Công tác đào tạo bồi dưỡng công chức, viên chức

Công tác đào tạo bồi dưỡng

Công tác đào tạo bồi dưỡng là công việc hay hoạt động của các tổ chức và cá nhân được thực hiện trong lĩnh vực đào tạo bồi dưỡng.

Hoạt động đào tạo bồi dưỡng thể hiện mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thực tiễn đào tạo bồi dưỡng nhằm tạo ra những sản phẩm cần thiết đáp ứng nhu cầu của con người và thực tiễn đạo tạo bồi dưỡng.

Hoạt động đào tạo bồi dưỡng luôn mang các đặc điểm: gắn với chủ thể hoạt động đào tạo bồi dưỡng, có đối tượng đào tạo bồi dưỡng nhất định và luôn bao hàm tính mục đích của đào tạo bồi dưỡng.

Chủ thể của đào tạo bồi dưỡng là có thể là một cá nhân, một tổ chức hay nhiều cá nhân, nhiều tổ chức. Đây là những tác nhân chính tác động trực tiếp đến thực tiễn đào tạo bồi dưỡng theo những cách thức phù hợp và có tính tích cực, chủ động và tự giác. Trong quá trình tiến hành hoạt động đào tạo bồi dưỡng trong thực tiễn sẽ tạo ra các sản phẩm cho các chủ thể tham gia đào tạo bồi dưỡng.

Hoạt động của con người bao giờ cũng là hoạt động có đối tượng. Vì vậy, tính đối tượng của hoạt động là cái mà con người và các chủ thể cần tạo ra, cần chiếm lĩnh và nó trở thành động cơ thúc đẩy con người hoạt động. Do đó, đối tượng của hoạt động đào tạo, bồi dưỡng là kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm mà người được đào tạo bồi dưỡng có thể lĩnh hội được để biến thành năng lực của bản thân những người tham gia đào tạo bồi dưỡng.

Tính mục đích của hoạt động đào tạo bồi dưỡng chính là kết quả và là sản phẩm có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp của hoạt động đào tạo bồi dưỡng mà con người cần đạt được.

Từ những quan niệm đó, có thể khái quát các cấu trúc của hoạt động đào tạo bồi dưỡng như sau:

Công chức, viên chức

Trên thế giới hiện nay, những người làm việc cho Nhà nước nói chung được gọi tên phổ biến là Công chức. Tuy nhiên, phạm vi và đối tượng là công chức nhà nước không hoàn toàn giống nhau giữa các nước, tuỳ từng quan niệm, điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước mà mỗi nước có khái niệm công chức khác nhau. Ở Trung Quốc, công chức nhà nước là những người công tác trong các cơ quan hành chính nhà nước các cấp, trừ nhân viên phục vụ. Ở Đức, phạm vi công chức rất rộng, bao gồm toàn bộ nhân viên làm việc trong cơ quan, tổ chức văn hoá, nghệ thuật, giáo dục và nghiên cứu khoa học quốc gia, nhân viên công tác trong các doanh nghiệp công ích do nhà nước quản lý, các nhân viên, quan chức làm việc trong các cơ quan chính phủ, các giáo sư đại học, giáo viên trung học, tiểu học, bác sỹ, hộ lý bệnh viện, nhân viên lái xe…. Ở Pháp, khái niệm công chức có nội hàm khá rộng và không thật rõ ràng. Đó là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong công sở của các cơ quan hành chính công quyền và các tổ chức dịch vụ công cộng do nhà nước tổ chức, ở trung ương và địa phương nhưng không tính các công chức địa phương vì họ thuộc hội đồng địa phương quản lý. Ở Nhật Bản, khái niệm công chức bao hàm cả công chức nhà nước và công chức địa phương. Công chức nhà nước gồm những nhân viên giữ chức vụ trong bộ máy của chính phủ Trung ương, ngành tư pháp, quốc hội, quân đội, nhà trường, bệnh viện quốc lập, xí nghiệp và đơn vị quốc doanh, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước; các công chức địa phương được hưởng lương từ ngân sách địa phương.

Như vậy, không có khái niệm chung về công chức cho tất cả các quốc gia, song yếu tố chung cơ bản nhất đều quan niệm rằng công chức là những người làm việc cho nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước trong thực thi công vụ, được bổ nhiệm bởi cơ quan công quyền, có thể chia thành công chức trung ương, công chức địa phương, công chức quân sự, công chức dân sự.

Ở Việt Nam, trong Luật cán bộ, công chức (2008), khái niệm công chức được hiểu: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Theo quy định này thì tiêu chí để xác định công chức gắn với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh. Công chức là những người được tuyển dụng lâu dài, hoạt động của họ gắn với quyền lực công (hoặc quyền hạn hành chính nhất định) được cơ quan có thẩm quyền trao cho và chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

Bên cạnh đó, theo Luật Viên chức ngày 15/11/2010 thì khái niệm viên chức được hiểu như sau: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật)”.

Đặc điểm việc làm của viên chức là không mang tính quyền lực công mà chủ yếu mang tính chuyên môn, nghề nghiệp. Đây cũng là dấu hiệu cơ bản để phân biệt nhóm viên chức với công chức. 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *