu cầu bước đầu trong việc cấp mã số thuế, khai thuế và theo dõi số thuế phải nộp của tất cả các đối tượng. Kinh phí triển khai thực hiện cũng đã được dự trù đầy đủ và xây dựng được hướng dẫn định mức chi tiêu để đảm bảo nguồn lực tài chính cho triển khai thực hiện Luật được thông suốt.

 Các Cục Thuế đã tổ chức tập huấn chính sách và hướng dẫn kê khai cho các Sở, ban, ngành ở địa phương và cho các Chi cục Thuế. Chi cục Thuế tập huấn cho các cán bộ xã, phường và tổ dân phố; Chủ động phối hợp với Sở Thông tin và truyền thông và các cơ quan Báo, Đài để tuyên truyền phổ biến kịp thời những nội dung của Luật thuế; Công bố đường dây nóng để ghi nhận, giải đáp vướng mắc; Bố trí lực lượng cán bộ phù hợp để thực hiện tốt kế hoạch triển khai đã đề ra…

Được sự ủng hộ của UBND các cấp và sự phối hợp tích cực của các cấp, ngành liên quan ở địa phương nên chính sách thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đã từng bước được đưa vào cuộc sống và đạt được những kết quả khả quan từ kê khai, thu, nộp, ý thức chấp hành của đối tượng nộp thuế…đến quản lý các dữ liệu liên quan đến sử dụng đất phi nông nghiệp. 

c) Bài học kinh nghiệm:

Luật thuế SDĐPNN có số lượng đối tượng Người nộp thuế đông đảo, tác động sâu rộng đến đến toàn xã hội. Triển khai và đưa Luật vào cuộc sống là một thành công lớn cần được áp dụng cho quá trình triển khai cho các Luật thuế khác. 

Qua nghiên cứu điển hình trong tổ chức triển khai thực hiện Luật thuế sử dụng đất PNN là Thành phố Hà Nội để có thể rút ra “nguyên nhân thành công” và “bài học kinh nghiệm”, cụ thể như sau:

c1) Nguyên nhân thành công

Thứ nhất: Sự chỉ đạo quyết liệt, có hệ thống của UBND các cấp từ tỉnh, thành phố, quận, huyên và UBND các xã phường đã đưa cả hệ thống chính trị vào cuộc, xem đây là nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh, thành phố trong năm 2012.

Đối với Hà Nội Chủ tịch UBND Thành phố đã ban hành Chỉ thị để giao nhiệm vụ, giải pháp triển khai thực hiện Luật thuế sử dụng đất PNN các Sở, ngành và toàn thể hệ thống chính trị của thành phố phối hợp với cơ quan Thuế trong việc triển khai Luật; 29 quận, huyện, thị xã đã thành lập Ban chỉ đạo do đồng chí Chủ tịch UBND quận, huyện, thị xã làm Trưởng ban, Chi cục trưởng Chi cục Thuế là phó ban thường trực.

 Thứ hai: Xây dựng kế hoạch, lộ trình triển khoa học, phù hợp với thực tiễn, duy trì phát huy tối đa hiệu quả hoạt động của các ban chỉ đạo:

– Các Ban chỉ đạo xây dựng kế hoạch, lộ trình triển khai đồng bộ, giao nhiệm vụ, tiến độ và kiểm đếm tiến độ theo thời gian, thường xuyên tập hợp vướng mắc, bàn bạc tháo gỡ kịp thời. Trong quá trình triển khai, UBND Thành phố thường xuyên có những văn bản chỉ đạo UBND các cấp nghiêm túc thực hiện Luật và chỉ thị của Chủ tịch UBND Thành phố. Phát hiện, nhắc nhở kịp thời các đơn vị triển khai chưa kịp thời. UBND cấp huyện đưa nhiệm vụ triển khai Luật thuế sử dụng đất PNN là nhiệm vụ trọng tâm của địa phương. Duy trì tốt hoạt động của Ban chỉ đạo địa phương; hàng tháng có giao ban chuyên đề về triển khai Luật Thuế sử dụng đất PNN; UBND cấp huyện chỉ đạo sát sao, kịp thời  UBND các phường, xã, thị trấn trong quá trình triển khai Luật;

– Công tác phối hợp Liên ngành trong việc tuyên truyền, hướng dẫn chính sách các Sở ngành kịp thời và phát huy hiệu quả cao: Cục Thuế đã phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn kịp thời về xác định hạn mức tính thuế, đất lến, chiếm, đất sử dụng sai mục đích; với Sở Xây dựng xây dựng hệ số phân bổ để tính thuế đối với đất ở của nhà nhiều tầng, nhiều hộ ở, nhà chung cư … 

Thứ ba: Tổ chức có hiệu quả công tác tuyên truyền, hỗ trợ Người nộp thuế, xây dựng kế hoạch, nội dung và hình thức theo lộ trình phù hợp với quy định của chính sách và tiến độ triển khai của địa phương. 

c2) Những bài học kinh nghiệm

Thứ nhất: Chính sách thu được xây dựng một cách khoa học, thận trọng có lộ trình thích hợp, phù hợp với thực tiễn là tiền đề tốt cho công tác triển khai thực hiện.

Kể từ khi Luật chính thức được Quốc hội thông qua (ngày 17/6/2010) đến khi Luật chính thức có hiệu lực (ngày 1/1/2012) là 18 tháng. Trong khoản thời gian này, cùng với việc xây dựng dự thảo Nghị định, Thông tư hướng dẫn, lấy ý kiến các Bộ, ngành, địa phương Bộ Tài chính đã cho triển khai thí điểm tại 4 địa phương. Từ ý kiến đóng góp của các Bộ, ngành, địa phương và đặc biệt kết quả thực hiện triển khai thí điểm này đã phát hiện những vấn đề cần tháo gỡ, những bất cập từ thực tế. Từ đo xây dựng Nghị định và thông tư hướng dẫn mang tính thực tiễn cao.

Thứ hai: Sự chỉ đạo quyết liệt, có hệ thống của UBND các cấp đã đưa cả hệ thống chính trị vào cuộc, xem đây là nhiệm vụ trọng tâm của thành phố trong năm 2012.

Thứ ba: Tổ chức có hiệu quả công tác tuyên truyền, hỗ trợ Người nộp thuế.

Thứ tư: Cơ quan Thuế phát huy tốt vai trò tham mưu cho UBND, Ban chỉ đạo các cấp và triển khai đồng bộ, khoa học quyết liệt các biện pháp nghiệp vụ, các giải pháp, phối hợp tốt với UBND các cấp đặc biệt là cấp xã trong quá trình triển khai thực hiện Luật.

 11.3.2. Về số thu thuế SDĐPNN và các số liệu cơ quan thuế quản lý được

Qua hơn 05 năm thực hiện thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Kết quả tổng quan từ 63 tỉnh thành trên cả nước như sau:

– Về công tác quản lý: nhìn chung sau khi thu hồi tờ khai, cùng với xã xác định cụ thể diện tích đất thực tế sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp, với chương trình phần mềm quản lý thuế sử dụng đất PNN, thì cơ quan thuế địa phương đã nắm được tương đối sát các dữ liệu liên quan đến đất PNN về: Đối tượng nộp thuế, diện tích đất sử dụng, vị trí, mục đích sử dụng đất…, nhiều địa phương số liệu này còn sát thực hơn cả số của cơ quan tài nguyên môi trường hiện có.

Số đối tượng nộp thuế đã tăng đáng kể so với Pháp lệnh thuế nhà, đất do đưa thêm đối tượng chịu thuế là người thuê đất phi nông nghiệp; và do thuế nhà đất thu quá lâu mà ít điều chỉnh sổ bộ vì không có kinh phí và nhân lực, trong khi nhân khẩu tăng nhanh và đối tượng sử dụng đất đai có nhiều biến động.

– Về số thu: Một số địa phương có được kết quả thu khả quan, số thu thuế phi nông nghiệp tăng so với thuế nhà đất các năm trước đó. Nguyên nhân của việc tăng này chủ yếu do phát sinh thêm đối tượng nộp thuế là các tổ chức, cá nhân thuê đất trước đây không phải nộp thuế nhà đất nhưng nay thuộc đối tượng của thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Đa số các địa phương còn lại đánh giá số thu từ thuế sử dụng đất phi nông nghiệp giảm so với thuế nhà đất. Một số tỉnh miền núi có số thu từ sắc thuế này không đáng kể, lý do hầu hết hộ gia đình cá nhân ở vùng khó khăn được giảm 50% và ở vùng đặc biệt khó khăn được miễn thuế. Ở các tỉnh này, nhiều hộ gia đình, cá nhân có số thuế phải nộp chưa đầy 1.000 đồng/năm nhưng nhưng các Chi cục Thuế vẫn phải phát hành thông báo thuế sử dụng đất PNN, tổ chức thu nộp, quyết toán mất nhiều công sức, hiệu quả không cao.

11.4. Những vướng mắc phát sinh

Bên cạnh kết quả đã đạt được thì việc triển khai thực hiện luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp còn gặp một số khó khăn cụ thể như sau:

11.4.1. Vướng mắc về căn cứ tính thuế sử dụng đất PNN

a) Trường hợp đất chưa được cấp Giấy chứng nhận không áp dụng hạn mức tính thuế là không công bằng giữa những người sử dụng đất, gây thắc mắc trong dân vì người chây ì nghĩa vụ tài chính với nhà nước nên chưa được cấp GCN thì lại được hưởng mức thu có lợi hơn so với người chấp hành tốt chính sách pháp luật của nhà nước. Hơn nữa, trường hợp này nếu xét miễn giảm thì cũng được xét cho toàn bộ diện tích chứ không xét theo đất trong hạn mức như đối với NNT sử dụng đất đã có GCN thì càng bất hợp lý, cần phải có sửa đổi.

b) Trường hợp quy định hạn mức sử dụng đất ở được UBND cấp tỉnh điều chỉnh thì phải kê khai lại hồ sơ khai thuế của năm điều chỉnh là không phù hợp. Vì đó là do chính sách thay đổi chứ không phải do người nộp thuế kê khai sai.

c) Người thuê đất đã nộp tiền sử dụng đất thuê lại phải nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là thu trùng 2 khoản đều là thu NSNN về sử dụng đất, vì vậy gây phản ứng và thắc mắc của người nộp thuế.

d) Đối với trường hợp người nộp thuế có nhiều thửa đất phải kê khai tổng hợp thì cách tính thuế quá phức tạp. Người nộp thuế chưa nộp tờ khai tổng hợp mặc dù đã tuyền truyền, hướng dẫn nhiều và cơ quan thuế chưa kết nối được dữ liệu về nhà đất của người nộp thuế. Việc tập huấn, hướng dẫn để người nộp thuế thực hiện kê khai, nộp tờ khai tổng hợp tốn rất nhiều thời gian, công sức giải thích, hướng dẫn người nộp thuế và Uỷ nhiệm thu nhưng thực tế đạt được chưa cao, số thuế dự kiến thu thêm phát sinh không nhiều.

Trên tờ khai tổng hợp đối với người nộp thuế có nhiều thửa đất mà trong đó có thửa đất vượt hạn mức, có thửa cấp trước thời điểm quy định hạn mức và thửa không vượt hạn mức. Căn cứ tính thuế chọn thửa có đất vượt hạn mức, các thửa còn lại đều là đất vượt hạn mức chịu thuế suất từ 0.07% đến 0.15% kể cả phần đất trên thửa đất có giấy chứng nhận được cấp trước khi có quy định hạn mức (mặc nhiên được hưởng thuế suất 0.03%). Chênh lệch này là nguyên nhân của những khiếu nại mà người sử dụng đất không đồng ý ký nhận tờ khai tổng hợp để nộp thuế.

e) Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận QSDĐ do UBND tỉnh tạm cấp chưa quy định hạn mức, đến khi đổi giấy chứng nhận QSDĐ đồng loạt thì có quy định hạn mức. Do đó, khi tính thuế sử dụng đất PNN theo giấy chứng nhận QSDĐ mới có hạn mức đất ở thì người dân khiếu nại.

f) Có trường hợp cấp GCN quyền sử dụng đất lần đầu là hạn mức công nhận. Nhưng sau một thời gian, xin tách thửa thì địa phương lại có hạn mức gây nên cơ sở bất hợp lý.

g) Về căn cứ tính thuế đối với thuê nhà (chung cư) thuộc sở hữu nhà nước: Nhà chung cư do Nhà nước đầu tư bằng vốn NSNN, bàn giao lại nhà cho Công ty Quản lý nhà chung cư sau khi được xây dựng xong, không bàn giao đất (đất xây dựng nhà và đất khuôn viên chung cư). Theo quy định thì Công ty quản lý nhà chung cư phải khai, nộp thuế sử dụng đất PNN, trong khi không được giao quản lý về đất, việc xác định diện tích đất để khai, tính thuế gặp nhiều khó khăn (số liệu không có căn cứ chính xác).

h) Tiêu chí phân bổ diện tích đất có nhà nhiều tầng, nhiều chủ khó thực hiện do hộ dân, chính quyền địa phương không có hồ sơ thiết kế nhà.

– Thủ tục hồ sơ về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp khá phức tạp, nhiều chỉ tiêu trong khi số hộ lớn gây tốn kém kinh phí.

– Việc theo dõi lập bộ thuế, theo dõi thu nộp theo mã số thuế gặp phức tạp khi tên người nộp trong biên lai nộp thuế khác với tên trong sổ bộ thuế.

– Việc thực hiện cơ chế ủy nhiệm thu hiện nay là phù hợp tuy nhiên do quy định thù lao quá thấp bình quân một cán bộ ủy nhiệm thu thu nhập 1,8 triệu đồng/ tháng không khuyến khích cán bộ ủy nhiệm thu gắn bó với ngành, đặc biệt là những địa bàn khó khăn số thu nhỏ, cũng như việc thu rất khó thực hiện.

11.4.2. Vướng mắc trong giải quyết miễn giảm thuế sử dụng đất PNN

(1) Luật thuế sử dụng đất PNN chưa hướng dẫn chi tiết việc miễn, giảm thuế đối tượng chính sách là con liệt sĩ không được hưởng trợ cấp; Việc xác định hoàn cảnh khó khăn cho người bị nhiễm chất độc màu da cam cũng gặp vướng mắc (như: nhiễm chất độc hoá học có được xếp vào loại này không?).

– Trường hợp người được cấp nhà tình nghĩa đã qua đời để lại cho con tiếp tục sử dụng nhà và quyền sử dụng đất ở. Như vậy, người thừa kế tiếp tục sử dụng nhà và quyền sử dụng đất ở có được miễn thuế hay không?

– Quyết định cấp quyền sử dụng nhà tình nghĩa thì không có ghi diện tích đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có diện tích lớn hơn hạn mức đất ở. Như vậy, diện tích miễn thuế được tính cho toàn bộ thửa đất hay trong hạn mức đất ở (Thông tư 153/2011/TT-BTC chỉ quy định miễn đất xây dựng nhà tình nghĩa).

(2) Trên địa bàn một số địa phương thì diện tích đất phi nông nghiệp nằm trong danh mục địa bàn có điều kiện KTXH khó khăn, đặc biệt khó khăn lớn, nên đối tượng được miễn, giảm thuế sử dụng đất phi nông nghiệp chiếm số lượng rất lớn. Tuy nhiên, do giá đất thấp nên số thuế phải nộp thấp và số thuế được miễn, giảm vì thế cũng rất thấp, có xã số thuế lập bộ bình quân hộ chỉ khoản 800 đồng, trong khi đó người nộp thuế nếu thuộc đối tượng được miễn, giảm thì phải làm thủ tục: Bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hồ sơ chứng minh là thành viên của hộ gia đình được miễn, giảm thuế như: Sổ hộ khẩu hoặc bản sao giấy khai sinh,…Mặt khác có một số xã miền núi không có địa điểm photo, nên hầu hết người dân không chịu làm thủ tục để được miễn, giảm.

(3) Tại Thông tư 153/2011/TT-BTC quy định

Khoản 2, Điều 9, về nguyên tắc miễn, giảm thuế: “2.Việc miễn thuế hoặc giảm thuế đối với đất ở chỉ áp dụng đối với đất ở tại một nơi do người nộp thuế đứng tên và lựa chọn, trừ trường hợp quy định tại Khoản 9 Điều 10 và Khoản 4 Điều 11 Thông tư này”.

Quy định như thế này là chưa cụ thể, cụm từ “ở tại một nơi” có thể được hiểu là phạm vi địa bàn hành chính xã, hoặc huyện và rộng hơn là phạm vi một tỉnh. Vì vậy, có nhiều vướng mắc khi NNT có nhiều lô đất nằm trên các huyện khác nhau.

(4) Căn cứ theo Thông tư số 153/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 của Bộ tài chính hướng dẫn về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Trường hợp miễn, giảm thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đối với “Đất ở trong hạn mức của hộ nghèo theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về chuẩn hộ nghèo” là chưa phù hợp vì hộ nghèo thì không có khả năng về tài chính khi làm hồ sơ thủ tục chuyển mục đích  sử dụng đất để được miễn, giảm thuế.

Thực tế có rất nhiều trường hợp người dân đã tự chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất ở nhưng không làm hồ sơ thủ tục để được Nhà nước cấp GCN quyền sử dụng đất ở, do mức thu tiền chuyển mục đích sử dụng rất cao, người dân còn nhiều khó khăn nên không đủ tiền để nộp, dẫn đến tình trạng vi phạm chính sách pháp luật về đất đai. Từ đó có nhiều trường hợp người dân kê khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp trên tờ khai ghi là đất ở nhưng trên giấy chứng nhận QSDĐ là đất nông nghiệp. Nên nảy sinh nhiều vướng mắc trong công tác lập bộ, tính thuế và thu thuế sử dụng đất PNN.

(5) Theo quy định tại Khoản 4 Điều 9 Luật thuế sử dụng đất PNN có hiệu lực thi hành từ 01/01/2012 thì đất của dự án đầu tư, đất ở trong hạn mức tại địa bàn có điều kiện KTXH đặc biệt khó khăn thuộc đối tượng được miễn thuế sử dụng đất PNN, còn tại Khoản 2 Điều 10 quy định đất của dự án đầu tư, đất ở trong hạn mức tại địa bàn có điều kiện KTXH khó khăn thì thuộc đối tượng được giảm 50% thuế sử dụng đất PNN.

Tại Khoản 1 Điều 8 Nghị định số 53/2011/NĐ-CP ngày 01/07/2011 của Chính phủ quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế SDĐPNN quy định: “1. Danh mục lĩnh vực khuyến khích đầu tư, lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư, địa bàn có điều kiện KTXH khó khăn, địa bàn có điều kiện KTXH đặc biệt khó khăn quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 9 và khoản 1, khoản 2 Điều 10 Luật Thuế sử dụng đất PNN được thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư.”

Quy định của pháp luật đầu tư về địa bàn có điều kiện KTXH khó khăn và đặc biệt khó khăn hiện đang thực hiện theo Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư. Trong đó, tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này quy định cụ thể danh mục địa bàn có điều kiện KTXH khó khăn, địa bàn có điều kiện KTXH đặc biệt khó khăn.

Tuy nhiên, một vấn đề đang gây băn khoăn không nhỏ ở nhiều địa phương trên cả nước là những xã được xếp vào danh mục xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu được Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt vào diện đầu tư chương trình phát triển KTXH các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006 – 2010 (Chương trình 135 giai đoạn II) nhưng không nằm trong danh mục địa bàn có điều kiện KTXH khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn theo quy định tại Nghị định số 108/2006/NĐ-CP hướng dẫn Luật Đầu tư thì  không được xét miễn, giảm thuế SDDPNN theo Khoản 4 Điều 9 và Khoản 2 Điều 10 Luật thuế sử dụng đất PNN nêu trên. Đây là điểm rất bất hợp lý của chính sách thuế sử dụng đất PNN vì thuế này thu chủ yếu đối với sử dụng đất ở mà người dân thì không có dự án đầu tư nên miễn theo danh mục địa bàn ưu đãi đầu tư là chưa phù hợp về mặt đạo lý.

Tại các huyện thuộc khu vực kinh tế khó khăn, được giảm 50% thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đối với diện tích đất ở trong hạn mức. Một số xã, thôn trong huyện được công nhận là vùng KTXH đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ. Vậy, các xã, thôn trong huyện có được miễn thuế sử dụng đất phi nông nghiệp không? Các xã có điều kiện KTXH khó khăn theo quy định của Chính phủ có được giảm 50% thuế sử dụng đất PNN đối với diện tích trong hạn mức theo quy định của Luật không?

(6) Theo điểm b1, b2 mục 1.4 khoản 1 Điều 4 Thông tư 153/2011/TT-BTC thì hạn mức đất ở làm căn cứ tính thuế được thực hiện theo 02 loại hạn mức: Hạn mức công nhận đất ở và hạn mức giao đất ở. Hạn mức công nhận đất ở và hạn mức giao đất ở được áp dụng thuế suất 0.03%. Như vậy, diện tích miễn, giảm thuế sử dụng đất phi nông nghiệp thực hiện theo hạn mức công nhận đất ở hay hạn mức giao đất ở?

(7) Một số hộ gia đình thuộc đối tượng hộ tái định cư và hộ gia đình đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận nhưng chưa được các cơ quan có thẩm quyền cấp; các hộ gia đình xã vùng sâu, vùng xa (đặc biệt đối với vùng dân tộc thiểu số) hiện nay không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất dẫn đến khó khăn cho công tác lập hồ sơ miễn, giảm đối với những hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng được miễn, giảm theo khoản 4, điều 10 Thông tư 153/2011/TT-BCT ngày 11/11/2011 của Bộ Tài chính.

11.4.3. Vướng mắc trong tổ chức, triển khai thực hiện

(1) Luật thuế sử dụng đất PNN là luật thuế mới, phạm vi điều chỉnh và đối tượng rất rộng; phương thức kê khai thuế, tính thuế, lập bộ và quyết toán thuế phức tạp, lại là năm đầu tiên thực hiện nên quá trình triển khai không lường hết được những khó khăn, bất cập.

Cơ sở dữ liệu về thông tin địa chính của người sử dụng đất còn thiếu đồng bộ, việc cập nhập thông tin chưa kịp thời, tỷ lệ cấp GCN quyền sử dụng đất ở một số địa phương còn thấp đã ảnh hưởng đến hiệu quả và chất lượng triển khai ở cơ sở.

(2) Đối với các trường hợp sử dụng đất sai mục đích thì thuế sử dụng đất phi nông nghịêp gấp năm lần sử dụng đúng mục đích nên người nộp thuế còn kỳ kèo, so đo không chấp hành nghĩa vụ nộp thuế. Người nộp thuế không cung cấp thông tin cũng như hồ sơ kèm theo khi kê khai thuế, từ đó dẫn đến khiếu nại của người nộp thuế còn nhiều (Ví dụ người nộp thuế thực tế đất sử dụng đúng mục đích là đất ở nhưng khi kê khai thì khai sai mục đích dẫn đến số thuế phải nộp cao, khi nhận thông báo thì không chấp hành nộp, không kê khai điều chỉnh, bổ sung).

(3) Một số Chi cục thuế có sự luân chuyển, thay đổi nhân sự cấp lãnh đạo và nhân viên làm thay đổi thành phần tham gia trong ban chỉ đạo và từng công việc chi tiết làm ảnh hưởng tiến độ triển khai thực hiện công tác.

Lực lượng cán bộ địa chính xã, phường, thị trấn còn ít và luân chuyển nên cập nhật số liệu về đất không kịp thời. Cán bộ trực tiếp xử lý số liệu còn nhiều hạn chế. Chính quyền một số xã chưa tích cực phối hợp với cơ quan thuế trong triển khai thực hiện, cá biệt có một số xã còn một số tờ khai chưa thu hồi và nộp cho cơ quan thuế. Tại UBND các phường xã chỉ có 01 cán bộ địa chính mà số lượng hộ kê khai thuế tương đối nhiều nên việc xác nhận tờ khai tương đối chậm. Mặt khác, việc xác nhận chưa đầy đủ các chỉ tiêu trên tờ khai làm căn cứ tính thuế phải trả về UBND phường xã xác nhận lại làm ảnh hưởng đến tiến độ thu hồi tờ khai thuế.

Một số ngành chuyên môn và chính quyền địa phương chưa quan tâm nhiều đến lĩnh vực quản lý về đất đai trên địa bàn, nhiều trường hợp lấn chiếm đất công, chuyển mục đích trái phép…chưa có biện pháp xử lý triệt để nên thực hiện thu với thuế suất cao hơn nhiều lần thuế suất phổ thông gặp rất nhiều phản ứng của các đối tượng chây ì

(4) Hiện nay, theo phản ánh của một số lãnh đạo UBND các xã, người nộp thuế còn thắc mắc vấn đề như sau: Hộ gia đình thương binh liệt sĩ, gia đình chính sách, hộ nghèo,… hộ ở địa bàn thuộc các xã theo chương trình 135 trước đây, nay không được miễn, giảm thuế sử dụng đất PNN do đất ở sai mục đích. Hiện nay, số hộ thuộc các trường hợp được miễn, giảm thuế Nhà đất trước đây, nay phải chuyển sang nộp thuế sử dụng đất PNN do không đủ điều kiện được miễn, giảm thuế theo luật định là rất nhiều, tuy nhiên mỗi trường hợp lại có số thuế phát sinh không lớn; nhưng nếu tiến hành thu thuế sẽ xảy ra những trường hợp không công bằng; không ưu đãi các gia đình thương binh, liệt sĩ; công tác an sinh xã hội của nhà nước bị ảnh hưởng; hộ nghèo gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống;.. Do đó, những trường hợp được miễn giảm thuế Nhà đất trước đây, nay phần lớn họ không chấp hành nộp thuế sử dụng đất PNN.

(5) Tình trạng đất lấn, chiếm, sử dụng sai mục đích của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khá phổ biến nhưng người sử dụng đất không kê khai, cơ quan chức năng (UBND xã, cơ quan tài nguyên và môi trường) không xác nhận nên cơ quan thuế không có căn cứ tính thuế.

Việc quản lý thu thuế sử dụng đất PNN đối với các tổ chức kinh tế sử dụng đất trong các khu công nghiệp do nhà nước đầu tư, tiến độ triển khai chậm do vướng về chính sách và giá đất để áp dụng tính thuế, dẫn đến việc kê khai, nộp thuế sử dụng đất PNN của các đơn vị này chưa được thực hiện theo đúng thời hạn quy định.

(6) Trong quá trình triển khai còn một số vướng mắc như: việc xác định vị trí, giá đất để tính thuế sử dụng đất PNN trong một số trường hợp đặc biệt, đặc thù ( đất bị che khuất một phần, đất bị che khuất hoàn toàn…). Do vậy, công tác tuyên truyền, hướng dẫn giải thích cho người dân hiểu và đồng tình trong các trường hợp này phải mất nhiều thời gian.

Một số trường hợp lô đất có vị trí đặc thù hoặc chưa được quy định giá trong Quyết định của UBND thành phố, Cục thuế đã có văn bản báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo của UBND thành phố nhưng ý kiến phản hồi chậm nên việc lập bộ và phát hành thông báo để đơn vị nộp thuế sử dụng đất PNN còn chậm. Trong quá trình triển khai, nhiều vướng mắc từ thực tế…., Chi cục phản ánh, Cục thuế phản ánh về Tổng cục nhưng phản hồi, chỉ đạo đôi lúc còn chậm…

11.4.4. Vướng mắc về việc kê khai thuế

(1) Do địa hình miền núi, đường xá đi lại khó khăn, dân cư không tập trung, trình độ dân trí không đồng đều thậm chí một số nơi dân trí còn thấp nên gặp khó khăn trong công tác tuyên truyền, vận động việc thực hiện sửa lỗi trên kê khai do kê khai không đầy đủ, thiếu các thông tin, kê khai không đúng với thực tế đất sử dụng; Bảng giá đất do UBND tỉnh ban hành hàng năm là căn cứ tính Thuế sử dụng đất PNN nhưng trong bảng giá lại chia làm nhiều vị trí, nhiều hệ số để tính giá cho 1m2 đất cũng làm ảnh hưởng đến việc xác định số thuế phải nộp đối với những thửa đất sâu, rộng, trong ngõ hẻm hoặc tiếp giáp với nhiều mặt phố; Quy định về kê khai rườm rà, nhiều bước, theo từng thửa, kê khai tổng hợp, căn cứ tính thuế quy định nhiều mức thuế suất nên gây khó khăn cho người nộp thuế trong thực hiện cũng như trong công tác quản lý của cơ quan thuế.

(2) Theo quy định hiện nay về thời hạn nộp thuế sử dụng đất PNN (chậm nhất đến 31/12) là quá trễ, khó đôn đốc thu nộp.

(3) Tờ khai thuế sử dụng đất PNN (mẫu 01) được thiết kế với quá nhiều chỉ tiêu nên trong quá trình kê khai, người sử dụng đất dễ nhầm lẫn, theo đó cơ quan chức năng khi phát hiện thông tin sai rất khó điều chỉnh.

(4) Một số tờ khai chưa điền đủ các chỉ tiêu, đặc biệt là chứng minh thư nhân dân. Một số thửa đất không thể xác định chủ sở hữu chính thức do người dân mua đi bán lại nhiều lần, hoặc thời điểm kê khai không có mặt tại địa phương. Khi cấp mã số thuế, số đối tượng trùng  tên trên cùng địa bàn rất khó tra cứu thông tin. Việc xác định hộ có từ 02 thửa đất trở lên để yêu cầu kê khai tổng hợp rất khó khăn.

Theo quy định tại thông tư 153/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 thì đến 30/6/2012 phải hoàn tất công tác thu hồi tờ khai trong khi số lượng tờ khai phải thu hồi, có xác nhận của UBND các xã, phường để nhập bộ vào chương trình ứng dụng tính thuế rất lớn, lực lượng cán bộ địa chính  và cán bộ ủy nhiệm thu ở các xã/ phường quá mỏng, không thể đáp ứng kịp thời về công tác kiểm tra xác nhận thông tin địa chính của thủa đất để làm căn cứ tính thuế, nên ít nhiều cũng ảnh hưởng đến tiến độ triển khai.

Công tác xác nhận lên tờ khai thuế của hộ gia đình, cá nhân do UBND phường, xã, thị trấn thực hiện. Một số tờ khai xác nhận còn chậm, khó khăn như diện tích đất lấn, chiếm; đất còn chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng; đất sử dụng không đúng mục đích,… Một số phường, xã, thị trấn chưa liên lạc được với người nộp thuế (vắng chủ). Một số chung cư chưa xác định hệ số phân bổ để cho UBND phường, xã, thị trấn làm cơ sở cho công tác xác nhận trên tờ khai.

Việc kiểm tra, đánh giá xác nhận thông tin địa chính trên tờ khai thuế PNN (Tờ khai mẫu 01) của UBND xã, thị trấn thiếu cơ sở pháp lý, số lượng tờ khai xác nhận sai thông tin khá phổ biến. Việc kiểm tra để xác định đúng các thông tin địa chính khá phức tạp, liên quan đến nhiều tổ chức và cá nhân (UBND xã, thị trấn, cán bộ địa chính, Phòng tài nguyên và Môi trường, Văn phòng đăng ký QSDĐ) nên việc xác định thông tin mất nhiều thời gian.

(5) Một số cá nhân, hộ gia đình đã không còn lưu giữ được GCN cấp quyền sử dụng đất nên không có cơ sở kê khai, không có chứng minh nhân dân, hoặc người nộp thuế ở các xã vùng sâu, vùng xa không có máy photo nên không cung cấp bản chụp chứng minh nhân dân, gây khó khăn cho cơ quan thuế trong việc cấp mã số thuế.

 (6) Việc xác định diện tích tính thuế của một số hộ thiếu đồng nhất giữa hồ sơ địa chính với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, với thực tế đất đang sử dụng, nên khó khăn trong việc kê khai.

 (7) Theo quy định thì người có từ 02 diện tích đất trở lên phải kê khai tổng hợp, nhưng đa số diện tích đất của địa phương này lại do người ở địa phương khác sở hữu nên việc kê khai và thu hồi tờ khai còn chậm vì NNT không chịu kê khai tổng hợp. Thêm vào đó, một số phường xã chưa chú trọng công tác kê khai và thu hồi tờ khai tổng hợp.

Trường hợp người nộp thuế phải khai tổng hợp và thuộc diện tự lựa chọn nơi đăng ký khai thuế tổng hợp. Vậy làm thế nào để biết được người nộp thuế đã khai tổng hợp? trường hợp biết là chưa khai thì cơ quan thuế nào hay tất cả các chi cục thuế nơi người nộp thuế có thửa đất đôn đốc, yêu cầu người nộp thuế kê khai tổng hợp.

Hiện nay số đối tượng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có chung quyền sở hữu ngày càng gia tăng (vợ với chồng, bố mẹ với con, anh chị em với nhau và ngược lại), khi kê khai trên tờ khai mẫu 01 thì chỉ ghi một người, theo đó, khi cấp mã số thuế cũng chỉ cấp cho người đại diện theo uỷ quyền hợp pháp của những người đứng tên đồng sở hữu, việc xác định nghĩa vụ thuế cũng chỉ thuộc một người trên tờ khai; Tuy nhiên, trên thực tế nhiều trường hợp cả 02 người cùng đứng tên trên một giấy chứng nhận QSDĐ thứ 2 trở đi, nhưng khi kê khai mỗi thửa đất chỉ lấy tên một người thì việc xác định hộ có 02 thửa đất trở lên để tính thuế không thực hiện được, hiện nay, chưa có biện pháp hoặc chế tài để xử lý các trường hợp này (mặc dù trên thực tế tương đối phổ biến), làm mất công bằng trong thực hiện nghĩa vụ thuế PNN.

 (8) Nhiều trường hợp người sở hữu đất không có hộ khẩu tại nơi có đất ở mà ở địa phương khác, nên việc liên hệ để phát tờ khai, đôn đốc thu rất khó khăn. Nhiều hộ gia đình, cá nhân, doanh nghiệp thực tế đã sang nhượng QSDĐ cho người khác nhưng chưa làm thủ tục chuyển QSDĐ theo quy định nên việc kê khai thuế các trường hợp này cũng gặp không ít khó khăn.

 11.4.5. Về phần mềm ứng dụng

– Về cơ bản ứng dụng tin học trong quản lý thuế PNN đã tương đối hoàn chỉnh. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai phầm mềm PNN, địa phương có gặp phải một số khó khăn, cụ thể:

Phần mềm hỗ trợ được xây dựng chậm hơn so việc triển khai kê khai thuế sử dụng đất PNN. Thời gian đầu Cục CNTT phải triển khai tạm Công cụ nhập tờ khai để hỗ trợ cán bộ thuế nhập toàn bộ các tờ khai thuế sử dụng đất PNN và Ứng dụng Tổng hợp tờ khai để hỗ trợ công tác tổng hợp dữ liệu và cấp mã số thuế cho NNT phi nông nghiệp. Do số lượng tờ khai thuế sử dụng đất PNN đưa vào quản lý quá lớn nên tiến độ nhập tờ khai và cấp mã số thuế gặp nhiều trở ngại.

Cũng do lượng dữ liệu về thuế PNN rất lớn nên việc chuyển đổi và chuẩn hoá dữ liệu từ Công cụ Nhập tờ khai lên ứng dụng PNN còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong công tác xác thực, đăng ký, cấp mã số thuế và tốn nhiều thời gian phối hợp tập trung xử lý;

Việc phần mềm ứng dụng thường xuyên nâng cấp để đáp ứng yêu cầu quản lý, tuy nhiên sau mỗi lần nâng cấp một số dữ liệu không tra cứu được; các dữ liệu sau nâng cấp gặp nhiều lỗi làm ảnh hưởng đến tiến độ lập bộ và phát hành thông báo thuế trong năm 2013.

Nhiều trường hợp không cấp được mã số thuế do thiếu thông tin người nộp thuế hoặc trùng thông tin với người nộp thuế khác đã có mã số thuế. Nếu người nộp thuế trùng thông tin với một người ở cùng tỉnh thì xác định thông tin thuận lợi, nhưng nếu trùng thông tin với người ở tỉnh khác sẽ khó khăn cho việc xác định thông tin. Công tác rà soát, bổ sung, chỉnh sửa thông tin cho người nộp thuế để cấp được mã số thuế mất nhiều thời gian và khó khăn do số lượng đối tượng nộp thuế phi nông nghiệp lớn, các chỉ tiêu trên tờ khai nhiều.

– Do việc thiết kế ứng dụng phần mềm quản lý thuế sử dụng đất PNN tương đối phức tạp, thời gian kéo dài, sử dụng đồng thời cả công cụ nhập tờ khai và ứng dụng PNN online đã ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ nhập tờ khai để lập bộ thuế của các chi cục thuế.

Mẫu sổ bộ thuế sử dụng đất PNN trên ứng dụng PNN online, Tổng cục ban hành quá chậm (tháng 1/2013 mới ban hành mẫu sổ bộ thuế, tháng 3/2013 mới có ứng dụng online). Đến thời điểm lập bộ thuế để thu thuế năm 2012, một số chi cục chỉ in được sổ theo dõi thu nộp gửi các xã, thị trấn. Vì vậy, trong quá trình thu thuế UBND xã không đủ các thông tin để đối chiếu với tờ khai của hộ nộp thuế như: diện tích chịu thuế, hạn mức tính thuế, đoạn đường, vị trí, giá.. làm khó khăn cho công tác thu thuế.

– Trên ứng dựng PNN online hiện đang sử dụng 3 loại sổ: Sổ bộ thuế, sổ theo dõi thu nộp, sổ theo dõi miễn, giảm, ba loại sổ này liên quan trực tiếp đến công tác theo dõi, đôn đốc và thu nộp nên khi in cả 3 loại sổ , gây tốn kém chi phí văn phòng phẩm cho các chi cục, nếu in thiếu 1 trong 3 loại sổ thì khó theo dõi cho UBND xã, thị trấn.

Hiện tại, chưa có sổ thuế theo dõi đôi tượng có từ 02 thửa đất trở lên thuộc diện kê khai tổng hợp nên khó khăn cho việc theo dõi, đôn đốc đối với hộ có từ 2 thửa đất trên địa bàn.

– Một số chi cục Thuế chưa được cấp thêm máy tính và máy in để chuyển đến các điểm thu tại các đội thuế liên phường, UNT tại UBND phường, xã, thị trấn thực hiện công tác in Biên lai và thu thuế sử dụng đất PNN. (TP Hồ Chí Minh)

11.4.6. Về kinh phí tổ chức thực hiện

– Theo hướng dẫn tại Thông tư số 76/2012/TT-BTC ngày 15/5/2012 của Bộ Tài chính quy định một số nội dung chi, mức chi trong hoạt động triển khai Luật thuế sử dụng đất PNN được áp dụng cho kỳ tính thuế năm 2012. Tuy nhiên, năm 2013 phát sinh rất nhiều tờ khai mới và tờ khai tổng hợp. Do đó, Chi cục thuế các huyện, thị xã, thành phố đề nghị cấp bổ sung kinh phí cho trường hợp mới kế khai và phát tờ khai tổng hợp.

– Tỷ lệ trích thù lao cho Uỷ nhiệm thu thấp, nên việc thu thuế sử dụng đất PNN gặp nhiều khó khăn, nhất là đối với những vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới có địa bàn rộng, dân cư thưa.

Thực tế, số thuế sử dụng đất PNN phải nộp/hộ qua ít so với số thuế nhà đất phải nộp trước đây, vì thế số tiền trích theo quy định của ngành cho uỷ nhiệm thu tại các phường, xã là quá nhỏ, nên  công tác thu thuế sử dụng đất PNN phần lớn do cán bộ thuế đảm nhiệm, vì thế ảnh hưởng lớn đến tiến độ thu, thậm chí một số hộ có mức thuế sử dụng đất PNN phải nộp không quá 10.000đ. Từ đó kinh phí trích cho UNT thấp dẫn đến cán bộ UNT không tham gia công tác này. 

11.5. Đề xuất kiến nghị

Qua thực tế thực hiện Luật thuế sử dụng đất PNN có một số kiến nghị với các cấp có thẩm quyền một số vấn đề như sau:

11.5.1. Kiến nghị các vấn đề thuộc thẩm quyền của Quốc hội

– Đề nghị thu hẹp đối tượng miễn, giảm thuế sử dụng đất PNN, vì hiện tại quá nhiều đối tượng miễn, giảm gây khó khăn cho công tác quản lý của cơ quan thuế.

– Về đối tượng nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp: Đề nghị sửa đổi Luật cần quy định các dự án thuê đất, nộp tiền thuê đất hàng năm thuộc đối tượng không phải nộp thuế sử dụng đất PNN. Vì Luật thuế sử dụng đất PNN số thu không lớn và chỉ với mục đích chính là quản lý đất đai, thì các đơn vị thuê đất đã được quản lý rất chặt thông qua Quyết định và Hợp đồng thuê đất.

11.5.2. Kiến nghị các vấn đề thuộc thẩm quyền của Chính phủ

– Các vướng mắc phát sinh trong quá trình thi hành Luật thuế sử dụng đất PNN cần được xem xét, giải quyết để tăng tính khả thi, thuận lợi và hiệu quả cho việc thi hành Luật. Cần xem xét sự phù hợp về quy định miễn, giảm thuế sử dụng đất PNN với quy định về ưu đãi đầu tư tại các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư.

Kiến nghị Chính phủ sửa đổi quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 53/2011/NĐ-CP; Điều 10 Thông tư số 153/2011/TT-BTC như sau: “ ..địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện theo quy định của Luật đầu tư..” đề nghị sửa thành “ địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện theo các quy định của Chính phủ…”

– Đề nghị sửa đổi Nghị định số 53/2011/NĐ-CP, Thông tư 153/2011/TT-BTC theo hướng yêu cầu người nộp thuế thực hiện  khai thuế tổng hợp theo địa chỉ thường trú, như vậy sẽ tiện trong công tác quản lý và xử lý về thuế khi NNT sai phạm về thuế. Như vậy, trên phần mềm ứng dụng cần phải nâng cấp tương ứng để có thể người dùng lựa chọn thửa đất có lợi nhất cho người nộp thuế khi thực hiện nhập tờ khai thuế.

– Đề nghị quy định việc kê khai, phương pháp tính thuế, miễn giảm thuế đơn giản hơn nhằm phù hợp với đối tượng nộp thuế sử dụng đất PNN chiếm đa số là hộ gia đình, cá nhân.

11.5.3. Kiến nghị các vấn đề thuộc thẩm quyền của Bộ Tài chính

– Đề nghị hướng dẫn cụ thể chi tiết hơn căn cứ tính thuế đối với trường hợp nhà chung cư thuộc sở hữu nhà nước cho thuê, đơn vị được giao quản lý cho thuê nhà và tài sản trên đất nhưng không được giao đất.

– Nên quy định hạn nộp đối với thuế sử dụng đất PNN như quy định của thuế nhà đất trước đây hoặc thuế sử dụng đất nông nghiệp,  tiền thuê đất hiện hành (thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày 31 tháng 10) để cơ quan thuế ban hành thông báo và đốc thu cho kịp dự toán hàng năm, nếu là 31/12 hàng năm thì rất khó đạt kế hoạch dự toán pháp lệnh.

– Việc quy định người nộp thuế  tự khai tự nộp như hiện nay là chưa phù hợp với thực tế người nông dân hiện nay (nhiều người chưa có điều kiện hiểu biết đầy đủ về pháp luật thuế, chưa đủ khả năng để tính toán kê khai nhiều phương án tính thuế để tìm ra con số phải nộp nhỏ nhất. Một số khá lớn người nộp thuế có thửa đất đồng thời ở nhiều quận huyện, có thể lựa chọn khai ở nhiều quận huyện, nhưng khi kê khai thì có thể không chọn khai tổng hợp ở đâu, dẫn đến khi triển khai, theo dõi đôn đốc khai trùng lặp giữa các Chi cục.

Số lượng người nộp thuế phải khai tổng hợp rất lớn, nhưng số thuế còn phải nộp theo khai tổng hợp lại không nhiều. Trong khi đó chi phí quản lý đối với lĩnh vực khai tổng hợp này là rất lớn, kể cả đối với cơ quan thuế, chính quyền xã, thôn và người nộp thuế.

– Đề nghị cho xem xét miễn thuế đối với các đối tượng được quy định tại khoản 4, khoản 5, khoản 6 Điều 10 và giảm thuế tại khoản 3, khoản 4 Điều 11 Thông tư số 153/2011/TT-BTC (địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, đối tượng chính sách , hộ nghèo và NNT gặp khó khăn do sự kiện bất khả kháng gây thiệt hại về đất và nhà) không phân biệt là đất ở đúng hay sai mục đích, nhưng vẫn khống chế diện tích đất ở không được vượt quá hạn mức đất ở cho phép.

– Chính sách miễn giảm hộ nghèo, theo văn bản hướng dẫn thì trường hợp hộ nghèo phải có GCN QSDĐ (trong hạn mức) mới được miễn giảm, nhưng hộ nghèo thường không có GCN QSDĐ nên việc miễn giảm cho hộ nghèo rất khó. Đề nghị bỏ quy định phải có GCN QSDĐ khi xem xét miễn giảm cho hộ nghèo (trong hạn mức).

– Số hộ gia đình cá nhân nộp thuế sử dụng đất PNN rất lớn, dàn trải khắp địa bàn từ thành thị tới nông thôn, số thuế phải nộp mỗi hộ thấp, thậm chí ở nhiều địa bàn số thuế thu không đủ cho chi phí hành chính phục vụ công tác thu, đội ngũ cán bộ thuế không thể đảm đương nhiệm vụ này; trong bối cảnh đó, cán bộ thôn, bản, tổ dân phố được ủy nhiệm thu thuế sử dụng đất PNN là hợp lý nhất, hiệu quả nhất cần cho phép duy trì cơ chế uỷ nhiệm thu thuế sử dụng đất PNN.

Đề nghị tăng tỷ lệ trích thù lao thu thuế sử dụng đất PNN cho người trực tiếp thu trên tổng số thuế thu nộp vào kho bạc nhà nước, đặc biệt là ở các địa bàn vùng xâu, vùng xa, địa hình khó khăn để khuyến khích, động viên người trực tiếp thu. Thuế sử dụng đất PNN cũng như sử dụng đất nông nghiệp cần được tăng thêm, đây là nguồn thu thấp cho ngân sách nhưng cần phải được duy trì cho mục đích chính trị, việc tăng kinh phí trích cho UNT là một vấn đề cần quan tâm, công tác theo dõi lập tờ khai thuế sử dụng đất PNN và sử dụng đất nông nghiệp cũng cần có mức chi thù lao thỏa đáng cho cán bộ UNT tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý sắc thuế này. Cục thuế Tp Hồ Chí Minh đề nghị nâng mức trích tỷ lệ UNT (hiện nay là 5%) lên khoản 10% để đảm bảo điều kiện sống cho 1 UNT.

– Đề nghị sửa đổi lại chính sách miễn giảm thuế SDĐPNN theo hướng không theo quy định danh mục ưu đãi đầu tư để phù hợp hơn với đối tượng là thuế đất phi nông nghiệp mà trong đó phần lớn là nơi sinh sống của người dân có khó khăn cần hỗ trợ, cu thể là:

Miễn thuế SDĐPNN đối với:

(i) Địa bàn có điều kiện KTXH đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính Phủ .

(ii) Các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu được Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt vào diện đầu tư chương trình phát triển KTXH các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi.

(iii) Các xã đặc biệt khó khăn khác do HĐND tỉnh quy định.

– Các trường hợp chưa được cấp GCN QSDĐ nhưng đã có hồ sơ địa chính đủ điều kiện cấp giấy, đề nghị vẫn áp dụng cho khai tổng hợp như các trường hợp hộ có 02 thửa đất trở lên, đảm bảo tính kịp thời, tránh thất thu ngân sách nhà nước.

11.5.4. Kiến nghị các vấn đề thuộc thẩm quyền của Tổng cục Thuế

Về phần mềm ứng dụng tin học:              

– Cần hoàn thiện nhanh phần mềm ứng dụng đối với đất phi nông nghiệp. Phần mềm cần kết xuất in được biên lai thu thuế. Đề nghị tiếp tục nâng cấp, hỗ trợ ứng dụng thuế sử dụng đất PNN trong việc chuẩn hoá dữ liệu giữa ứng dụng TNCN và ứng dụng đất PNN. Chỉnh lý ứng dụng cho pháp xoá tờ khai nhập trùng, các Chi cục Thuế có quyền sửa lại tên NNT, ngày sinh trên tờ khai thuế tại Chi cục Thuế quản lý, sau khi đã được chỉnh lý đúng trên ứng dụng quản lý thuế TNCN.

– Thời gian năm 2013 không còn nhiều nhưng cho đến nay chưa có hướng dẫn về việc nhập miễn giảm cho năm 2013 để phục vụ cho việc lập bộ, chấm bộ.

– Hiện nay, ứng dụng chỉ hỗ trợ in sổ miễn, giảm mà không bóc tách được đối tượng miễn, giảm do đó bất lợi cho việc đối chiếu, so sánh với danh sách đề nghị của các đơn vị, không thể kết xuất chi tiết theo yêu cầu về công tác miễn, giảm theo đối tượng. Đề nghị nâng cấp ứng dụng để khắc phục nộp dung trên.

– Cần phải có giải pháp đồng bộ thông tin đăng ký  thuế giữa PIT và PNN, khi đó chỉ cần điều chỉnh trên PIT là tự đồng bộ sang PNN. Hạn chế sai sót và thời gian cấp mã. Cải thiện tốc độ ứng dụng nhanh hơn và ổn định hơn.

– Xem xét cho phép điều chỉnh thông tin người nộp thuế trên một ứng dụng PIT hoặc PNN và tự đồng bộ MST trên cả 02 ứng dụng để giảm bớt thủ tục nhập dữ liệu, tạo điều kiện cho các Chi cục thuế có thể chủ động hơn trong quá trình xư lý MST.

– Các trường hợp đã nhập tờ khai trên ứng dụng nhưng chưa có MST do bị lỗi hệ thống (quá trình truyền các tệp file dữ liệu giữa Chi cục với Cục, giữa Cục với Tổng cục) vẫn đảm bảo cho phép lên sổ thuế.

Nghiên cứu thiết kế lại mẫu Sổ bộ thuế PNN theo hướng chỉ cần một loại sổ bộ thuế dùng chung nhưng thiết kế đầy đủ các chỉ tiêu về diện tích, hạn mức, vị trí, giá đất, sao cho người sử dụng ( kể cả đối với UBND các xã, thị trấn, cán bộ thuế và UNT) dễ hiểu, dễ đối chiếu thông tin địa chính trong quá trình thu thuế tại cơ sở. Nên bổ sung thêm một số loại báo cáo kế toán và thống kê thuế Sử dụng đất PNN riêng cho tổ chức và cá nhân, đảm bảo tính đồng bộ trong việc tra cứu thông tin, theo dõi thu, nộp ngân sách và chứng từ kế toán, tạo điều kiện để các Chi cục dễ tra cứư và tổng hợp dữ liệu báo cáo.

– Cần Tổng cục Thuế hỗ trợ một giải pháp thống nhất cho các chi cục thực hiện việc rà soát chứng từ chưa hạch toán còn treo vào PNN, giảm số nợ sai xuống để in thông báo cho NNT chính xác hơn; Hỗ trợ việc nhập truy thu đối với các tờ khai nộp trễ; Hỗ trợ việc lập thông báo nhắc nộp tờ khai tổng hợp; Cho phép việc nhập chứng từ thấp hơn số phát sinh; In danh sách những chứng từ, cá nhân bị lỗi không chuyển vào được và nguyên nhân không nhập được.

Về công tác quản lý chung

– Hiện nay, Tổng cục Thuế chưa có văn bản hướng dẫn trình tự việc tổ chức đôn đốc thu nộp thuế sử dụng đất PNN đối với tổ chức; do áp dụng cơ chế tự tính, tự khai và tự nộp và cơ quan thuế không phát hành thông báo nộp thuế sử dụng đất PNN nên nhiều tổ chức đã kê khai xong nhưng chưa thực hiện nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN. 

– Công tác cấp MST cần được hoàn thiện, đồng bộ trên phạm vi cả nước để có thể thông qua đó các Cục Thuế  khai thác thông tin mã số thuế nắm được số thửa đất của cá nhân hộ gia đình trong phạm vi cả nước khi xác định thuế TNCN đối với hoạt động chuyển nhượng BĐS.

– Việc kê khai nộp thuế khi có sự thay đổi người nộp thuế: Nên thu hết cho cả năm đối với người chuyển nhượng (thu cả năm trước khi chuyển nhượng) người nhận chuyển nhượng năm sau mới thu hoặc người sử dụng đất có thời gian sử dụng đất lớn hơn hoặc bằng 6 tháng thì thu cả năm, nhỏ hơn 6 tháng thì không thu.

– Do tình hình triển khai thuế PNN mất nhiều công đoạn, số lượng tờ khai nhiều, thông tin địa chính khá phức tạp phải thường xuyên tra cứu, bổ sung, sửa đổi nên quá trình thực hiện mất nhiều thời gian, công tác theo dõi, thanh toán biên lai và chấm bộ thuế với khối lượng lớn biên lai, cần sử dụng nhiều lao động. Đề nghị Tổng cục thuế nghiên cứu bổ sung kinh phí triển khai PNN cho các chi cục thuế, tạo điều kiện để các Chi cục thuế thực hiện tốt công tác thu thuế PNN.

– Tổng cục thuế cần có tổ chức công tác sơ kết hoặc tổng kết  triển khai thuế sử dụng đất PNN trên toàn quốc (hoặc vùng miền) để các đơn vị trao đổi, học tập kinh nghiệm lẫn nhau, cũng như thống nhất trong thực hiện. Thường xuyên tổ chức các lơp tập huấn, trao đổi kinh nghiệp về thuế sử dụng đất PNN nói riêng cũng như các khoản thu  từ đất nói chung, do chính sách liên quan đến đất rất phức tạp, việc hiểu và áp dụng trong thực hiện xác định nghĩa vụ tài chính đôi lúc giữa các tỉnh, thành phố chưa được thống nhất, nhiều quy định phức tạp (liên quan đến địa phương, vùng miền khác nhau), qua đó để thống nhất trong hướng dẫn và thực hiện. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.
  2. Nghị định số 53/2011/NĐ-CPngày 01/07/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.
  3. Thông tư số 153/2011/TT-BTCngày 11/11/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn nghị định số 53/2011/NĐ-CP ngày 01/07/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.
  4. Thông tư so 130/2016/TT-BTC ngày 12/08/2016hướng dẫn Nghị định số 100/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế và sửa đổi một số điều tại các Thông tư về thuế.
  5. Báo cáo thuế sử dụng đất phi nông nghiệp của Tổng cục thuế.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *