CẬP NHẬT NỘI DUNG MỚI VỀ LUẬT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2015

CẬP NHẬT NỘI DUNG MỚI VỀ LUẬT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2015

 Nguyễn Việt Hùng

Vụ Ngân sách Nhà nước – Bộ Tài chính

Ngày 25/6/2015, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội đã thông qua Luật NSNN (Luật số 83/2015/QH13), thay thế Luật NSNN số 01/2002/QH11 (sau đây gọi tắt là Luật NSNN năm 2002). Luật có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2017. Với việc Quốc hội thông qua Luật NSNN (Luật NSNN năm 2015). Dưới đây, xin giới thiệu một số nội dung mới của Luật NSNN năm 2015 như sau:

4.1. Về kết cấu của Luật

Luật NSNN năm 2015 bao gồm 7 Chương, với 77 Điều, giảm 01 chương (bỏ Chương Kiểm tra, thanh tra, khen thưởng và xử lý vi phạm do đã được quy định định ở các Luật khác), giữ một số điều so với Luật NSNN năm 2002. Khác với Luật NSNN năm 2002, Luật NSNN năm 2015 có bổ sung thêm tên Điều, vì vậy các nội dung cũng được sắp xếp, quy định bảo đảm nội dung tại các Điều phù hợp với tên Điều.

4.2. Một số nội dung mới của Luật NSNN năm 2015

Với mục tiêu bảo đảm tuân thủ Hiến pháp năm 2013, phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, thống nhất với Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các luật hiện hành có liên quan khác. Kế thừa và phát huy những mặt tích cực của Luật NSNN năm 2002; đổi mới phương thức quản lý NSNN phù hợp với thực tiễn phát triển KT-XH của đất nước. Tăng cường phân cấp quản lý ngân sách, bảo đảm tính thống nhất của NSNN và vai trò chủ đạo của NSTW; đồng thời phát huy tính chủ động của ngân sách các cấp chính quyền địa phương trong quản lý và sử dụng NSNN. Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao tính minh bạch, dân chủ và công khai trong công tác quản lý NSNN; kiểm soát chặt chẽ hoạt động thu, chi ngân sách; tăng cường thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, nâng cao kỷ luật, kỷ cương trong quản lý tài chính – NSNN bảo đảm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng. Tăng cường giám sát việc huy động, phân bổ, sử dụng vốn vay, trả nợ, quản lý nợ công, quản lý rủi ro; bảo đảm an toàn nợ và an ninh tài chính quốc gia; góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững. Tiếp thu những kinh nghiệm quốc tế về quản lý NSNN; vận dụng phù hợp với thực tiễn của Việt Nam; bảo đảm công tác quản lý NSNN từng bước phù hợp với thông lệ quốc tế.

Chính vì mục tiêu như trên, nên Luật NSNN năm 2015 có nhiều điểm mới so với Luật NSNN năm 2002. Để thuận lợi cho việc theo dõi, đối chiếu những nội dung mới của Luật NSNN năm 2015, dưới đây sẽ giới thiệu theo từng Chương như sau:

4.2.1.  Chương I. Những quy định chung (gồm 18 Điều, từ Điều 1 đến Điều 18)

Chương này quy định về: Phạm vi điều chỉnh; đối tượng áp dụng; giải thích từ ngữ; phạm vi thu, chi NSNN, hệ thống ngân sách; nguyên tắc cân đối, quản lý, phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi NSNN giữa các cấp; dự phòng, quỹ dự trữ tài chính, điều kiện thu, chi NSNN; kế toán, quyết toán; năm ngân sách; công khai NSNN; giám sát NSNN của cộng đồng; kế hoạch tài chính 5 năm; các hành vi bị cấm trong lĩnh vực NSNN. So với Luật NSNN năm 2002, Luật NSNN năm 2015 có một số nội dung sửa đổi, bổ sung cơ bản như sau:

(1) Phạm vi thu NSNN: Luật NSNN năm 2015 đã quy định: (i) Đối với các khoản phí, lệ phí: Đã quy định rõ lệ phí nộp toàn bộ vào NSNN (như đối với thuế). Đối với phí thu từ các hoạt động dịch vụ do Nhà nước đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước thực hiện thì nộp toàn bộ vào NSNN, trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ; đối với phí thu từ hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước thì được phép trích lại một phần hoặc toàn bộ, phần còn lại thực hiện nộp ngân sách theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí và pháp luật có liên quan; (ii) Đối với khoản thu từ hoạt động xổ số kiến thiết (XSKT), đã xác định rõ thu từ hoạt động XSKT là khoản thu NSĐP được hưởng 100%, đồng thời cũng xác định rõ nguồn thu XSKT (cùng với nguồn thu tiền sử dụng đất) không dùng để xác định tỷ lệ phần trăm (%) đối với các khoản thu phân chia giữa NSTW và NSĐP và xác định số bổ sung cân đối từ NSTW cho NSĐP.

(2) Phạm vi chi NSNN: Luật NSNN năm 2015 quy định khoản chi từ nguồn thu hoạt động XSKT, chi từ nguồn trái phiếu Chính phủ được đưa vào cân đối chi NSNN, các khoản phí đã chuyển sang giá dịch vụ thì không đưa vào chi NSNN (hiện hành đang thực hiện cơ chế quản lý qua NSNN).

(3) Phạm vi bội chi NSNN: Luật NSNN năm 2015 quy định bội chi NSNN bao gồm bội chi NSTW và bội chi NSĐP cấp tỉnh. Bội chi NSTW được xác định bằng chênh lệch lớn hơn giữa tổng chi NSTW không bao gồm chi trả nợ gốc và tổng thu NSTW. Bội chi NSĐP cấp tỉnh là tổng hợp bội chi ngân sách cấp tỉnh của từng địa phương, được xác định bằng chênh lệch lớn hơn giữa tổng chi ngân sách cấp tỉnh không bao gồm chi trả nợ gốc và tổng thu ngân sách cấp tỉnh của từng địa phương (Luật NSNN năm 2002 quy định bội chi NSNN là bội chi NSTW; chi NSNN bao gồm chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền do Chính phủ vay, bội chi NSNN bao gồm toàn bộ các khoản vay để bù đắp chênh lệch thu, chi NSNN. Đồng thời, Luật NSNN 2002 quy định NSĐP không được phép bội chi, nhưng ngân sách cấp tỉnh được phép huy động để đầu tư các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng thuộc nhiệm vụ chi của NSĐP).

(4) Về điều chỉnh nguồn thu trong trường hợp thu ngân sách có biến động tăng đột biến trong thời kỳ ổn định ngân sách: Luật năm 2002 không quy định, Luật NSNN năm 2015 quy định: Trường hợp đặc biệt có phát sinh nguồn thu từ dự án mới đi vào hoạt động trong thời kỳ ổn định ngân sách làm ngân sách địa phương tăng thu lớn thì số tăng thu phải nộp về ngân sách cấp trên. Chính phủ trình Quốc hội, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định thu về ngân sách cấp trên số tăng thu này và thực hiện bổ sung có mục tiêu một phần cho ngân sách cấp dưới để hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng ở địa phương theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

(5) Về dự phòng ngân sách: Luật NSNN năm 2015 quy định: Ngoài những nội dung chi phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hoả hoạn, nhiệm vụ phát sinh quan trọng về quốc phòng, an ninh; bổ sung thêm nội dung được phép sử dụng từ nguồn dự phòng ngân sách, gồm: khắc phục thảm họa; dịch bệnh; cứu đói và các nhiệm vụ cần thiết khác thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách cấp mình mà chưa được dự toán. Để bảo đảm việc sử dụng dự phòng chặt chẽ, Luật NSNN năm 2015 quy định rõ thẩm quyền và giám sát việc sử dụng dự phòng, theo đó, Chính phủ quy định thẩm quyền việc sử dụng dự phòng của NSTW, định kỳ báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội, báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất; UBND quyết định sử dụng dự phòng NSĐP, định kỳ báo cáo Thường trực HĐND, báo cáo HĐND cùng cấp tại kỳ họp gần nhất. Đồng thời, Luật NSNN năm 2015 quy định giảm tỷ lệ dự phòng còn từ 2% đến 4% tổng chi NSNN thay vì Luật NSNN năm 2002 quy định tỷ lệ dự phòng từ 2% đến 5% tổng chi NSNN.

(6) Về việc NSĐP hỗ trợ cho các cơ quan trung ương đóng trên địa bàn các địa phương và việc địa phương sử dụng ngân sách của mình để hỗ trợ các địa phương khác:

Luật NSNN năm 2002, quy định không được dùng ngân sách của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác, trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ. Trong tổ chức thực hiện, đã có một số địa phương có điều kiện về ngân sách thực hiện hỗ trợ thêm nguồn cho các cơ quan trung ương ở địa phương (cơ quan tư pháp, công an, quân đội,…). Việc hỗ trợ này đã tạo thêm nguồn lực tài chính cho các cơ quan trung ương để thực hiện nhiệm vụ và phù hợp với điều kiện thực tế ở địa phương, mặt khác nhiều địa phương đề xuất cần có quy định cụ thể trong Luật NSNN để tạo điều kiện cho địa phương triển khai thực hiện. Luật NSNN năm 2015 (khoản 9 Điều 9) quy định: Không được dùng ngân sách của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác và không được dùng ngân sách của địa phương này để chi cho nhiệm vụ của địa phương khác, trừ các trường hợp sau:       

+ Ngân sách cấp dưới hỗ trợ cho các đơn vị thuộc cấp trên quản lý đóng trên địa bàn trong trường hợp cần khẩn trương huy động lực lượng cấp trên khi xảy ra thiên tai, thảm hoạ, dịch bệnh và các trường hợp cấp thiết khác để bảo đảm ổn định tình hình kinh tế – xã hội, an ninh và trật tự, an toàn xã hội của địa phương;

+ Các đơn vị cấp trên quản lý đóng trên địa bàn khi thực hiện chức năng của mình, kết hợp thực hiện một số nhiệm vụ theo yêu cầu của cấp dưới;

+ Sử dụng dự phòng ngân sách địa phương để hỗ trợ các địa phương khác khắc phục hậu quả thiên tai, thảm hoạ nghiêm trọng. 

(7) Về kinh phí uỷ quyền:

Luật NSNN năm 2002 quy định trường hợp cơ quan quản lý cấp trên uỷ quyền cho cơ quan quản lý cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi của mình thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó. Thực tế cho thấy công tác lập dự toán, thực hiện và quyết toán NSNN phức tạp (ngân sách cấp trên chuyển tiền cho ngân sách cấp dưới, trên cơ sở đó, cơ quan tài chính lập dự toán trình UBND trình HĐND cùng cấp phân bổ cho đơn vị cấp dưới được uỷ quyền thực hiện; đơn vị cấp dưới được uỷ quyền quyết toán với cơ quan tài chính cùng cấp, cơ quan tài chính tổng hợp quyết toán với cơ quan tài chính cấp trên). Luật NSNN năm 2015 quy định: Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước cấp trên uỷ quyền cho cơ quan quản lý nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi của mình, thì phải phân bổ và giao dự toán cho cơ quan quản lý nhà nước cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó. Cơ quan nhận kinh phí ủy quyền phải quyết toán với cơ quan ủy quyền khoản kinh phí này.  

(8) Về quản lý các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách: Luật NSNN năm 2002 không quy định phạm vi điều chỉnh các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách và các quỹ hoạt động theo quy định của pháp luật và điều lệ của quỹ. Luật NSNN năm 2015 quy định: Ngân sách nhà nước không hỗ trợ kinh phí hoạt động cho các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách. Trường hợp được ngân sách nhà nước hỗ trợ vốn điều lệ theo quy định của pháp luật thì phải phù hợp với khả năng của ngân sách nhà nước và chỉ thực hiện khi đáp ứng đủ các điều kiện sau: được thành lập và hoạt động theo đúng quy định của pháp luật; có khả năng tài chính độc lập; có nguồn thu, nhiệm vụ chi không trùng với nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước. Đồng thời, quy định Bộ Tài chính, Sở Tài chính tổng hợp tình hình thực hiện kế hoạch, dự kiến kế hoạch tài chính năm sau, quyết toán thu, chi của các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách báo cáo Chính phủ, Ủy ban nhân dân để báo cáo Quốc hội, Hội đồng nhân dân cùng với dự toán, quyết toán NSNN hàng năm.

(10) Về kế hoạch tài chính 5 năm: Luật NSNN năm 2002 chưa có quy định lập kế hoạch tài chính 5 năm. Để quản lý NSNN trong trung hạn và phù hợp với Luật Đầu tư công, Luật NSNN năm 2015 quy định: Kế hoạch tài chính 5 năm là kế hoạch tài chính được lập trong thời hạn 5 năm cùng với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm. Kế hoạch tài chính 5 năm xác định mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể về tài chính – ngân sách nhà nước; các định hướng lớn về tài chính, ngân sách nhà nước; số thu và cơ cấu thu nội địa, thu dầu thô, thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu, số chi và cơ cấu chi đầu tư phát triển, chi trả nợ, chi thường xuyên; định hướng về bội chi ngân sách; giới hạn nợ nước ngoài của quốc gia, nợ công, nợ Chính phủ; các giải pháp chủ yếu để thực hiện kế hoạch. Kế hoạch tài chính 5 năm gồm kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia và kế hoạch tài chính 5 năm tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

(11) Về công khai ngân sách: Luật NSNN năm 2015 đã bổ sung quy định các cấp ngân sách và các đơn vị sử dụng ngân sách có trách nhiệm công khai tình hình thực hiện dự toán ngân sách; việc công khai phải kèm theo báo cáo thuyết minh; công khai kết quả thực hiện các kiến nghị của Kiểm toán nhà nước; công khai các thủ tục NSNN. Đồng thời, bổ sung quy định các đối tượng có trách nhiệm phải thực hiện công khai theo quy định, mà không thực hiện công khai đầy đủ, đúng hạn thì sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

(12) Về giám sát thực hiện NSNN của cộng đồng: Cùng với việc tăng cường công tác công khai NSNN, Luật NSNN năm 2015 bổ sung quy định NSNN được giám sát bởi cộng đồng. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp chủ trì tổ chức việc giám sát NSNN của cộng đồng. Nội dung giám sát NSNN của cộng đồng gồm: (i) Việc chấp hành các quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng NSNN; (ii) Tình hình thực hiện dự toán NSNN hàng năm; (iii) Việc thực hiện công khai NSNN.

(13) Ngoài các nội dung trên, Chương này còn quy định nguyên tắc cân đối (Hằng năm, căn cứ khả năng cân đối của ngân sách cấp trên, cơ quan có thẩm quyền quyết định tăng thêm số bổ sung cân đối ngân sách từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới so với năm đầu thời kỳ ổn định); nguyên tắc quản lý và nguyên tắc phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi NSNN giữa các cấp; nội dung sử dụng quỹ dự trữ tài chính; các hành vi bị cấm trong lĩnh vực NSNN.

4.2.2. Chương II. Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước và trách nhiệm, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân về NSNN (gồm 16 Điều, từ Điều 19 đến Điều 34)

Chương này quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội; nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước; nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng nhà nước, Kiểm toán nhà nước; các bộ, cơ quan trung ương; nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND các cấp, UBND các cấp và trách nhiệm các đơn vị dự toán, các tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực NSNN. So với Luật NSNN năm 2002, Luật NSNN năm 2015 có một số quy định mới như sau:

(1) Quy định Quốc hội quyết định về: Chính sách cơ bản về tài chính – NSNN; mức giới hạn an toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ; kế hoạch tài chính 5 năm; bội chi NSNN (bao gồm bội chi NSTW và bội chi NSĐP, chi tiết từng địa phương); tổng mức vay của NSNN, bao gồm vay để bù đắp bội chi NSNN và vay để trả nợ gốc của NSNN; tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu phân chia giữa NSTW và ngân sách từng địa phương.

(2) Quy định thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ NSNN; bổ sung dự toán số tăng thu NSNN; phân bổ, sử dụng số tăng thu, số tiết kiệm chi của NSTW.

(3) Về thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ: Theo quy định của Luật NSNN năm 2002, thì thẩm quyền quyết định nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ NSNN; bổ sung dự toán số tăng thu NSNN; phân bổ, sử dụng số tăng thu, số tiết kiệm chi của NSTW thuộc Thủ tướng Chính phủ quyết định sau khi xin ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Luật NSNN năm 2015, nội dung nêu trên thuộc thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đồng thời, tại Luật NSNN năm 2015 những nội dung nào liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ hoặc quy định Chính phủ ủy quyền cho Thủ tướng Chính phủ trong Luật NSNN năm 2002 được chuyển thành nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ.

(4) Về quản lý NSNN theo kết quả thực hiện nhiệm vụ:

Mặc dù, Luật NSNN năm 2002 chưa có quy định về quản lý NSNN theo kết quả thực hiện nhiệm vụ nhưng trong chế độ quản lý cụ thể đối với một số lĩnh vực như chi đầu tư XDCB, mua sắm sửa chữa, nghiên cứu khoa học,…đã thực hiện quản lý NSNN theo kết quả thực hiện nhiệm vụ.

Việc thực hiện quản lý NSNN theo kết quả thực hiện nhiệm vụ là phương thức quản lý NSNN tiên tiến và mới, gắn với số lượng và chất lượng công việc cụ thể. Tại Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X cũng đã nêu cần thực hiện phân bổ NSNN theo kết quả thực hiện nhiệm vụ. Để có cơ sở pháp lý và từng bước thực hiện phương thức quản lý NSNN theo kết quả thực hiện nhiệm vụ, dự thảo Luật NSNN năm 2015 (khoản 15 Điều 25) quy định: Chính phủ quy định việc thực hiện quản lý ngân sách theo kết quả thực hiện nhiệm vụ.

(5) Đối với thẩm quyền của Bộ Tài chính và HĐND các cấp Luật NSNN năm 2015 cơ bản giữ như Luật NSNN năm 2002.

4.2.3.  Chương III. Nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách các cấp (gồm 6 Điều, từ Điều 35 đến Điều 40)

Chương này quy định nguồn thu, nhiệm vụ chi của NSTW và NSĐP, làm rõ mối quan hệ giữa ngân sách các cấp theo hướng tăng cường phân cấp cho địa phương để chủ động thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn và thực hiện các chính sách an sinh xã hội, xoá đói giảm nghèo, đi đôi với việc tăng cường hướng dẫn, kiểm tra, giám sát thực hiện của các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực NSNN. So với Luật NSNN năm 2002, Luật NSNN năm 2015 có sửa đổi, bổ sung một số nội dung như sau:

(1) Theo quy định của Luật NSNN năm 2002, thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành là khoản thu NSTW hưởng 100%. Tuy nhiên, khoản thu thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành do nhiều địa phương đóng góp, nên các địa phương kiến nghị đưa vào khoản thu phân chia giữa NSTW và NSĐP. Luật NSNN năm 2015: Bỏ quy định khoản thuế thu nhập của các doanh nghiệp hạch toán toàn ngành NSTW hưởng 100% và quy định toàn bộ thuế thu nhập doanh nghiệp (bao gồm cả thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp hạch toán toàn ngành trước đây) là khoản thu phân chia giữa NSTW và NSĐP.

(2) Phân định cụ thể và rõ ràng đối với các khoản thu hồi vốn của Nhà nước đầu tư tại các tổ chức kinh tế; thu cổ tức, lợi nhuận được chia tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có vốn góp của Nhà nước do cơ quan nhà nước đại diện chủ sở hữu; thu phần lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ của DNNN do cơ quan nhà nước đại diện chủ sở hữu.

(3) Về các khoản thu phân chia cho ngân sách xã, thị trấn: Luật NSNN năm 2015 quy định: ngân sách xã, thị trấn được phân chia nguồn thu từ thuế nhà đất, thuế môn bài (nay là Lệ phí môn bài) thu từ cá nhân, hộ kinh doanh, thuế sử dụng đất nông nghiệp thu từ hộ gia đình, lệ phí trước bạ nhà đất để bảo đảm chủ động thực hiện các nhiệm vụ chi của xã, thị trấn. Việc quyết định tỷ lệ phần trăm (%) cho ngân sách xã, thị trấn hưởng do HĐND cấp tỉnh quyết định theo tình hình thực tế tại địa phương.

(4) Về tiền thu được từ xử phạt vi phạm hành chính: Luật NSNN năm 2002 chưa quy định rõ nội dung này (việc phân cấp nguồn thu này quy định ở văn bản dưới Luật). Luật NSNN năm 2015 quy định: Tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính, các khoản phạt, tịch thu khác do các cơ quan nhà nước thuộc cấp nào thu thì ngân sách cấp đó hưởng.

(5) Về phân cấp nhiệm vụ chi phát triển KT-XH: về cơ bản, Luật NSNN năm 2015 vẫn cơ bản kế thừa Luật NSNN năm 2002 và thực hiện theo pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương. Riêng chi nghiên cứu khoa học cho các cấp chính quyền địa phương, Luật NSNN năm 2015 quy định chỉ phân cấp nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cho cấp tỉnh, còn các cấp huyện, xã không có nhiệm vụ chi nghiên cứu khoa học, chỉ thực hiện nhiệm vụ ứng dụng khoa học công nghệ.

(6) Về số bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới:

Mặc dù Luật NSNN năm 2002 đã quy định nguyên tắc về số bổ sung có mục tiêu từ NSTW cho NSĐP. Tuy nhiên, chưa quy định đầy đủ, cụ thể các tiêu chí cho từng mục tiêu hỗ trợ từ NSTW, Luật NSNN năm 2015 quy định cụ thể những nhiệm vụ được ngân sách cấp trên bổ sung có mục tiêu: a) Thực hiện các chính sách, chế độ mới do cấp trên ban hành chưa được bố trí trong dự toán ngân sách của năm đầu thời kỳ ổn định ngân sách; b) Thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia và các chương trình, dự án khác của cấp trên, phần giao cho cấp dưới thực hiện; c) Hỗ trợ chi khắc phục thiên tai, thảm hoạ, dịch bệnh trên diện rộng vượt quá khả năng cân đối của ngân sách cấp dưới; d) Hỗ trợ thực hiện một số chương trình, dự án lớn, đặc biệt quan trọng có tác động lớn đến phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Mức hỗ trợ được xác định cụ thể cho từng chương trình, dự án. Tổng mức hỗ trợ vốn đầu tư phát triển hàng năm của ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương quy định tại điểm này tối đa không vượt quá 30% tổng chi đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách trung ương.

4.2.4. Chương IV. Lập dự toán NSNN (gồm 8 Điều, từ Điều 41 đến Điều 48)

Chương này quy định căn cứ, yêu cầu, nội dung, quy trình, thời gian và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc lập kế hoạch tài chính – NSNN 3 năm; tổng hợp, trình và quyết định dự toán NSNN hàng năm. So với Luật NSNN năm 2002, Luật NSNN năm 2015 bổ sung quy định về thời gian, quy trình lập, tổng hợp, trình và quyết định NSNN, phương án phân bổ NSTW.

Đồng thời, Luật NSNN năm 2015 có 01 Điều quy định về nội dung mới là lập kế hoạch tài chính – NSNN 3 năm; cụ thể: Kế hoạch tài chính – ngân sách nhà nước 3 năm là kế hoạch tài chính – ngân sách nhà nước được lập hàng năm cho thời gian 3 năm, dựa trên kế hoạch tài chính 5 năm được lập kể từ năm dự toán ngân sách và 2 năm tiếp theo, theo phương thức cuốn chiếu. Kế hoạch này được lập cùng thời điểm lập dự toán ngân sách nhà nước hàng năm nhằm định hướng cho công tác lập dự toán ngân sách nhà nước hàng năm; định hướng thứ tự ưu tiên phân bổ nguồn lực cho từng lĩnh vực và từng nhiệm vụ, hoạt động, chế độ, chính sách cho từng lĩnh vực trong trung hạn. Kế hoạch tài chính – ngân sách nhà nước 3 năm gồm kế hoạch tài chính – ngân sách nhà nước 3 năm quốc gia và kế hoạch tài chính – ngân sách 3 năm tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.  

Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp kế hoạch tài chính – ngân sách nhà nước 3 năm quốc gia, báo cáo Chính phủ trình Quốc hội; Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp kế hoạch tài chính – ngân sách nhà nước 3 năm tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp để tham khảo khi thảo luận, xem xét, thông qua dự toán ngân sách và phương án phân bổ ngân sách nhà nước hàng năm.

4.2.5.  Chương V. Chấp hành NSNN (gồm 14 Điều, từ Điều 49 đến Điều 62)

Chương này quy định quá trình phân bổ dự toán cho các đơn vị sử dụng ngân sách, thực hiện các khoản thu, chi, điều chỉnh dự toán, xử lý trong trường hợp tăng, giảm thu; quản lý quỹ NSNN. So với Luật NSNN năm 2002, Luật NSNN năm 2015 có một số nội dung mới như sau:

(1)  Về cải cách thủ tục hành chính trong việc cơ quan tài chính thẩm tra phân bổ dự toán của các cơ quan, đơn vị:

Luật NSNN năm 2002 quy định, sau khi được Thủ tướng Chính phủ, UBND giao dự toán ngân sách, các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương, các đơn vị dự toán có trách nhiệm phân bổ dự toán ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc, gửi cơ quan tài chính cùng cấp kiểm tra trước khi giao dự toán cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc để thực hiện (thẩm tra trước). Cơ quan tài chính có trách nhiệm kiểm tra, nếu không đúng dự toán ngân sách được giao, không đúng chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách thì yêu cầu điều chỉnh lại.

Quy định này bảo đảm các đơn vị dự toán có trách nhiệm phân bổ và giao dự toán ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc, bảo đảm đúng với dự toán ngân sách được giao; tuy nhiên, trong tổ chức thực hiện thường chậm so với thời gian quy định là ngày 31/12 do số lượng các đơn vị sử dụng ngân sách lớn, việc phân bổ cho từng nhiệm vụ cụ thể rất phức tạp, đòi hỏi phải có thời gian. Mặt khác, trong công tác này thì trách nhiệm chính là của các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương, các đơn vị dự toán. Do vậy, để giảm bớt thủ tục hành chính, đáp ứng yêu cầu về mặt thời gian, nâng cao trách nhiệm cơ quan chủ quản, đơn vị sử dụng ngân sách, chủ đầu tư, Luật NSNN năm 2015 (khoản 1 và khoản 2 Điều 49) quy định: Sau khi được Thủ tướng Chính phủ, UBND giao dự toán ngân sách, các đơn vị dự toán cấp I ở trung ương và địa phương thực hiện phân bổ và giao dự toán ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc và đơn vị thuộc ngân sách cấp dưới trong trường hợp có uỷ quyền thực hiện nhiệm vụ chi của mình, gửi cơ quan tài chính cùng cấp, đồng gửi Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch để thực hiện. Cơ quan tài chính cùng cấp thực hiện kiểm tra (thẩm tra sau) dự toán đơn vị dự toán cấp I đã giao cho các đơn vị sử dụng ngân sách; trường hợp phát hiện việc phân bổ không đúng tổng mức và chi tiết theo từng lĩnh vực, nhiệm vụ của dự toán ngân sách đã được giao; không đúng chính sách, chế độ quy định, thì yêu cầu đơn vị dự toán cấp I điều chỉnh lại chậm nhất 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo phân bổ của đơn vị dự toán.

(2) Về thời hạn điều chỉnh dự toán:

Luật NSNN năm 2002 không quy định cụ thể thời hạn cuối cùng để các đơn vị dự toán điều chỉnh dự toán chi ngân sách cho các đơn vị trực thuộc, dẫn đến việc thực hiện chưa thống nhất. Luật NSNN năm 2015 (khoản 3 Điều 53) quy định: Thời gian điều chỉnh dự toán đã giao cho các đơn vị sử dụng ngân sách, hoàn thành chậm nhất trước ngày 15 tháng 11 năm hiện hành

(3) Về sử dụng nguồn tăng thu, tiết kiệm chi so dự toán hàng năm: Luật NSNN năm 2002 quy định khoản tăng thu, tiết kiệm chi so với dự toán được sử dụng để giảm bội chi, tăng chi trả nợ, tăng chi đầu tư phát triển, bổ sung Quỹ dự trữ tài chính, tăng dự phòng ngân sách. Luật NSNN năm 2015 cơ bản kế thừa Luật NSNN năm 2002, có bổ sung thêm nhiệm vụ được sử dụng nguồn tăng thu, tiết kiệm chi như: bổ sung nguồn thực hiện cải cách tiền lương; thực hiện các chế độ, chính sách an sinh xã hội và thực hiện bù hụt thu do nguyên nhân khách quan cho ngân sách cấp dưới.

(4) Về cơ chế hỗ trợ hụt thu cho NSĐP: Luật NSNN năm 2002 quy định trong trường hợp thu NSĐP không đạt dự toán được cấp có thẩm quyền quyết định thì tuỳ theo mức hụt thu, UBND báo cáo HĐND hoặc Thường trực HĐND điều chỉnh hoặc sắp xếp lại các khoản chi, sử dụng các nguồn lực tài chính hợp pháp tại địa phương để bù đắp số hụt thu. Luật NSNN năm 2015 quy định: kết thúc năm ngân sách, trường hợp NSĐP hụt thu so với dự toán cấp trên giao do nguyên nhân khách quan, sau khi đã điều chỉnh giảm một số khoản chi và sử dụng các nguồn tài chính hợp pháp khác của địa phương mà chưa bảo đảm được cân đối NSĐP thì ngân sách cấp trên hỗ trợ ngân sách cấp dưới theo khả năng của ngân sách cấp trên.

(5) Ngoài ra, Chương này còn sửa đổi, bổ sung một số nội dung: thưởng vượt thu ngân sách so dự toán các khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách ở địa phương.

4.2.6. Chương VI. Kế toán, kiểm toán, quyết toán NSNN (gồm 11 Điều, từ Điều 63 đến Điều 73)

Chương này quy định công tác kế toán ngân sách, xử lý từ khi kết thúc năm ngân sách, khóa sổ kế toán, chỉnh lý quyết toán, duyệt, thẩm định, tổng hợp, trình và phê chuẩn quyết toán NSNN. So với Luật NSNN năm 2002, Luật NSNN năm 2015 có một số nội dung mới như sau:  

(1) Về công tác duyệt, thẩm định, tổng hợp quyết toán NSNN: Luật NSNN năm 2002 chưa quy định cụ thể nội dung xét duyệt, thẩm định quyết toán ngân sách, mặt khác quy định cơ quan tài chính cấp trên, nhất là Bộ Tài chính có trách nhiệm thẩm định quyết toán NSĐP đã được HĐND cấp tỉnh phê chuẩn, dẫn đến trách nhiệm, quyền hạn giữa cơ quan tài chính cấp trên với HĐND cấp dưới chưa thật rõ trong công tác này; khi phát hiện sai sót, cơ quan tài chính cấp trên yêu cầu điều chỉnh thì HĐND cấp dưới không thực hiện được mà phải chờ đến kỳ họp sau (vì HĐND các cấp chỉ họp 2 kỳ/năm). Để làm rõ trách nhiệm của từng cơ quan từ khâu xét duyệt, thẩm định, tổng hợp quyết toán NSNN, Luật NSNN năm 2015 quy định cụ thể nội dung xét duyệt, thẩm định, tổng hợp và phê chuẩn quyết toán ngân sách, trong đó nội dung quan trọng nhất là xét duyệt các khoản chi tại các đơn vị sử dụng ngân sách trên cơ sở dự toán, định mức chi ngân sách, tiêu chuẩn, chế độ. Đồng thời, do quyết toán NSĐP đã được cơ quan tài chính địa phương thẩm định và HĐND cấp tỉnh phê chuẩn, Luật NSNN năm 2015 không quy định Bộ Tài chính thẩm định quyết toán NSĐP, mà căn cứ vào quyết toán NSĐP đã được HĐND cấp tỉnh phê chuẩn, Bộ Tài chính tổng hợp quyết toán NSĐP vào quyết toán NSNN để báo cáo Chính phủ trình Quốc hội xem xét, phê chuẩn.

(2) Về việc đánh giá kết quả, hiệu quả chi NSNN gắn với công tác quyết toán NSNN: Luật NSNN năm 2002 chưa có quy định hàng năm, các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách và các cấp ngân sách khi quyết toán ngân sách phải kèm theo thuyết minh kết quả thực hiện ngân sách gắn với việc thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, cấp mình; chưa có quy định hàng năm, các cơ quan nhà nước được phân công quản lý chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình, dự án trọng điểm tổng hợp, báo cáo kết quả thực hiện ngân sách gắn với việc thực hiện nhiệm vụ của chương trình, dự án. Để đánh giá kết quả, hiệu quả chi NSNN đối với từng chương trình, dự án và của từng bộ, cơ quan trung ương, địa phương, đơn vị sử dụng ngân sách, Luật NSNN năm 2015 quy định: báo cáo quyết toán của đơn vị sử dụng ngân sách, đơn vị dự toán cấp trên, ngân sách các cấp phải kèm theo thuyết minh đánh giá kết quả, hiệu quả chi ngân sách gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ của đơn vị, địa phương, lĩnh vực, chương trình, mục tiêu được giao phụ trách.

(3) Ngoài ra, Chương này còn sửa đổi, bổ sung một số nội dung như: kiểm toán báo cáo quyết toán NSNN, quyết toán NSĐP; xử lý các khoản thu, chi ngân sách không đúng quy định sau khi quyết toán ngân sách được phê chuẩn.

4.2.7.  Chương VII. Điều khoản thi hành (gồm 4 Điều, từ Điều 74 đến Điều 77)

Chương này quy định việc hướng dẫn thi hành đối với một số nội dung đặc thù, hiệu lực thi hành Luật NSNN, trong đó:

– Điều 74 quy định bổ sung một số nội dung đặc thù so với Luật NSNN năm 2002:  Căn cứ vào quy định của Luật này, Chính phủ quy định về quản lý, sử dụng ngân sách đối với lĩnh vực đối ngoại và một số cơ chế, chính sách tài chính – ngân sách đặc thù đối với một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt.

 – Điều 75 quy định về điều khoản chuyển tiếp đối với quyết toán ngân sách các năm 2015 và 2016, áp dụng theo các quy định của Luật NSNN số 01/2002/QH11. Thời kỳ ổn định ngân sách 2011-2015 được kéo dài đến hết năm 2016. Thời kỳ ổn định ngân sách tiếp theo được tính từ năm 2017 đến năm 2020.

Đối với dự toán ngân sách năm 2016 của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương và các địa phương thực hiện như sau: a) Đối với dự toán ngân sách chi thường xuyên, áp dụng định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước theo Quyết định số 59/2010/QĐ-TTg ngày 30 tháng 9 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ;  b) Đối với dự toán ngân sách chi đầu tư phát triển, áp dụng các nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước giai đoạn 2016-2020 theo Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Dự toán ngân sách chi đầu tư phát triển năm 2016 phải nằm trong khung kế hoạch đầu tư trung hạn 2016-2020 và được bố trí cân đối phù hợp với tốc độ tăng chi ngân sách nhà nước năm 2016 so với năm 2015.

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Luật NSNN số 83/2015/QH13 được Quốc hội khóa XIII thông qua kỳ họp thứ 9 ngày 25/6/2015;

2. Luật NSNN số 01/2002/QH11 được Quốc hội khóa XI thông qua kỳ họp thứ 2 ngày 16/12/2002;

3. Quyết định số 59/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 30/9/2010 về việc ban hành định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước năm 2011.

 

 

 

 

 


 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *